1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng phát triển rừng Vầu đắng và thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ rừng vầu đắng tại Huyện Bạch Thông Tỉnh Bắc Kạn

71 361 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Công Quân tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Thực trạng phát triển rừng Vầu đắng và thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây Vầu đắng tại Huyện Bạch Thông Tỉnh Bắc Kạn ” .Đặt r

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng

Thái Nguyên 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm !

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2016

XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN Đồng ý cho bảo vệ kết quả

trước hội đồng khoa học!

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ lượng kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Qua đó giúp sinh viên có điều kiện củng cố, hoàn thiện hơn về kiến thức lý luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc sau này

Sau thời gian thực tập, đến nay luận Văn của tôi đã hoàn thành Có được kết quả như hôm nay, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo khoa Lâm Nghiệp, các đồng nghiệp, các chú, các anh và bà con nhân dân tại khu vực tôi thực tập Đặc biệt là sự chỉ bảo, giúp đỡ trực tiếp và

tận tình thầy giáoTS Trần Công Quân

Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Trần Công Quân cùng toàn thể thầy, cô giáo khoa Lâm nghiệp, các bạn đồng

nghiệp, các chú, các anh và bà con nhân dân tại tỉnh Thái Bắc Kạn nơi tôi tiến hành thực tập đã giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành khóa luận này

Do thời gian, trình độ bản thân có hạn nên khóa luận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận của tôi được hoàn chỉnh./

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái nguyên, tháng 6 năm 2016

Sinh viên thực tập

Ma Văn Duy

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Diê ̣n tích rừng Vầu đắng củ a xã Cẩm Giàng và Đôn Phong tại khu vực nghiên cứu: 28 Bảng 4.2 Mâ ̣t đô ̣, sinh trưởng thân khí sinh r ừng Vầu đắng ở mô ̣t số tra ̣ng thái rừng ở khu vực nghiên cứu 30 Bảng 4.3: Sinh trưởng của cây Vầu đắng tại Bắc Kạn theo vùngsinh thái 31 Bảng 4.4: Sản lượng thân khí sinh và măng đ ược khai thác rừng Vầu đắng thuần loài ta ̣i khu vực 32 Bảng 4.5: Thị trường thân sinh khí cây Vầu đắng ở khu vực nghiên cứu 34 Bảng 4.6: Thị trường măng cây Vầu đắng ở khu vực nghiên cứu 35 Bảng 4.7 Tổng hợp giá tri ̣ kinh tế thu được từ bán các sản phẩm câu Vầu đắng trên khu vực nghiên cứu 37

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Bán sản phẩm thân khí sinh cây Vầu đắng ở khu vực 38 Hình 4.2 Măng Vầu đắng được bày bán ở chợ xã của huyê ̣n Ba ̣ch Thông 38

Trang 6

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 4

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4

2.2.2 Những nghiên cứu trong nước 9

2.3 Nhận xét chung 19

2.4 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 19

2.4.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 19

2.4.2 Các nguồn tài nguyên 20

2.4.3 Điều kiện kinh tế xã hội 22

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 24

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24

3.2 Nô ̣i dung nghiên cứu 24

3.3 Phương pha ́p nghiên cứu 24

3.3.1 Phương pháp kế thừa số liê ̣u, tài liê ̣u 24

Trang 8

3.3.2 Phương pha ́p điều tra thu thâ ̣p số liê ̣u sơ cấp 25

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 26

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Thực trạng phân bố va ̀ sinh tr ưởng cây Vầu đắng tại Huy ện Bạch Thông, Tỉnh Bắc Kạn 28

4.1.1 Thực tra ̣ng phân bố rừng Vầu đắng ở khu vực nghiên cứu 28

4.1.2 Đa ́nh giá khả năng sinh trưởng của cây Vầu đắng 30

4.2 Thực tra ̣ng khai thác , thị trường tiêu thụ các sản phẩm và giá tri ̣ kinh tế t ừ cây Vầu đắng ta ̣i huyê ̣n Ba ̣ch Thông, tỉnh Bắc Kạn 32

4.2.1 Tình hình sử dụng và khai thác thân khí sinh và măng Vầu đắng 32

4.2.2 Thị trường va ̀ giá trị kinh tế của loài Vầu đắng 33

4.3 Đề xuất các giải pháp để phát triển tài nguyên Vầu đắng tại huyê ̣n Ba ̣ch Thông , tỉnh Bắc Ka ̣n 39

4.3.1 Nhóm các giải pháp về kỹ thuật 39

4.3.2 Nhóm các giải pháp về chính sách 40

4.3.3 Nhóm các giải pháp về tổ chức 41

Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 42

5.1 Kết luận 42

5.2 Tồn tại 43

5.3 Kiến nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Thực trạng phát triển cây hàng năm là một trong những bộ phận quan trọng của sản xuất nông nghiêp, là bộ phận sản xuất vật chất chủ yếu của nông nhiệp Cây vầu đắng là một sản phẩm cây trồng hàng năm về lương thực

và râu xanh cung cấp cho sinh hoạt thường ngày của con người, là nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp, chế biến và các yếu tố sản xuất để phát triển cho các ngành kinh tế…

Vầu đắng (Indosasa amabilis Mc Clure) là loại tre không gai, mọc phân

tán đơn độc từng cây Kích thước cây trung bình: Thân tre cao 17m, thẳng đứng, đường kính 10 cm, lóng dài 35cm, vách thân dầy 1cm, thân tre tươi nặng 30 kg – Đây là loài điển hình cho nhóm tre mọc tản có kích thước thân lớn ở Việt Nam Rừng Vầu đắng là loại rừng thứ sinh hình thành sau khi rừng

gỗ nguyên sinh bị phá hại Tuỳ trạng thái rừng là hỗn giao với cây gỗ hay thuần loại, là mới phục hồi hay đã qua khai thác hoặc rừng tự nhiên ổn định

mà mật độ cây trên 1ha biến động từ 1300 đến 6000 cây Tỷ lệ cây già ở rừng

ổn định thường gấp hơn 2 lần ở rừng mới phục hồi và ngược lại tỷ lệ cây non

ở rừng già chỉ bằng 1/4 ở rừng phục hồi Vầu đắng có khả năng chịu bóng, ưa ẩm Vầu đắng sinh trưởng tốt ở rừng có cây gỗ ở tầng trên, sườn âm, chân đồi hoặc theo các khe núi; ở những nơi rừng thưa, nhiều ánh sáng Vầu đắng sinh trưởng có vẻ kém hơn

Vầu đắng ra hoa đầu cành, bông chét dài tới 10 cm mang nhiều hoa Hoa kết hạt nẩy mầm cho một thế hệ mới nhưng chưa theo dõi được quá trình phát triển của cây tái sinh từ hạt, sau khi ra hoa thì cây chết Vầu đắng cũng

có thể ra hoa lẻ tẻ nhưng thường ra hoa rồi chết hàng lọat – Vào thập kỷ 70

Trang 10

hầu hết Vầu đắng ra hoa rồi chết Chu kỳ ra hoa chưa được theo dõi nhưng theo người dân thì cũng khá dài, khoảng trên 50 năm

