nữa chuyển đổi đơn vị đo lường còn là “nỗi ám ảnh” của nhiều học sinh Tiểu học.Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi nghiên cứu đề tài “Rèn kỹ năng đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo di
Trang 1PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ:
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xây dựng căn bản như khi xây một tòa nhà cao tầng hiện đại thì việc xử
lí móng là hết sức quan trọng mà nền móng của ngôi nhà lại nằm sâu trong lòng đất Còn những tòa nhà ở trên thì ai cũng có thể nhìn thấy được, chỉ những người xây dựng, những người có chuyên môn mới thấy rõ tầm quan trọng, giá trị đích thực của cái nền vững chắc ấy Bậc Tiểu học cũng được coi như cái nền móng của tòa nhà tri thức kia Chính vì vậy, điều 2 của luật phổ cập giáo dục Tiểu học đã xác định bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Bậc Tiểu học đã tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho các em tiếp tục học các bậc học trên Nội dung giảng dạy của Tiểu học luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống, không chỉ thế mà mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán là một trong những môn có vị trí rất quan trọng Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán có nhiều ứng dụng trong đời sống, giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Một trong những nội dung toán học đáp ứng được mục đích trên đó
là đơn vị đo lường
Học tập phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống Môn
Toán ở Tiểu học góp phần quan trọng trong việc rèn luyện tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề Việc giúp học sinh hình thành những biểu tượng hình học và đại lượng hình học có tầm quan trọng đáng kể, vì điều đó giúp các em định hướng trong không gian, gắn liền việc học tập với cuộc sống xung quanh và hỗ trợ học sinh học tập tốt các môn khác Đối với nội dung giảng dạy về đo lường các em đã được làm quen từ lớp 1 và hoàn chỉnh ở lớp 5 Các bài tập về chuyển đổi đơn vị đo lường mang tính khái quát cao, nó là một thuộc tính trừu tượng của các sự vật và hiện tượng Đó là một trong những bài tập có tác dụng rèn luyện tư duy tốt Song đối với lứa tuổi Tiểu học, hoạt động nhận thức chủ yếu dựa vào hình dạng bên ngoài, chưa nhận thức rõ thuộc tính đặc trưng của sự vật Do đó học sinh rất khó khăn trong việc nhận thức đại lượng Thực tế trong quá trình giảng dạy đổi các đơn
vị đo lường tôi thấy có đầy đủ các dạng: đổi từ đơn vị nhỏ sang đơn vị lớn và ngược lại, rồi đổi từ danh số đơn sang danh số phức và ngược lại Trong từng dạng đó lại có nhiều dạng nhỏ, học sinh hết sức gặp khó khăn trong việc tếp thu và vận dụng thực hành Đặc biệt, học sinh lớp 5 đã là học sinh cuối cấp rồi, nội dung
về chuyển đổi đơn vị đo lường trong chương trình của các em không phải là ít Hơn
Trang 2nữa chuyển đổi đơn vị đo lường còn là “nỗi ám ảnh” của nhiều học sinh Tiểu học.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi nghiên cứu đề tài “Rèn kỹ năng đổi đơn vị đo
độ dài và đơn vị đo diện tích cho học sinh lớp 5” với mong muốn học sinh có những kiến thức vững chắc, có một số kỹ năng cơ bản để đổi đơn vị đo và làm các bài tập có liên quan, tạo điều kiện vững chắc cho các em học tốt môn Toán ở các lớp tiếp theo
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy " Đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo diện tích cho học sinh sinh lớp 5"
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Hoạt động dạy học" Đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo diện tích đối với học sinh
lớp 5"
