1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu nghiên cứu phương thức khai thác và sử dụng tài nguyên rừng của cộng đồng dân tộc vân kiều tại thôn tà lao, xã tà long thuộc khu bảo tồn thiên nhiên đakrong, tỉnh quảng trị

34 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 384,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người dân sống ở gần hoặc trong rừng phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt và phần lớn là các sản phẩm ngoài gỗ như mây, tre, măng, nấm, cây thuốc, các loài động vật… để

Trang 1

§¹i häc Quèc gia Hµ néi Trung t©m nghiªn cøu tµi nguyªn vµ m«i tr−êng

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi

Hµ Néi, 2007

Trang 2

Mở đầu

Hiện nay thế giới đang phải ủối mặt với những biến đổi hết sức phức tạp như biến đổi khí hậu, nhiệt độ trái đất đang nóng lên, mức nược biển dâng lên, dân số tăng nhanh, các loài ngoại lai xâm nhập ngày càng nhiều, các sinh cảnh ngày một bị co hẹp lại và phân cách nhau, tốc

độ mất các loài ngày càng gia tăng, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, sức ép của công nghiệp hóa và thương mại toàn cầu ngày càng lớn, sự cách biệt giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước ngày càng xa Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng lớn đến công cuộc phát triển của tất cả các nước trên thế giới, trong ủú có Việt Nam

Loài người đang phải đối mặt với thảm họa cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường

bị ô nhiễm, nhiều bệnh tật mới xuất hiện và phát triển, thiên tai ngày càng nặng nề, dân số

đang tăng nhanh, đã làm thay đổi các hệ sinh thái hết sức nhanh chóng trong khoảng 50 năm qua, nhanh hơn bất kỳ thời gian nào trước đây Diện tích đất hoang hóa đã được chuyển

đổi thành đất nông nghiệp chỉ tính từ năm 1945 đến nay đã lớn hơn cả hai thể kỷ 18 và thế kỷ

19 cộng lại Diện tích đất hoang hóa ngày càng mở rộng Trong 50 năm qua, trên toàn thế giới đã mất di hơn một phần năm lớp đất màu ở các vùng nông nghiệp trong khi đó nhiều

vùng đất nông nghiệp màu mỡ đang được chuyển đồi thành vùng công nghiệp (Võ Quý, Võ

Thanh Sơn :2008) (tàI liệu này là về Việt Nam hay noi chung trên toàn thế giới? đoạn này

trùng lặp với đoạn trên)

Mất đa dạng sinh học ngày nay đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có, kể từ thời

kỳ các loài khung long bị tiêu diệt cách đây khoảng 65 triêu năm và tốc độ biến mất của các loài hiện nay ước tính gấp khoảng 100 lần so với tốc độ mất các loài trong lịch sử trái đất, và trong thập kỷ sắp tới mức độ biến mất của các loài sẽ gấp 100-10.000 lần (MA:2005) Có khoảng 10% các loài đã biết được trên thế giới đang cần có biện pháp bảo vệ, trong đó có khoảng 16.000 loài được xem là có nguy cơ bị tiêu diệt Tình trạng nguy cấp của các loài phân bố không đều giữa các vùng trên thế giới Các vùng rừng ẩm nhiệt đới có số loài nguy cấp nhiều nhất trong đó có nước ta

Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với những vấn đề về môi trường, trong đó mất rừng và suy giảm đa dạng sinh học là vấn đề được quan tâm hàng đầu Người dân sống ở gần hoặc trong rừng phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt và phần lớn là các sản phẩm ngoài gỗ (như mây, tre, măng, nấm, cây thuốc, các loài động vật…) để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của họ ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn khi nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt dần bởi những hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên không bền vững

Trong những năm gần đây, các phương thức khai thác và quản lý tài nguyên thiên nhiên của người dân địa phương ngày càng được cái tiến và hiện đại hơn Thực tế đã cho thấy các

Trang 3

phương thức khai thác càng được cải tiến, hiện đại bao nhiêu thì mức độ tàn phá tài nguyên của chúng càng nghiêm trọng bấy nhiêu trong nhiều thập kỷ vừa qua Diện tích rừng của Việt Nam đã giảm một cách đáng kể từ 42% năm 1943 xuống còn khoảng 28% năm 1995 Sự suy giảm diện tích rừng được xác định là nguyên nhân chính gây nên suy thoái môi trường, xói mòn đất đai, giảm năng suất cây trồng trong nông nghiệp và bồi lắng các hồ chứa nước Trong khi tăng dân xố thường được xem như là nguyên nhân chính dẫn tới suy giảm diện tích rừng trong một khoàng thời gian dài, thì các yếu tố định hướngviệc suy giảm rừng như chính sách, phát triển kinh tế và du nhập công nghệ mới rất khó nhận biết Một lý do đơn giản là các yếu tố này thường xuyên thay đổi Thiếu các số liệu thực tế về diện tích rừng cũng như các số liệu cụ thể đã phần nào ngăn cản các nhà khoa học đưa ra những kết luận cụ thể

Từ những bất cập đó nghiên cứu dưới đây nhằm mục đích tìm hiểu các góc khuất về việc khai thác và quản lý tài nguyên trong bối cảnh hiện nay Tuy nhiên, chúng tôi cũng hiểu rằng nghiên cứu trên một phạm vi nhỏ sẽ không đủ sức thuyết phục cho một vùng địa lý rộng lớn, nhưng chúng tôi tin chắc rằng các số liệu qua nghiên cứu này sẽ đại diện được một phần nào cho các tỉnh Miền Trung và giúp các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như các nhà hoạch định chính sách có một góc nhìn mới về phương thức khai thác và sử dụng tài nguyên của đồng bào dân tộc ít người ở vùng đệm của khu bảo tồn Dakrông Và chỉ khi đời sống của người dân ở khu vực này được cải thiện mới giảm được áp lực lên tài nguyên và việc bảo tồn và quản lý tài nguyên mới đạt hiệu quả

Điểm chúng tôi nghiên cứu là xã Tà Long huyện Đakrông một huyện Miền núi của tỉnh Quảng Trị nằm dọc theo tuyến đường Trường Sơn - một phần quan trọng trong Vùng Sinh thái Trường Sơn (1 trong 200 vùng sinh thái quan trọng của Thế giới) Hiện nay, đời sống của người dân còn nghèo , tỷ lệ đói nghèo cao, dân tộc Vân Kiều chiếm đa số, dân trí còn tương