Sau khi bị tác động, rừng Vầu đắng có khả năng phục hồi nhanh về số lượng (cây/ha) nhưng đường kính thì phục hồi rất chậm chạp

Vầu đắng mọc rải rác ở các rừng tự nhiên và có nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, cũng có và có thể phát triển ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá

Huyện Bạch Thông nằm ở trung tâm tỉnh Bắc Kạn, phía bắc giáp huyện Ngân Sơn và Ba Bể, phía tây giáp huyện Chợ Đồn, phía nam giáp huyện Chợ Mới và thành phố Bắc Kạn, phía đông giáp huyện Na Rì Với tổng diện tích tự nhiên là 545,62km2

có 90% diện tích là rừng núi , địa hình khá phức tạp trong đó rừng Vầu đắng có khoảng 560,9 ha chủ yếu tập trung tại các xã Đôn Phong và Cẩm Giàng Hiện nay rừng Vầu đắng của huyện Bạch Thông được thừa nhận về giá trị kinh tế, phòng hộ Rừng Vầu đắng giữ một vai trò quan trọng về mặt kinh tế đối với cuộc sống của người dân, đặc biệt là nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo Ngoài ra, Vầu đắng còn có vai trò về mặt xã hội và môi trường sinh thái, tạo công ăn việc làm cho người dân, cải thiện đời sống Văn hoá tinh thần, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho người dân nơi đây Nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trong khu vực và giúp người dân địa phương có thu nhập ổn định từ rừng và kinh doanh rừng là mục tiêu quan trọng cho phát triển vùng

Xuất phát từ nhu cầu thự tiễn trên được sự thống nhất của Khoa Lâm Nghiệp, cùng sự hưỡng dẫn của TS Trần Công Quân tôi đã tiến hành nghiên

cứu đề tài “ Thực trạng phát triển rừng Vầu đắng và thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây Vầu đắng tại Huyện Bạch Thông Tỉnh Bắc Kạn ” Đặt ra

rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiến nhằm tổng kết và đánh giá thực trạng và

Trang 11

các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phát triển rừng vầu đắng tại huyện Bạch Thông, rút ra những bài học kinh nghiệp cũng như đề xuất một số kiến nghị cho việc phát triển nhân rộng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng phân bố, sinh trưở ng phát triển và giá trị kinh tế của cây Vầu đắng tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

- Đề xuất được mô ̣t số gải pháp kỹ thuật phát triển và nâng cao giá trị kinh tế cây Vầu đắng ta ̣i huyê ̣n Ba ̣ch Thông, tỉnh Bắc Kạn

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học

Đề tài mở ra hướng nghiên cứu thực trạng của các loài vầu nói chung

và Vầu đắng nói riêng, thông qua nghiên cứu các đặc trưng ở mức độ tiểu sinh cảnh, cá thể, quần thể, quần xã Từ đó đưa ra được những cơ sở khoa học kinh doanh Vầu đắng theo hướng bền vững và thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây Vầu đắng

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Về phương diện thực tiễn kết quả nghiên cứu xác định được đặc tính sinh thái loài Vầu đắng sẽ giúp cho các nhà kỹ thuật và các hộ gia đình và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong chăm sóc cũng như khai thác, tổ chức kinh doanh rừng Vầu đắng theo hướng bền vững Dựa vào kết quả này người dân có thể áp dụng và các biện pháp thích hợp để tác động vào rừng vầu

Có thể làm tư liệu tham khảo cho các cấp, các ngành trong việc thực hiện gây trồng và xúc tiến tái sinh loài Vầu đắng một trong những loài cây lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng ở tỉnh Bắc kạn nói riêng , các tỉnh có phân bố cây Vầu đắng nói chung

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học

Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, hoặc còn gọi là Gramineae).Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á trong đó có Việt Nam Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau.Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải, Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng Chính vì vị trí quan trọng của tài nguyên tre trúc, nhiều nước trên thế giới có tre trúc và kể cả những nước sử dụng tre trúc, đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tre trúc

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu về Tre trúc trên thế giới

Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí rất quan trọng trong tài nguyên rừng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước vùng phía Nam

và Đông Nam Á Từ xa xưa tre trúc đã là một vật liệu có nhiều công dụng trong cuộc sống của người dân như các vật dụng gia đình hay công cụ nông

Trang 13

nghiệp,… Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nghành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghệ giấy Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải, Một số loài tre trúc cho măng ngon đã trở thành đối tượng cung cấp nguồn thực phẩm nhiều giá trị

Tre trúc thuô ̣c lớp thực vâ ̣t 1 lá mầm (Moncotyledoneae), họ Hoà thảo (Poaceae), họ phụ Tre (Bambusoideae) Tre trú c được tách khỏi những ho ̣ Hoà Thảo là do đặc điểm hình thái tre rất đặc biệt , nó không giống các loài

cỏ, cũng không giống các loài cây thân gỗ Thân tre lóng rỗng và đốt đă ̣c, đă ̣c biê ̣t dưới gốc cây là hê ̣ thống thân ngầm phát triển ma ̣nh mẽ , trên mă ̣t đất là các thân khí sinh mang bẹ , cành, lá và rất ít khi gặp tre ra hoa kết quả Đa số những đă ̣c điể m đó được coi là nguyên th ủy Do vâ ̣y mà tre trúc là loài cây được nhiều quốc gia quan tâm và nghiên cứu từ rất lâu

Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là nghiên cứu về phân loại hình thái và sinh học Năm 1868, Munro có công trình “Nghiên cứu về Bambusaceae” được coi là công trình nghiên cứu về tre trúc đầu tiên, trong đó

đã khái quát được một cách tổng thể về họ phụ tre trúc

Tre trên thế giới có phân bố ở 3 khu vực lớn: Châu Á Thái Bình Dương, châu Phi và châu Mỹ Các loài tre lớn thuộc chi Bambusa và Dendrocalamus phân bố ở khu vực châu Á Thái Bình dương Trên thế giới có 36,77 triệu ha rừng tre Diện tích tre của châu Á là 23,6 triệu ha, trong đó Ấn

Độ 11,36 triệu ha, Trung Quốc 5,44 triệu ha, Indonesia 2,08 triệu ha, Lào 1,61 triệu ha, Myanmar 0,85 triệu ha, Việt Nam 0,81 triệu ha (FAO 2005) [7]

- Các dự án về trồng rừng và tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch đang rất được quan tâm trong thời gian qua Tính tới năm 2004, 16 dự án về hấp thụ CO2 thông qua việc trồng mới và tái trồng mới rừng đã được thực hiện, trong đó châu Mỹ Latin có 4 dự án, châu Phi có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và

Trang 14

1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại các nước Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004) [7]