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu, sử dụng các phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp điều tra giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát thực tiễn
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn (giáo viên có kinh nghiệm, các bậc phụ huynh học sinh)
V PHẠM VỊ NGHIÊN CỨU
1 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đi sâu nghiên cứu về quá trình dạy học " Đổi đơn vị đo độ dài
và đơn vị đo diện tích đối với học sinh lớp 5"
- Về không gian: Lớp 5B của trường nơi tôi công tác
2 Thời gian nghiên cứu
- Về thời gian: từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 5/2016
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 3Trong các môn học ở Tểu học, cùng với môn Tiếng việt, môn Toán cũng có vị
trí hết sức quan trọng vì:
- Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn khác
ở Tiểu học và chuẩn bị cho việc học môn Toán ở bậc Trung học
- Môn Toán rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh Những thao tác tư duy có thể rèn luyện cho học sinh trong môn Toán bao gồm: phân tích tổng hợp, so sánh, tương tự, cụ thể hóa, đặc biệt hóa Các phẩm chất trí tuệ có thể rèn cho học sinh bao gồm: tính độc lập, tính nhuần nhuyễn, tính linh hoạt, tính sáng tạo
- Trong chương trình môn Toán ở Tiểu học, có nhiều mảng kiến thức như: yếu tố thống kê, yếu tố hình học, số học, tỉ lệ bản đồ, giải toán có lời văn thì yếu tố đo lường giữ vai trò rất quan trọng vì mảng kiến thức này sẽ giúp học sinh vận dụng vào cuộc sống thực tiễn rất nhiều
- Nội dung giảng dạy đơn vị đo lường các em được làm quen từ lớp 1 và hoàn chỉnh ở lớp 5 Các bài tập về chuyển đổi đo lường mang tính khái quát cao và là một trong các bài tập để rèn luyện tư duy Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải tìm ra cách tốt nhất giúp các em nắm vững và thành thạo các kỹ năng chuyển đổi đơn vị đo đã học
II THỰC TRẠNG
1 Thuận lợi
- Phụ huynh học sinh quan tâm, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập, sách vở cho con
em đến trường
- Hầu hết gia đình học sinh ở gần trường học, thuận lợi cho việc đi học của học sinh, nâng cao tỉ lệ chuyên cần, đi học đều, đúng giờ
- Học sinh hiếu học thích được đến trường, tự tin, bạo dạn, hăng hái phát biểu xây dựng bài
- Nêu cao ý thức tự giác học tập ở nhà, ở trường Tham gia sôi nổi hoạt động giáo dục ngoài giờ
- Chủ động tích cực trong học tập, đặc biệt áp dụng phương pháp dạy học sinh chủ động sáng tạo tự làm chủ tìm tòi kiến thức mới
2 Khó khăn
- Qua thực tế giảng dạy lớp 5 và trao đổi với các đồng nghiệp tôi nhận thấy rằng: Khả năng ghi nhớ của hầu hết học sinh là rất kém, trong khi đó các em phải học về tất cả các đơn vị đo lường của chương trình cuối cấp Trong quá trình lên lớp, mặc
dù giáo viên đã hết sức cố gắng giúp học sinh nắm các kiến thức có liên quan như
Trang 4tên gọi, thứ tự vị trí của từng đơn vị đo và mối quan hệ giữa chúng, song chỉ sang tiết học sau là học sinh lại quên ngay
- Không những thế, các bài tập về chuyển đổi đơn vị đo lường lại rất phong phú và
đa dạng như: đổi đơn vị đo diện tích, đổi đơn vị đo độ dài, đổi đơn vị đo khối lượng , trong đó có đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn, từ đơn vị lớn ra đơn vị bé, từ danh số đơn ra danh số đơn, từ danh số đơn ra danh số phức, có liên quan cả số tự nhiên, phân số và số thập phân Vì thế nên học sinh thường có nhớ thì cũng lẫn lộn giữa đơn vị này với đơn vị kia, giữa dạng này với dạng khác