đối thấp, đời sống phụ thuộc nhiều vào khai thác lâm sản từ rừng Trước đây tài nguyên rừng

được khai thác bằng các phương thức thủ công, nay do khoa học ngày càng tiên tiến nên hiện tượng sử dụng công nghệ cao trong khai thác tài nguyên ngày càng phổ biến và do đó nguồn tài nguyên suy thái ngày một nhanh chóng Ngoài ra, áp lực từ bên ngoài de dọa lên nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây ngày càng tăng kể từ khi đường Trường Sơn đi vào hoạt

động Số vụ khai thác lâm sản phi pháp, săn bắt động vật hoang dã và xâm canh để sản xuất nông nghiệp tại đây đang đe doạ nghiêm trọng đến đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái, hiện tượng lũ lụt, sạt lở xảy ra thường xuyên nhất là về mùa mưa Do đó việc điều tra và phân tích một cách cụ thể nhưng điều bất cập trong bổi cảnh chung, dựa trên cơ sở đó

đưa ra những giai pháp nhằm làm giảm bớt những áp lực nói trên là điều cần được quan tâm

và phải làm ngay

Trang 4

Tổng quan về khai thác và quản lý tài nguyên

Hiện đã có rất nhiều tài liệu đã đề cập đến các khía cạnh về các phương thức khai thác tài nguyên rừng Tuy nhiên, những tài liệu này cũng chỉ nói chung chung xoay quanh các vấn đề làm suy giảm tài nguyên dưới tác động của một phương thức nào đó như sinh kế của người dân sống ở vùng gần rừng hay phương thức chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp một trong những phương thức được coi là nguyên nhân làm mất đi 61% diện tích rừng trên thế giới (A.K Gupta, 2000) Đi cùng với phương thức này là phương thức du canh du cư của người dân nông thôn, phần lớn trong số này là các dân tộc ít người ở vùng cao, những người thường có tục lệ du canh du cư để canh tác

ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua chính phủ đã nỗ lực thực hiện chính sách định canh định cư và vùng kinh tế mới nhằm mục đích chấm dứt hoạt động du canh du cư và khuyến khích

định canh định cư Chương trình này được cho là sẽ giúp giảm nghèo và giảm các hoạt động phá rừng Trong những năm gần đây một số nhà quan sát cho rằng du canh du cư có thể không phải nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng của một số nhóm dân tộc ít người ở Việt Nam mà chỉ ra rằng các hoạt động nông nghiệp của nhóm dân tộc kinh có thể còn mang tính tàn phá nhiều hơn (De Konick, 1999) Một số tài liệu gần đây của Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đồng ý với nhận xét này và nhận đình rằng … Trong khuôn khổ chương trình tải trồng 5 triệu ha rừng, việc cho là các dân tộc thiểu số có trách nhiệm chính

trong việc phá rừng là sai lầm… (MARD/ICD 2001)…

Bên cạnh việc du canh du cư, canh tác nương rẫy nhằm ổn định về lương thực cho đời sống người dân dẫn đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng thì việc khai thác gỗ, củi và các loại lâm sản ngoài gỗ được gọi là khai thác các loài gỗ rừng tự nhiên với quy mô nhỏ nhằm phục

vụ sinh hoạt đời sống thực tế cũng góp phần không kém làm cho nguồn tài nguyên suy giảm một cách nhanh chóng Tuy nhiên có rất ít thông tin và tài liệu viết về chủ đề này Một trong những lý do là vì các cơ quan chính phủ đã không thể ghi chép một cách có hệ thống việc khai thác gỗ, củi, bởi vì việc khai thác quy mô nhỏ hộ gia đình được tiến hành như một nền kinh tế không chính thức, sản lượng và thu nhập không bao giờ được khai báo Mặc dù hàng triệu ha rừng tự nhiên đã được khai thác trong nửa thể kỷ qua tại Việt Nam, nhưng phần lớn các khoản lợi nhuận này lại thuộc về ngân khố quốc gia Trong khi đó người dân nghèo không thể tiếp cận được với nguồn gỗ này Cũng có ý kiến cho rằng người dân địa phương hầu như không liên quan đến việc khai thác gỗ theo quy mô thương mại Nhà nước hay các doanh nghiệp khai thác gỗ thường cho rằng các cây gỗ to là tài sản của họ không phải của người dân sống trong hoặc gần rừng, do vậy nguồn tài nguyên bị tổn thất nặng nề cho đến khi cuộc kháng chiến chống pháp băt đầu nổ ra thì chính phủ đã ra lệnh cấm các hoạt động thương mại về vật phẩm từ rừng nhằm tích trữ cho chiến tranh và từ đó nhiều dân tộc thiếu số

Trang 5

phải chịu tổn thất nghiêm trọng từ sự ngăn cấm này (Nguyễn Văn Đẳng, 2001)

Ngoài hai vấn đề trên thì việc khai thác ủỏnh bắt động vật hoang dã cũng đã tác động đến đa

dạng sinh học và hệ sinh thái một cách nghiêm trọng Theo Peter Bille Larsen và Trần Chí

Trung trong …Kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên và xóa đói giảm nghèo: các khía cạnh xã hội

trong chính sách buôn bán động thực vật hoang dã ở việt nam… đã cho rằng buôn bán động,

thực vật hoang dã là một trong những nguyên nhân chính đe dọa tới đa dạng sinh học Nó bao gồm các hoạt động về sinh kế và liên quan chặt chẽ tới động lực về kinh tế xã hội Một trong những phương thức gây mất cân bằng trong hệ sinh thái và làm cho một lượng tài nguyên suy giảm mạnh từ hoạt động này

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những cải cách kinh tế trong thời kỳ đổi mới, tuy mang lại nhiều cơ hội kinh tế, nhưng không phải cho toàn thể cộng đồng Theo Lê (2004) những thay

