1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế nghiên cứu một số nước ASEAN

125 576 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện để kiểm tra mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng, luận văn này “Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế: nghiên cứu một số nước ASEAN” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có nghiên cứu, tài liệu nào của những người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016

Nguyễn Đăng Lê

Trang 2

Và đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Minh Hà, người hướng dẫn khoa học của luận văn Thầy đã dành nhiều thời gian, nhiệt tình hướng dẫn, định hướng, góp ý, chỉnh sửa từng đoạn văn, câu chữ để tôi hoàn thành tốt luận văn này Tôi xin gửi lời cảm ơn đến vợ tôi, người đã trực tiếp hỗ trợ, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi tham gia và hoàn thành tốt khóa học

Và cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả người thân, bạn bè, đồng nghiệp

đã tận tình hỗ trợ, góp ý, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Một lần nữa, xin gửi lời tri ân đến toàn thể quý Thầy, Cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

NGUYỄN ĐĂNG LÊ

Trang 3

TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện để kiểm tra mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2014 Bằng các kỹ thuật kinh tế lượng và dữ liệu bảng, các phương pháp được dùng là kiểm tra quan hệ nhân quả Granger, các phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng tĩnh và động (OLS, FEM, REM, Driscoll và Kraay, D-GMM, PMG) Với mẫu nghiên cứu bao gồm 7 quốc gia thuộc ASEAN là Brunei, Cambodia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand và Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN trong nghiên cứu có tồn tại ít nhất 1 mối quan hệ nhân quả Cụ thể, tồn tại mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế tại Brunei, Cambodia và Việt Nam Tồn tại mối quan hệ nhân quả 1 chiều từ đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế tại Philippines và Thailand Tồn tại mối quan hệ nhân quả 1 chiều từ tăng trưởng kinh tế đến đô thị hóa

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng đô thị hóa tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN trong nghiên cứu Tuy nhiên, mối quan hệ giữa

đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế không đơn giản là tuyến tính Mức độ đô thị hóa khi đạt đến một mức ngưỡng có thể cản trở tăng trưởng kinh tế Mức ngưỡng ước tính được trong nghiên cứu này là khoảng 69.99% đối với mô hình tĩnh và khoảng 67.94% đối với mô hình động

Hàm ý chính sách từ nghiên cứu này là các nước có mức độ đô thị hóa còn thấp

có thể theo đuổi chính sách thúc đẩy đô thị hóa để góp phần tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, chính phủ cần hành động đúng để cho phép những lợi ích của sự tích tụ đô thị đạt được tốt hơn và giảm thiểu tính phi kinh tế của nó Để làm được điều này đòi hỏi phải can thiệp có hiệu quả một cách cẩn trọng vào quá trình đô thị hóa Quyết sách

về mô hình đô thị hóa cần phải được dựa trên những cân nhắc xã hội và môi trường cũng như tính toán hiệu quả kinh tế dựa trên thị trường

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu 1

1.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 4

1.7 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế 6

2.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế 7

2.3 Một số mô hình lý thuyết tăng trưởng kinh tế 7

2.3.1 Mô hình tăng trưởng cơ bản 8

2.3.2 Mô hình cổ điển 8

2.3.3 Mô hình tân cổ điển 10

2.3.4 Mô hình Solow 11

2.3.5 Mô hình tăng trưởng nội sinh 12

Trang 5

2.4 Lý thuyết đô thị hóa 13

2.5 Đo lường đô thị hóa 17

2.6 Quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế 19

2.6.1 Đô thị hóa tác động đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại 19

2.6.2 Đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế không liên quan với nhau 25

2.7 Các nghiên cứu trước 26

2.8 Giả thuyết nghiên cứu 30

2.9 Mô hình lý thuyết đề xuất 30

Tóm tắt chương 2 32

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 33

3.1 Quy trình nghiên cứu 33

3.2 Phương pháp nghiên cứu 35

3.2.1 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng 35

3.2.2 Kiểm định đồng kết hợp dữ liệu bảng 35

3.2.3 Kiểm định nhân quả Granger 36

3.2.4 Hồi quy dữ liệu bảng tĩnh: phương pháp ước lượng OLS 36

3.2.5 Hồi quy dữ liệu bảng tĩnh: phương pháp ước lượng FEM 37

3.2.6 Hồi quy dữ liệu bảng tĩnh: phương pháp ước lượng REM 38

3.2.7 Các kiểm định sau ước lượng hồi quy dữ liệu bảng tĩnh 39

3.2.8 Hồi quy dữ liệu bảng động: phương pháp ước lượng GMM 39

3.2.9 Hồi quy dữ liệu bảng động: phương pháp ước lượng PMG 40

3.3 Dữ liệu nghiên cứu 41

3.4 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 41

Tóm tắt chương 3 46

CHƯƠNG IV PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47

4.1 Đô thị hóa tại các nước ASEAN giai đoạn 1993-2014 47

4.2 Tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN giai đoạn 1993-2014 50

4.3 Thống kê mô tả 54

Trang 6

4.4 Ma trận tương quan 55

4.5 Kiểm tra đa cộng tuyến 56

4.6 Kiểm định mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế 57

4.7 Đánh giá tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế 61

4.8 Phân tích kết quả nghiên cứu 67

4.8.1 Kết quả kiểm định mối quan hệ 67

4.8.2 Kết quả đánh giá tác động 68

Tóm tắt chương 4 73

CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

5.1 Kết luận 74

5.2 Kiến nghị chính sách 75

5.3 Những hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC x

Phụ lục 1: Bảng mã quốc gia trong nghiên cứu x

Phụ lục 2: Chi tiết số liệu nghiên cứu xi

Phụ lục 3: Kiểm tra dữ liệu xviii

Phụ lục 4: Thống kê mô tả xxv

Phụ lục 5: Ma trận tương quan và đa cộng tuyến xxv

Phụ lục 6: Kiểm định đồng kết hợp Westerlund xxvi

Phụ lục 7: Thử nghiệm mô hình với biến LnGCFpc xxviii

Phụ lục 8: Hồi quy bảng tĩnh OLS, FE và RE xxxii

Phụ lục 9: Kiểm định Hausman lựa chọn FE hoặc RE xxxiv

Phụ lục 10: Kiểm định sau hồi quy FE xxxiv

Phụ lục 11: Hồi quy sửa lỗi Driscoll-Kraay xxxvi

Phụ lục 12: Hồi quy bảng động D-GMM xxxvii

Phụ lục 13: Hồi quy bảng động PMG xxxviii

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Trang Hình 2.1: Mô hình đề xuất kiểm định mối quan hệ 2 chiều ……… 30 Hình 2.2: Mô hình đề xuất đánh giá tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế 31 Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu ……… 34 Hình 4.1: Mức độ đô thị hóa tại 7 nước ASEAN (1993-2014) ……… 49 Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng đô thị hóa tại 7 nước ASEAN (1993-2014) ……… 50 Hình 4.3: Tăng trưởng GDP tại 7 nước ASEAN (1993-2014) ……… 52 Hình 4.4: Quy trình kiểm định mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế 57 Hình 4.5: Mối quan hệ phi tuyến theo mô hình tĩnh ……… 70 Hình 4.6: Mối quan hệ phi tuyến theo mô hình động ……… 71

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả các nghiên cứu liên quan ……… 29

Bảng 3.1: Tóm tắt mô tả biến trong mô hình hồi quy ……… 45

Bảng 4.1: Mức độ đô thị hóa tại 7 nước ASEAN (1993-2014) ……… 48

Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng đô thị hóa tại 7 nước ASEAN (1993-2014) ……… 49

Bảng 4.3: Tăng trưởng GDP tại 7 nước ASEAN (1993-2014) … ……… 51

Bảng 4.4: GDP bình quân đầu người tại 7 nước ASEAN (1993-2014) ………… 53

Bảng 4.5: Thống kê mô tả các biến trong nghiên cứu ……… 54

Bảng 4.6: Ma trận tương quan Spearman ……… 55

Bảng 4.7: Kiểm tra đa cộng tuyến ……… 56

Bảng 4.8: Kiểm định tính dừng Fisher ……… 58

Bảng 4.9: Kiểm định tính dừng Im-Pesaran-Shin ……… 58

Bảng 4.10: Kiểm định đồng kết hợp Westerlund ……… 59

Bảng 4.11: Kết quả kiểm tra quan hệ nhân quả Granger ……… 60

Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình tĩnh với phương pháp OLS, FE và RE …… 61

Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình tĩnh với phương pháp Driscoll và Kraay … 63

Bảng 4.14: Kết quả hồi quy mô hình động với phương pháp D-GMM ………… 64

Bảng 4.15: Kết quả hồi quy mô hình động với phương pháp PMG ……… 66

Bảng 4.16: Kết quả ước lượng hồi quy ……… 68

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT AEC : ASEAN Economic Community; Cộng đồng kinh tế ASEAN

ASEAN : Association of Southeast Asian Nations; Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á FEM : Fixed Effects Model; Mô hình các ảnh hưởng cố định

GCF : Gross Capital Formation; Hình thành vốn gộp

GDP : Gross Domestic Product; Tổng sản lượng quốc nội

GMM : Generalized Method of Moments

GNI : Gross National Income; Tổng thu nhập quốc dân

GNP : Gross National Product; Tổng sản lượng quốc gia

LSDV : Least-squares dummy variable; Biến giả bình phương tối thiểu

OLS : Ordinary Least Squares; Bình phương nhỏ nhất

PMG : Pooled Mean Group

REM : Random Effects Model; Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên

USD : United States Dollar; Đồng đô la Mỹ

Trang 10

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU Trong chương này, trình bày giới thiệu tổng quan về nghiên cứu bao gồm: đặt vấn đề và lý do nghiên cứu; các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra; mục tiêu nghiên cứu cần đạt được; mô tả đối tượng nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu luận văn

1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu

Trong suốt lịch sử loài người, đô thị hóa là một yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển (Bairoch, 1988, trích bởi Arouri và ctg., 2014) Có thể cho rằng, hai quá trình này được liên kết chặt chẽ, phát triển không xảy ra khi mà không có đô thị hóa

và ngược lại, mặc dù quan hệ nhân quả giữa hai quá trình này không phải là rõ ràng (Jacobs, 1969, trích bởi Bertinelli và Black, 2004) Đô thị hóa không chỉ là kết quả

mà còn là nguyên nhân của sự phát triển kinh tế (Gallup và ctg., 1999) Cùng với sự phát triển kinh tế, tỷ lệ dân số đô thị trên thế giới tăng từ 30% năm 1950 lên khoảng 50% năm 2010 (United Nations, 2007)