- Một hạn chế nữa cũng gây không ít khó khăn trong việc rèn kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo lường cho học sinh, đó là học sinh thường không xác định được bài tập cần làm có dạng gì (Từ đơn vị lớn ra đơn vị bé hay từ đơn vị bé ra đơn vị lớn ), hoặc có biết thì cũng không nghĩ đến việc tìm cách giải của dạng ra để áp dụng Đặc biệt hơn nữa là các em thường tách rời phần lí thuyết với thực hành Chẳng hạn như: các em vẫn biết hai đơn vị đo độ dài hơn kém nhau 10 lần nhưng khi thực hành đổi các em lại không biết dựa vào kiến thức đó, khi hỏi thì các em vẫn biết mỗi đơn vị đo diện tích ứng với 2 chữ số nhưng khi làm bài các em lại làm không đúng như vậy
- Kinh nghiệm còn cho tôi thấy, nếu rèn học sinh bằng thuật ngữ toán học (dạng
quy tắc, định nghĩa) thì rất khó Phải rèn học sinh thông qua các mẹo vặt và ngôn ngữ đời thường thì sẽ mang lại hiệu quả rất cao Là một giáo viên giảng dạy ở lớp
5, tôi rất băn khoăn và trăn trở, phải làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh của lớp mình nói riêng và của trường - nơi tôi công tác nói chung
3 Khảo sát đầu năm
- Khi bắt đầu thực hiện sáng kiến tôi đã điều tra chất lượng học sinh đổi đơn vị đo
độ dài và đo diện tích của lớp tôi và kết quả như sau:
Số HS HT xuất sắc HT Tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
III Các giải pháp thực hiện
Trang 5Như chúng ta đã biết, các dạng bài tập về đơn vị đo lường lớp 5 được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, từ các bài dạng đổi đơn vị đo lường đơn giản để củng cố lý thuyết rồi nâng cao dần đến các bài tập đổi đơn vị đo phức tạp Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng đổi đơn vị đo lường trước hết giáo viên phải giúp học sinh nắm được các kiến thức và kĩ năng cơ bản sau:
- Nắm vững tên đơn vị đo, vị trí của các đơn vị đo độ dài và đơn vị đo diện tích trong bảng
- Nắm được mối quan hệ giữa 2 đơn vị đo liền kề và giữa các đơn vị không liền kề nhau
- Mỗi đơn vị đo độ dài ứng với 1 chữ số, mỗi đơn vị đo diện tích ứng với 2 chữ số
- Xác định được dạng bài và khi đã xác định được dạng thì biết tìm cách làm tương ứng để vận dụng vào bài làm
- Các cách đổi của từng dạng bài
Muốn vậy, đòi hỏi giáo viên phải căn cứ vào đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học để lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em phát huy trí lực, chủ động lĩnh hội kiến thức, năng động, linh hoạt trong việc luyện tập đổi đơn vị đo
Để hướng dẫn học sinh thực hiện đổi các đơn vị đo độ dài và đo diện tích, giáo
viên nên thực hiện một số việc làm như sau:
1 Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ kí hiệu, mối liên hệ giữa các đơn vị đo.
Qua thực tế giảng dạy và tìm hiểu, tôi nhận thấy với mỗi một loại bài tập đổi đơn vị
đo độ dài hay đơn vị đo diện tích thì đều có rất nhiều cách đổi khác nhau, trong đó tôi đã tìm ra được những cách đổi hết sức đơn giản mà mang lại hiệu quả rất cao Trong quá trình rèn học sinh, bằng mọi phương pháp và hình thức hợp lí tôi giúp học sinh tiếp cận và thực hành thành thạo tất cả các cách đổi và đặc biệt quan tâm đến mọi đối tượng Để giúp học sinh nhớ lâu và khó quên các kiến thức cơ bản có liên quan đến đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo diện tích tôi đã làm như sau:
- Giúp học sinh thuộc tên và mối quan hệ giữa các đơn vị đo liền kề bằng cách yêu
cầu học sinh:
- Ghi tên các đơn vị đo độ dài, đơn vị đo diện tích theo thứ tự từ lớn đến bé vào vở
mà tôi quy định - Sổ tổng hợp các công thức và cách giải
Km hm dam m dm cm mm
Km2 hm2 dam2 m2 dm2 cm2 mm2
- Ghi số chỉ mối quan hệ trên các khoảng cách giữa 2 đơn vị đo liền kề
10 10 10 10 10 10
Km hm dam m dm cm mm
Trang 6
100 100 100 100 100 100
Km2 hm2 dam2 m2 dm2 cm2 mm2
- Lập bảng chuyển đổi đơn vị
Có thể coi đây là một loại đồ dùng trực quan đắc lực cho học sinh khi vận dụng vào việc chuyển đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo diện tích Đặc biệt là đối với học sinh tiếp thu chậm thì đây quả là một thượng sách, trong tất cả các giờ học