đổi nhanh chóng trong việc giao quyền thuê đất cho tư nhân ở vùng ven biển và luật hóa doanh nghiệp tư nhân khai thác những tài nguyên này, và các thể chế về tài nguyên rừng ngập mặn và thủy sản khác đã tước mất sinh kế của nhiều hộ nghèo Việc chuyển đổi sang cơ chế tư nhân hoá không nhất thiết làm tăng tính bền vững Trên thực tế, thị trường đã khuyến khích người dân khai thác nhiều tài nguyên hơn và một nhóm dân cư đã sử dụng các công cụ đánh bắt hủy diệt Điều này gây hại cho các bãi đẻ trứng và nuôi dưỡng các loài sinh vật ở cửa sông ven biển, và làm suy giảm sản lượng đánh bắt của người dân có sinh kế và nguồn sống phụ thuộc vào những loài này Hậu quả là, các hộ gia đình do nữ làm chủ hộ là nhóm chịu ảnh hưởng bất lợi nhất … trong đó phụ nữ và trẻ em gái là nạn nhân của cả quá trình tư nhân hóa lẫn suy thoái môi trường Kết qủa nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự khác nhau lớn về cơ hội khai thác và quản lý tài nguyên giữa nam và nữ Hay nói cách khác việc

sử dụng và khai thác tài nguyên luôn bị chi phối bở các yếu tố như giới, độ tuổi, vị trí xã hội

và điều kiện kinh tế xã hội (giàu, nghèo)

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu các phương thức khai thác và sử dụng tài nguyên rừng của cộng đồng dưới các khía cạnh như khai thác gỗ, củi, lâm sản phi gỗ, săn bắn các động vật hoang dã, các phong tục tập quán, vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên rừng tại vùng nghiên cứu

Đưa ra các giải pháp nhằm giám thiểu sự suy thoái tài nguyên, cân bằng đa dạng sinh học

và giảm áp lực lên tài nguyên, cải thiện đời sống kinh tế cho người dân đồng thời khai thác và

sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên

Câu hỏi nghiên cứu:

Người dân xã Tà Long trước kia đã khai thác và sử dụng tài nguyên như thế nào? Các thể chế cộng đồng đã ảnh hưởng đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên của người dân như thế

Trang 6

nào? Có sự khác nhau giữa nam, nữ, và các nhóm hộ giàu, nghèo trong cộng đồng hay không?

Chính sách đổi mới và đường Hồ Chí Minh đã có tác động như thế nào đến việc khai thác và

sử dụng tài nguyên của người dân? Những tài nguyên khai thác được dùng để làm gì? nếu bán thì bán ở đâu theo kênh nào?

Cần có những giải pháp gì để quản lý tài nguyên một cách bền vững trong khi vẫn cải thiện

được sinh kế của người dân?

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp luận:

Theo phương pháp phân tích hệ thống nguồn tài nguyên rừng được xem như một nhân tố nằm trong một hệ thống sinh thái nhân văn chi phối bởi 3 mặt của sự phát triển: Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường trong tất các các nhân tố cấu tạo nên một hệ thống trong đó gồm các nhân tố như điều kiện xã hội, điều kiện tự nhiên, cở sở hạ tầng, dân

số, nghèo đói, học vấn, văn hoá truyền thống, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, tác động lên quá trình phát triển kinh tế, xã hội và môi trường mà trong đó bất cứ một tác động xấu nào cũng gây nên hiệu quả tiêu cực đến các nhân tố khác, hoặc ngược lại, bất cứ nhân tố nào phát triển cũng có tác động tích cực lên tất cả các nhân tố khác Đây là những thông tin được tự khuyếch đại trong hệ thống thông tin phản hồi Một hệ thống như vậy sẽ vận hành theo

đường phát triển xoẳn ốc có thể thay đổi đi lên (hình xoắn ốc …tốt…) hoặc đi xuống (đường xoắn ốc …xấu…), phụ thuộc và sự cân bằng tiêu cực hay tích cực của bản thân những yếu tố

mà tác động qua lại của các yếu tố với nhau (Lê Trọng Cúc, 2007)

Những điều nêu trên về ba nhân tố, môi trường là điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững về môi trường của xã hội Thiếu một trong cả ba điều kiện thì môi trường sẽ

đứng trước nguy cơ không bền vững Cũng như vậy, sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của toàn cầu, của một quốc gia, một địa phương, hay một cộng đồng chỉ có thể bền vững nếu

đồng thời đáp ứng cả ba yêu cầu: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Sự thiếu bền vững về một mặt sẽ phá vỡ tính bền vững của tổng thể

Như một thành phần của thế giới tự nhiên, con người luôn tác động tới hoặc biến đổi hệ sinh thái bằng nhiều cách khác nhau để tận dụng những sản phẩm và dịch vụ do hệ sinh thái mang lạị Phát triển bền vững nhằm đạt được sự hài hòa giữa lợi ích thu được từ tài nguyên thiên nhiên của các thành phần và quá trình của Hệ sinh thái trong khi vẫn duy trì được khả năng của hệ sinh thái để cung cấp được những lợi ích đó ở mức độ bền vững Hoạt động của con người trong xã hội nên được coi là trung tâm của quản lý dựa trên hệ sinh thái (ecoystem

- based management), thông qua (i) điều chỉnh điều kiện hoá học, (ii) điều tiết thông số vật

lý, (iii) thay đổi mối tương tác sinh học, (iv) kiểm soát việc sử dụng sản phẩm sinh học, và (v)

Trang 7

can thiệp vào các quá trình văn hoá, xã hội và kinh tế Kiến thức bản địa của người dân cũng rất quan trọng, tuy không phải lúc nào cũng có thể coi là kiến thức khoa học, nhưng cũng rất

có giá trị vì chúng được đúc kết trong thời gian dài, thường có tính bền vững Kiến thức này cũng hỗ trợ cho kiến thức khoa học khác Trong quản lý dựa trên hệ sinh thái, 8 nguyên tắc phải đảm bảo, trong đó quan trọng nhất là tính khoa học, sự hợp tác đa ngành và sự tham gia của cộng đồng

Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường luôn ở trong mối quan hệ hữu cơ, ràng buộc và thúc

đảy lẫn nhau Trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, cần phải cân nhắc, tính toán tới vấn đề môi trường tương xứng với vị trí và vai trò của nó, cần nhận thức một cách sâu sắc và đúng đắn bản chất, vai trò của môi trường đối với phát triển chung Thiếu quan tâm hoặc quan tâm không đầy đủ tới các vấn đề môi trường thì chúng ta phải trả giá

