1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các vấn đề môi trường trong bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006 2010

24 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 236,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt báo cáo Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 Bản dự thảo do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo, thực sự là một dự thảo tốt, có nhiều đổi mới, đã đề ra các mụ

Trang 1

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật việt nam

Trung tâm Nghiên cứu, Giáo dục Môi trường và Phát triển

phân tích các vấn đề môI trường

trong bản dự thảo kế hoạch phát triển

kinh tế xã hội 2006 - 2010

Trang 2

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật việt nam

Trung tâm Nghiên cứu, Giáo dục Môi trường và Phát triển

279/24 Giảng Võ, Hà Nội Tel: 04-5120210/5120632 Fax: 04-5141550 E-mail: cered@hn.vnn.vn

phân tích các vấn đề môI trường

trong bản dự thảo kế hoạch phát triển

Trang 3

Lời cảm ơn

Chúng tôi bày tỏ sự cảm ơn tới Cơ quan Phát triển Quốc tế Canada (CIDA) đã thay mặt Nhóm các Nhà Tài trợ cùng Quan điểm (LMDG) tài trợ cho nghiên cứu này Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn các tổ chức quốc tế và trong nước và cá nhân đã nhiệt tình tham gia đóng góp ý kiến và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bản báo cáo trong một thời gian ngắn

Trang 4

Mục lục

Tóm tắt báo cáo 5

1. Giới thiệu chung 8

2 Phương pháp nghiên cứu 9

2.1 Phân tích tài liệu 9

2.2 Phỏng vấn chuyên gia 10

3 kết quả nghiên cứu 10

3.1 Mặt mạnh 11

3.2 Những vấn đề cần hoàn thiện 11

3.2.1 Vấn đề chung 11

3.2.2 Sự tương thích với các văn bản pháp lý của Chính phủ

về môi trường 12

3.2.3 Vai trò và trách nhiệm của các nhà tài trợ và các tổ chức chính phủ trong việc thực hiện bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 14 3.2.4 Định hướng đầu tư môi trường 15

3.2.5 Tài nguyên tái tạo và không tái tạo 15

3.2.6 Ô nhiễm 17

3.2.7 ảnh hưởng của biến đổi toàn cầu 17

4 Kết luận và kiến nghị: 18

5 Phụ lục 21

5.1 Phụ lục 1: Danh sách các Chỉ thị, Nghị quyết liên quan của Chính phủ 21

5.2 Phụ lục 2: Danh sách nhóm nghiên cứu, Danh mục các buổi họp, phỏng vấn cá nhân và câu hỏi phỏng vấn 22

5.3 Phụ lục 3: Tài liệu tham khảo 24

Trang 5

Tóm tắt báo cáo

Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 (Bản dự thảo) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo, thực sự là một dự thảo tốt, có nhiều đổi mới, đã đề ra các mục tiêu chính nhằm hướng tới phát triển bền vững với quy mô toàn quốc, đề cập tới các ngành, khu vực và nhấn mạnh các vấn đề còn tồn tại cũng như các phương án giải quyết trong năm năm tới

Một trong những cách tiếp cận mục tiêu chính của Bản dự thảo lần này là kết hợp, lồng ghép các vấn đề môi trường vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Để đạt

được mục đích này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham khảo ý kiến các chuyên gia có liên quan Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở tổng quan các văn bản liên quan, thông qua các cuộc phỏng vấn, thảo luận bàn tròn với các câu hỏi đã được cơ cấu phù hợp Kết quả nghiên cứu cho thấy Bản dự thảo có nhiều ưu điểm, tiến bộ Tuy nhiên, Bản dự thảo cũng còn một số vấn đề nên bổ xung nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đặt ra cũng như các cam kết quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã tham gia

Bản dự thảo đã đưa các vấn đề môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam nhưng định hướng, mục tiêu, nội dung và giải pháp để thực hiện chưa cân

đối Bản dự thảo cũng đã so sánh những chỉ tiêu đã và chưa đạt được trong mục tiêu đã