có nội dung liên quan tôi đều yêu cầu em nào cũng phải đưa đồ dùng trên ra nháp
để vận dụng Trong thời gian đầu các em xem đây như là vật “bất li thân” khi học
về đơn vị đo độ dài và đo diện tích Sau đó vì được nhìn nhiều, áp dụng nhiều nên
có thoát li khỏi vở và các em khi đó đã có kĩ năng làm bài Có nghĩa là: trong thời gian đầu, khi làm bài tập học sinh tiếp thu chậm luôn luôn phải mở vở đồ dùng có ghi những nội dung trên để nhìn trực tiếp vào vở để làm bài Thậm chí khi kiểm tra các em làm bài nếu thấy những học sinh nào không sử dụng đồ dùng trên là tôi nhắc nhở ngay Làm như vậy để học sinh dễ nhớ và nhớ lâu Dần dần các nội dung ghi nhớ như in sâu vào trong trí nhớ của các em thì không cần nhìn vở cũng làm bài đúng Khi thực hiện theo cách này không phải tôi không nghĩ đến sự phát triển tư duy cho các em mà tôi đã dựa trên cơ sở đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học và đặc biệt là với học sinh tiếp thu chậm tôi thấy đây là cách tốt nhất giúp học sinh làm được bài, giải quyết được khó khăn trong việc chuyển đổi đơn vị đo
- Để giúp học sinh không lẫn lộn giữa đơn vị đo diện tích và đơn vị đo độ dài, tôi
đã vận dụng “cách nói dùng lời lẽ thực tế dễ hiểu” để giúp học sinh ghi nhớ mỗi đơn vị đo độ dài ứng với 1 chữ số, mỗi đơn vị đo diện tích ứng với 2 chữ số bằng cách dựa vào kí hiệu ở từng đơn vị đo Cụ thể là:
- “Trên đầu” các đơn vị đo độ dài không có chữ số nào nên mỗi đơn vị đo chỉ ứng
với 1 chữ số
- “Trên đầu” mỗi đơn vị đo diện tích có chữ số 2 nên mỗi đơn vị đo diện tích ứng với 2 chữ số (Ví dụ: m2 )
Trong quá trình rèn tôi thường dùng khoảng cách để thay thế cho đơn vị đo (mỗi khoảng cách tương ứng với 1 đơn vị đo) Có nghĩa là cứ mỗi khoảng cách giữa 2 đơn vị đo độ dài liền kề nhau thì tương ứng với 1 chữ số, còn cứ mỗi khoảng cách giữa 2 đơn vị đo diện tích liền kề nhau thì tương ứng với 2 chữ số Mặt khác,
Trang 7để học sinh vận dụng tốt trong từng giờ học có liên quan, nếu học sinh làm chưa đúng tôi dùng câu hỏi: Kí hiệu của đơn vị đo diện tích có gì khác so với đơn vị đo
độ dài? Vậy mỗi đơn vị đo diện tích ứng với mấy chữ số? Sau khi học sinh phân biệt được kí hiệu của đơn vị đo diện tích có chữ số 2 ở góc trên bên phải (Ví dụ:
m2) thì học sinh sẽ biết là mỗi đơn vị đo diện tích ứng với 2 chữ số Thường xuyên được củng cố như vậy nên các em rất ít sai về lỗi này
* Để học sinh không nhầm lẫn cách đổi giữa các dạng bài, trong quá trình dạy tôi gợi ý học sinh tìm ra cách làm của từng dạng, sau đó tôi tổng hợp và cho học sinh ghi vào vở như sau:
- Đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé: thường có các cách như: nhân, thêm 0, điền chữ số vào vào các vị trí tương ứng, dịch chuyển dấu phẩy sang phải (nếu số đo đã cho là
số thập phân)
- Đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn: thường có các cách như: chia, xóa 0, điền chữ số vào vào các vị trí tương ứng, dịch chuyển dấu phẩy sang trái (nếu số đo đã cho là
số thập phân)
Đối với học sinh tiếp thu chậm thì đây cũng được coi là 1 loại đồ dùng trực quan tối ưu nhất và không thể thiếu trong khi làm các bài tập có liên quan
Một điều quan trong nữa là trong các cách làm thì cách làm nào dễ nhất tôi dành riêng cho học sinh tiếp thu chậm và bắt buộc khi làm bài các em phải áp dụng theo cách đó, sau đó mới khuyến khích các em làm theo các cách khác Các “mẹo vặt’’mà tôi vừa trình bày trên đã góp phần rất lớn giúp tôi thành công trong việc rèn kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo diện tích trong năm qua