Trong mối quan hệ với kinh tế, môi trường đóng vai trò vừa là nguồn cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất, phát triển vừa là nơi chứa đựng các chất thải/ phế thải của các quá trình sản xuất và sinh hoạt Không một quá trình sản xuất nào không đòi hỏi phải khai thác tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường Tuy nhiên, nguồn cung cấp này lại luôn luôn

có giới hạn, chứ không phải dồi dào và vô hạn như có người vẫn tưởng Điều đó dẫn tới yêu cầu phải khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hạn chế tới mức tối đa các chất thải làm ô nhiễm môi trường

Trong mối quan hệ với các hiện tượng xã hội, môi trường lại chịu sự chi phối, sự tác động mạnh mẽ bởi các hiện tượng này Gia tăng dân số gây áp lực to lớn đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên Nạn nghèo đói, thất nghiệp, trình độ dân trí thấp và nhiều vấn đề xã hội khác cũng là những đe dọa tiềm ẩn đối với môi trường

Việc phân tích mối quan hệ trên cho thấy, môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Phát triển kinh tế không những tác động trực tiếp

đến môi trường mà còn có thể gây ra những tác động gián tiếp thông qua việc nẩy sinh các hiện tượng xã hội không thân thiện với môi trường Chính vì vậy, công tác bảo vệ môi trường không những được thực hiện song song với các hoạt động kinh tế - xã hội mà cần đặt ra ngay

từ giai đoạn đầu-giai đoạn hoạch định các chính sách phát triển

Từ năm 1992 đến nay, những chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đã

được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với những đường lối đổi mới góp phần tích cực đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế Hàng loạt các chính sách đã nhanh chóng được thể chế hoá, bước đầu tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu tư, các loại hình doanh nghiệp Các thể chế, chính sách đảm bảo tính bền vững cho sự phát triển của Việt Nam đã phát huy tác dụng, làm cho quá trình phát triển kinh tế diễn ra nhanh, tốc độ tăng trưởng cao,

Trang 8

thời gian duy trì tăng trưởng kéo dài, đồng bộ với sự phát triển bền vững vì môi trường, dấu hiệu suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên bước đầu được ngăn chặn Nguyên

lý không phải sản xuất ít đi để đảm bảo bền vững, mà sản xuất khác đi để vừa đảm bảo tăng trưởng, vừa đảm bảo tính bền vững của phát triển đã được kiểm nghiệm thực tế

Có thể dẫn ra đây một số dẫn chứng về tác động của chính sách vĩ mô đối với phát triển kinh

tế - xã hội đến môi trường: những thay đổi về diện tích che phủ rừng rất nhạy cảm với thay

đổi chính sách được chứng minh qua sự phát triển diện tích phủ rừng sau khi giảm bớt các hoạt động khai thác gỗ ở các lâm trường quốc doanh từ năm 1997 và tác động của chương trình 327 và 661 Rõ ràng, ảnh hưởng của các chính sách vĩ mô đến những vấn đề môi trường là rất to lớn, giảm sức ép đáng kể lên các nguồn tài nguyên và cải thiện đáng kể chất lượng môi trường, đặc biệt là môi trường rừng

2 Phương pháp nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn là cộng đồng người dân tộc bản địa sống ở vùng đệm Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đa-Krông, Quảng Trị Thôn Tà Lao, xã Tà Long là thôn gần tuyệt

đối thuần nhất người Vân Kiều, có cuộc sống gắn bó với núi rừng từ rất lâu đời, và có các nét văn hoá, phong tục tập quán riêng biệt, có phương thức canh tác nương rẫy rất phố biến Thôn Tà Lao cũng đại diện cho một vùng dân tộc có cuộc sống gắn bó với thiên nhiên mà phần lớn là tài nguyên rừng

b Dùng phương pháp hồi cứu số liệu:

Thu thập các số liệu thống kê, các số liệu thứ cấp từ xã và huyện từ các đề tài đã và đang thực hiện trên địa bàn Tuy nhiên, các số liệu thống kê còn tùy thuộc vào tính chủ quan của người thu thập Vì vậy cần phải có sự xác minh qua các phương pháp phỏng vấn các hộ được lựa chọn ngãu nhiên với tổng số mẫu là khoảng 25-30% trong vùng nghiên cứu Phương pháp này nhằm tìm hiển một cách tổng quát về thực trạng kinh tế xã hội tại vùng nghiên cứu

Thể thức chọn mẫu: Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương thức ngẫu nhiên Từ danh

sách hộ của ông trưởng thôn những hộ có số chẵn (2, 4, 6, 8 ) được chon ngâu nhiên để phỏng vấn dùng bảng hỏi bán cấu trúc Tổng số hộ phỏng vấn là

Phỏng vấn nhóm: bao gốm già làng, đại diện của các ban nghành, đoàn thể như Bí thư chi

bộ đảng, đoàn thanh niên, đại diện của Phụ nữ thôn, cựu chiến binh Họ là những người có hiểu biết sâu rộng về đời sống bà con ở trong thôn

Trang 9

c Khảo sát thực địa:

Phương pháp quan sát dưới góc độ của người dân, hòa mình vào cuộc sống với thôn bản và quan sát hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày nhằm thu thập các thông tin bổ trợ xác minh cho các thông tin đã thu thập được bằng nhiều phương pháp khác Phương pháp này cũng cần kết hợp với các phương pháp khác như phóng vấn, lập bản đồ,v.v…Phương pháp này nhằm tìm hiểu một cách cụ thể về phong tục tập quán của cộng đồng dân tộc Vân Kiều tại điểm nghiên cứu

Phương pháp phóng vấn nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (RRA) nhằm tìm hiểu đời sống, thái độ, hành vi, nhân thức của người dân, nhằm giúp cho nhóm nghiên cứu hiểu được một cách tổng quát về điều kiện kinh tế xã hội, vấn đề giàu nghèo, tỷ lệ giửa nam

và nữ, tình hình thu nhập từ các nguồn của người dân tại cộng đồng nghiên cứu

Phỏng vấn sâu các thông tin viên chủ chốt như trưởng bản, hội trưởng phụ nữ, bí thư đoàn thanh niên, công an viên thôn, lâm tặc , khách tạm trú tại thôn, nhằm mục đích hiểu sâu hơn

về vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên dưới các khía cạnh của các nhóm thông tin

PRA các nhóm mục tiêu: nhóm những người khai thác gỗ, nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo, nhóm phụ nữ và nam giới, dùng phương pháp này để phân loại các nhóm hộ: khá, trung bình,

và nghèo theo tiêu chí của người dân địa phương Phương pháp này cũng nhằm giúp đề tài