Ngày nay trên toàn cầu, 54% dân số sống ở khu vực đô thị và xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục Theo World Bank (2015), đến năm 2045 dự kiến số lượng người sống ở các thành phố sẽ tăng lên đến 6 tỷ, tăng thêm 2 tỷ cư dân đô thị Với hơn 80% của GDP toàn cầu sẽ được tạo ra ở các thành phố, đô thị hóa đóng góp vào sự tăng trưởng bền vững nếu được quản lý tốt bằng cách tăng năng suất, cho phép đổi mới và xuất hiện các ý tưởng mới

Mối quan hệ giữa đô thị hóa và phát triển kinh tế giữa các nước khác nhau là đáng chú ý Khi các nền kinh tế và đô thị hóa phát triển, rất khó để giải thích những gì có thể mong đợi từ sự tăng trưởng kinh tế hay đô thị hóa Tăng trưởng kinh tế kích thích

đô thị hóa hoặc ngược lại, hoặc chúng không liên quan đến nhau là một câu hỏi nổi bật Dữ liệu lịch sử đã cung cấp một số hiểu biết về sự phát triển của đô thị hóa và thu nhập bình quân đầu người theo thời gian Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ đô thị hóa và thu nhập bình quân đầu người cùng tăng cho đến khoảng năm 1940, khi đô thị hóa đạt gần 60%, sau đó thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh hơn nhiều (US Census, 2005,

Trang 11

trích bởi Tamang, 2013) Theo báo cáo của World Development Indicators, trong thời gian 1980-2006, Trung Quốc và Ấn Độ đã chứng kiến một sự suy giảm dân số nông thôn là 26% và 8%, với sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người tương ứng 88% và 65% Điều này chỉ ra rằng quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế là nổi bật ở

cả hai nước (Tamang, 2013) Trái ngược với các kết quả trên, Fay và Opal (2000) báo cáo rằng Kenya đang trải qua quá trình đô thị hóa mà không có tăng trưởng Mức độ

đô thị hóa ở Kenya vào năm 1960 là rất thấp, chỉ 7% Đô thị hóa cũng nhanh chóng gia tăng từ mức này, nhưng nó vẫn còn thấp, đến năm 2000 là khoảng 20% Nghiên cứu của Coolier (2006, trích bởi Tamang, 2013) cho thấy các nước đang trải qua quá trình đô thị hóa mà không tăng trưởng là những nước nhỏ châu Phi, với các yếu tố địa lý và ranh giới quốc gia đóng một vai trò quan trọng

Tại Việt Nam hiện nay, mức độ đô thị hóa tương tự như các nước đang phát triển khác So với mức đô thị hóa trung bình của thế giới và các nước Đông Nam Á thì Việt Nam có mức đô thị hóa thấp hơn nhiều Tuy nhiên, trong những năm gần đây,

tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của đô thị hóa tại Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển khác cũng như các nước Đông Nam Á (ASEAN) Nếu như vào năm 1986 tỷ lệ dân cư sống tại đô thị Việt Nam mới chiếm khoảng hơn 19%, thì đến năm 2014 tỷ lệ này đạt gần 33% Dự kiến đến 2020, tỷ lệ đô thị hóa tại Việt Nam

sẽ đạt 40% Cùng với sự tăng trưởng về đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng khá nhanh trong thời gian gần đây Góp phần nâng cao mức sống người dân, thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam đã tăng từ 355 USD năm 1993 lên đến 1,078 USD năm 2014 (USD giá cố định 2005) Chính thức thoát khỏi tình trạng nước nghèo, đạt mức độ là quốc gia có thu nhập trung bình thấp

Trong quá trình phát triển chung của thế giới, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa đô thị hóa và phát triển là một mối quan tâm chính sách quan trọng, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề trên, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế: nghiên cứu một số nước ASEAN” là cần thiết

Trang 12

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau:

(i) Đô thị hóa có quan hệ với tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN như thế nào?

(ii) Tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN như thế nào?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra như sau:

(i) Kiểm định mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế tại một số nước ASEAN

(ii) Đánh giá tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước ASEAN

(iii) Dựa trên những kết quả tìm được, đưa ra những kết luận và gợi ý chính sách liên quan đến đô thị hóa nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu này là đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế, và tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế tại các nước khu vực ASEAN

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: nghiên cứu mong muốn thực hiện với số liệu của tất cả các nước thuộc khu vực ASEAN Tuy nhiên, một số nước thuộc khu vực không có đủ số liệu thống kê để thực hiện nghiên cứu trong khoảng thời gian xác định Do đó nghiên cứu thực hiện dựa trên dữ liệu của 7 nước ASEAN có đủ số liệu bao gồm: Brunei, Cambodia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand và Việt Nam Trường hợp Singapore cũng có đầy đủ số liệu tuy nhiên do Singapore đã có mức độ đô thị hóa đạt tối đa (100%) từ rất lâu nên được loại ra không đưa vào nghiên cứu Các nước khác

Trang 13

còn lại trong khu vực không có đủ số liệu thống kê nên cũng không được đưa vào nghiên cứu này

Về thời gian: Dựa trên dữ liệu thu thập được từ nguồn đáng tin cậy như World Bank, nghiên cứu xác định thực hiện trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2014 Với khoảng thời gian này, dữ liệu của các nước được chọn đều có đầy đủ, tạo thuận lợi cho việc đánh giá, so sánh, xây dựng mô hình

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp sẽ dùng trong nghiên cứu này là tổng hợp, phân tích, thống kê

mô tả và kỹ thuật kinh tế lượng

Để tìm hiểu mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu sẽ dùng phương pháp nghiên cứu định lượng với kỹ thuật kinh tế lượng phù hợp để tìm hiểu mối quan hệ nhân quả giữa hai quá trình đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Để đánh giá tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với kỹ thuật kinh tế lượng hồi quy dữ liệu bảng

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu mong muốn xác định được mối quan hệ (nếu có) giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Sau đó dùng mô hình kinh tế lượng để ước lượng mức độ tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước ASEAN

Về lý luận, nghiên cứu đóng góp một tổng hợp kiến thức học thuật thu thập được

từ các nhà triết học, kinh tế học, xã hội học… và từ các nghiên cứu thực nghiệm của các nhà kinh tế học trên thế giới giúp người đọc hiểu thêm về đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế tại một số nước ASEAN

Về thực tiễn, nghiên cứu đóng góp một kết quả thực nghiệm dùng công cụ kinh

tế lượng để tìm hiểu mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế tại một số nước ASEAN Với các kết quả tìm được, hy vọng sẽ đưa ra được một số gợi ý cho các nhà tạo lập chính sách trong việc quản lý quá trình đô thị hóa để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN

Trang 14

1.7 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm 5 chương với các nội dung chủ yếu như sau:

Chương 1: Giới thiệu: Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến nghiên cứu Trình bày giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu: Trình bày quy trình nghiên cứu Giới thiệu các phương pháp nghiên cứu Đề xuất mô hình nghiên cứu và

mô tả dữ liệu nghiên cứu, nguồn dữ liệu được lấy để thực hiện nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Trình bày phân tích đánh giá đô thị hóa

và tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN trong giai đoạn nghiên cứu Trình bày phân tích thống kê mô tả, kết quả phân tích của các mô hình kinh tế lượng

Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Trình bày kết luận và gợi ý chính sách liên quan Nêu hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG II

CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, trình bày cơ sở lý thuyết kinh tế học liên quan đến tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Đồng thời trình bày về các nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung nghiên cứu Từ cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trước, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất

mô hình lý thuyết

2.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế

Theo Perkins và ctg (2006), thuật ngữ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế đôi lúc được dùng lẫn lộn với nhau, tuy nhiên về bản chất chúng khác biệt nhau Tăng trưởng kinh tế chỉ sự gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập/sản phẩm quốc dân Nếu sản xuất hàng hoá và dịch vụ trong một quốc gia tăng lên, bằng bất cứ cách nào, và cùng với nó là thu nhập trung bình tăng lên, thì quốc gia đó đạt được tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế có nội hàm rộng hơn, đặc biệt

nó đề cập đến những cải thiện trong lĩnh vực y tế, giáo dục và những khía cạnh khác trong phúc lợi con người

Khái niệm tăng trưởng kinh tế có thể hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ và Nguyễn Văn Phương, 2015)

Tăng trưởng kinh tế hiện đại là thuật ngữ được nhà kinh tế học từng được giải Nobel Simon Kuznets sử dụng để phân biệt giai đoạn kinh tế hiện tại với những giai đoạn trước đây Giai đoạn tăng trưởng kinh tế hiện đại vẫn đang được định hình, do

đó các đặc điểm của nó còn chưa thể hiện rõ nét Nhưng những nhân tố chủ chốt gồm

có việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào giải quyết những vấn đề của sản xuất kinh

tế, dẫn đến quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa Cuối cùng, chúng ta cần ghi nhớ rằng mặc dù phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế hiện đại không chỉ bao gồm việc gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quan đầu người nhưng không có sự phát triển nào

là bền vững nếu không có tăng trưởng kinh tế (Perkins và ctg., 2006)

Trang 16

2.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế

Cốt lõi của việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế là những thay đổi trong thu nhập quốc dân Có hai thước đo cơ bản về thu nhập quốc dân được sử dụng phổ biến Thứ nhất, “Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)” là tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được một xã hội tạo ra trong thời gian một năm GNP loại trừ hàng hoá trung gian (hàng hoá được sử dụng để sản xuất ra những hàng hoá khác) GNP tính đến sản lượng do công dân của một quốc gia tạo ra, bao gồm cả giá trị hàng hoá và dịch vụ

do công dân quốc gia đó sống ở nước ngoài tạo ra GNP là một thuật ngữ khá thông dụng được sử dụng trong hạch toán thu nhập quốc dân Ngân hàng thế giới và các tổ chức đa phương khác thường sử dụng một khái niệm tương tự là tổng thu nhập quốc dân (GNI) Thứ hai, “Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)” cũng giống như GNP, chỉ khác là nó tính đến tất cả sản lượng được tạo ra trong lãnh thổ một quốc gia, bao gồm

cả sản lượng do người nước ngoài cư trú tạo ra, không tính đến giá trị sản lượng do công dân quốc gia đó sống ở nước ngoài tạo ra GNP hay GDP chia cho tổng dân số

sẽ tạo ra một thước đo về “thu nhập bình quân đầu người” (Perkins và ctg., 2006) Trong nghiên cứu này, giá trị GDP bình quân đầu người được dùng làm biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế của một quốc gia