đề ra trong năm 2001-2005 và chỉ ra những mặt yếu và những vấn đề còn tồn tại, kể cả những vấn đề môi trường trong quá trình phát triển kinh tế cũng như các vấn đề môi trường trong giai đoạn 2001-2005 Trong Bản dự thảo 2006- 2010, các khái niệm về phát triển bền vững chưa được đưa vào một cách đầy đủ, cụ thể và xuyên suốt Bản dự thảo cũng chưa đánh giá đầy đủ các nguồn tài nguyên tái tạo được và không tái tạo

được, chưa có các chỉ tiêu môi trường phù hợp và khả thi Bản dự thảo cũng chưa được xây dựng đầy đủ và chưa có các mối liên hệ với các báo cáo khác trong cùng một vấn

đề nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi môi trường toàn cầu, đặc biệt là các thiên tai, chưa được đánh giá chi tiết và thiếu một chiến lược thích ứng Các định hướng đầu tư cũng như cơ chế hỗ trợ, ràng buộc chưa rõ ràng cho việc giải quyết các vấn đề môi trường nhằm hướng tới bảo vệ môi trường có hiệu quả và phát triển bền vững

Khuyến nghị của nghiên cứu bao gồm:

1 Các văn bản quan trọng sau đây có thể cung cấp cở sở nền tảng cho công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững được đề cập đến trong Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 2006- 2010 như: Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị, Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và Định hướng đến năm 2020; Kế hoạch 5 năm 2006-

Trang 6

2 Bản dự thảo nên đặc biệt nhấn mạnh nhiều hơn khía cạnh môi trường như là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững trong Chương trình Nghị sự 21 bằng cách đưa thêm các nội dung mục tiêu bền vững về môi trường trong các phần về mục tiêu chung, nhiệm vụ chủ yếu và các giải pháp chiến lược tương xứng với các vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng khác

3 Nên đưa các đánh giá nhận định (cả về mặt được và chưa được), thách thức và cơ hội, các nhận định, đánh giá, định hướng các giải pháp cũng như các chỉ tiêu môi trường, các số liệu điều tra cơ bản để làm cơ sở không chỉ cho việc nhận dạng vấn đề mà còn cả bố trí chiến lược, cân đối chiến lược các nguồn lực cho phát triển nhằm mục tiêu phát triển bền vững

4 Dự báo môi trường là cần thiết trong phần 3 (Dự báo các cân đối lớn của nền kinh tế) Cần thiết phải phát triển hệ thống dự báo ô nhiễm, các kịch bản ô nhiễm và suy thoái môi trường cho mục tiêu lập kế hoạch kinh tế - xã hội và phân bổ ngân sách để giải quyết các vấn đề này

5 Cần ủng hộ áp dụng và đầu tư vào các công nghệ thân thiện với môi trường, nhất là ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như đối với các đầu tư lớn của/cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân và nhấn mạnh nhiều hơn vào sự hợp tác

và hỗ trợ từ phía các nước phát triển trong thu hút đầu tư vào các công nghệ này

6 Đánh giá chiến lược môi trường (SEA) phải được quy định đối với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển cũng như các chương trình, dự án lớn, mang tính chất khu vực

7 Đưa các vấn đề quản lý đa dạng sinh học và vấn đề thay đổi về sử dụng đất (như

đã được đề cập đến trong Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia đến năm 2010

và Định hướng đến năm 2020) cũng như tăng cường chất lượng vấn đề quản lý các nguồn tài nguyên trong phần Mục tiêu chủ yếu

8 Chi tiêu của chính phủ về môi trường theo tinh thần Nghị quyết 41 lên mức tối thiểu 1% (không bao gồm đầu tư cho cơ ở hạ tầng) cho công tác quản lý môi trường là mục tiêu tài chính quan trọng và khuyến khích nhiều hơn nữa ODA phân bổ cho lĩnh vực môi trường (20% trong tổng số ODA)

9 Cần đề ra các biện pháp tăng cường hiệu lực của Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi

và thực thi nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”

10 ủng hộ việc phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên

11 Thừa nhận và ủng hộ tầm quan trọng của khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội (bao gồm cả các tổ chức phi chính phủ) trong việc huy động các nguồn lực và thực hiện các mục tiêu môi trường

12 Cần thực hiện 3 hành động (A, K, P) liên quan đến bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:

• Tăng cường nhận thức (Awareness) của cộng đồng và những nhà hoạch

định chính sách về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Trang 7

• Cung cấp các kiến thức (Knowledge) về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho cộng đồng và các công chức