đánh giá được những đối tượng nào là hay khai thác tài nguyên nhất và nguồn thu nhập chính của họ là từ đâu, và sự phân công lao động trong việc khai thác và sử dụng này

Kết quả và thảo luận

A Điều kiện tự nhiện

A Điều kiện tự nhiện

1.Vị trí địa lý

Xã Tà Long là xã miền núi nằm cách thị trấn Krông Klang - Trung tâm huyện Đkrông là 30

km về phía Tây Nam, phía Bắc giáp xã Ba Lòng, Triệu Nguyên, Mò ó Phía Nam giáp xã A Vao, Húc Nghì, phái Đông giám xã Hải Phúc, phía Tây giáp xã Ba Nang và nước CHDCND Lào

Đặc điểm về lợi thế làm nằm trên trục chính đường mòn HCM một giao thông huyết mạch của huyện Đakrông nói riêng và tỉnh Quảng trị nói chung Vì vậy, rất thuật tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội với các vùng lân cận khác đặc biệt là rất thuận tiện cho việc buôn bán các loại lâm sản và động vật hoang dã được khai thác từ lào về Nhìn sơ đồ sau:

Trang 10

Hình: 1 Bản đồ Vị trí của điểm nghiên cứu

2 Điều kiện khí hậu:

Điều kiện khí hậu và thời tiết, xã Tà Long chịu ảnh hưởng của khí hậu Tây Trường Sơn, thể hiện rõ tính chất nhiệt đới nóng ẩm với nền nhiện độ cao

Nhiệt độ trung bình hàng năm 25,3 oC, nhiệt độ cao nhất trung bình 28 oC vào tháng tư và nhiệt độ thấp nhất là 15 oC vào tháng 1, kỳ nhiệt độ cao cộng với độ ẩm thấp đã làm bốc hơi lớn, gây anh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây trồng

Độ ẩm trung bình hàng năm 74%, độ ấm qua các tháng dao động không lớn Độ ẩm cao nhất 84% vào tháng 8 vàn độ ẩm thấp nhất 66% vào tháng 3 Lượng bốc hơi trung bình hàng năm khoảng 774,3 mm

Tổng số ngày mưa trung bình cả năm 122 ngày, lượng mưa trung bình năm là 2,260 mm tháng có ngày mưa ít nhất là tháng 1- 4, tháng 11-12 Lương mưa phân bổ không đều, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5-11 chiểm 85% lương mưa của cả năm và tập trung vào tháng

8 có lượng mưa lớn nhất là 320mm

Trang 11

Gió Tây không nóng thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9, trung bình từ 39-40 ngày/năm, từ tháng 5 đến tháng 8 có gió nam với tần suất 14,5%- 27,5%

Còn về loại địa hình đồi núi thấp và thung lũng hẹp là loại địa hình có độ cao khoảng từ

200-400 mét so với mặt nước biển, loại địa hình này rất có khả năng phát triển về nông nghiệp cũng như phát triển mô hình trồng rừng theo mô hình Nông - Lâm kết hợp

B Điều kiện kinh tế

B Điều kiện kinh tế –––– xã hộixã hộixã hội

Đất nông nghiệp

Đất phi nông nghiệp

Đất chưa sử dụng

Diện tích 18615,71 11195,13 238,85 7181,73

Nguồn: Tài liệu thống kê của xã Tà Long

Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Mục đích sử

dụng

Tổng diện tích

Đất sản xuất Nông nghiệp

Đất lâm nghiệp đất nuôi trồng

thuỷ sản

Diện tích 11195,13 527,93 10664,5 2,7

Nguồn: Tài liệu thống kê của xã Tà Long

Xã Tà Long là một xã thuần nông, thu nhập chủ yếu của người dân ở đây là sản xuất nông nghiệp nhưng diện tích nông nghiệp chiểm tỷ lệ nhỏ so với diện tích tự nhiên, Tổng diện tích

Trang 12

nông nghiệp là 527,93 chiểm 2,59% trong sản xuất nông thì ngành trồng trọt là quan trọng nhất chú yếu là trồng cấy lúa nước và lúa rẫy, chiếm tỷ lệ cao trong có cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

2 dân số

Theo thống kê của xã thì tổng dân số toàn xã cho đến nay là 582 hộ và có 2537 khẩu hầu hết là dân tộc Vân Kiều chiếm 85% trên toàn xã trong đó thôn tà Lao là 56 hộ, 272 khẩu chiếm 8,8% so với toàn xã Trong toàn xã có 1324 người trong độ tuổi lao động chiếm 46,6%, phần đông là lao động trẻ có sức khoẻ tốt và hầu hết là lao động sản xuất trong nông nghiệp, mặc dù có tỷ lệ khá cao so với tổng số dân cư, nhưng do trình độ sản xuất thấp, chủ yếu là lao động phố thông nên chất lượng lao động còn chưa cao Để đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao cần có biện pháp thúc đẩy về đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đặc biệt là ở xã đã đẩy mạnh công tác kế hoạch hoá gia đình ngày càng cao đã

áp dụng những biện pháp tránh thai hiện đại cụ thể như 6 tháng đầu năm 2005 đã có 98 cặp

vợ chồng thực hiện biện pháp tránh thai; trong đó có đình sản 6 ca đặt vòng tránh thái là 20 người các biện pháp khác là 63 đạt 76,5% kế hoạch

3 Vấn đề nghèo đói

Vấn đề nghèo đói là một vấn đề mà được đảng và nhà nước quan tâm nhất trong việc góp phần xoá đói giảm nghèo cho các tỉnh thuộc miền núi vùng cao vùng sâu và đã đạt được những thành tự đáng kể trong công cuộc xoá đói giảm nghèo Theo tiêu chuẩn quốc tế tỷ lệ

hộ nghèo Việt Nam giảm mạnh, từ 58,1% năm 1993 xuống còn 24,1% năm 2004 như vậy từ năm 1993 đến năm 2004 Việt Nam đã giảm gần 60% số hộ nghèo, tỷ lệ nghèo đều giảm ở tất cả các vùng trong cả nước Còn riêng tại xã Tà Long huyện Đakrông thì không những không giảm xuống mà còn tăng lên một cách đáng kể Cụ thể như năm 2003 là 51,09% đến tháng 6 năm 2006 tỷ lệ nghèo tăng lên là 84,1% (số liệu thống kê của xã Tà Long tháng 6 năm 2006) tại đây tỷ lệ hộ nghèo tăng vì do nhiều nguyên nhân:

Thứ nhất là do các phương thức hỗ trợ của các dự án giảm nghèo chưa đạt hiệu quả, đã tạo cho ý thức của người dân luôn trông chờ ý lại vào nguồn tài trợ từ các dự án Mà không chịu phát huy tự lực trong lao động dẫn đến khi hết dự án thì không có vốn để sản xuất, không có khả năng tự lao động và dẫn đến nghèo đói

Thứ hai là do một số gia đình muốn được thuộc diện nghèo để có cơ hội được hỗ trợ hoặc tham gia vào các dự án nên đã tự hạ thấp mình thành gia đình nghèo do vậy số gia đình nghèo đói trong thôn Tà Lao nói riêng và trong xã Tà Long nói chung trong mấy năm gần

đây tăng lên, điều này cũng là một áp lực lên tài nguyên rừng rất lớn vì mỗi khi hết dự án, hết

Trang 13

tiền, thiếu ăn thì buộc họ phải vào rừng để đào củ mài, săn bắn, hoặc khai thác các lâm sản

để kiếm sống qua ngày và dẫn đến tài nguyên rừng suy giảm

4 Giáo dục và đào tạo:

Nhìn chung về giáo dục và đào tạo tại toàn xã nói chung tại thôn Tà Lao nói riêng là rất thấp hầu như là mù chữ, tỷ lệ mù chữ tại thôn chiếm rất cao, hầu như phần lớn là phụ nữ thất học, vì trên địa bàn của xã duy nhất chỉ có một trường phố thông cơ sở nằm trên địa bàn thôn Pa

Hy, cũng có nhiều lý do khác nữa nhưng chủ yếu là họ không quan tâm mấy đến chuyện học hành, riêng phụ nữ thì họ chi biết lớn lên là đi làm rẫy, lấy chồng và sinh con, phọng tục của

họ là phụ nữ lấy chồng rất sớm do đó cơ hội để họ học hành là không có, đây cũng là một bất cập cho việc bảo vệ môi trường và khai thác tài nguyên, vì trình độ hiểu biết của người dân ở đây là rất thấp, cụ thể khi hỏi họ về tài nguyên rừng có quan trọng như thế nào đối với người dân thì hầu như người dân ở đây trả lời là không biết, chỉ một ít số người có tham gia vào việc xã hội như làm cán bộ đoàn thanh nhiên hoặc là cán bộ phụ nữ mới biết trả lời là tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong việc giữ nguồn nước, cản gió bão chứ họ không biết nguyên nhân là vì sao điều đó có nghĩa là sự hiểu biết của người dân ở đây rất sơ sài cần phải có biện pháp nâng cao sự hiểu biết về tầm quan trọng của tài nguyên rừng đến đời sống của người dân là hết sức to lớn, đây là một vấn đề lớn cần có một chính sách đồng bộ từ Trung Ương tới người dân mới hy vọng bảo vệ được nguồn tài nguyên quý giá và phát triển kinh tế cho những nhóm người dân tộc thiếu số vùng sâu vùng xa này như ở Tà Long Long là Một ví dụ

5 Giao thông:

Xã Tà Long có một con đường duy nhất là đường Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14) nằm trên địa bàn

có chiều dài 19 km từ km 10 đến km 29 là đường nhựa mặt rộng 8 mét có chất lượng tốt Riêng đường đi vào thôn Tà lao thì chỉ có một đường cấp phối duy nhất có chiều dài 5 km có chia cắt bới một con suối Nếu muốn đi vào thôn thì đều phải đi qua con suối này, điều này gây không ít khó khăn cho người dân ở đây về cơ hội hiểu biết các thông tin ở bên ngoài, đến nay thì nhờ có dự án 135 giúp đỡ và xây dựng được cây cầu qua con suối này gọi là cầu Tà Lao điều này cũng có những mặt tích cực là đã giúp cho bà con đi lại một cách dễ dàng có thể đi bằng xe máy hoặc xe đạp.v.v đặc biệt là cơ hội rất lớn cho các em nhỏ trong việc đi học và ngược lại cũng có những mặt tiêu cực của nó Ngày xưa chưa có đường cấp phối việc

đi lại của người dân rất khó khăn chỉ có thể đi bộ để đi ra đường cải lớn do đó cơ hội giao lưu buôn bán với những người miền xuôi và tiếp thu, nắm bắt các thông tin cần thiết về tiến bộ khoa học là rất hạn chế, nhưng ngược lại việc bảo vệ lượng tài nguyên rừng trong thôn là rất

Trang 14

tốt vì đường còn xấu xe cộ chưa đi lại được nên cơ hội mua bán vận chuyển khó khăn Đây là một trong những nguyên nhân là suy giảm tài nguyên rừng ở thôn hiện nay

6 Tài nguyên rừng và động vật hoang dã:

Tài nguyên rừng thì diện tích đất lâm nghiệp tại xã là 18615,5 ha trong đó rừng tự nhiên là 11.358,7 ha chiếm hơn 61% đất lâm nghiệp và 296,4 ha rừng trồng chiếm gần 1,6% diện tích đất lâm nghiệp tỷ lệ che phủ rừng tăng theo từng năm được miêu tả theo bảng sau: Bảng 1: Phân bổ diện tích đất lâm nghiệp của xã Tà Long Huyện Đakrong

Nguồn: Chi cục kiểm lâm huyện Đakrong tỉnh Quảng Trị

Theo số liệu của bảng 1 ta thấy tỷ lệ che phủ rừng tăng lên đáng kể theo từng năm từ năm

2002 là 55.6% đến năm 2006 là 61.0 % chủ yếu là rừng tự nhiên, Rừng tự nhiên cũng tăng theo từng năm và đến một ngày nào đó rồi dừng lại do là đa phần là rừng nghèo mới tải sinh,

và khoanh nuôi tải sinh, trữ lượng gỗ thấp, phần lớn là gỗ tạp, điều này cho ta thấy diện tích rừng tăng lên là do rừng được tải sinh là chính và do một ít diện tích rừng trồng