Christensen B (1997) đã nghiên cứu sinh khối của rừng Đước ở rừng ngập mặn đảo Phuket trên bờ biển Tây, Thái Lan Kết quả nghiên cứu đã xác định được tổng lượng sinh khối trên mặt đất ở rừng 15 tuổi là 159 tấn sinh khối khô trên một ha Lượng tăng trưởng hàng năm tính cho toàn bộ thân, cành, lá và rễ khoảng 20 tấn/ha/năm Tổng năng suất sinh khối khô là 27 tấn/ha/năm Nghiên cứu cũng đã so sánh lượng vật rụng của rừng ngập mặn

và rừng mưa nhiệt đới thì thấy lượng vật rụng hàng năm của rừng ngập mặn cao hơn so với rừng mưa nhiệt đới do rừng ngập mặn nhỏ tuổi hơn và sinh trưởng nhanh hơn [8]

Theo Isagi.Y, Kawahara T, Kamo K và Ito H (1997) sinh khối tích lũy ở thân là 116,50 tấn/ha, ở cành là 15,5 tấn/ha, sinh khối lá 5,9 tấn/ha và tổng sinh khối 137,9 tấn/ha [10]

Theo Biswas (1995) [9] thì Việt Nam có khoảng 92 loài tre trúc của 16 chi Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy số lượng loài tre trúc phân bố ở Việt Nam lớn hơn rất nhiều Theo Vũ Văn Dũng và Lê Viết Lâm (2005) thì Việt Nam có trên 140 loài của 29 chi và có thể còn tìm thấy các loài mới Cũng cùng năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã rà soát các kết quả nghiên cứu về phân loại tre trúc ở Việt Nam kết hợp với một số nghiên cứu, khảo sát ở thực địa đã đưa ra danh sách của 216 loài thuộc 25 chi tre trúc phân bố tự nhiên ở Việt Nam

Công trình "Nghiên cứu về tre trúc" của Munro (1868) được coi là một trong những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [2] Trong công tác nghiên cứu tác giả đã khái quát được một cách tổng quan về

họ phụ tre trúc trên thế giới Khi nghiên cứu về "Các loại tre trúc" Gamble (1986) đã phân tích tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc

Trang 15

điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Malaysia và Indonesia Theo Dransfied S and Widjaja E.A (1995) [11] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng có giá trị ở vùng Đông Nam Á

2.2.1.2 Đặc trưng về phân bố và sinh thái của tre trúc

Có nhiều nghiên cứu về phân bố và sinh thái của tre trúc Các nghiên cứu tập trung tới nhân tố khí hậu, vĩ độ, địa hình, đất đai và xác định được vùng phân bố của tre trúc trên thế giới, với trung tâm phân bố tập trung vào dải nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc,

Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ Tuy nhiên không thấy đề cập có sự phân bố của chi

vầu (Indosasa) ở Việt Nam

Đặc trưng sinh thái của một số loài tre mọc cụm đã được một số tác giả

đề cập như ưa ấm, thích hợp nơi trồng đất dày, nhiều mùn hay một số loài khác chi phân bố ở vùng núi cao ưa khí hậu ẩm mát quanh năm

Đặc trưng sinh thái của loài Trúc núi đá (Drepanostachyum

luodianense) đã được nghiên cứu ở mức độ các tiểu sinh cảnh: Mặt đất, mặt

đá, rãnh đá, kẽ đá, hốc đá, mức độ quần thể, quần xã nơi có loài này phân bố

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy ở mỗi kiểu tiểu sinh cảnh khác nhau đã

có những đặc trưng sinh thái khác nhau và ảnh hưởng tới kết cấu hình thái và sinh trưởng của loài

Kết quả nghiên cứu về quần thể loài của tác giả đã đưa ra một số đặc trưng thích ứng như: Ở rừng Trúc núi đá tự nhiên khi tỉ số ra măng nhiều thì

số măng bị thoái hóa và chết sẽ cao dẫn tới tỉ lệ mọc thành cây thấp Tác giá

đã giải thích nguyên nhân của sự thoái hóa trên chính là do không gian dinh dưỡng không đủ Trong rừng tự nhiên, tuổi quẩn thể có kết cấu tăng trưởng

Trang 16

tăng lên nhưng theo xu thế ổn định

Liu Jiming cũng đã nghiên cứu những đặc trưng sinh thái của quần xã như: thành phần loài cây gỗ, cây tái sinh, cây bụi thảm tươi, kết cấu tầng thứ, chỉ

số đa dạng sinh học và nhận định môi trường từng khu vực có ảnh hưởng rõ rệt đến quần xã

2.2.1.3 Những nghiên cứu chế biến và thị trường

Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước gây trồng chế biến tre lớn nhất thế giới Năm 2006 tổng giá trị sản phẩm tre của Trung Quốc hơn 6 tỷ USD và giá trị xuất khẩu đạt 600 triệu USD Tỉnh Chiết Giang có 0,78 triệu ha rừng tre, trong

đó 0,6 triệu ha là rừng Mao trúc (Phyllostachys pubescens) chiếm 1/6 diện tích tre của Trung quốc, giá trị đạt 2,3 tỷ USD (chiếm 1/3 giá trị của cả Trung quốc) (Ding X., 2008)

Sản phẩm ván dăm của Ấn Độ đạt 62,52 tấn năm 1991, 14.61 tấn năm

2001, ván sợi 77,38 ngàn tấn năm 1997, 145.18 ngàn tấn năm 2001 (Pandey, 2008) Ganapathy (1997) đánh giá yêu cầu về nguyên liệu thô cho sản xuất ván

ép, ván sợi, ván dăm tre của Ấn độ năm 2010 là 3,93 triệu m 3 để sản xuất 0.96 triệu m 3 ván ép, 0,25 triệu m 3 ván dăm, 0,64 triệu m 3 ván sợi Ba loài tre chủ yếu chiếm đến 78% trữ lượng (Dendrocalamus strictus 45%, Melocanna baccifera 20%, và Bambusa bambos 13%), tăng trưởng sinh khối là 80,4 triệu tấn Thị trường tre Ấn Độ có giá trị khoảng 1 tỷ USD/năm và dự đoán tăng lên 5,7 tỷ USD vào năm 2015

Theo N Smith và các tác giả (2006) nghiên cứu thị trường tre thế giới chỉ ra rằng: thị trường ván sàn tre khoảng 100 triệu USD, ván tre (Wood panels) khoảng 200 triệu USD Các tác giả cũng dự đoán thị trường của chúng trong tương lai ở các mức thấp, trung bình cao tương ứng nằm trong khoảng

500 – 2.400 triệu USD, 900 – 4.300 triệu USD

Nhìn chung, Tre trúc được gây trồng với 3 mục đích kinh doanh: Chuyên

Trang 17

măng, chuyên thân khí sinh hoặc cả 2 Các loài tre trúc được kinh doanh chỉ cho năng suất, chất lượng cao khi có tác động bởi một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp Các biện pháp thâm canh tăng năng suất chất lượng được nghiên cứu

và thực nghiệm chủ yếu là: Bón phân, điều chỉnh mật độ khóm trên hecta, điều chỉnh số lượng thân khí sinh để lại cho mỗi bụi, mỗi thế hệ, khai thác măng, khai thác thân khí sinh, phòng trừ sâu bệnh cho từng loài cụ thể Ngoài ra, điều kiện khí hậu như lượng mưa, nhiệt độ, điều kiện thổ nhưỡng cũng là những nhân tố

có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh trưởng, phát triển của rừng tre trúc

và được chọn làm những tiêu chí khi lựa chọn biện pháp thâm canh Kết quả nghiên cứu của nước ngoài là nguồn tài liệu tham khảo rất có giá trị, đặc biệt đối với những loài có quan hệ thân thuộc với những loài ở Việt Nam