• Tạo cơ chế thuận lợi để cộng đồng và công chức thực hiện (Practice) những hành động liên quan đến bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Hành động P là khâu yếu nhất cần cải thiện để đáp ứng với những mục tiêu dân số và địa phương

13 Xác định các vấn đề quan trọng mang tính toàn cầu như các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng ) và thay đổi môi trường toàn cầu (hiện tượng ấm lên toàn cầu, tăng mực nước biển, sóng thần ) bao gồm cả việc cảnh báo các tác động của những hiện tượng này và các chiến lược ứng phó

Trang 8

1 Giới thiệu chung

Trong vòng 20 năm kể từ giữa thập kỷ 80, nền kinh tế Việt Nam đã thay đổi nhanh chóng nhờ chính sách đổi mới Quá trình đổi mới bao gồm nhiều thay đổi lớn về chính sách kinh tế Chính sách kinh tế mới phân quyền quản lý kinh tế cho phép các công ty sở hữu nhà nước có quyền tự chủ các công ty nhà nước và tư nhân có quyền liên hệ trực tiếp với các thị trường nước ngoài Bước đầu kinh tế thị trường đã được mở

ra và nông dân đã được trao quyền sở hữu ruộng đất Trong 10 năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp đôi về quy mô, tỷ lệ nghèo đói đã giảm từ 70% tổng dân số xuống còn 35%, xuất khẩu tăng trung bình 25%/năm, và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã tăng lên nhiều lần Tuy nhiên, sự tăng trưởng ấn tượng như vậy lại

đồng nghĩa với sự suy thoái nhanh về chất lượng môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trong vài thập kỷ gần đây, suy thoái môi trường ở Việt Nam đang ngày càng tăng Những vấn đề môi trường nghiêm trọng như phá rừng, thoái hoá đất, lụt lội, ô nhiễm nguồn nước, đánh bắt quá mức, ô nhiễm chất thải công nghiệp, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đô thị hoá, ô nhiễm hoá chất trong nông nghiệp là những vấn đề mà cộng đồng đang phải đối mặt hàng ngày Tuy nhiên vấn đề nghiêm trọng nhất là sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Cải cách kinh tế ở Việt Nam trong khoảng hai thập kỷ qua mặc dù đã mang lại những thành quả nhất định cho phát triển kinh tế ở cấp độ quốc gia nhưng cũng tạo ra nhiều khó khăn cho người nghèo ở cả thành thị và nông thôn, đặc biệt đã làm tăng bất bình đẳng và sự thay đổi về thị trường đòi hỏi khả năng thích ứng lâu dài và trợ giúp tài chính (Nguyễn Hữu Ninh, 2005) Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế đang rất chú ý đến vấn đề này nhằm mục tiêu bảo đảm cho nền kinh tế có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững gắn với bảo vệ môi trường và đầu tư vào các nguồn lực con người và xã hội

Kể từ khi Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro năm 1992, Chính phủ đã cam kết thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Tháng 9 năm 2000, Việt Nam cùng 191 nước thành viên của Liên hợp quốc

ký Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc đã nêu rõ: cho đến năm 2015, tất cả đã cam kết lồng ghép các nguyên tắc của phát triển bền vững vào chiến lược và chương trình phát triển của từng quốc gia nhằm thay đổi hoàn toàn sự mất mát tài nguyên thiên nhiên Tiếp theo kết quả từ Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về phát triển bền vững tại Johannesburg năm 2002, Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam được ban hành ngày 17/ 8/2004 trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 41/NQTW về Bảo vệ Môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

Trang 9

hoá đất nước nhằm quán triệt việc phát triển bền vững là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội

Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói Giảm nghèo (CPRGS) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 5/2002 và được WB và IMF thảo luận, tập trung nhấn mạnh đến nguồn nhân lực và giảm nghèo, và đã bổ xung sự tác động của cơ sở hạ tầng quy mô lớn đến giảm nghèo hơn là những mối quan tâm khác về tăng trưởng Văn kiện này củng cố cho Chiến lược hỗ trợ quốc gia mới của WB và mở đường cho Tín dụng Hỗ trợ Giảm nghèo (PRSC) và Khuôn khổ Tăng trưởng và Giảm nghèo (PRGF) Các chiến lược phát triển ngành của Chính phủ và các chương trình hỗ trợ của các nhà tài trợ đều căn cứ trên CPRGS để đảm bảo tính phù hợp với chiến lược tổng thể và trợ giúp cho các cải cách chính sách Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 là 5 năm cuối trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001-2010 Do vậy, bản dự thảo được trông đợi như một tài liệu hướng dẫn hữu ích cho các nhà tài trợ trong việc hoạch định các chương trình tài trợ cho đến năm 2010, tiếp nối Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo

Thông qua Nhóm Hỗ trợ Quốc tế về Môi trường (ISGE), các nhà tài trợ đã giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị kế hoạch ngành giai đoạn 2005- 2010 Những đóng góp từ Bộ tài nguyên và Môi trường sẽ được đưa vào Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 2006- 2010 Để đáp ứng được công việc này và hoàn thiện chất lượng của bản dự thảo như một công cụ kế hoạch cho Chính phủ Việt Nam, Nhóm các nhà Tài trợ cùng Quan điểm (LMDG) đã hỗ trợ thực hiện phân tích vấn đề môi trường trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế - xã hội 2006- 2010 và đóng góp những kiến nghị gắn liền với những nguyên tắc của bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong Bản

dự thảo 5 năm Phát triển kinh tế- xã hội 2006- 2010 Để đạt được mục tiêu này, nhóm chuyên gia nghiên cứu đã cộng tác làm việc từ tháng 8 đến tháng 9/2005 Báo cáo này

sẽ được gửi cho Ban soạn thảo Kế hoạch Phát triển Kinh tế- xã hội 2006- 2010 do Bộ

Kế hoạch Đầu tư chủ trì vào cuối tháng 9/2005

Trang 10

2.2 Phỏng vấn chuyên gia

Dựa trên những yêu cầu đã đặt ra, nhóm chuyên gia đã tiến hành thu thập số liệu, phỏng vấn và tổ chức thảo luận bàn tròn với các nhà quản lý cao cấp của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ,các nhà khoa học về môi trường, v.v để đưa ra những phân tích khoa học, đề xuất và đánh giá hợp lý để lồng ghép vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững vào Bản dự thảo nhằm giúp cho Nhóm các Nhà tài trợ Cùng quan điểm và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra những kế hoạch hành động thích hợp (danh sách những người được phỏng vấn xem Phụ lục 2)

Các câu hỏi định hướng và câu hỏi mở đã được xây dựng (xem Phụ lục 2)

Thảo luận bàn tròn đã được tổ chức với sự tham gia của các nhà tài trợ và đại diện các cơ quan Chính phủ tại Văn phòng Cơ quan Phát triển Quốc tế Canada ngày 1/9/2005 (xem Phụ lục 2)

Ngoài ra, một số cuộc thảo luận và phỏng vấn về các vấn đề có liên quan cũng đã được tiến hành Trong quá trình phỏng vấn, việc kiểm tra chéo đã được thực hiện để đảm bảo chất lượng thảo luận và tránh những sự thiên vị do ý kiến cá nhân (xem Phụ lục 2)

3 kết quả nghiên cứu

Kể từ khi khái niệm “phát triển bền vững” được Liên Hợp quốc đưa ra năm 1987, khái niệm này đã đề cập đến những thành phần cơ bản nhất: đặc biệt, thế hệ chúng ta không thể mở rộng khả năng có hạn của Trái đất nếu chúng ta muốn cuộc sống của loài người vẫn tiếp tục trong tương lai (The Brundtland Report, 1987) Chỉ mới ba năm trước đây,

đại diện của hơn 190 nước tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về phát triển bền vững tại Johannesburg đã xác định ba trụ cột không thể tách rời của sự bền vững là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Ngày nay, trong quá trình phát triển kinh tế toàn cầu có hai xu hướng đang gây nhiều tranh cãi:

Phát triển bền vững đòi hỏi Phát triển thông thường

Đưa ra giá trị cộng với giá trị của tài

nguyên thiên nhiên cùng với khoa học và

công nghệ

Lấy sinh thái học làm trung tâm

Căn cứ vào hệ sinh thái chỉ ra những điểm

yếu của nền kinh tế

Quốc tế hóa sự đánh giá môi trường

Tiếp cận những mục tiêu hiện tại nhưng

Nguồn: Emil Salim (2005)