Về tài nguyên động vật hoang dã thì hiện nay đã cạn kiệt do diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp và săn bắt một cách quá mức, hiện còn mộ số loài như: Hoãng, nai, sơn dương, chồn, lợn rừng, gà rừng nhưng với số lượng rất ít Nhưng năm gần đây do nạn săn bắt bừa bãi nên nguồn tài nguyên này đang có xu hướng giảm sút rõ rệt và nghiêm trọng Do vậy cần có biện pháp bảo vệ chặt chẽ và xử phạt nghiêm những kẻ cố tình xâm phạm nguồn tài nguyên quý giá này

Trang 15

7 văn hoá truyền thống

a Một số nét Văn hoá của cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều

Về cơ bản họ là cộng đồng sinh sống chủ yếu bằng trồng trọt nương rẫy, săn bắt và hái lượm Một vài nơi họ có làm ruộng nước, nhưng số này rất ít, hầu như không đáng kể Hiện tại

họ vẫn đang trong tình trạng quảng canh, bán định canh Phương pháp canh tác chủ yếu của

họ vẫn là: phát - đốt - chọc lỗ tra hạt, với các công cụ thô sơ cổ truyền như dao phát (pơpia), rìu (a chặt), gậy chọc lỗ (roa), v.v

Chăn nuôi và thủ công gia đình chưa phát triển, vì thế mà hoạt động kinh tế mang tính chiếm

đoạt tự nhiên của họ là một bộ phận quan trọng, nó có vai trò hỗ trợ đắc lực cho trồng trọt Rừng núi không những chỉ cung cấp cho họ thực phẩm mà còn giải quyết phần lớn nhu cầu rau xanh, thuốc chữa bệnh, củi đốt, và các loại bột thay gạo, ngô, khoai, sắn, v.v ăn trong những khi đói kém

Hiện nay tuy tình trạng quảng canh đã giảm được phần nào đó, cơ cấu cây trồng đã đa dạng hơn đôi chút, chăn nuôi đã được chú ý hỗ trợ, v.v nhưng tất cả cũng chỉ mới là bắt đầu, hiệu quả kinh tế chưa là bao Lao động sản xuất của cộng đồng Bru - Vân Kiều vẫn trong tình trạng rất giản đơn và hoàn toàn mang ý nghĩa kiếm cái để ăn Tình trạng đói nghèo vẫn thường trực trong 70-90% số hộ người Bru - Vân Kiều ở khu vực này (Khổng Diễn: 2003)

b Văn hoá vật chất

Làng (palu) của người Bru - Vân Kiều thường có vài ba chục nóc nhà, được thành lập trên

sườn dốc, bên cạnh những con suối hoặc khe nước làng có ranh giới, có nghĩa địa riêng, nguồn nước sinh hoạt và sản xuất riêng Trong làng các ngôi nhà ở thường quay mặt về ngôi

nhà chung của làng (xu khoan, roong, xu ho)

Người Bru - Vân Kiều ở trong những ngôi nhà sàn không lớn lắm, mỗi ngôi nhà chỉ đủ để ở cho một cặp vợ chồng và dăm ba đứa con Nhà của họ thường có ba gian, chia làm hai phần chủ yếu Nếu chia theo chiều ngang sàn nhà: phần tiếp giáp với cầu thang chính dành cho nam giới và là nơi tiếp khách, phần bên trong giành cho nữ giới, làm kho đựng dụng cụ gia

đình, chế biến đồ ăn, nơi ăn uống của nữ giới và trẻ con trong nhà Nếu chia theo chiều dọc của sàn nhà: nửa dưới tiếp giáp cầu thang là nơi tiếp khách, nấu ăn, ăn uống và thực hiện mọi sinh hoạt khác trong gia đình, bên trên là nơi bố trí các buồng ngủ của các thành viên trong nhà, nơi ngủ của khách và nhà kho Bếp bao giờ cũng được đặt ở gian giữa nhà (nhiều gia đình có hai bếp: bếp khách và bếp nấu ăn) Phía trước nhà giáp cầu thang chính là sàn phơi Ngôi nhà của họ tương đối đơn sơ, được tạo dựng bằng các loại gỗ tròn, tre, bương, nứa

Trang 16

và lợp bằng cọ hoặc cỏ tranh Vì thế không tốn kém nguyên liệu Khi con cái trong nhà có

vợ, có chồng, họ làm nhà nối liền với ngôi nhà cũ của bố mẹ Thường thì mỗi cặp vợ chồng

trẻ ở trong một gian Chính thế mà xưa kia ngôi nhà của họ cứ dài dần ra mãi - nhà dài điều

này dẫn đến việc khai thác tài nguyên rừng là mãi mãi mà làm một áp lực rất lớn lên tài nguyên rừng đặc biệt là gỗ và các lâm sản ngoài gỗ

Người Bru - Vân Kiều có tổ chức xã hội rất chặt chẽ Gia đình (đung) là đơn vị tế bào cơ bản trong xã hội của họ Các gia đình có cùng huyết thống, cùng một tôtem liên kết với nhau thành một họ (mu) Họ có nhiều dòng họ: Xôm, Ralu, Xartang, Ublêng, Ưpây, Tơmua,

Xômbia, Xerrer, Klang, Rabô, Tamoi, v.v Ngày nay nhiều dòng họ đã bỏ tên cũ và mang tên

họ Hồ (từ 1949) Trong một làng (vil, palu) bao gồm vài ba mu, vài ba vil liên kết với nhau thành một kroang Đứng đầu mỗi đơn vị xã hội của họ là một thủ lĩnh Đứng đầu dòng họ là

xuất mu, đứng đầu làng là aria vil, đứng đầu Kroang là aria kroang Đây là những người am

hiểu phong tục, có uy tín, được các thành viên tôn trọng và tuân theo Họ có toàn quyền quyết định mọi công việc liên quan đến cộng đồng Tổ chức xã hội của họ sẽ rất có lợi cho việc quản lý bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi sinh, nếu biết khai thác, phát huy hợp lý