Theo định nghĩa các chỉ số thống kê của World Bank, GDP bình quân đầu người

là tổng sản phẩm trong nước chia cho dân số giữa năm GDP là tổng giá trị gia tăng của tất cả các nhà sản xuất thường trú trong nền kinh tế cộng với mọi khoản thuế sản phẩm và trừ đi các khoản trợ cấp không tính vào giá trị của sản phẩm GDP được tính toán mà không thực hiện trích khấu hao tài sản hoặc hạch toán tình trạng cạn kiệt và suy thoái tài nguyên thiên nhiên Số liệu về GDP của các quốc gia được thu thập hàng năm và cập nhật trên trang web của World Bank

2.3 Một số mô hình lý thuyết tăng trưởng kinh tế

Trong phần này, trình bày tóm lược một số mô hình lý thuyết tăng trưởng kinh

tế

Trang 17

2.3.1 Mô hình tăng trưởng cơ bản

Theo Perkins và ctg (2006), các mô hình tăng trưởng cơ bản đều có trọng tâm là hàm sản xuất Ở cấp độ vi mô (doanh nghiệp), hàm sản xuất mô tả mối quan hệ giữa

số người lao động và máy móc với sản lượng của doanh nghiệp Ở cấp độ vĩ mô (quốc gia hay toàn bộ nền kinh tế), hàm sản xuất mô tả mối quan hệ giữa quy mô lực lượng lao động của quốc gia và giá trị trữ lượng vốn với mức tổng sản lượng nội địa của quốc gia đó Mối quan hệ trong toàn nền kinh tế này được gọi là hàm tổng sản lượng Phương trình sau là một hàm tổng sản lượng:

Trong phương trình (2-1) trên: Y biểu thị tổng sản lượng; K là trữ lượng vốn và

L là lực lượng lao động Phương trình trên cho thấy rằng tổng sản lượng là một hàm

số (ký hiệu f) của trữ lượng vốn và lực lượng lao động Khi trữ lượng vốn và lực lượng lao động tăng trưởng, sản lượng sẽ gia tăng Tăng trưởng kinh tế xảy ra nhờ gia tăng trữ lượng vốn, tăng quy mô lực lượng lao động, hoặc cả hai yếu tố

đó bằng lượng lao động mà anh ta có thể chiếm dụng hoặc mua được nhờ có số hàng

Trang 18

hoá đó Vì thế lao động là thước đo thực tế đối với giá trị trao đổi của mọi thứ hàng hoá”, nhưng yếu tố đóng vai trò quan trọng hơn cả lao động là yếu tố tư bản Ông cho rằng muốn tăng của cải của dân tộc thì phải tăng số người lao động sản xuất và nâng cao năng suất lao động, nhưng để tăng số người lao động mang tính sản xuất thì trước hết phải tăng tư bản tích luỹ và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tăng máy móc, công cụ hoặc cải tiến chúng cho lao động thuận tiện hơn Từ căn cứ này sau đó nhiều nhà khoa học kinh tế cho rằng Adam Smith đã đặt nền tảng cho học thuyết tăng trưởng kinh tế dựa trên tích luỹ tư bản (Võ Văn Đức và ctg., 2005) Ricardo cho rằng đất đai, lao động và vốn là các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế Sự kết hợp giữa các yếu tố này, trong từng ngành, với một trình độ kỹ thuật nhất định, là không đổi Theo Ricardo, hao phí các yếu tố trong sản xuất nông nghiệp

và công nghiệp có khác nhau Cụ thể, trong nông nghiệp khi nhu cầu lương thực, thực phẩm tăng thì cần phải tiến hành sản xuất trên những mảnh đất kém mầu mỡ do đó chi phí sản xuất tăng lên, lợi nhuận giảm đi Ngược lại, trong công nghiệp, khi sản xuất gia tăng theo quy mô thì lợi nhuận cũng tăng theo Trong ba yếu tố kể trên, Ricardo cho rằng đất đai là quan trọng nhất Bởi vì đất đai canh tác là hạn chế nên đất đai chính là giới hạn của tăng trưởng Khi sản xuất nông nghiệp gia tăng trên các mảnh đất kém mầu mỡ thì giá lương thực, thực phẩm sẽ tăng lên Mà lương thực, thực phẩm là bộ phận quan trọng nhất để đảm bảo đời sống của gia đình công nhân

Do đó, tiền lương danh nghĩa của công nhân cũng phải tăng lên tương ứng, lợi nhuận của nhà tư bản có xu hướng giảm xuống Trong khi đó, dân số tăng nhanh làm khan hiếm tư liệu sản xuất dẫn đến nhu cầu canh tác trên các mảnh đất xấu Nếu cứ tiếp tục như vậy cho đến khi lợi nhuận hạ thấp không thể bù đắp mọi rủi ro trong kinh doanh làm cho nền kinh tế trở nên bế tắc: địa tô ở mức cao, tiền công ở mức tối thiểu, lợi nhuận ở gần mức không, tích luỹ tư bản ngừng lại, tăng trưởng bị giới hạn bởi đất đai Để giải quyết vấn đề này, Ricardo cho rằng cần đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá công nghiệp để mua lương thực, thực phẩm rẻ hơn từ nước ngoài, hoặc phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp (Võ Văn Đức và ctg., 2005)

Trang 19

Tóm lại, theo Ricardo, tăng trưởng là kết quả của tích luỹ, tích luỹ là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này phụ thuộc vào đất đai Do đó, đất đai là giới hạn của tăng trưởng Trong mô hình tăng trưởng kinh tế của Ricardo, tư bản là yếu tố quyết định khả năng tạo ra của cải của một quốc gia, hay tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ tích luỹ tư bản

Tư bản được tích luỹ càng nhanh thì tăng trưởng kinh tế càng cao, và ngược lại

2.3.3 Mô hình tân cổ điển

Nếu các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng trong từng ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố sản xuất kết hợp với nhau theo một tỷ lệ cố định, không thay đổi thì các nhà kinh tế học tân cổ điển lại cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định, giữa các yếu tố sản xuất – vốn, lao động – có thể được kết hợp với nhau theo nhiều cách Các nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Theo Võ Văn Đức và ctg (2005), các nhà kinh tế học tân cổ điển cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất Phương trình hàm sản xuất ở dạng chung nhất của trường phái tân cổ điển nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ

Phương trình hàm sản xuất của trường phái tân cổ điển được viết như sau:

Trong phương trình (2-3) trên: Y: biểu thị tổng sản phẩm đầu ra; K: là vốn; L: là lao động; R: là nguồn tài nguyên thiên nhiên và T: là khoa học công nghệ

Trong thời kỳ trường phái này phát triển mạnh, nhiều nhà kinh tế và toán học đã

đề xuất phương trình hàm sản xuất theo dạng trên, nổi tiếng nhất là phương trình Cobb-Douglas:

Trong phương trình (2-4) trên: α, β, γ là các số luỹ thừa phản ánh tỷ lệ cận biên các yếu tố đầu vào (với giả định α+β+γ=1)

Trang 20

Phương trình trên được biến đổi bằng cách lấy logarit 2 vế ta được phương trình mới như sau:

Trong phương trình (2-5) trên: g: biểu thị tốc độ tăng trưởng GDP; k,l,r: tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào; t: phần dư còn lại, phản ảnh tác động của khoa học công nghệ theo thời gian

Hàm sản xuất Cobb-Douglas cho biết có bốn yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế và cách thức tác động của bốn yếu tố này là khác nhau Họ cho rằng khoa học công nghệ có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế

2.3.4 Mô hình Solow

Dựa trên tư tưởng của lý thuyết tân cổ điển, năm 1956, Robert W Solow1 đã xây dựng mô hình tăng trưởng mang những ý tưởng mới, được gọi là mô hình tăng trưởng Solow Trong mô hình Solow, các tỷ số vốn-sản lượng và vốn-lao động không cố định mà thay đổi tuỳ theo nguồn vốn và lao động tương đối trong nền kinh tế và quá trình sản xuất (Perkins và ctg., 2006) Trong mô hình của mình, Solow khẳng định tiến bộ kỹ thuật là yếu tố quyết định đến tăng trưởng, cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong mô hình gốc (đầu tiên) Solow phân tích mô hình cơ bản dựa vào hàm Cobb-Douglas với hai yếu tố lao động và đầu tư, tiết kiệm, sau đó ông trình bày mô hình tổng quát với yếu tố công nghệ tác động tới tăng trưởng (Võ Văn Đức và ctg., 2005)

Cho đến ngày nay, dù có nhiều tranh luận về các hạn chế, tuy vậy, mô hình tăng trưởng của Solow vẫn được đánh giá là một trong những mô hình có tác động lớn trong hệ thống lý thuyết tăng trưởng và được sử dụng rộng rãi trong các giáo trình, tài liệu và đánh giá thực nghiệm tăng trưởng của nhiều quốc gia

1 Robert W Solow là giáo sư khoa kinh tế Học viện công nghệ Massachusetts (MIT) Hoa Kỳ, năm

1987, ông được trao tặng giải thưởng Nobel kinh tế về những đóng góp xuất sắc trong lý thuyết tăng trưởng và những nghiên cứu thực nghiệm về quá trình tăng trưởng

Trang 21

2.3.5 Mô hình tăng trưởng nội sinh

Theo Ngô Thắng Lợi (2013), một số nhược điểm còn tồn tại của mô hình Solow

đã thúc đẩy sự ra đời một cách tiếp cận mới với tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng kinh

tế nội sinh (còn gọi là lý thuyết tăng trưởng mới) vào giữa những năm 80 của thế kỷ

XX Đại diện cho nhóm những nhà kinh tế theo đuổi mô hình mới mẻ này là Robert

E Lucas2 Có hai điểm mới trong phân tích, làm cơ sở cho những kết luận mới về vai trò các yếu tố tăng trưởng đó là:

Thứ nhất, phân chia vốn thành 2 loại: (i) Vốn hữu hình bao gồm vốn vật chất K

và L (ii) Vốn nhân lực còn gọi là vốn con người bao gồm khả năng, kỹ năng, kiến thức, sự khéo léo, linh hoạt của mỗi con người Vốn nhân lực hình thành trong quá trình tích luỹ kiến thức của người lao động thông qua giáo dục và kinh nghiệm thực

tế Chính sự tách biệt hai loại vốn này đã giúp các nhà kinh tế thoát ra khỏi quan niệm

về quy luật lợi tức biên giảm dần theo quy mô Quy luật lợi tức biên giảm dần mà Harrod-Domar và Solow quan niệm chỉ đúng khi đầu tư vào vốn hữu hình

Thứ hai, khẳng định vai trò của chính phủ trong tăng trưởng dài hạn Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Việc mở rộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước không chỉ vì thị trường có những khuyết tật mà còn vì xã hội thường đặt ra các mục tiêu mà thị trường không đáp ứng được Đại diện cho tư tưởng này là nhà kinh tế học Paul A Samuelson3, ông cho rằng trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, chính phủ có bốn chức năng cơ bản: (i) thiết lập khuôn khổ pháp luật, (ii) xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, (iii) tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế và (iv) thiết lập các chương trình tác động tới việc phân phối thu nhập

2 Robert E Lucas là giáo sư kinh tế Đại học Chicago, Hoa Kỳ Năm 1995, ông được trao tặng giải thưởng Nobel kinh tế vì đã phát triển và ứng dụng giả thuyết kỳ vọng hợp lý, và do đó đã chuyển đổi phân tích kinh tế vĩ mô và đào sâu sự hiểu biết về chính sách kinh tế

3 Paul A Samuelson là giáo sư kinh tế Học viện công nghệ Massachusetts (MIT) Hoa Kỳ Năm 1970, ông được trao tặng giải thưởng Nobel kinh tế vì đã phát triển các lý luận kinh tế tĩnh và động, nâng

Trang 22

Với các điểm mới nêu trên, các lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh đã cố gắng

mô hình hoá yếu tố tiến bộ công nghệ bằng cách đưa nguồn vốn con người vào hàm sản xuất và giải thích quá trình tích luỹ kiến thức (tiến bộ công nghệ) trực tiếp thông qua tích luỹ vốn con người, hay gián tiếp thông qua nghiên cứu phát triển và vai trò của chính phủ trong quá trình phát triển nguồn nhân lực và quản lý kinh tế (Ngô Thắng Lợi, 2013)

2.4 Lý thuyết đô thị hóa

Từ góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn đến đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường

cư trú của con người Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và các yếu tố vật chất mà còn làm chuyển hoá những khuôn mẫu của đời sống kinh tế xã hội, có tác động lan tỏa, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn và toàn bộ xã hội Như vậy, quá trình đô thị hóa không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân

số, mở rộng lãnh thổ đô thị, tăng trưởng sản xuất, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu văn hoá (Tổng cục Thống kê, 2011)

Đô thị hóa đề cập đến sự phát triển vật lý, dân số và kinh tế của các thành phố Thuật ngữ này cũng bao hàm sự tập trung của người dân và các hoạt động xã hội vào

mô hình định cư đặc trưng bởi sự phát triển đất đai với mật độ dân số cao Kết quả của đô thị hóa một phần từ sự gia tăng dân số, với cả hai nguyên nhân tự nhiên và nhập cư, cũng như những thay đổi về kinh tế, xã hội, và công nghệ đã thúc đẩy mọi người di chuyển đến các khu vực đô thị có tăng trưởng việc làm cao và các cơ hội rộng mở Nói chung, các lực lượng thị trường và các chính sách của chính phủ thúc đẩy quá trình đô thị hóa và các thay đổi liên quan trong sinh kế của người dân, sử dụng đất đai, y tế, và quản lý tài nguyên thiên nhiên bao gồm nước, đất và rừng Các quyết định vị trí việc làm, chuyển đổi trong thành thị - nông thôn và các hệ thống sản xuất, các chính sách phát triển và phân phối ngân sách của chính phủ thường xuyên

Trang 23

tạo ra nhập cư đô thị và tập trung các hoạt động kinh tế xã hội ở các thành phố (Gotham, 2012)

Nguồn gốc cơ bản nhất có thể dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc nghiên cứu đô thị hóa và phát triển thành phố là khái niệm và đo lường của chính bản thân “đô thị” Không có câu trả lời rõ ràng cho định nghĩa một khu vực đô thị là gì Tại Hoa Kỳ, chính phủ liên bang chịu trách nhiệm xác định thành phố, ranh giới thành phố, và xu hướng đô thị hóa Tại Việt Nam, chính phủ cũng là chủ thể quyết định trong việc xác định thành phố, đô thị dựa trên ranh giới hành chính và xu hướng đô thị hóa

Việc nghiên cứu thành phố và đô thị hóa có truyền thống phong phú trong nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội và tự nhiên Theo Lewis Mumford (1961, trích bởi Gotham, 2012), thành phố là "chủ yếu là nhà kho, người bảo vệ và người giữ của" đối với văn hóa và sự sáng tạo của con người Các phân nhóm khác nhau và các tổ chức, cùng với một sự không đồng nhất của các thiết kế trừu tượng, các kịch bản, và các dấu hiệu bằng lời nói đóng góp vào quan niệm về thành phố như là thùng chứa văn hóa nhân loại và là nam châm để thu hút con người và ý tưởng

Gotham (2012) cho biết, lý thuyết hiện đại về đô thị hóa nổi lên ở châu Âu trong thế kỷ XVIII và XIX xuất phát từ cuộc cách mạng công nghiệp làm chuyển đổi việc làm, định cư, và định hình lối sống khắp lục địa Hàng trăm ngàn nông dân nông nghiệp và nông nô bỏ quê để đổ xô đến làm việc tại các nhà máy ở khu vực đô thị Nhà xã hội học người Đức Ferdinand Tönnies mô tả các yếu tố tương phản của cuộc sống đô thị và nông thôn Tönnies có cái nhìn bi quan về thành phố như đặc trưng bởi tình trạng chia rẽ, chủ nghĩa cá nhân và ích kỷ tràn lan Những triết gia châu Âu khác như Karl Marx, Friedrich Engels, Max Weber và Georg Simmel tập trung suy nghĩ đến tầm quan trọng của thành phố, như một vị trí của nền kinh tế tư bản mới nổi, một

vị trí của quyền lực chính trị và kinh tế, và sức mạnh của thay đổi văn hóa ảnh hưởng đến đời sống tinh thần Marx và Engels là những người đầu tiên mô tả sự thái quá của công nghiệp hoá và lối sống khủng khiếp của việc khai thác công nhân đô thị Marx

và Engels mô tả các đô thị hiện đại như thể hiện một cách sống động nhất những đặc thù của chủ nghĩa tư bản bao gồm: đối nghịch giữa tiền lương lao động và vốn tư bản,

Trang 24

giữa tích tụ tư sản và bần cùng hoá dân chúng Đối với Max Weber, các thành phố thời trung cổ châu Âu và tổ chức của nó là liên kết quan trọng trong sự phát triển hợp

lý kinh tế và chủ nghĩa tư bản hiện đại Các thành phố, như Weber ghi nhận, thể hiện trong hình thức tập trung những đặc thù của tính hợp lý chính thức bao gồm sự nhấn mạnh về tính toán, về hiệu quả, và trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế và quan

hệ xã hội

Cũng theo Gotham (2012), tại Hoa Kỳ, các nhà xã hội học đô thị tại trường Chicago ban đầu tập trung sự chú ý bằng kinh nghiệm của họ về sự phân bố không gian của người dân và các tổ chức, các nguyên nhân và hậu quả của các khu phố thừa hưởng chủng tộc, sự thích ứng với dân tộc và nhóm chủng tộc cho môi trường đô thị Robert Park, Ernst Burgess và Lewis Wirth nhận xét về tác động của quy mô về kích thước, mật độ, và sự đa dạng của các thành phố đến xã hội Từ bài viết của họ nổi lên một lý thuyết về đô thị hóa sau một loạt các giai đoạn dựa trên những thay đổi về dân

số, tổ chức, môi trường và công nghệ Vào những năm 1930, các nhà khoa học xã hội trên khắp nước Mỹ đã sử dụng những hiểu biết và các mô hình phát triển bởi trường Chicago để kiểm tra đô thị hóa và xác định các quá trình sinh trưởng và phát triển đô thị Mô hình vòng đồng tâm phát triển bởi Burgess là mô hình đầu tiên của đô thị hóa

để giải thích sự phân bố của các nhóm xã hội trong phạm vi thành phố Mô hình này

mô tả việc sử dụng đất đô thị trong vòng tròn đồng tâm: trung tâm thương mại (Central Business District - CBD) ở giữa mô hình, và thành phố mở rộng trong vòng tròn với các mục đích sử dụng đất khác nhau Năm 1939, Homer Hoyt phát triển các mô hình khu vực cho thấy khu vực mở rộng ra ngoài từ trung tâm thành phố dọc theo tuyến đường sắt, đường cao tốc, và các động mạch giao thông vận tải khác Vào năm 1945, Chauncy Harris và Edward Ullman đưa ra các mô hình đa tâm thừa nhận rằng đô thị hóa có thể xảy ra mà không có một khu vực trung tâm rõ ràng Trong mô hình này,

số lượng và các loại trung tâm đặc trưng cho mô hình đô thị hóa của thành phố Trong những năm 1970, một số nhà khoa học xã hội theo trường phái Marx, bao gồm Manuel Castells, David Harvey và Henri Lefebvre, phổ biến rộng rãi khái niệm phát triển không đồng đều hướng sự chú ý về mặt lý thuyết và phân tích tác động của

Trang 25

các nền kinh tế chính trị về các xu hướng đô thị hóa Phát triển không đồng đều đề cập đến sự phân bố không gian không công bằng của sự giàu có và tăng trưởng kinh

tế trong một thành phố hoặc khu vực đô thị Thuật ngữ này cũng đề cập đến sự xuất hiện đồng thời của việc mở rộng kinh tế và sự giàu có trong một khu vực kèm theo giảm đầu tư và mở rộng nghèo nàn trong một khu vực khác (Gotham, 2012)