2 Cho học sinh ôn lại cách nhân, chia nhẩm một số cho 10, 100, 1000 bằng cách dời dấu phẩy hoặc ghi dấu phẩy.
- Số tự nhiên nhân, chia cho 10, 100, 1000…
- Số thập phân nhân, chia cho 10, 100,1000…
- Ôn lại cách viết hỗn số, phân số thập phân thành số thập phân
- Ra các bài tập cùng dạng, cho học sinh ôn luyện nhiều, có kết luận về cách làm từng dạng
3 Thủ thuật nhân nhẩm, chia nhẩm cho 10, 100, 1000, 10000…kết hợp biểu thị bằng sơ đồ trực quan.
Qua giảng dạy thực tế tôi thấy có nhiều cách chuyển đổi đơn vị do độ dài và đo diện tích Tuy nhiên, để tìm ra cách mà học sinh dễ hiểu, dễ làm nhất thì có hai cách sau:
- Bước 1: Viết tên các đơn vị đo có liên quan theo thứ tự từ lớn đến bé có dạng
Trang 810 10 10 10 10 10
Km hm dam m dm cm mm
- Bước 2: Xác định dạng bài là đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé hay đổi từ đơn vị bé
ra đơn vị lớn và xác định số khoảng cách từ đơn vị đã cho đến đơn vị cần đổi
- Bước 3: Xác định mối quan hệ giữa các đơn vị đo liền kề
- Bước 4: Viết số đo đã cho vào dưới tên đơn vị tương ứng
- Bước 5: Dựa vào mối quan hệ trên để lập phép nhân với 10, 100, 1000 hay phép chia cho 10, 100, 1000
Ví dụ: a, 12m = mm b,
4
2
km 2 = dam 2
c, 58,9 cm=… m d, 36,95cm 2 = dm 2
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh như sau.
a, 12m= mm
- Em hãy viết các đơn vị có liên quan?
- Em hãy xác định dạng bài? Nêu
khoảng cách từ m đến mm?
- Em hãy nêu mối liên hệ giữa các đơn
vị đo độ dài?
- Em thực hiện đổi đơn vị đo theo chiều
nào? Bằng phép tính nào?
- Em hãy nêu cách làm?
- m dm cm mm
- Dạng toán đổi số đo độ dài từ đơn vị lớn ra đơn vị bé Từ m đến mm có 3 khoảng cách, mỗi khoảng cách lá 10
- Trong bảng đơn vị đo độ dài các đơn vị hơn kém nhau 10 lần
- Thực hiện theo chiều từ trái sang phải Bằng phép tính nhân
- 12 x 1000 = 12 000 Vậy 12m= 12000 mm
b, Giáo viên hướng dẫn tương tự phần a Nhưng cần nhấn mạnh, khắc sâu đơn vị
đo diện tích mỗi đơn vị hơn kém nhau 100 lần Tức là mỗi khoảng cách ứng với
100
Học sinh nhìn vào sơ đồ:
Km2 hm2 dam2
4 2
Phép tính:
4
2
x 10000 = 5000
Vậy
4
2
km 2 = 5000 dam 2
c, 5,89 cm= m
Trang 9- Em hãy viết các đơn vị có liên quan?
- Em hãy xác định dạng bài? Nêu
khoảng cách từ cm đến m?
- Em hãy nêu mối liên hệ giữa các đơn
vị đo độ dài?
- Em thực hiện đổi đơn vị đo theo chiều
nào? Bằng phép tính nào?
- Em hãy nêu cách làm?
- m dm cm mm
- Dạng toán đổi số đo độ dài từ đơn vị bé
ra đơn vị lớn Từ cm đến m có 3 khoảng cách, mỗi khoảng cách là 10
- Trong bảng đơn vị đo độ dài các đơn vị hơn kém nhau 10 lần
- Thực hiện theo chiều từ phải sang trái Bằng phép tính chia
- 5,89 : 100 = 0,0589 m Vậy 5,89 cm = 0,0589 m
d, 36,95cm2 = dm2
Giáo viên hướng dẫn tương tự phần c Nhưng cần nhấn mạnh, khắc sâu đơn vị đo diện tích mỗi đơn vị hơn kém nhau 100 lần Tức là mỗi khoảng cách ứng với 100 Học sinh nhìn vào sơ đồ:
dm2 cm2 Phép tính: 36,95 : 100 = 0,3695 36,95
Vậy 36,95cm 2 = 0, 3695 dm 2
Qua các ví dụ trên ta thấy đổi đơn vị đo đọ dài và đo diện tích không còn trừu
tượng nữa mà được cụ thể hóa bằng hình ảnh Trong quá trình dạy tôi nhận thấy biện pháp này rất hiệu quả, đặc biệt là đối với những em tiếp thu chậm
Có thể những bài đầu các em còn nhìn sơ đồ nhưng khi đã nắm chắc các em sẽ nhớ rất nhanh và lâu quên Điều quan trọng là học sinh phải xác định được dạng toán, nếu chuyển từ đơn vị lớn ra đơn vị bé thì đổi đơn vị từ trái sang phải, thực hiện phép nhân với 10, 100, 1000, Nếu chuyển từ đơn vị bé ra đơn vị lớn thì đổi từ phải sang trái, thực hiện phép chia cho 10, 100, 1000,
4 Lập bảng đổi đơn vị đo độ dài và đo diện tích.
Giáo viên lưu ý cho học sinh:
- Có thể lập cả bảng đơn vị đo độ dài hoặc tuỳ theo đơn vị đo trong bài tập lớn nhất
là gì, nhỏ nhất là gì mà chọn số cột dọc cho phù hợp
- Giá trị của đơn vị theo đề bài phải viết đúng cột
- Trong bảng phân tích mỗi cột phải đủ một chữ số(đổi đơn vị đo độ dài), mỗi cột phải đủ hai chữ số(đổi đơn vị đo diện tích)
- Tuỳ theo đề bài yêu cầu biến đổi đơn vị nào thì phải đánh dấu phẩy sau 1 chữ số (đổi đơn vị đo độ dài), đánh dấu phẩy sau 2 chữ số( đổi đơn vị đo diện tích) của đơn vị ấy hoặc chọn giá trị số phù hợp với đơn vị cần đổi Giáo viên lưu ý cho học sinh dùng bút chì để viết các đơn vị và số đo các đơn vị ra nháp để không phải lập bảng quá nhiều lần
a, Lập bảng đổi đơn vị đo độ dài
Trang 10Ví dụ:
a, 8m 5cm = cm ; 8m 12 cm = cm ; 8m 5cm = mm
b, 3m 5cm = m
Ở dạng này học sinh thường làm chưa đúng như sau:
* Đổi 8m = 800cm
* Viết chữ số 5 vào sau kết quả vừa đổi trên thành :
8m 5cm = 8005 cm
Để khắc phục hiện tượng trên, tôi thường hướng dẫn học sinh lập bảng chuyển đổi đơn vị đo
Ví dụ:
Vậy để học sinh làm đúng bài dạng đổi đơn vị đo từ hai đơn vị ra một đơn vị và ngược lại, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rằng :
- Vì mỗi đơn vị đo độ dài tương ứng với 1 chữ số nên chữ số 1 tương ứng với cm còn chữ số 1 tương ứng với dm (xác định chữ số tương ứng với các đơn vị bằng cách đếm liên tiếp như : m, tiếp sau m là dm, tiếp sau dm là cm nên ta có 8 tương ứng với m thì 1 tương ứng với dm và 2 tương ứng với cm)
- Căn cứ vào yêu cầu của đầu bài đã cho, hướng dẫn học sinh xác định từng chữ số trong đầu bài thuộc đơn vị nào để lần lượt điền vào bảng như: 8 là 8m, dm không
có ta viết số 0, 1 là 1 dm, 5 là 5 cm; mà đầu bài yêu cầu đổi ra đơn vị là m nên ta đặt dấu phẩy sau chữ số 3 ở đơn vị m Rồi tương tự như thế đối với các bài tập khác
Khi đổi từ 1đơn vị đo ra 2 đơn vị đo như trên ta phân tích các chữ số vào các cột đơn vị tương ứng theo thứ tự bảng đơn vị đo lường từ phải sang trái rồi căn cứ vào yêu cầu của đề bài mà lựa chọn các giá trị tương ứng với các đơn vị cần đổi Với