2.2.2 Những nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Những nghiên cứu về đặc điểm phân bố, phân loại

Hiện nay Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới về diện tích tre nứa, với 194 loài tre trúc thuộc 26 chi được các nhà khoa học phát hiện ở Việt Nam đã phần nào đánh giá được tính da dạng về thành phần loài tre trúc ở nước ta Tuy nhiên, mới chỉ có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn lại là các loài chưa có tên Trong nhiều năm trở lại đây, rất nhiều chi, loài mới được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và bổ sung vào danh lục tre nứa của nước nhà Các tư liệu, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến họ tre trúc hiện nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm, phân loại, vai trò, giá trị sử dụng và kỹ thuật nuôi trồng cho một số loài cây thuộc họ tre trúc chủ yếu, điển hình là một số công trình nghiên cứu sau:

Công trình nghiên cứu đầu tiên về tre nứa ở Việt Nam là Camus and Camus (1923) đã thống kê có 73 loài tre trúc của Việt Nam Theo Vũ Văn Dũng (1980) cho biết, Việt Nam có khoảng 50 loài tre trúc; Phạm Hoàng Hộ (1999)

đã thống kê được 123 loài Theo Nguyễn Tử Ưởng (2001) đã xác định ở Việt

Trang 18

Nam có 113 loài của 22 chi và đã kiểm tra, cập nhật 11 tên khoa học mới, đặc biệt đưa ra được 6 loài và 22 chi tre lần đầu tiên được định tên khoa học ở Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được xem xét để xác nhận loài mới

Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống Bát độ, Điền trúc và Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc…

Nguyễn Ngọc Lung (2004) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối rừng Thông ba lá để tính toán thử khả năng cố định CO2 mà cây rừng hấp thụ

Từ việc nghiên cứu này tác giả đã xác định được một số hàm tương quan mang tích chất định lượng sinh khối [5]

Theo Triệu Văn Hùng và cs (2007) đã mô tả hình thái, phân bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài lâm sản ngoài gỗ Trong đó có nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác), v.v…

Tài nguyên tre của Việt Nam được E.G.Camus & A.Camus (1923) ghi nhận 14 chi, 73 loài Ban thực vật chí thuộc tổng cục lâm nghiệp đã tiến hành điều tra các loài tre ở lưu vực sông Lô, Gâm, Chảy (1973) và sau đó KS Vũ Dũng đã đưa ra kết quả điều tra thành phần và phân bố các loại Tre trúc ở miền Bắc Việt Nam (1973 – 1975) là 10 chi, 48 loài, 4 dạng, 2 thứ trong đó vùng Đông bắc có tới 36 loài thuộc 9 chi Phạm Hoàng Hộ (1999) đã giới thiệu 23 chi, 121 loài nhưng có loài không có mô tả, các loài khác mô tả rất ngắn không

đủ các thông tin cần thiết để nhận biết chúng ngoài thực địa

Lê Viết Lâm và các tác giả (2005) đã thống kê được 22 chi và 122 loài Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) đã giới thiệu 25 chi, 216 loài, công trình của Nguyễn Hoàng Nghĩa có thể coi là một tài liệu duy nhất từ trước đến nay đã liệt

kê đầy đủ nhất về số lượng chi, loài tre với nhiều thông tin có ý nghĩa về phân

bố, đặc tính hình thái, sinh thái, công dụng và có giá trị như một cẩm nang tra

Trang 19

cứu, đặc biệt là nhận dạng loài tre

Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa và cs (2004, 2005) tiếp tục cộng tác nghiên cứu định danh các loài tre nứa hiện nay của Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh sách gồm 194 loài của 26 chi tre trúc Việt Nam Phần lớn trong số đó là chưa có tên Một số chi có nhiều loài là chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới 31 loài chưa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa định tên, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài với 8 loài chưa có tên và chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài thì có tới 11 loài chưa có tên

Bên cạnh đó, các nhà khoa học Việt Nam đã tìm ra được nhiều chi, loài mới bổ sung vào danh lục tre trúc của nước nhà Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã công bố 7 loài nứa mới thuộc chi Nứa (Schizotachyum) như: Khốp Cà

Ná (Cà Ná, Ninh Thuận), Nứa Núi Dinh (Bà Rịa, Vũng Tàu), Nứa đèo Lò Xo (Đắc Glei, Kon Tum), Nứa lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không ta Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa có tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc (Bảo Lộc, Lâm Đồng) Các tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, sinh thái của từng loài cụ thể Đồng thời nhóm nghiên cứu phát hiện ra

6 loài tre quả thịt dựa trên cơ sở cấu tạo hình thái và giải phẫu hoa quả, sáu loài tre quả thịt đã được mô tả và định danh để tạo nên một chi tre mới cho Việt Nam, đó là chi Tre quả thịt (Melocalamus) Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái (Melocalamus yenbaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (M cucphuongensis), Tre quả thịt Kon Hà Nừng (M kbangensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (M blaoensis), Tre quả thịt Pà Cò (M pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn (M truongsonensis) Cũng trong đợt khảo sát này, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cs đã phát hiện thêm và mô tả đặc điểm về hình thái, sinh học của một loài nứa mới cho Việt Nam là Nứa Sapa (Schizostachyum chinense Rendle) được tìm thấy trong rừng lá rộng thường xanh của Vườn

Trang 20

Quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai)

Theo Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007), tính tới năm 2001, tổng diện tích rừng tre trúc của Việt Nam có khoảng 1.489.000 ha, trong đó 1.415.500 ha là rừng tự nhiên (thuần loài hoặc hỗn loài), và khoảng 73.500 ha là rừng trồng tre trúc.Tính tới tháng 12/2004, thì tổng diện tích rừng tre trúc của Việt Nam là 1.563.253 ha [1]

Năm 2004 nhóm định loại tre nứa của đề tài “Điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một số đặc điểm sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt Nam” giai đoạn 2001- 2003 và dự án “Đa dạng loài và bảo tồn ex situ một số loài tre ở Việt Nam” gồm Nguyễn Hoàng Nghĩa, Xia Nianhe, Li Dezhu và Lê Viết Lâm đã thống nhất một danh sách mới bao gồm 133 loài thuộc 24 chi tre trúc ở Việt Nam trong đó có rất nhiều loài cho giá trị sử dụng có giá trị kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển Như vậy, rõ ràng nước ta có nguồn tài nguyên tre trúc vừa rất phong phú lại vừa có giá trị xong đây chưa phải là danh sách hoàn chỉnh

Năm 2007, Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt nam - Pha II do chính phủ Hà Lan tài trợ đã xuất bản ấn phẩm ”Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” với trên 1000 trang giới thiệu về các loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị, trong