Vào cuối những năm 1970 và tiếp tục những năm 1980, một cách tiếp cận phê phán mới trong nghiên cứu các thành phố và đô thị hóa đã phát triển ở châu Âu và Hoa Kỳ Thường được gọi là “chỉ trích kinh tế chính trị” hoặc “cách tiếp cận không gian xã hội”, quan điểm này nhấn mạnh về kích thước lớn của các thành phố: (i) Tầm quan trọng của tầng lớp và phân biệt chủng tộc thống trị (và gần đây hơn, giới tính) trong việc định hình đô thị hóa; (ii) Vai trò chính của chủ thể kinh tế mạnh mẽ, đặc biệt là những người trong ngành công nghiệp bất động sản, xây dựng và tái xây dựng thành phố; (iii) Vai trò của các chính phủ hỗ trợ tăng trưởng trong phát triển đô thị; (iv) Tầm quan trọng của biểu tượng, ý nghĩa, và văn hóa đến sự hình thành các thành phố; (v) Bối cảnh toàn cầu của đô thị hóa (Gottdiener và Feagin, 1988)

Chịu ảnh hưởng của tư tưởng trên, John Logan và Harvey Molotch (1987, trích bởi Gotham, 2012) đã phát triển lý thuyết “động cơ tăng trưởng” riêng của họ để giải thích đô thị hóa Cách tiếp cận động cơ tăng trưởng lập luận rằng một liên minh chính trị mạnh mẽ tạo thành một liên kết giữa lợi ích của ngành bất động sản và ngân hàng chi phối và kiểm soát quá trình phát triển đô thị Mong muốn “tăng trưởng” tạo ra một sự đồng thuận giữa một mảng rộng của các thành viên và các nhóm ưu tú, không

có gì có thể chia rẽ họ về một vấn đề cụ thể hoặc chính sách Những người ủng hộ cách tiếp cận động cơ tăng trưởng cho rằng liên minh tăng trưởng đang thịnh hành trên toàn bộ chính quyền địa phương bởi vì (i) lãnh đạo các thành phố tìm cách thúc đẩy tăng trưởng để duy trì các dịch vụ công và sức khỏe tài chính, và (ii) các doanh nghiệp địa phương tham gia vào các chính sách của chính quyền địa phương để duy trì và gia tăng lợi nhuận của họ bằng cách ảnh hưởng và định hình quy định sử dụng đất, chính sách thuế và việc làm, và cung cấp các dịch vụ của thành phố Sự hình thành các liên minh trong việc theo đuổi tăng trưởng lan toả đến tất cả các khía cạnh

Trang 26

của quá trình đô thị hóa, bao gồm cả hệ thống chính trị, cũng như các công ty tiện ích địa phương, các đoàn thể, phương tiện truyền thông, và các tổ chức văn hóa, thể thao như các đội thể thao chuyên nghiệp, nhà hát, dàn nhạc giao hưởng, và các trường đại học (Jonas và Wilson, 1999, trích bởi Gotham, 2012)

Tóm lại, đô thị hóa là một xu thế toàn cầu đang diễn ra với tốc độ khác nhau trên các châu lục khác nhau Tốc độ và mức độ đô thị hóa thay đổi theo vùng địa lý, trình

độ phát triển, và kích thước của quốc gia Các thành phố lớn phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường và sinh thái gắn với đô thị hóa bao gồm nhà ở kém chất lượng (khu ổ chuột), ô nhiễm môi trường, tội phạm, và tình trạng quá tải (điển hình là giao thông) Đồng thời, đô thị hóa cung cấp cơ hội to lớn cho sự đổi mới kinh tế, thể chế

và phát triển văn hóa

2.5 Đo lường đô thị hóa

Khái niệm cơ bản nhất là cơ sở để đo lường đô thị là thành phố Theo ấn bản năm

2007 của Merriam-Webster Online Dictionary (trích bởi Bloom và ctg., 2010), một thành phố là “một nơi tập trung dân cư lớn hơn, hay có tầm quan trọng hơn là một thị trấn hay một làng” Đối với mục đích thống kê, ba khái niệm thường được sử dụng

để xác định các khu vực và các quần thể đô thị là: thành phố chính (city proper), tích

tụ đô thị (urban agglomeration), và khu vực đô thị (metropolitan area)

Thành phố chính được xác định bởi các tiêu chí pháp lý và hành chính, và thông thường chỉ gồm những khu vực địa lý là một phần của một đơn vị hành chính được xác định một cách hợp pháp, và thường được thành lập trong lịch sử Tuy nhiên, nhiều khu đô thị đã phát triển vượt xa giới hạn của thành phố chính dẫn đến cần phải có các biện pháp khác Tích tụ đô thị là “dân số trên thực tế chứa trong những đường nét của một vùng lãnh thổ tiếp giáp dân cư ở các cấp độ mật độ đô thị mà không liên quan đến địa giới hành chính” (United Nations, 2006) Tích tụ đô thị được xác định bởi mật độ: sự tích tụ kết thúc nơi mật độ cư dân giảm xuống dưới một ngưỡng quan trọng Một khái niệm toàn diện hơn là khu vực đô thị Khái niệm này bao gồm cả sự tích tụ đô thị và bất kỳ “khu vực mật độ cư dân thấp hơn xung quanh mà cũng đang

bị ảnh hưởng trực tiếp của thành phố” (United Nations, 2006) Quần thể tại các khu

Trang 27

định cư nông thôn do đó có thể được tính là đô thị, miễn là chúng rơi vào ảnh hưởng chính trị hay kinh tế trực tiếp của một thành phố

Sử dụng những định nghĩa khác nhau, số lượng dân số rất khác nhau đã được công bố đối với hầu hết các thành phố Ví dụ: năm 2006, dân số thành phố chính của New York đã được ước tính khoảng 8,2 triệu người, dân số tích tụ đô thị ở mức 18,5 triệu, và dân số khu vực đô thị của nó ở mức 22 triệu (US Census Bureau, 2007, trích bởi Bloom và ctg., 2010)

Những vấn đề phân loại không phải là thách thức duy nhất khi nghiên cứu đô thị Thu thập số liệu dân số chính xác về các thành phố là khó khăn Kết quả các cuộc tổng điều tra dân số có xu hướng thấp hơn mức thực tế dân số đô thị do các di biến động lớn thường rất khó để kiểm soát (Cohen, 2004)

Bloom và ctg (2010) phác thảo một vài khái niệm cơ bản được sử dụng trong các

số liệu thống kê về đô thị hóa như sau Trong bất kỳ khoảng thời gian t, tỷ lệ dân số

đô thị/nông thôn URRt được xác định bởi công thức (2-6) như sau:

Trong đó PU và PR biểu thị cho dân số đô thị và nông thôn tương ứng Một biện pháp thường được sử dụng để xác định mức độ đô thị hóa là tỷ lệ của dân số sống ở khu vực đô thị biểu thị bởi Urbant, và được định nghĩa theo công thức (2-7) như sau:

Rất dễ dàng để thấy rằng hai khái niệm trên có liên quan chặt chẽ với nhau theo công thức (2-8) như sau:

Trong nghiên cứu này, giá trị tỷ lệ dân số thành thị trên tổng dân số (Urbant) được dùng làm biến đại diện cho mức độ đô thị hóa của một quốc gia

(2-6) URRt = PUt

Trang 28

Theo định nghĩa các chỉ số thống kê của World Bank, Urban population (% of total) là tỷ lệ dân số thành thị trên tổng dân số, dùng để chỉ những người sống ở các khu vực đô thị theo quy định của cơ quan thống kê quốc gia Nó được tính toán bằng cách sử dụng các ước tính dân số của World Bank và tỷ lệ đô thị từ United Nations World Urbanization Prospects Số liệu này của các quốc gia được thu thập hàng năm

và cập nhật trên trang web của World Bank (http://data.worldbank.org/indicator)

2.6 Quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế

Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra Trong phần này, nghiên cứu trình bày các quan điểm của các nhà khoa học đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Dựa trên cơ sở lý luận của các nhà khoa học để đưa ra các giả thuyết cho nghiên cứu

2.6.1 Đô thị hóa tác động đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại

Nếu sự phát triển của xã hội loài người kể từ cuộc cách mạng công nghiệp được tóm tắt trong không quá ba chữ, sẽ có rất ít lựa chọn thay thế tốt hơn là công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa (Chen và ctg, 2014) Ba phạm trù trên có liên quan chặt chẽ với nhau Công nghiệp hóa dẫn đến đầu ra trực tiếp của tăng trưởng kinh tế, theo đó tiếp tục cung cấp động lực cho một quá trình đô thị hóa mạnh mẽ ở các nước phát triển và các nước mới công nghiệp hóa, chủ yếu là thông qua chuyên môn hoá lao động và sự phát triển chưa từng có của các ngành phi nông nghiệp Chắc chắn, các sự kiện và số liệu thống kê lịch sử cho thấy rằng hầu như tất cả các nước phát triển có GDP bình quân đầu người cao thì cũng có mức độ đô thị hóa cao Nhiều nghiên cứu trước đây đã tìm thấy rằng mức độ đô thị hóa tương quan chặt chẽ với mức GDP bình quân đầu người (Chenery và Taylor, 1968; Henderson, 2003) Mọi người thường chấp nhận rằng tăng trưởng kinh tế thúc đẩy sự mở rộng của các ngành công nghiệp hiện đại và sự gia tăng dân số đô thị; tiếp đến, đô thị hóa cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chính sách theo đuổi đô thị hóa tích cực, với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, được nhìn thấy rộng rãi ở các nước đang phát triển (Friedmann, 2006) Trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, thế giới đang thay đổi nhanh chóng về đô thị hóa, tốc độ thay đổi càng tăng nhanh trong ba thập kỷ qua so với

Trang 29

trước đây Đồng thời, trọng tâm của quá trình đô thị hóa đã chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển

Trong vài thập kỷ gần đây, nhiều tổ chức phát triển có ảnh hưởng toàn cầu đã ủng hộ quan điểm cho rằng đô thị hóa hỗ trợ tăng trưởng và phát triển và cần được khuyến khích World Bank (2009, trích bởi Turok và McGranahan, 2013) cho rằng