Người Vân Kiều có những phong tục tập quán lâu đời nhằm giữ gìn một số vùng đất quan trọng cho thôn bản Những tập quán này góp phần giữ gìn các vùng đất đầu nguồn nước, hay những nơi rừng tốt khỏi việc khai thác một cách bừa bãi Ví dụ, các bản Vân Kiều đều có các khu rừng cấm được gọi là …cà nịa… Rừng này do trưởng bản hay già làng quản lý nhằm giữ gìn để yên ổn làm ăn Tại các …cà nịa… người dân bản chỉ có thể vào chứ không được động chạm vào cây rừng vì họ quan niệm rằng trong cây đa (tiếng địa phương là suri) có thần hay cây xoài rừng có Ma lai, nếu chạm phải sẽ bị đau Các sản phẩm hoa quả trong đó ai thấy có thể hái ăn tại chỗ chứ không được mang về

c Rừng Ma:

Mỗi thôn tuỳ dân cư nhiều hay ít mà chọn 1 đến 2 khu rừng để làm …nghĩa địa… chôn cất người chết, việc chôn cất của người Vân Kiều hết sức sơ xài khi người nhà mất họ sẽ đem vào rừng ma và chôn ngay lập tức và coi như là xong từ đó về sau không bao giờ quay lại Do những ý nghĩ về sợ ma bắt, nỗi sợ hãi này khiến cho họ không giám quay lại và thậm chí cũng không biết nơi chôn cất người quá cố Khu rừng này được chọn không gần mà cũng không quá xa nơi sinh sống, diện tích vào khoảng 5 - 7 ha và có thể chọn những khu rừng tự nhiên có diện tích lên đến 10 -15 ha Do đó họ không cho người ngoài biết rõ vị trí rừng ma này, chỉ có những người trong thôn mới được biết Đây cũng là một hình thức quảng lý tài

Trang 17

nguyên tốt nếu chúng ta biết các giữ gìn và bào tồn bản sắc văn hoá này áp dụng trong việc quảng lý tài nguyên rừng là một đáng được ghi nhận

d Các quy định người Vân Kiều trong việc quản lý tài nguyên rừng

Người Vân Kiều quản lý các kiểu rừng ma này với các quy định: Không được ai vi phạm từ chặt một cây con đến một cây gỗ trong rừng ma, nếu vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định của thôn Người xử là già làng, mức xử tuỳ theo nặng nhẹ, nhẹ là một chai rượu và một con

gà, nặng hơn là 7 con gà, nặng nữa là một con lợn Vật phẩm nộp phạt này già làng sẽ đem cúng ở rừng ma Việc xử phạt rất phân minh và rõ ràng, qua tìm hiểu được biết hành vi vii phạm vào rừng ma là rất hiếm khi xảy ra vì người dân tộc Vân Kiều rất sợ khi vào rừng ma

Họ rất tự giác chấp hành Theo điều tra tại thôn Tà Lao có 1 khu rừng ma với diện tích 10 ha

và được quản lý một cách rất nghiêm ngặt với một diện tích rừng xanh tốt và được bảo tồn về

đang dạng sinh học Đây cũng là một điều cần được duy trì những phong tục tập quán này vào việc bảo vệ tài nguyên rừng là rất tốt Nếu chúng ta giữ gìn được bản sắc dân tộc và truyền thống của họ

Một điều khá thú vị mà chúng tôi phát hiện được đó là quan niệm hiện nay của người dân về vấn đề chia sẻ lợi ích đã thay đổi so với trước đây, khi mà họ cho rằng sản phẩm sẽ thuộc về cá nhân thu được chúng chứ không chia đều cho tất cả cộng đồng sẽ công bằng hơn Như vậy nhờ chính niềm tin và phong tục truyền thống này của cộng đồng bản địa ở đây mà một

bộ phận rừng đã được bảo vệ từ thế hệ này sang thế hệ khác ý thức bảo tồn của người dân

có thể được nâng lên nếu chúng ta tôn trọng quan niệm truyền thống của họ và biết khuyến khích chúng một cách hợp lý

8 các phương thức khai thác tài nguyên rừng

a Phương thức canh tác nương rẫy

Phương thức canh tác nương rẫy ngày xưa là một phương thức phổ biển cho một sô nhóm người dân tộc thiểu số sống gần rừng sống và canh tác theo phương thức quảng canh trên nương rẫy không cổ định để trồng cây lương thực hay thực phẩm ngẳn ngày (lúa, ngô, sắn…)

do đặc điểm của phương thức canh tác này là dựa vào độ phình nhiêu của đất rừng sau khi chặt và đốt vì vậy sau khi canh tác được một đến hai vụ đất bị xói mòn và bạc màu, năng suất cây trồng thấp, không canh tác được buộc phải bỏ hóa và di chuyển đến một nơi mới có rừng và tiếp tục chặt đốt và trồng trọt

Ngày đăng: 08/07/2017, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. William D.Sunderlin và Huỳnh Thu Ba (2005) Giảm nghèo và rừng ở Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp Quốc tế Khác
2. Lê Trọng Cúc (Tạp chí Nghiên cứu phát triển bền vững số 4 (17) tháng 12 n¨m 2007) Khác
3. Scott Roberton, Trần Chí Trung và Frank Momberg: 2003. Thay đổi sinh kế, Điều tra tình hình khai thác và buôn bán động vật hoang dã ở vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An Khác
4. Khổng Diễn, 2003. Các vấn đề sinh thái nhân văn của cộng đồng dân c− liên quan đến phát triển kinh tế …xã hội ở vừng sinh thái đặc thù quảng Bình … Quảng Trị phân vùng lãnh thổ Quảng Bình … Quảng Trị. Ch−ơng trình khoa học Công nghệ trọng Điểm cấp nhà n−ớc Giai đoạn 2001-2005 … Bảo vệ môi tr−ờng và phòng chánh thiên tai…. Bộ khoa học Công nghệ và Môi tr−ờng, Hà Néi Khác
5. Peter Billelarsen và Trần Chí Trung. 2007: kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên và xoá đói giảm nghèo: các khía cạnh xã hội trong chính sách buôn bán động thực vật hoang dã ở Việt Nam …Ký yếu hội thảo khoa học Đa dạng Sinh học và sự thịnh v−ợng… nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Khác
6. Võ Quý, Võ Thanh Sơn. 2008: Tài liệu giảng dạy chuyên đề phát triển Bền vững với những vấn đề môi trường toàn cầu và Việt Nam Khác
7. Hàn Tuyết Mai:2006: Bước đầu Nghiên cứu ý nghĩa của kiến thức bản địa trong Sử dụng và quản lý lâm sản ngoài gỗ của cộng đồng người vân kiều ở thôn là tó, xã húc nghì, đa-krông, Quảng Trị Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w