đó đã giới thiệu 58 loài tre với những thông tin từ hình thái đến sinh thái, công dụng và gây trồng Những thông tin này đã được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu

từ trước đến nay và đặc biệt có giá trị để tham khảo các kỹ thuật gây trồng, khai thác, bảo quản thân tre và măng (trích theo Đặng Thịnh Triều, 2011)

2.2.2.2 Nghiên cứu về cây Vầu đắng

Sau đây là một số nghiên cứu cụ thể về cây Vầu đắng:

* Phân loại:

Trang 21

Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [3] Vầu đắng có tên khoa

học là Indosasa sinica C.D Chu & C.S Chao thuộc họ Hòa Thảo Poace Barnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi Vầu đắngIndosasa

Vũ Dũng sau khi thu nhập mẫu mô tả, đối chiếu với tài liệu và trao đổi

với chuyên gia Trung Quốc đã đề nghị thống nhất và sửa lại tên là Indosasa

mo không có lông Cây phân cành muộn, phần không có cành thường tròn đều, vòng đốt không nổi rõ Phần thân tre có cành, thường có vết lõm dọc lóng, đốt phình to, gờ nổi cao Cành thường 3, đôi khi 2 hay 1 Bẹ mo sớm

Trang 22

rụng, hình thang dài và hẹp, lúc non màu lục hồng sau khi khô màu nâu nhạt, lưng có nhiều sọc dọc, giữa các sọc có lông cứng màu nâu, mép có lông mi rõ; tai mo không phát triển, thay vào đó là 4 - 6 lông mi dài 7 - 15cm, đứng thẳng; lưỡi mo nhỏ, cao 2 - 5 mm, đầu có lông mảnh; phiến mo hình lưỡi mác, màu đỏ tím nhạt, ở giữa màu lục, dài 7 - 15cm, lật ra ngoài, đáy phiến

mo hẹp so với đỉnh bẹ mo Lá 3 - 6 trên cành nhỏ; hình mác dạng dải, dài 11 - 28cm, rộng 1 - 5 cm, gân cấp hai 3 - 7 đôi; bẹ lá không lông, mép đôi khi có lông mảnh, tai lá thường không phát triển Cụm hoa mọc trên cành không lá, mỗi đốt mang 1 hoặc nhiều bông nhỏ Mỗi bông nhỏ mang 8 - 12 hoa Hoa có

3 mày cực nhỏ trong suốt, 6 nhị, đầu nhụy xẻ 3 hình lông chim.Quả dĩnh, hình trứng trái xoan, màu nâu

* Đặc tính sinh thái:

Theo Ngô Quang Đê (1994) [4] Vầu đắng có độ chịu bóng lớn, độ tán che trung bình của rừng vầu ổn định tới 0,8-0,9, nơi rừng thưa nhiều ánh sáng, sinh trưởng của Vầu đắng hạn chế Tác giả cũng đã đưa ra một số thông tin khác như vùng có Vầu đắng, phân bố nhiệt độ bình quân từ 22-23,5°C, lượng mưa 1600-1700mm/năm trở lên, độ ẩm không khí trung bình 85-95%, độ cao phân bố 50m-120m so với mặt nước biển, vầu mọc trên các loại đất có đá mẹ

là phiến thạch, phiến philit, phiến mica, thành phần cơ giới trung bình nhưng đất ẩm

Theo Trần Xuân Thiệp (1994) Vầu đắng ưa đất hình thành từ các loại

đá phiến, phong hóa tương đối kém; thành phần cơ giới là các loại đất thịt có

đá lẫn; tầng đất thường sâu 50 - 80cm, có màu vàng, pH (Kcl) từ 3,2 - 4,6; C/N 8,3 - 9,9; mùn tổng số (%) 0,7 - 4,4; đạm tổng số 0,08 -0,32 (theo Ngô Quang Đê, 2003) [4]

Vầu đắng có thể mọc hỗn giao hoặc thuần loài, những loài cây gỗ lớn thường mọc hỗn giao với Vầu đắng thường thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Re

Trang 23

(Laureceae), Thầu Dầu (Euphorbiaceae)

* Giá trị sử dụng:

Thân khí sinh của Vầu đắng thường được sử dụng trong xây dựng, bên cạnh đó còn được sử dụng để làm nguyên liệu giấy, sản xuất đũa, tăm suất khẩu,…

Măng Vầu đắng được sử dụng làm thực phẩm Thu hoạch khi măng mới nhú lên khỏi mặt đất là có chất lượng tốt nhất

* Nhân giống:

Ngô Quang Đê (2003) [4] và nhiều tác giả khác thì hiện nay Vầu đắng

ở nước ta có 2 hình thức nhân giống là nhân giống bằng thân ngầm và nhân giống bằng thân khí sinh có mang 1 đoạn thân ngầm Hình thức nhân giống bằng thân ngầm thì hom được chọn có tuổi từ 1 - 3, khỏe mạnh, có từ 5 - 6 mắt ngủ, thời gian lấy hom trước mùa ra măng,… Đối với nhân giống Vầu đắng bằng thân khí sinh mang một đoạn thân ngầm thì nên chọn thân khí sinh

ở tuổi 2 là tốt nhất

* Kỹ thuật gây trồng và khai thác:

Theo Ngô Quang Đê (2003), có thể trồng Vầu đắng bằng gốc thân khí sinh có mang thân ngầm hoặc bằng một đoạn thân ngầm, trồng vào cuối đông, đầu xuân (vào trước mùa măng), khi trồng chú ý đặt cây hoặc gốc cây thẳng đứng, không được uốn cong hoặc lệch với hướng của thân ngầm; hố đào sâu

40 -50 cm, bón lót bằng phân chuồng hoai, khi trồng cần nệm chặt đất, trồng xong ủ rác để giữ ẩm, tưới nước 2-3 lần [4]

Về kỹ thuật khai thác, tác giả Ngô Quang Đê nhận định: ở những rừng vầu mới trồng, tuyệt đối không được thả trâu, bò, thường xuyên chú ý phát quang, xới đất Nơi vầu ra hoa thì cần khai thác ngay cây có hoa và những cây xung quanh Sau đó đào bới, loại bỏ thân ngầm rồi bón phân chuồng để giúp cây phát triển tốt Nếu khai thác không hợp lý sẽ làm cho rừng vầu bị thoái

Trang 24

hoá, mật độ tăng lên nhưng cây nhỏ dần, chỉ nên khai thác cây tuổi 5-6; chu

kỳ chặt có thể 2-3 năm một lần; tỉ lệ cây ở các tổ tuổi có thể giữ lại là: 1 tuổi 20-30%, 2-3 tuổi 30-40%, 4-5 tuổi 30-40% Đối với rừng vầu đã thoái hoá (Vầu đinh), có thể cải tạo bằng cách trồng cây gỗ lá rộng theo băng hoặc theo đám trong rừng vầu, trước khi trồng cần chặt bỏ và đào gốc cây vầu theo đám, loài cây trồng có thể chọn Lim xanh, Ràng ràng, Mán đỉa…; cũng có thể chặt trắng, sau đó đào bỏ hết thân ngầm, trồng lại vầu xen cây lá rộng (Ngô Quang

Đê, 2003) [4]