“Không có quốc gia nào đã phát triển với thu nhập trung bình mà không công nghiệp hóa và đô thị hóa Không có quốc gia nào đã phát triển với thu nhập cao mà không

có các thành phố sôi động Sự đổ dồn đến các thành phố ở các nước đang phát triển

có vẻ hỗn loạn, nhưng nó là cần thiết” Tương tự như vậy, Robinson và ctg (2012, trích bởi Turok và McGranahan, 2013) đã viết “Thành phố là một trong những ngọn tháp cao nhất của sự sáng tạo của con người Thông qua sự tích tụ, thành phố có quyền lực để đổi mới, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống và chứa nhiều người hơn trong một diện tích nhỏ hơn, đồng thời sử dụng tài nguyên và phát thải trên đầu người cao hơn bất kỳ mô hình định cư nào khác” Trung Quốc luôn được xem như là một ví dụ về cách đô thị hóa có thể thúc đẩy công nghiệp hóa và chuyển đổi các tiêu chuẩn sống (Ravallion, 2009) Trung Quốc đã trải qua cột mốc lịch sử, 50% dân số sống tại các thành phố trong năm 2011, tăng rất nhanh so với chỉ có 20% năm 1980 Tốc độ gia tăng chưa từng thấy của đô thị hóa đã phản ánh sức mạnh của tăng trưởng việc làm ở các thành phố Thu nhập bình quân hộ gia đình ở các thành phố Trung Quốc hiện nay cao hơn gần ba lần so với khu vực nông thôn, chủ yếu là

do năng suất cao hơn Cam kết của nhà nước để đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng đô thị

đã giúp hạn chế những tác động về mặt xã hội của phong trào thay đổi dân số khổng

lồ này Khác với Ấn Độ và nhiều nước đang phát triển khác, nơi tình trạng tắc nghẽn, tình trạng thiếu nước, điều kiện sống tồi tàn tại đô thị và các vấn đề y tế công cộng đang lan tràn Trong những năm 2000, Trung Quốc đã chi 12,6% GDP vào cơ sở hạ tầng - gấp hơn hai lần của Ấn Độ (Bardhan, 2010, trích bởi Turok và McGranahan, 2013)

Theo Bertinelli và Black, (2004), có sự đa dạng của các kênh thông qua đó đô thị hóa ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Thứ nhất, các thành phố đóng một vai trò

Trang 30

quan trọng trong cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước đã và đang phát triển bằng cách cung cấp cơ hội cho người dân thụ hưởng các dịch vụ giáo dục, việc làm và sức khỏe Vốn giáo dục quyết định khả năng của một quốc gia trong việc phát triển công nghệ mới và áp dụng công nghệ hiện có (Aghion và Howitt, 2009, trích bởi Arouri

và ctg., 2014) Vốn sức khỏe có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế trực tiếp thông qua tác động của nó đến năng suất lao động Mở rộng hệ thống giáo dục ở các khu vực đô thị dễ dàng hơn và chi phí ít hơn so với ở khu vực nông thôn Do đó lợi ích mang lại từ giáo dục tại khu vực thành thị thường được thấy là cao hơn so với khu vực nông thôn Ảnh hưởng của đô thị hóa đến giáo dục nói chung là tích cực, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối tương quan này đặc biệt là ở châu Á Cư dân

đô thị cũng có nhiều cơ hội để tiếp cận với các bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh môi trường Hệ thống chăm sóc y tế tại đô thị cũng phát triển hơn, dẫn đến người dân đô thị được chăm sóc sức khỏe tốt hơn những người ở khu vực nông thôn Hơn nữa, người dân đô thị được tiếp cận tốt hơn với giao thông và các tiện ích cơ bản khác như điện, nước và thông tin liên lạc (viễn thông, internet…) Các doanh nghiệp và người lao động ở khu vực thành thị có năng suất cao hơn so với khu vực nông thôn

Thứ hai, đô thị hóa bao hàm sự tích tụ của người dân và doanh nghiệp, làm giảm chi phí sản xuất Đô thị hóa cho phép nền kinh tế đạt lợi thế về quy mô bên ngoài, làm giảm chi phí giao dịch và cho phép chuyên môn hóa bên trong doanh nghiệp dẫn đến chi phí sản xuất thấp (Kumar và Kober, 2012; Fujita và ctg., 1999; Krugman, 1991) Nghiên cứu của Rosenthal và Strange (2004) tìm thấy rằng tăng gấp đôi dân

số của thành phố có thể dẫn đến sự gia tăng năng suất của một số ngành từ 3% đến 8% Trên thực tế, các khu đô thị tạo ra 85% GDP của các nước có thu nhập cao Thứ ba, đô thị hóa là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh (Glaeser và ctg., 2010) Sự tập trung dân cư và doanh nghiệp tại đô thị giúp tiếp cận tài chính dễ hơn, thúc đẩy ý tưởng kinh doanh dễ hơn và có phạm vi thị trường địa phương lớn hơn (một thị trường đô thị với mật độ người tiêu dùng cao hơn) để kinh doanh Loughran

và Schultz (2005) cho thấy rằng địa lý ảnh hưởng đến hiệu suất của các công ty: với

Trang 31

các yếu tố khác không đổi, các doanh nghiệp đô thị có nhiều lợi nhuận hơn so với các doanh nghiệp nông thôn Sự khác biệt này làm cho các khu vực đô thị hấp dẫn hơn đối với các doanh nhân và doanh nghiệp Hơn nữa, sự thịnh vượng của một thành phố

và tăng trưởng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thu hút người lao động vào các ngành sản xuất, bố trí cho họ công việc thích hợp, và tiếp tục phát triển kỹ năng của

họ (Bacolod và ctg., 2010) Tầm quan trọng của kỹ năng đã được nhấn mạnh trong kinh tế đô thị kể từ khi nó bắt đầu phát triển Đô thị hóa là nguyên nhân việc di cư của những người có tay nghề cao và tài năng đến các thành phố lớn Sự tập trung này gây ra sự tương tác và hiệu ứng lan tỏa tri thức cũng như kỹ năng Người có tay nghề

sẽ nâng cao kỹ năng và kiến thức của họ hiệu quả hơn khi được tiếp xúc với kiến thức

và người có tay nghề cao tương tự (khu vực đô thị) so với ở những nơi mà họ ít được tương tác với các đồng nghiệp (khu vực nông thôn) Điều này làm tăng năng suất trong khu vực đô thị

Thứ tư, có hiệu ứng lan tỏa hay còn gọi là ngoại tác tích cực của phát triển đô thị

về nông thôn (Bairoch, 1988; Williamson, 1990; Allen, 2009; Cali và Menon, 2009, trích bởi Arouri và ctg., 2014) Thông qua di cư, kiều hối và hoạt động tương tác giữa khu vực thành thị và nông thôn, đô thị hóa có thể có tác động tích cực trên cả khía cạnh tài chính và nguồn nhân lực Thông qua di cư, việc chuyển giao thông tin, kỹ năng sản xuất, công nghệ và tài chính đều có thể được cải thiện trong các khu vực mà người di cư đã ra đi (McKenzie và Sasin, 2007)

Tóm lại, có thể thấy rằng có nhiều quan điểm của các nhà khoa học cho rằng đô thị hóa có mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và mức tác động là tích cực Do đó có

cơ sở để đặt ra giả thuyết thứ nhất trong nghiên cứu này là:

Giả thuyết 1: Đô thị hóa tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN

Tích tụ đô thị, tác động tích cực và tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế:

Có phải nền kinh tế phát triển nhanh hơn nếu chúng được tập trung? Đây là một trong những câu hỏi cơ bản nhất đặt ra bởi các nhà địa lý kinh tế Nó cũng là một vấn

đề trung tâm của một chương trình nghiên cứu lý thuyết đã xuất hiện vào cuối những

Trang 32

năm 1990 bởi những mô hình nối tiếp từ các lý thuyết mới của tăng trưởng kinh tế và địa lý kinh tế Các lý luận gần đây thường ủng hộ quan điểm rằng sự gần gũi về không gian là tốt cho tăng trưởng kinh tế Ví dụ, Martin và Ottaviano (1999) cho rằng tăng trưởng và tích tụ địa lý như là “hai quá trình tự củng cố”, Fujita và Thisse (2002) cho rằng “tăng trưởng và tích tụ cùng song hành”, và bài viết của Baldwin và Martin (2004) nhấn mạnh các kết quả đó “tích tụ không gian có lợi cho tăng trưởng” Việc tăng trưởng kinh tế và sự tập trung không gian, nếu tìm thấy là một hiện tượng chung,

có những tác động mạnh mẽ cho chính sách kinh tế, vì nó đòi hỏi một dạng đặc biệt của cân bằng nguồn lực hiệu quả, nhờ đó mà các nhà hoạch định chính sách có thể bị buộc phải lựa chọn giữa việc hỗ trợ các vùng tụt hậu và thúc đẩy tăng trưởng ở cấp quốc gia (Martin và Ottaviano, 1999)

Williamson (1965) đã cho rằng sự tích tụ quan trọng nhất ở giai đoạn đầu của sự phát triển Khi cơ sở hạ tầng giao thông vận tải và thông tin liên lạc là khan hiếm và tầm với của thị trường vốn còn hạn chế, hiệu quả có thể được tăng cường đáng kể bằng việc tập trung sản xuất trong một khu vực; nhưng khi cơ sở hạ tầng được cải thiện và mở rộng thị trường, các yếu tố ngoại tác tắc nghẽn có thể ủng hộ một vị trí địa lý kinh tế phân tán hơn Cấu hình này là phù hợp với các mô hình đô thị hóa và phát triển bởi Bertinelli và Black (2004) Trong mô hình đó, tăng trưởng bắt nguồn

từ vùng đông kết ("thành phố"), như tích lũy vốn con người được coi là xảy ra chỉ ở

đó Những lợi ích của tích tụ phải được cân đối với chi phí của tính phi kinh tế tắc nghẽn tĩnh Tầm quan trọng tương đối của hai hiệu ứng thay đổi qua các giai đoạn phát triển Lợi ích tiềm năng từ sự tích lũy vốn con người là đặc biệt lớn ở các giai đoạn phát triển ban đầu khi tính phi kinh tế ùn tắc không tác động, tầm quan trọng tương đối của tính phi kinh tế tắc nghẽn sẽ tăng với mức độ phát triển Tích lũy vốn con người do tích tụ gây ra thể hiện đặc biệt quan trọng ở mức độ thấp của tiến bộ công nghệ Nói chung, việc tái phân bổ địa lý của hoạt động kinh tế là một quá trình chậm và xu hướng đô thị hóa mất thời gian để đảo ngược (Henderson và ctg., 2001)

Do đó, có thể tưởng tượng rằng các quốc gia tìm thấy chính mình với một vị trí địa

lý kinh tế tập trung quá mức sau giai đoạn tăng trưởng nhanh, và sự tập trung vượt

Trang 33

quá mức tối ưu Theo giả thuyết Williamson, tích tụ thúc đẩy tăng trưởng ở các giai đoạn phát triển ban đầu nhưng không có, hoặc thậm chí bất lợi, khi nền kinh tế đã đạt đến một mức thu nhập nhất định