Trang 11

Bản Dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006- 2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

đã được Nhóm chuyên gia phân tích khía cạnh môi trường trên quan điểm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững nhằm đảm bảo phát triển kinh tế- xã hội bền vững

• Vấn đề môi trường lần đầu tiên chính thức được đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam thành một mục riêng “Tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững” trong “Định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực”, đây là một bước tiến cơ bản trong nhận thức về môi trường

và phát triển bền vững của các nhà hoạch định chính sách

• Đây cũng là lần đầu tiên Bản dự thảo kế hoạch được đưa ra bàn bạc và lấy ý kiến rộng rãi trong tất cả các ngành với các cấp độ khác khau và các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam

• Phần bảo vệ môi trường đã được đưa vào trong kế hoạch nhưng chưa cân

đối, chỉ chiếm 1 trang trong phần đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm 2001- 2005 và nửa trang trong phần kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006- 2010

• Bản dự thảo kế hoạch cũng đưa ra những vấn đề về môi trường mà Việt Nam đã cam kết thực hiện với quốc tế

• Bản dự thảo 2006- 2010 đã so sánh những việc đã và chưa đạt được trong mục tiêu đã đề ra trong năm 2001- 2005

• Bản dự thảo đã chỉ ra những mặt yếu và những vấn đề còn tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế cũng như các vấn đề môi trường trong giai

“Giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực” là chưa đúng Phát triển bền vững là một yêu cầu đối với phát triển kinh tế-xã hội, là một quan

điểm về phát triển kinh tế- xã hội bao trùm mọi lĩnh vực, mọi hoạt động,

Trang 12

nay là phải bảo đảm các nội dung phát triển bền vững, tức là phát triển một cách cân đối, hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, giải quyết tốt những vấn

đề xã hội và thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo vệ môi trường như Nghị quyết 41 đã đề ra Trong bản kế hoạch này các nội dung môi trường đề ra chưa đúng mức, còn ít, chưa tương xứng với hai vấn đề kinh tế và xã hội Thực ra các mục tiêu đưa ra phải khả thi và đề cập sâu hơn, chi tiết hơn

để tạo điều kiện dễ dàng trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm Những vấn đề xoay quanh mối quan hệ giữa môi trường và đói nghèo chưa được đề cập

• Dự thảo đã làm sáng tỏ những thành tựu đã đạt được trong 5 năm qua, những dự kiến kế hoạch, những công việc phải làm trong 5 năm tới Tuy nhiên, nội dung trình bày trong hai phần chưa thật logic, phần thứ hai chưa gắn kết hữu cơ với phần thứ nhất của bản Dự thảo Phần nhận xét giai đoạn 2001- 2005 chưa hợp lý, chỉ đưa ra các nhiệm vụ mà không có

sự phân tích kết quả và chất lượng các nội dung kế hoạch đã thực hiện

được Trong phần xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội

2006-2010 chưa thấy rõ nét kế hoạch, hành động phát triển nào nhằm khắc phục những yếu kém, hạn chế của 5 năm vừa qua, càng không rõ những

kế hoạch hành động để giải quyết những tồn đọng của những năm 2001 -

đề cập đầy đủ còn thiếu những vấn đề chủ chốt đã được đưa ra trong những văn bản trên

Môi trường và phát triển bền vững không được đề cập đến trong phần Nhiệm vụ chính, trong khi bảo vệ môi trường đã được Chính phủ thông qua trong Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (NSEP) và trong Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam Bản kế hoạch nên căn cứ vào Nghị quyết 41, NSEP để nêu được những nội dung cơ bản của công tác bảo vệ môi trường (những nội dung lớn), hoặc nhấn mạnh một số đầu việc lớn, và căn cứ trên cơ sở các nội dung đó, hàng năm có thể cụ thể hóa thành các chương trình ưu tiên Đó là giải pháp khả thi vì một văn bản mang tính chiến lược như Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2006- 2010 không thể đề cập quá chi tiết và cụ thể tất cả các vấn đề môi trường

Ngày đăng: 08/07/2017, 15:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w