2.2.2.3 Những nghiên cứu về chế biến, thị trường tiêu thụ

Thị trường là một trong những nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc kinh doanh và phát triển

Theo Phạm Văn Phong trong đề tài nghiên cứu "Đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển lâm sản ngoài gỗ tại vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ", kết quả nghiên cứu cho thấy, tại vườn quốc gia Xuân Sơn các loài lâm sản ngoài gỗ như Măng bát độ, Vầu đắng do người dân gây trồng mới chỉ được bán tại địa phương với lượng tiêu thụ không lớn, một số ít được bán cho khách du lịch, riêng đối với thị trường nhựa mủ Sơn ta thì tư thương tới tận nhà để mua và sau đó bán cho thị trường tiêu thụ trong nước và bán sang Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, để đẩy mạnh việc gây trồng và phát triển cây lâm sản ngoài gỗ tại khu vực thì công tác đẩy mạnh phát triển thị trường ra các tỉnh khác là hết sức cần thiết Theo Nguyễn Thị Phúc (2009), nghiên cứu sản xuất mặt ghế cong 2 chiều từ cót mộc và ván bóc gia nhiệt bằng dòng điện cao tần Đề tài ứng dụng công nghệ gia nhiệt bằng dòng điện cao tần, sản xuất các mặt ghế cong bằng cót ép đạt năng suất, chất lượng, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Hiện nay trong sản xuất, ngoài các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ song mây, tre kết hợp có một số cơ sở sản xuất ván sàn tre (Thanh

Trang 25

Hóa), ván sàn tre – vàn MDF kết hợp (Hải Dương), sản xuất nhà tre xuất khẩu, sản xuất than hoạt tính từ tre

Một số loài tre trúc còn cho măng ăn ngon như măng Mai, măng Luồng, măng Tre gai, măng Mạy lay, măng Nứa, có khi là măng đắng như măng Vầu Đây là nguồn thực phẩm tốt, và cũng là nguồn thu nhập quan trọng của người dân miền núi Trong thời gian gần đây, việc trồng tre lấy măng (kể cả tre trúc bản địa và nhập nội) đang phát triển mạnh mẽ, góp phần xoá đói giảm nghèo và tăng đáng kể giá trị lợi ích của đất trồng rừng và tăng việc làm cho người dân

Tre trúc đã được sử dụng rất nhiều vào mục tiêu Văn hoá.Từ hàng nghìn năm trước, người Trung Hoa cổ đại đã biết sử dụng thân một số loài tre trúc để làm giấy viết Ngày nay, rất nhiều các loại tre trúc vẫn được sử dụng làm giấy viết Ngoài ra, nhiều loài tre trúc được sử dụng làm cây cảnh, cây trang trí cho các công viên, công sở, gia đình như Tre bụng phật, Tre vàng sọc, Tre đùi gà, Trúc hoá long, Trúc đen, và Trúc quân tử Một số nhạc cụ nổi tiếng của đồng bào các dân tộc thiểu số như đàn Tơ rưng, khèn, và các nhạc

cụ đơn giản khác như sáo đều được làm bằng một số loài nứa và trúc Cần dùng để uống rượu cần cũng được làm bằng thân cây trúc Cơm lam nổi tiếng của người Thái vùng Tây Bắc cũng được sử dụng bằng thân cây tre để nấu (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005)

Tre trúc còn có rất nhiều công dụng khác Tre trúc dùng để đóng thuyền thúng, thuyền nan, bè mảng, sào chống thuyền trên sông suối, ống dẫn nước

từ suối về nhà, cột điện, dụng cụ bắt cá Với công nghệ mới hiện đại, tre trúc còn được sử dụng làm ván ghép nhân tạo để làm ván sàn, lá diễn trứng phơi khô xuất khẩu cho một số nước làm giấy gói, Trúc sào Cao Bằng làm chiếu trúc, mành trúc

Trang 26

Tre trúc là nguồn nguyên liệu cho người dân sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Hiện nay, nước ta có khoảng 320

cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ riêng cho mây tre với tổng số lao động lên tới 32.500 người (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007) [1] Giá trị xuất khẩu hàng mây tre đan của Việt Nam sáng thị trường Nhật Bản năm

2002 đạt 225 triệu đô la Mỹ và vẫn tiếp tục tăng trung bình hàng năm từ 30 - 35% từ năm 1996 tới nay Thị trường châu Âu và Bắc Mỹ cũng có nhu cầu lớn về nhập khẩu các hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đan của Việt Nam Trong 6 năm (1996 - 2002) tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tre trúc của Việt Nam đạt khoảng 300 triệu đô la Mỹ, chủ yếu là đũa và chiếu tre Do tầm quan trọng của các làng nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ đối với xoá đói, giảm nghèo, Chính phủ đã có chính sách chi khoảng 115 tỷ đồng trong giai đoạn 2006 - 2015 để đạt mức xuất khẩu sản phẩm của các làng nghề nông thôn tăng bình quân từ 20 - 22%/năm và thu hút trên 300.000 lao động ở vùng nông thôn (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2007) [1]

Việt Nam hàng năm khai thác một lượng lớn tre trúc để phục vụ nhiều mục tiêu của nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân Chúng ta cần phải

có quy hoạch các vùng chuyên canh tre trúc, với sự quản lý chặt chẽ của các lâm trường và các hộ dân, áp dụng các biện pháp lâm sinh, chọn tạo giống tốt, trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, khai thác rừng tre trúc một cách hợp lý và bền vững, đặc biệt là các rừng tre trúc phân bố tự nhiên, để giải quyết các khó khăn hiện nay, chúng ta phải nhập khẩu tới 80% nguyên liệu mây tre đan, với khối lượng tới 500.000 tấn/năm (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007) [6] và Việt Nam xuất khẩu 640 triệu USD/năm hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất từ tre

Trang 27

2.3 Nhận xét chung

Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái và sự phát triển cây Vầu đắng đã được nhiều tác giả đề cập trên quan điểm nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa rừng và môi trường, giữa các sinh vật rừng với nhau, khẳng định rằng các nhân tố sinh thái đều quan hệ với nhau

Vầu đắng là loài cây có giá trị trong rừng tự nhiên thứ sinh, cần được quản lý chặt chẽ và áp dụng đúng kỹ thuật khai thác để duy trì và nâng cao chất lượng rừng đáp ứng yêu cầu cung cấp làm vật liệu xây dựng, nguyên liệu công nghiệp giấy và chế biến làm các mặt hàng trong nước và xuất khẩu Ngoài ra có thể khai thác măng Trước mắt áp dụng các biện pháp khoanh nuôi bảo vệ tốt những khu rừng còn ít hoặc nghèo kiệt, khai thác hợp lý vì Vầu đắng chỉ có khả năng lan tràn và phục hồi nhanh về số lượng cây trên ha Trong tương lai có thể gây trồng

2.4 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.4.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên

2.4.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Bạch Thông là huyện miền núi vùng cao, với chiều dài hơn 30km chạy theo Quốc lộ 3, bao gồm gần như toàn bộ phần đất thuộc trung tâm tỉnh Bắc Kạn Huyện Bạch Thông có tổng diện tích tự nhiên là 545,62km2, chiếm 11,23% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn, gồm 16 xã và 01 thị trấn