Đô thị hóa, tích tụ đô thị có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đó là tính kinh tế của đô thị hóa Tuy nhiên, tính phi kinh tế của việc tích tụ đô thị cũng đã được công nhận như là một tính năng quan trọng của đô thị hóa Trong số này, chi phí tắc nghẽn đã được chỉ ra là đặc biệt có vấn đề Mặc dù tình trạng tắc nghẽn thường được gắn kết với việc công suất đường giao thông không đủ, nó còn là vấn đề đối với nhiều loại cơ sở hạ tầng, bao gồm nước, điện, viễn thông, cảng, đường sắt và vận tải hàng không… Trong mọi trường hợp, tính phi kinh tế tác động làm hạn chế hiệu quả việc cung cấp dịch vụ và cản trở tăng trưởng kinh tế Các hình thức và tác động của tính phi kinh tế của đô thị hóa đã được nghiên cứu sâu trong một số công trình của một số nhà nghiên cứu như Linn (1982), Richardson (1987) Tính phi kinh tế được cho là có thể thấy rõ tại các khu vực đô thị lớn nhất trong nước Henderson (2002) cho thấy tính phi kinh tế của thành phố lớn có thể có những hậu quả tiêu cực đối với các thành phố khác trên toàn hệ thống phân cấp đô thị, các nguồn lực giới hạn tập trung ở những nơi lớn nhất trong nỗ lực để giảm tính phi kinh tế, để lại các thành phố vừa và nhỏ không được giám sát Brulhart và Sbergami (2009) tìm thấy sự tích tụ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế lên đến một mức độ nhất định của sự phát triển sau đó tính phi kinh tế ảnh hưởng làm cản trở tăng trưởng kinh tế, phù hợp với các giả thuyết nổi tiếng của Williamson (1965)

Tóm lại, tác động tích cực của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế không phải là luôn luôn quan sát được (Fay và Opal, 2000) Cả lý thuyết kinh tế và nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng có một mối quan hệ hình chữ U ngược giữa mức độ

đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế (Henderson, 2003): trong giai đoạn đầu của sự phát triển, đô thị hóa cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế; trong giai đoạn thứ hai, có một mối tương quan nghịch giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Đô thị hóa quá nhanh chóng có thể tác động tiêu cực đến nền kinh tế thông qua việc gia tăng căng thẳng về

cơ sở hạ tầng (Alam và ctg., 2007) Như vậy, có vẻ tác động của đô thị hóa đến tăng

Trang 34

trưởng kinh tế phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển, giai đoạn đô thị hóa, và bản chất của các hoạt động kinh tế chủ yếu (Castells, 2011) Do

đó có cơ sở đặt ra giả thuyết thứ hai trong nghiên cứu này là:

Giả thuyết 2: Khi đô thị hóa tăng đến một mức nào đó thì tác động tích cực của

đô thị hóa đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN giảm dần

2.6.2 Đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế không liên quan với nhau

Phải công nhận rằng đô thị hóa có một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế

và xã hội (Beall và ctg., 2009, trích bởi Turok và McGranahan, 2013) Tuy nhiên, những lập luận hiện nay cho rằng đô thị hóa là một yếu tố chính của phát triển, hoặc xem các thành phố có chức năng như “động cơ tăng trưởng”, là dàn trải và các bằng chứng hỗ trợ đã cung cấp là khá mỏng Mối quan hệ giữa đô thị hóa và phát triển kinh

tế thường được miêu tả như là tự động và không thể tránh khỏi, giống như một quy luật phổ quát chi phối một quá trình lịch sử không thay đổi Các thành phố có thể hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bằng các hình thức đa dạng hoặc chính là thành phần của sự tăng trưởng đó Các điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển cũng đang bị bỏ quên, cùng với những hậu quả của sự tăng trưởng đối với các cộng đồng nghèo và tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Đô thị hóa thường được xem là sự tích tụ, nhưng chúng không đồng nghĩa, đặc biệt là nếu các khu vực phát triển nhanh nhất là các thành phố và thị trấn nhỏ hơn là các thành phố lớn

Phần lớn các tài liệu về quá trình đô thị hóa và những tuyên bố của các nhà làm chính sách đã ca ngợi phát triển đô thị hóa như một dấu hiệu của sự tiến bộ (Chang

và Brada, 2006) Tuy nhiên, bản chất của sự tương tác này là một cái gì đó hoàn toàn khác biệt và phức tạp hơn Sự hiểu biết của chúng ta về các thành phố đang biến đổi, thông qua các nguyên tắc mới phức tạp của khoa học và lý thuyết tự tổ chức (Portugali, 2006), chúng ta thấy chúng như các hệ thống sinh học hơn là các hệ thống máy móc Các thành phố có một ý thức mạnh mẽ về trật tự và mô hình, và không còn

là hệ thống hỗn loạn dưới sự hỗn loạn rõ ràng và đa dạng của các hình thức không gian đô thị (Batty, 2012) Đô thị hóa và sự tích tụ đô thị có tác động tích cực đến tăng

Trang 35

trưởng kinh tế trong khi tính phi kinh tế của đô thị hóa có tác động tiêu cực (Moomaw

và Shatter, 1996)

Lập luận rằng đô thị hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gần đây đã gặp nhiều thử thách Fay và Opal (2000) ghi lại những gì họ gọi là đô thị hóa mà không có tăng trưởng ở các nước đang phát triển trong những năm cuối thế kỷ XX Cụ thể, trái với giả định của họ là đô thị hóa thường diễn ra với tăng trưởng kinh tế, thì kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong vài thập kỷ qua là một sự bất thường Bloom và ctg (2008) báo cáo rằng không có bằng chứng cho thấy đô thị hóa ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tái kiểm tra các mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế, và làm cho chúng ta suy nghĩ lại một cách sâu sắc những ý tưởng phổ biến và thực tiễn về đô thị hóa tăng nhanh ở các nước đang phát triển Glaeser (2013) cho thấy rằng có tình trạng “đô thị hóa nước nghèo” ở dưới cùng của bậc thang phân phối thu nhập, và nghiên cứu của Jedwab & Vollrath (2015) cho thấy thành phố lớn đang ngày càng có xu hướng đặt tại các nước nghèo hơn Những nghiên cứu cho thấy khả năng rằng một cái gì đó cơ bản đã thay đổi trong mối quan hệ của đô thị hóa và phát triển ở cuối thế kỷ XX so với kinh nghiệm trước đó Turok và McGranahan (2013) cũng đã lập luận rằng không phải là

đô thị hóa hoặc bản thân kích thước thành phố gây ra sự tăng trưởng kinh tế, mà là

cơ sở hạ tầng và các thiết lập thể chế

Tóm lại, cũng có nhiều quan điểm của các nhà khoa học cho rằng đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế không liên quan với nhau Do đó, việc tìm hiểu “mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế” là cần thiết, đó cũng chính là mục tiêu nghiên cứu đầu tiên được đặt ra trong nghiên cứu này

2.7 Các nghiên cứu trước

Ý tưởng cho rằng các thành phố là nguồn gốc tăng trưởng kinh tế đã được xây dựng bởi Jacobs (1969, trích bởi Bertinelli và Black, 2004) và giả thuyết này đã được thử nghiệm trên những cơ sở dữ liệu khác nhau Sự tăng trưởng nhanh chóng của dân

số đô thị tạo động lực cho các nghiên cứu về đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Nakamura (1985) kết luận rằng sự gia tăng gấp đôi dân số đô thị sẽ dẫn đến sự gia

Trang 36

tăng năng suất 3,4% tại Nhật Bản Ciccone và Hall (1996) cho thấy tác động tích cực của mật độ dân số đến năng suất ở Hoa Kỳ, họ thông báo rằng tăng gấp đôi dân số của thành phố sẽ tăng năng suất 6% Trong một nghiên cứu khác Ciccone (2002) trình bày kết quả ước lượng cho các nước Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha và Anh, theo đó tăng gấp đôi dân số đô thị sẽ tăng năng suất 4,5% Nghiên cứu của Rosenthal và Strange (2004) tìm thấy rằng tăng gấp đôi dân số của thành phố có thể dẫn đến sự gia tăng năng suất của một số ngành từ 3% đến 8%

Cali (2008) nghiên cứu đô thị hóa ở Ấn Độ và tìm thấy một mối quan hệ tích cực yếu giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Mitra và Mehta (2011) thấy rằng mức độ

đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo tại các vùng của Ấn Độ đều mạnh mẽ và tích cực liên kết với nhau Chang và Brada (2006) xem xét về đô thị hóa

ở Trung Quốc và cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các quốc gia đô thị hóa thấp gần đây khống chế tăng trưởng kinh tế thế giới Da Mata và ctg (2007) kiểm tra ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến đô thị hóa ở Brazil (nhưng không phải là ngược lại) Họ phát hiện ra rằng một loạt các hiện tượng kinh tế, bao gồm cả các cơ hội tạo thu nhập, tiềm năng thị trường và chất lượng lao động, có ảnh hưởng đến sự phát triển của các thành phố Brulhart và Sbergami (2009) tìm thấy sự tích tụ

hỗ trợ tăng trưởng kinh tế lên đến một mức độ nhất định của sự phát triển sau đó tính phi kinh tế ảnh hưởng làm cản trở tăng trưởng kinh tế tại các nước châu Âu

Arouri và ctg (2014) nghiên cứu về ảnh hưởng của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế và hình thành vốn con người ở châu Phi Trong nghiên cứu này, Arouri và cộng sự thực hiện kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh

tế Sau đó, bằng phương pháp ước lượng hồi quy bảng động với dữ liệu của các nước châu Phi theo mô hình sau:

Yit = β0 + Yi,t-1β1 + Uitβ2 + U2

itβ3 + Xitβ4 + Gtβ5 +vi + uit

Kết quả cho thấy tác động của đô thị hóa (đo bằng tỷ lệ dân số đô thị trên tổng dân số) với tăng trưởng kinh tế (đo bằng GDP bình quân đầu người) là hình chữ U ngược (phi tuyến tính) Kết quả ước lượng hồi quy với dữ liệu các nước châu Phi cho thấy đỉnh cao của đô thị hóa khoảng 73%, sau ngưỡng này, đô thị hóa cao có liên