- Phía Đông giáp với huyện Na Rỳ

- Phía Tây giáp với huyện Chợ Đồn

- Phía Nam giáp với thị xã Bắc Kạn

- Phía Bắc giáp với huyện Ngân Sơn, huyện Ba Bể

Trang 28

2.4.1.2 Địa hình

Bạch Thông có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi với nhiều núi đá vôi, thung lũng hẹp, độ dốc lớn, thuộc cánh cung Ngân Sơn Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc, được chia thành 2 dạng địa hình núi đá và núi đất

Địa hình của huyện Bạch Thông đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất, cụ thể là các quá trình rửa trôi và tích luỹ Quá trình rửa trôi diễn ra mạnh vào mùa mưa ở vùng núi đá chia cắt, dốc nhiều, ở vùng đồi núi thấp có những thung lũng tương đối bằng phẳng, thích nghi với các loại cây lương thực và cây ngắn ngày vùng nhiệt đới

2.4.1.3 Thủy Văn

Đặc điểm chung của các sông suối trong huyện là có độ dốc lớn, lắm thác nhiều ghềnh Lưu lượng dòng chảy phân bố không đều trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa lũ (chiếm khoảng 60 - 80% tổng lượng dòng chảy trong năm), nên việc khai thác sử dụng gặp khó khăn, đòi hỏi đầu tư lớn

2.4.2 Các nguồn tài nguyên

2.4.2.1 Tài nguyên đất

Đất Bạch Thông chủ yếu được hình thành do sự phong hóa trực tiếp của đá mẹ và một phần hình thành do sự bồi tụ phù sa các hệ thống sông, suối Toàn huyện gồm có 10 loại được phân thành 2 nhóm chính: Nhóm đất thủy thành và nhóm đất địa thành

Nhìn chung đất đai Bạch Thông cho phép phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên phần lớn đất của huyện là đất bị xói mòn trơ sỏi đá, thoái hoá nghiêm trọng, nên việc phục hồi, nâng cao chất lượng đất là một nhiệm vụ quan trọng trong sử dụng đất

Trang 29

2.4.2.2 Tài nguyên nước

Với lượng mưa hàng năm khá lớn, hệ thống ao hồ và sông suối nhiều nên nguồn nước mặt ở Bạch Thông khá phong phú

Tài nguyên nước ngầm ở Bạch Thông chưa được khảo sát, đánh giá đầy đủ, song qua tình hình khai thác phục vụ sinh hoạt của nhân dân cho thấy, trữ lượng nước ngầm ở các vùng thấp, ven sông suối là khá dồi dào

2.4.2.3 Tài nguyên rừng

Năm 2002, diện tích đất lâm nghiệp của huyện Bạch Thông có trên 36.428ha (66,78%); trong đó diện tích trồng rừng tập trung thực hiện được 542,6ha, diện tích trồng rừng phân tán là 11,65ha Từ phong trào nông dân thi đua, sản xuất nông - lâm nghiệp giỏi, trên địa bàn huyện Bạch Thông ngày càng xuất hiện nhiều hộ dân làm giàu từ mô hình kinh tế VAC, kinh tế đồi, rừng… góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khai thác tốt thế mạnh của từng vùng, hình thành các đơn vị sản xuất hàng hóa phù hợp với thị trường tiêu thụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng mới của huyện tăng qua các năm; năm 2011, toàn huyện thực hiện được được 914,24 ha rừng trồng mới, trong đó: Diện tích trồng rừng DA 147 thực hiện 739,24 ha/700 ha, đạt 105,6% kế hoạch; năm 2012, toàn huyện trồng được trên 1.136ha rừng mới theo Dự án 147, đạt 103,3%ha

Nhìn chung, Bạch Thông là huyện có nguồn tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng với nhiều loài động, thực vật Tuy nhiên do nạn phá rừng cùng với công tác quản lý chưa được chặt chẽ đã làm cho nguồn tài nguyên phong phú này có nguy cơ bị cạn kiệt

2.4.2.4 Tài nguyên khoáng sản

Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của huyện khá đa dạng và phong phú cả về chủng loại lẫn quy mô Hiện tại trên địa bàn đã có một số mỏ đang

Trang 30

được khai thác, trong thời gian tới cần phải có các biện pháp khai thác hợp lý, khoa học vàbảo vệ môi trường sinh thái

2.4.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Cùng với xu hướng phát triển chung của tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua, nền kinh tế của huyện đã có những chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu quan trọng về nhiều mặt, hạ tầng tiếp tục phát triển như giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện, các công trình Văn hóa phúc lợi; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao

Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của huyện thay đổi khá đều theo hướng tích cực ở cả ba khu vực kinh tế cho thấy sự chuyển dịch là đúng hướng, phù hợp với xu hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá của tỉnh và của cả nước và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội Tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp tăng khá nhanh và ngày càng chiếm ưu thế trong tổng giá trị sản xuất của huyện, cùng với đó cơ sở hạ tầng nông thôn đã được cải thiện, đặc biệt là giao thông, giáo dục, y tế, bưu chính viễn thông, đã giúp huyện Bạch Thông phát triển trở thành một huyện hiện đại trong tương lai không xa

Tuy nhiên sự tăng trưởng của khu vực kinh tế công nghiệp vẫn còn chậm và chưa ổn định Các nhóm ngành kinh tế cần phải được sắp xếp lại để dịch vụ nông nghiệp phát triển nhằm phát huy thế mạnh theo định hướng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái

2.4.3.1 Thực trạng phát triển dân số, lao động, việc làm

Hoạt động Văn hóa, Văn nghệ, thể thao, các phong trào xây dựng nếp sống Văn hóa của huyện cũng ngày càng khởi sắc để xứng đáng với truyền thống cách mạng đã được giữ gìn, phát huy suốt mấy chục năm qua Tính đến năm 2011, toàn huyện đã có 3.115 hộ đạt gia đình Văn hóa, 49 thôn đạt danh hiệu Làng Văn hóa Đài phát thanh - truyền hình huyện luôn đảm bảo thời

Trang 31

lượng phát sóng nhằm thực hiện tốt chức năng thông tin, tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương

Nhìn chung số lao động tham gia vào lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện chưa thật sự hợp lý Nguồn lao động dồi dào song số lao động qua đào tạo chưa cao

2.4.3.2 Thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

Với quốc lộ 3 chạy qua nên từ Bạch Thông có thể đi lại một cách dễ dàng về phía Nam (xuống thủ đô Hà Nội), lên phái Bắc (đến Cao Bằng) Ngoài ra, hệ thống đường mòn của Bạch Thông đã tạo thành một mạng lưới giao thông nội vùng, phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế - Văn hóa-xã hội của nhân dân các dân tộc trong huyện giúp khai thác tốt những thế mạnh của huyện, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi rừng, du lịch và các cơ hội phát triển bên ngoài

Trong những năm qua, hệ thống thủy lợi của huyện được tỉnh và huyện chú trọng đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, đã xây dựng được những công trình thủy lợi phục vụ cấp nước sinh hoạt cho người dân, xây dựng hồ chứa, đập dâng, kiên cố hóa kênh mương, sửa chữa những đập bị hư hỏng, đầu tư công trình thủy lợi vừa và nhỏ vùng đồng bào định canh, định cư, phục vụ tưới, tiêu

và chống xói mòn cho hàng trăm ha ruộng

Công tác giáo dục ngày càng được quan tâm và chú trọng, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, cơ sở vật chất phục vụ cho ngành giáo dục được đầu tư ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng Qua các chương trình, dự án cùng với sự đóng góp của nhân dân trong huyện, hệ thống trường học đã được hoàn thiện từng bước

Mạng lưới y tế đã được xây dựng từ huyện xuống tới xã đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Rừng Vầu đắng thuần loài tại 2 xã Đôn Phong và Cẩm Giàng huyê ̣n Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

- Các hộ gia đình có rừ ng Vầu đắng ta ̣i 2 xã Đôn Phong và Cẩm Giàng tại huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn

3.2 Nô ̣i dung nghiên cứu

- Đánh giá được thực trạng phân bố và sinh trưởng phát triển cây Vầu đắng tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

- Thực tra ̣ng khai thác , thị trường tiêu thụ các sản phẩm và giá tri ̣ kinh tế từ cây Vầu đắng ta ̣i huyê ̣n Ba ̣ch Thông, tỉnh Bắc Kạn

- Đề xuất được mô ̣t số giải pháp kỹ thuật phát triển và nâng cao giá trị kinh tế cây Vầu đắng tại huyê ̣n Ba ̣ch Thông, tỉnh Bắc Kạn

3.3 Phương pha ́ p nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp kế thư ̀ a số liê ̣u, tài liệu

Để thực hiê ̣n công trình nghiên cứu , đề tài sẽ kế thừa các số liệu , tài liê ̣u, công trình nghiên cứu về:

- Kế thừa các tài liệu, kết quả nghiên cứu đã có về tình hình phân bố , diê ̣n tích, đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm biến đổi hình thái theo cấp tuổi,

có liên quan tới loài Vầu đắng

Trang 33

- Kế thừ a các số liê ̣u , tài liệu về diện tích rừng V ầu đắng, bản đồ phân bố rừng Vầu đắng thuần loài ta ̣i huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

- Các tài liệu, thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu,

3.3.2 Phương pha ́ p điều tra thu thập số liê ̣u sơ cấp

Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) tiến hành bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân thông qua các bảng câu hỏi phỏng vấn Thông tin được thu thập thông qua 30 phiếu điều tra (mẫu biểu tại phụ lục 1) Đánh giá các biện pháp, phát triển, khai thác và tiêu thụ sản phẩm từ cây vầu đắng trên địa bàn nghiên cứu.Từ đó làm cơ sở cho việc

đề xuất các giải pháp phát triển bền vững rừng vầu đắng

Dự kiến số cán bô ̣ tiến hành điều tra , thu thâ ̣p thông tin ban đầu đối với các cơ quan, đơn vi ̣ cấp huyê ̣n là 3 người/cơ quan/cấp quản lý

* Điều tra thực đi ̣a : Khảo sát chi tiết về tình hình phân bố của Vầu

đắng ta ̣i các xã đã cho ̣n Mỗi xã tiến hành lâ ̣p 9 OTC có diê ̣n tích 1.000

m2/OTC, trên 3 cấp mật đô ̣ (<3.000 cây/ha; 3000 - 5000 cây/ha và >5000 cây/ha), mỗi cấp mật đô ̣ lâ ̣p 3 OTC Các OTC được xác lâ ̣p mang tính đa ̣i diê ̣n, điển hình cho khu vực Trên mỗi OTC điều tra , đề tài tiến hành đo đếm tất cả các cây các chỉ tiêu về:

- Mùa sinh trưởng từ tháng 12 đến tháng 5 mầm măng phát triển dưới mặt đất từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau; nhú khỏi mặt đất từ tháng 2 đến tháng 5 (đầu mùa mưa)

- Xác định số 50% cây sống và phát triển thành cây trưởng thành

- Xác định số măng có thể khai thác 50% Số măng nhú khỏi mặt đất số măng trong rừng Vầu đắng mà không ảnh hưởng tới rừng

- Xác định tổng số cây/OTC

Trang 34

- Xác định đường kính ở vị trí 1.3m - D1.3 (m) bằng thướ c dây để đo

chu vi

- Xác định chiều cao vút ngọn - Hvn (m) bằng thướ c sào

- Xác định tuổi các cây trong OTC

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

* Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng cây Vầu đắng

Để xác định hệ số tổng hợp giữa các đặc điểm sinh thái một số tính chất

của đất đặc điểm địa hình, nhiệt độ, lượng mưa và độ tàn che tới sinh trưởng

của đường kính than (D00) và chiều cao cây( HVN) của Vầu đắng, đã sử dụng

Trong đó: + Nk là số khóm/ ha; Nc là số cây/ha

+ nk là số khóm trung bình trong ô tiêu chuẩn

+ nc là số cây trung bình trong ô tiêu chuẩn

+ S là diện tích ô tiêu chuẩn

Trang 35

- Sử dụng tiêu chuẩn Levene để kiểm tra sự bằng nhau của các phương sai mẫu, tiêu chuẩn này thích hợp với trường hợp mẫu không có phân bố chuẩn

* Tính toán các chỉ tiêu kinh tế

- Tất cả giá tri ̣ sản lượng thân khí sinh và măng khai thác từ các gia đình được ở huyê ̣n Ba ̣ch Thông chúng tôi quy đổi về cho 01 ha/năm, công

- Giá trị sản lượng thân khí sinh và măng khai thác được để lại gia đình dùng, chúng tôi sử du ̣ng giá bán cây , kg măng cho thương lái, được tính bằng công thức: Sgđ = Qgđ x PTL (đơn giá đ/cây hoă ̣c kg) (2.7)

- Giá trị sản lượng thân khí sinh và măng bán ngoài chợ, công thứ c:

- Giá trị sản lượng thân khí sinh và măng bán cho thương lái , công thứ c tính: STL = QTL x PTL (đơn giá đ/cây hoă ̣c kg bán cho thương lái).(2.9)

- Tổng giá tri ̣ sản lượng thu được của các gia đình được tín h bằng công

Trong đó: Q là sản lượng thân khí sinh hoă ̣c măng

P giá bán ở chợ hay cho thương lái từng loa ̣i sản phẩm

i là sản phẩm thứ i (thân khí sinh , măng được dùng trong gia đình, bán ngoài chợ hoặc bán cho thương lái

Từ số liệu thu thập được trên các OTC và cây tiêu chuẩn tiến hành chỉnh lý và tính toán trên cơ sở những công thức toán học thống kê trong lâm nghiệp của Nguyễn Hải Tuất và cs, 2005), (Nguyễn Hải Tuất và cs, 2006), với

sự hỗ trợ của một số phần mềm chuyên dụng là Excel, SPSS

Ngày đăng: 07/07/2017, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w