Trang 37

quan đến việc suy giảm GDP bình quân đầu người nếu các yếu tố khác không đổi Kết quả tương tự với dữ liệu các nước tiểu vùng Sahara (loại trừ các nước Bắc Phi) cho thấy ngưỡng đỉnh cao khoảng 70%

Lewis (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế tại Indonesia Trong nghiên cứu này, Lewis dùng dữ liệu chuỗi thời gian từ 1960 đến

2009 và dữ liệu bảng các địa phương tại Indonesia Kết quả cho thấy cho thấy rằng mức độ đô thị hóa liên quan tích cực với tăng trưởng kinh tế nhưng tốc độ thay đổi của đô thị hóa tác động tiêu cực với tốc độ tăng trưởng kinh tế Ước lượng hồi quy

dữ liệu bảng động các địa phương cung cấp thêm bằng chứng về mức độ và tỷ lệ tác động tích cực và tiêu cực tương ứng Kết quả ước lượng bảng cũng ngụ ý rằng các tác động phi kinh tế của sự tăng trưởng dân số đô thị được liên kết với việc chi tiêu không đủ cho cơ sở hạ tầng công cộng địa phương Chính quyền các địa phương cần đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng để có thể đối phó tốt hơn với những tác động bất lợi rõ ràng của đô thị hóa nhanh chóng đến tăng trưởng kinh tế

Leitão (2013) nghiên cứu về mối quan hệ giữa tích tụ đô thị và tăng trưởng kinh

tế tại châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, New Zealand và Mexico từ 1990 đến 2008 Kết quả cho thấy mức độ tích tụ đô thị (đo bằng tỷ lệ dân số sống trong các đô thị có quy

mô lớn hơn 1 triệu người trên tổng dân số của một quốc gia) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (đo bằng GDP bình quân đầu người) Cụ thể 1% gia tăng của tích tụ đô thị dẫn đến 3.19% gia tăng trong GDP bình quân đầu người

Kolomak (2012) nghiên cứu về quan hệ giữa đô thị hóa và phát triển kinh tế ở Nga Trong nghiên cứu này, bằng phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng tĩnh với dữ liệu là các vùng của liên bang Nga, Kolomak cũng đã tìm thấy mối quan hệ phi tuyến tính giữa mức độ đô thị hóa (đo bằng tỷ lệ dân số đô thị trên tổng dân số)

và tăng trưởng kinh tế (đo bằng GDP bình quân đầu người)

Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu trước về quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế được trình bày trong bảng 2.1

Trang 38

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả các nghiên cứu liên quan

1 Gia tăng gấp đôi dân số đô thị sẽ dẫn đến sự gia tăng năng

3 Tại các nước Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha và Anh, tăng gấp

đôi dân số đô thị sẽ tăng năng suất 4,5%

Ciccone (2002)

4 Tại Hoa Kỳ, tăng gấp đôi dân số thành phố có thể dẫn đến

sự gia tăng năng suất của một số ngành từ 3% đến 8%

Rosenthal và Strange (2004)

5 Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các quốc gia đô thị

hóa thấp gần đây khống chế tăng trưởng kinh tế thế giới

(Trung Quốc)

Chang và Brada (2006)

6 Các hiện tượng kinh tế, bao gồm cả các cơ hội tạo thu nhập,

tiềm năng thị trường và chất lượng lao động, có ảnh hưởng

đến sự phát triển của các thành phố (Brazil)

Da Mata và ctg (2007)

7 Tìm thấy một mối quan hệ tích cực yếu giữa đô thị hóa và

tăng trưởng kinh tế tại Ấn Độ Cali (2008)

8 Sự tích tụ đô thị hỗ trợ tăng trưởng kinh tế lên đến một mức

độ nhất định của sự phát triển sau đó tính phi kinh tế ảnh

hưởng làm cản trở tăng trưởng kinh tế tại các nước châu Âu

Brulhart và Sbergami (2009)

9 Mức độ đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm

nghèo tại các vùng của Ấn Độ đều mạnh mẽ và tích cực liên

kết với nhau

Mitra và Mehta (2011)

10 Mối quan hệ giữa mức độ đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế

là phi tuyến tính (Liên bang Nga) Kolomak (2012)

11 Mức độ tích tụ đô thị thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Leitão (2013)

12 Tác động của đô thị hóa đối với tăng trưởng kinh tế là hình

chữ U ngược (phi tuyến tính)

Arouri và ctg (2014)

13 Mức độ đô thị hóa tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

nhưng tốc độ thay đổi của đô thị hóa tác động tiêu cực với

tốc độ tăng trưởng kinh tế Tác động phi kinh tế của sự tăng

trưởng dân số đô thị được liên kết với việc chi tiêu không đủ

cho cơ sở hạ tầng

Lewis (2014)

14 Đô thị hóa mà không có tăng trưởng ở các nước đang phát

triển trong những năm cuối thế kỷ XX Fay và Opal (2000)

Trên cơ sở các nghiên cứu trước, nghiên cứu này mong muốn kế thừa và nghiên cứu mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế ở khu vực ASEAN

Trang 39

Nghiên cứu này kế thừa nghiên cứu của Arouri và ctg (2014), Kolomak (2012)

sử dụng các biến mức độ đô thị hóa (đo bằng tỷ lệ dân số đô thị trên tổng dân số) và tăng trưởng kinh tế (đo bằng GDP bình quân đầu người) Khác với các nghiên cứu trước, nghiên cứu này tìm hiểu mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế tại khu vực các nước ASEAN trong đó có Việt Nam

2.8 Giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu thứ (ii), như đã trình bày trong mục 2.6, chương II, nghiên cứu đưa ra hai giả thuyết để tiến hành kiểm định đánh giá mức độ tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế như sau:

1 Đô thị hóa tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN

2 Khi đô thị hóa tăng đến một mức nào đó thì tác động tích cực của đô thị hóa đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN giảm dần

Ý nghĩa của hai giả thuyết đưa ra nêu trên là tồn tại mối quan hệ phi tuyến tính giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế

2.9 Mô hình lý thuyết đề xuất

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu thứ (i): “Kiểm định mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế tại một số nước ASEAN”, mô hình lý thuyết đề xuất là mô hình kiểm định mối quan hệ nhân quả 2 chiều được mô tả trong hình 2.1

Hình 2.1: Mô hình đề xuất kiểm định mối quan hệ 2 chiều

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu thứ (ii): “Đánh giá tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước ASEAN”, Mô hình lý thuyết đề xuất là mô hình đánh giá tác động hồi quy dữ liệu bảng

Mối quan hệ? Tăng trưởng

kinh tế

Đô thị hoá

Trang 40

Xuất phát từ mô hình lý thuyết tăng trưởng kinh tế mô tả bởi hàm sản xuất cơ bản biểu thị theo phương trình (2-1) sau:

Trong phương trình (2-1) trên: Y biểu thị tổng sản lượng; K là trữ lượng vốn và

L là lực lượng lao động Phương trình trên cho thấy rằng tổng sản lượng là một hàm

số (ký hiệu f) của trữ lượng vốn và lực lượng lao động Khi trữ lượng vốn và lực lượng lao động tăng trưởng, sản lượng sẽ gia tăng

Nghiên cứu mở rộng hàm sản xuất trên bằng cách thêm vào mức độ đô thị hóa như sau:

lệ dân số ngoài độ tuổi lao động (bao gồm tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi và tỷ lệ dân số từ

65 tuổi trở lên) và mật độ dân số

Mô hình lý thuyết đề xuất đánh giá tác động được mô tả trong hình 2.2

Hình 2.2: Mô hình đề xuất đánh giá tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế

Đô thị hoá

Nhóm biến kiểm soát bao gồm:

- Giá trị tích luỹ vốn đầu tư

Ngày đăng: 09/07/2017, 12:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1: Mức độ đô thị hóa tại 7 nước ASEAN (1993-2014) - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Hình 4.1 Mức độ đô thị hóa tại 7 nước ASEAN (1993-2014) (Trang 58)
Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng đô thị hóa tại 7 nước ASEAN (1993-2014) - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Hình 4.2 Tốc độ tăng trưởng đô thị hóa tại 7 nước ASEAN (1993-2014) (Trang 59)
Bảng 4.3: Tăng trưởng GDP tại 7 nước ASEAN (1993-2014) - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Bảng 4.3 Tăng trưởng GDP tại 7 nước ASEAN (1993-2014) (Trang 60)
Hình 4.3: Tăng trưởng GDP tại 7 nước ASEAN (1993-2014) - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Hình 4.3 Tăng trưởng GDP tại 7 nước ASEAN (1993-2014) (Trang 61)
Bảng 4.4 trình bày số liệu GDP bình quân đầu người tại 7 nước ASEAN trong  giai đoạn nghiên cứu 1993-2014 - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Bảng 4.4 trình bày số liệu GDP bình quân đầu người tại 7 nước ASEAN trong giai đoạn nghiên cứu 1993-2014 (Trang 62)
Hình 4.4: Quy trình kiểm định mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Hình 4.4 Quy trình kiểm định mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế (Trang 66)
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Trang 69)
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình tĩnh với phương pháp OLS, FE và RE - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Bảng 4.12 Kết quả hồi quy mô hình tĩnh với phương pháp OLS, FE và RE (Trang 70)
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình tĩnh với phương pháp Driscoll và Kraay - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Bảng 4.13 Kết quả hồi quy mô hình tĩnh với phương pháp Driscoll và Kraay (Trang 72)
Bảng 4.14: Kết quả hồi quy mô hình động với phương pháp D-GMM - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Bảng 4.14 Kết quả hồi quy mô hình động với phương pháp D-GMM (Trang 73)
Bảng 4.16: Kết quả ước lượng hồi quy - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Bảng 4.16 Kết quả ước lượng hồi quy (Trang 77)
Hình 4.6: Mối quan hệ phi tuyến theo mô hình động  Phương trình bình phương: (-1.051) URB 2  + 1.428 URB - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Hình 4.6 Mối quan hệ phi tuyến theo mô hình động Phương trình bình phương: (-1.051) URB 2 + 1.428 URB (Trang 80)
Đồ thị scatter tương quan giữa Tăng trưởng kinh tế (LnGDPpc) và Đô thị hóa  (URB) - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
th ị scatter tương quan giữa Tăng trưởng kinh tế (LnGDPpc) và Đô thị hóa (URB) (Trang 108)
Bảng tổng hợp thử nghiệm ước lượng FE: - Mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế   nghiên cứu một số nước ASEAN
Bảng t ổng hợp thử nghiệm ước lượng FE: (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm