Trên cở sở đó có thể thấy được các đặc điểm hình thái, sinh thái và hiện trạng phân bố của loài Xoan đào và đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích bảo vệ và phát triển loài.. Ý nghĩa tr
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
LỮ THỊ HẢI
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI XOAN ĐÀO
(Pygeum arboreum Endl) TẠI XÃ NGHINH TƯỜNG
HUYỆN VÕ NHAI - TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản Lý Tài Nguyên Rừng Khoa : Lâm Nghiệp
Lớp : 44 - QLTNR Khóa học : 2012-2016
Thái Nguyên, năm 2016
Comment [M1]: Comment [M2]: Comment [M3]: Comment [M4]:
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
LỮ THỊ HẢI
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI XOAN ĐÀO
(Pygeum arboreumEndl) TẠI XÃ NGHINH TƯỜNG
HUYỆN VÕ NHAI - TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Giảng viên hướng dẫn : ThS Phạm Thu Hà
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi.Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên tài liệu nào.Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho vi ệc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2016
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô trong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập tại trường qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này
Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn ThS Phạm Thu Hà người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bác,các cô,các chú các anh các chị đang công tác tại trạm kiểm lâm xã Nghinh Tường và UBND xã Nghinh Tường đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc hướng dẫn, cung cấp các thông tin,tài liệu và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài của mình trong thời gian qua
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản đề tài nghiên cứu này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo, các bạn sinh viên
để hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 06 năm 2016
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Biểu 2.1: Tình hình đất đai của xã Nghinh Tường năm 2015 17
Biểu 2.2: Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2013, 2014, 2015 21 Biểu 2.3: Tình hình sản xuất ngành Nông nghiệp của xã qua ba năm 2013 - 2015 26
Bảng 4.1:Kết quả điều tra loài Xoan đào trên các ô tiêu chuẩn 42
Bảng 4.2: Kích thước cây tiêu chuẩn loài Xoan đào trưởng thành 44
Bảng 4.3: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao nơi có loài Xoan đào phân bố tại vị trí chân đồi 47
Bảng 4.4: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao nơi có loài Xoan đào phân bố tại sườn đồi 48
Bảng 4.5: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao nơi có loài Xoan đào phân bố tại đỉnh đồi 49
Bảng 4.6: Hình thái phẫu diện đất tại khu vực có Xoan đào phân bố 54
Bảng 4.7: Tổ thành cây tái sinh ở nơi có Xoan đào phân bố 56
Bảng 4.8: Mật độ tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng 59
Bảng 4.9: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 60
Bảng 4.10: Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của lâm phần và Xoan đào 61 Bảng 4.11: Đặc điểm tầng cây bụi và thảm tươi nơi có loài Xoan đào phân bố 63
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Sơ đồ nghiên cứu tổng quát 31
Hình 3.2: Một số hình ảnh lập OTC và điều tra 32
Hình 3.3: Hình dạng, kích thước OTC và sơ đồ bố trí ODB 34
Hình 4.1: Thân cây Xoan đào 44
Hình 4.2: Lá cây Xoan đào (mặt trước) 45
Hình 4.3: Lá cây Xoan đào (mặt sau) 45
Hình 4.4: Quả cây Xoan đào 46
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
15 CN-NN-DV Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ
16 GTVT Giao thông vận tải
14 𝐻m Chiều cao trung bình
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt v
Mục lục vi
PHẦN I MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined 1.1 Đặt vấn đề Error! Bookmark not defined 1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4
PHẦN 2.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 8
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 8
2.2.1.1 Về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thực vật 8
2.2.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Xoan đào 10
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 12
2.2.2.1 Về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thực vật 12
2.2.3 Thảo luận 14
2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 15
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 15
2.3.1.1 Vị trí địa lý 15
2.3.1.2 Địa hình 15
Trang 92.3.1.3 Đặc điểm đất đai 16
2.3.1.4 Đặc điểm khí hậu 18
2.3.1.5 Điều kiện thủy văn 19
2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 20
2.3.2.1 Tình hình dân số và lao động 20
2.3.2.2 Tình hình kinh tế xã hội 23
2.4 Thuận lợi và khó khăn 28
2.4.1 Thuận lợi 28
2.4.2 Khó khăn 28
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 30
3.2 Nội dung nghiên cứu 30
3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu chung 31
3.3.2 Tính kế thừa 31
3.3.3 Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp 32
3.3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) 33
3.3.3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) phân bố 33
3.3.4 Phương pháp nội nghiệp 35
3.3.4.1 Xác định tổ thành loài cây tầng gỗ 35
3.3.4.2 Mật độ cây gỗ 36
3.3.4.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên 36
3.3.4.4 Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che ở rừng nơi loài Xoan đào phân bố 38
3.3.4.5 Đánh giá điều kiện đất tại khu vực nghiên cứu 39
3.3.4.6 Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên 40
Trang 10PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Tổng hợp thông tin trên các OTC đã lập 42
4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) 43
4.2.1 Đặc điểm phân loại của loài trong hệ thống phân loại 43
4.2.2 Đặc điểm hình thái thân cây 43
4.2.3 Đặc điểm hình thái lá 45
4.2.4 Đặc điểm hình thái hoa, quả 46
4.3 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ 46
4.3.1 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ tại vị trí chân đồi 46
4.3.2 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ tại vị trí sườn đồi nơi có Xoan đào phân bố 47
4.3.4 Cấu trúc tầng thứ rừng nơi có Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) phân bố 50
4.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh học nơi loài Xoan đào phân bố 52
4.4.1 Đặc điểm khí hậu nơi loài Xoan đào phân bố 52
4.4.2 Đặc điểm phân bố của Xoan đào theo độ cao 53
4.4.3 Đặc điểm đất đai nơi loài phân bố 53
4.5 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) 55
4.5.1 Tổ thành cây tái sinh 55
4.5.1.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành cây tái sinh 56
4.5.1.2 Đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng 59
4.5.2 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 60
4.5.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 61
5.5 Đặc điểm tầng cây bụi và thảm tươi nơi có loài Xoan đào phân bố 62
5.6 Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) 64
5.6.1 Giải pháp về chính sách 66
Trang 115.6.2 Các giải pháp về kỹ thuật 66
5.6.3 Nâng cao ý thức và năng lực cộng đồng trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học 67
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 12PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam được xem là một trong những nước tại Đông Nam Á giàu về
đa dạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới Các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, biển, đồi đá vôi, v.v,…Những nét đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã đặc hữu, có giá trị, trong đó có những loài không tìm thấy bất cứ nơi nào trên thế giới Việt Nam được biết đến với nhiều nguồn gen hoang dã, đặc biệt là cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới, v.v,…
Đa dạng sinh học ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện khác nhau về sinh thái, kinh tế và xã hội.Tuy là một nước đa dạng sinh học cao nhưng cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng về hệ sinh thái nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động của con người gây ra: Việc chuyển đổi từ đất rừng sang đất sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác gỗ trái phép, lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là săn bắt, buôn bán các loài động vật hoang dã cũng như đánh bắt các loài thủy sản bằng phương pháp hủy diệt,…vẫn tồn tại và nó trở thành thách thức đối với các nhà quản lý bảo tồn đa dạng sinh học
Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của đa dạng sinh học, năm 1993 Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về đa dạng sinh học.Năm
1995, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Việt Nam”.Năm 2007, “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai
Trang 13Xã Nghinh Tường có 1.979,53ha rừng đặc dụng nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Tại khu bảo tồn Thần sa – Phượng Hoàng có hệ khu rừng núi đá độc đáo, có tính đa dạng sinh học phong phú, với nhiều kiểu gen động thực vật quý hiếm
và nhiều hệ sinh thái chuẩn của vùng núi đá
Tuy nhiên hệ thực vật tại khu bảo tồn có chiều hướng giảm về số lượng
và chất lượng như: Nghiến, Song mật, Táu,… ngoài ra có các loài gỗ thông dụng khác được sử dụng nhiều trong đời sống người dân để làm nhà, đồ dân dụng,… như Xoan đào Một số đặc điểm của loài này như:Xoan Đào sinh trưởng nhanh, tăng trưởng bình quân năm đạt đường kính 2 - 2,5cm và đạt chiều cao 1,2 - 2m Gỗ Xoan Đào được dùng làm ván lạng, ván bóc và các đồ nội thất gia đình như cửa gỗ, bàn ghế, tủ bếp… Đặc biệt hiện nay gỗ Xoan Đào được dùng làm ván lạng cho veneer rất phổ biến, loại gỗ này đang rất được ưa chuộng trên thị trường Chất liệu veneer Xoan Đào đang trở thành xu hướng và sự lựa chọn của rất nhiều gia đình Việt Lá non và vỏ cây có thể dùng để chiết xuất tinh dầu
Là loại gỗ có độ bền và độ ổn định cao, thiết kế được nhiều kiểu dáng, mẫu mã hiện đại, sau khi đã được xử lý kỹ thuật thì độ chịu ẩm và khả năng kháng mối mọt tốt hơn Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam năm
2012 đạt 3,8 tỷ USD - đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á, thứ Nhất Đông Nam
Á - trong đó các mặt hàng chế biến từ gỗ Xoan Đào khá lớn Xoan Đào cho giá trị kinh tế rất cao
Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp đang bị thiếu hụt trầm trọng nguyên liệu gỗ phục vụ xây dựng phát triển đô thị, khu công nghiệp, dân dụng
Trang 14Từ những vấn đề đang đặt ra trong thực tế hiện nay, để nhằm bảo vệ và
phát triển Xoan Đào Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Nghinh Tường huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” Trên cở sở đó có thể thấy được
các đặc điểm hình thái, sinh thái và hiện trạng phân bố của loài Xoan đào
và đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích bảo vệ và phát triển loài
1.2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được một số đặc điểm hình thái, vật hậu, sinh thái, phân bố,
cấu trúc tầng cây gỗ, đặc điểm tái sinh của Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển loài
Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai,
Trang 15Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm sinh vật học, vật hậu của loài Xoan đào tự nhiên.Đồng thời hiểu rõ hơn về đặc điểm phân bố sinh thái của loài này Đây là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu học tập
và làm việc sau này
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh vật học của loài Xoan đào nhằm đề xuất một số biện pháp bảo vệ và phát triển loài
Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc việc bảo
vệ loài Xoan đào trong tự nhiên, cũng như là gây trồng, gieo ươm để phát triển loài này.Góp phần vào phát triển nền kinh tế - xã hội của xã, của tỉnh cũng như toàn bộ miền núiphía bắc
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó
Theo Odum E.P (1971) [26] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái,
trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã
phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái
và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861) [32], Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874) [29], Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897) [29], Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977) [32], Thực vật chí Vân Nam (1977) [23], Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập) [31] Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau
Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố
Trang 17ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công các chọn tạo giống Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)[16], nước ta có khoảng 11.373 loài thực vật thuộc 2524 chi và 378 họ Các nhà thực vật học dự đoán con số loài thực vật ởnước ta còn có thể lên đến 15.000 loài Trong các loài cây nói trên
có khoảng 7.000 loài thực vật có mạch, sốloài thực vật đặc hữu của Việt Nam chiếm khoảng 30% tổng số loài thực vật ởmiền Bắc và chiếm khoảng 25% tổng số loài thực vật trên toàn quốc, có ít nhất 1.000 loài cây đạt kích thước lớn, 354 loài cây có thểdùng để sản xuất gỗ thương phẩm
Xoan Đào (Pygeum arboreum Endl) là loài cây đem lại giá trị kinh tế
cao khi được trồng phổ biến và thông dụng, dễ sinh trưởng và thời gian có thể thu hoạch ngắn.Sau chu kỳ từ 8 đến 10 năm (với các tỉnh phía Bắc), 7 - 8 năm (với các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên), cây Xoan Đào đã cho khai thác, với giá bán từ 5 - 5,5 triệu đồng/m3
(gỗ tròn) đối với loại vanh dưới 80cm và trên 6 triệu đồng/m3
đối với loại vanh từ 80cm trở lên Bán 12,5 - 13 triệu đồng/m3
gỗ xẻ hộp, 16,5 - 18 triệu/m3 gỗ xẻ thành phẩm
Là loại gỗ có độ bền và độ ổn định cao, thiết kế được nhiều kiểu dáng, mẫu mã hiện đại, sau khi đã được xử lý kỹ thuật thì độ chịu ẩm và khả năng kháng mối mọt tốt hơn Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam năm
2012 đạt 3,8 tỷ USD - đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á, thứ Nhất Đông Nam
Á - trong đó các mặt hàng chế biến từ gỗ Xoan Đào khá lớn Xoan Đào cho giá trị kinh tế rất cao Hiện tại, hầu hết gỗ Xoan Đào trên thị trường Việt Nam được nhập khẩu từ Lào, Indonexia và Nam Phi
Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp đang bị thiếu hụt trầm trọng nguyên liệu gỗ phục vụ xây dựng phát triển đô thị, khu công nghiệp, dân dụng Để
Trang 18giải quyết một phần khủng hoảng thiếu các loại gỗ phục vụ nhu cầu xin giới thiệu các bạn chú ý tới một loại gỗ quen thuộc lâu nay lãng quên trong các căn nhà của người dân đó là cây Xoan Đào Xoan Đào rất dễ trồng, lớn nhanh, gỗ tốt, giá lại gấp 10 lần keo và bạch đàn Một cây Xoan Đào 15 năm tuổi có đường kính 35 - 40 cm giá từ 3 - 3,5 triệu đồng Một sào Xoan Đào (1000m2) có thể trồng từ 150 - 200 cây Thời gian thu hoạch tốt nhất của cây Xoan Đào từ 6 - 8 năm tuổi
Ở Việt Nam, Xoan Đào sinh trưởng ở độ cao từ 700 đến 1000m so với mặt nước biển Phân bố rải rác ở các tỉnh vùng đồi phía Bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Ninh… và một số khu vực khác của Tây Nguyên Tại Kom Tum, Xoan Đào phát triển tốt ở một số huyện như: Sa Thầy, Kon Rẫy, Kon Plong Xoan Đào còn rất ít cá thể ở khu vực rừng miền Đông Nam Bộ
Các tỉnh vùng đồi phía bắc có phân bố Xoan Đào hầu hết loài này thường phân bố ở rừng đồi đất Là cây ưa sáng sinh trưởng tương đối nhanh Cây tái sinh mạnh trong các loại rừng thứ sinh và rừng tự nhiên có độ tàn che 0.3- 0.5 Cây Xoan đào có biên độ sinh thái rộng nên có thể gây trồng ở các tỉnh miền Bắc những nơi có lượng mưa bình quân 1500-2500 mm/năm, nhiệt
độ bình quân 20-270
C Có thể trồng các loại đất còn tính chất đất rừng, nhưng thích hợp nhất là đất feralit sâu dày, ẩm mát, thoát nước.Tuy nhiên hiện nay rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, những vùng loài Xoan Đào phân bố cũng đang bị tàn phá và khai thác gỗ nghiêm trọng
Cây Xoan Đào tại địa bàn xã Nghinh Tường phân bố tương đối nhiều là nơi giáp ranh của ba tỉnh miền núi phía Bắc là Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Kạn.Tuy vậy giá trị kinh tế của loài này chưa thực sự được quan tâm nhiều Người dân nơi đây chưa thực sự hiểu biết về loài này vì vậy việc bảo vệ là rất khó khăn Nhiều nơi còn phá rừng để trồng loài cây khác Do rừng đã được
Trang 19phân cho các hộ gia đình, tuy có một số người biết về cây Xoan Đào nhưng đa
số dân cư còn hạn hẹp về giá trị kinh tế to lớn của loài cây mang lại
Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài cây này nhằm góp phần nào đó để mọi người có thể biết và bảo vệ, phát triển cây Xoan Đào Mở rộng diện tích và gây trồng loại cây này
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1.1 Về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thực vật
Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cây bản địa đã được thực hiện, có thể tổng hợp và liệt kê ra đây một số nghiên cứu có liên quan như sau:
Có rất nhiều các bộ sách chuyên khảođã góp phần vào việc nghiên cứu
đa dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra quy hoạch, (1971-1988) [21], Bộ Lâm nghiệp (1971-1988) [1]), Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990) [20], Cây tài nguyên (Trần Đình lý và cs., 1993) [9], Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993) [5], 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà, 1997) [6], Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn chi và Trần Hợp, 1999) [4], Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002) [7], v.v Gần đây Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng đã xây dựng và biên soạn được 11 tập chuyên khảo đến
họ riêng biệt Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu về thực vật của Việt Nam
Trong đó có 2 loài cây thuộc họ Hoa hồng(Rosaceae) đó là:Cây chua chát, còn gọi la cây sán sá (Tầy) có tên khoa học là Malus doumeri (Bois) Chev, thuộc
họ Hoa hồng (Rosaceae) và Cây Táo mèo, còn gọi là chi tô di (Mèo) có tên khoa học Docynia indica (Mall.) Dec cùng thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) Công
trình đã nghiên cứu về đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh thái, tác dụng trongy
Trang 20học của 2 loài này Đây là những loài cây bản địa đa tác dụng Táo mèo được
trồng ở Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai độ cao trên 1000m
Lê Phương Triều (2003) [17] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài
ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3
Nguyễn Toàn Thắng (2008) [15] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm
học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Tác giả đã có
những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam,
Trần Minh Tuấn (1997) [18] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba
Vì - Hà Nội, ngoài những kết quả về đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này
Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [11] trong công trình nghiên cứu “Bảo tồn nguồn gen cây rừng”; có đề cập đến Mun như là loài cây cần được quan tâm trong công tác bảo tồn nguồn gen Với các mô tả về hình thái, phân bố của loài đã được tác giả mô tả cũng như một vài đặc điểm về tái sinh tự nhiên của loài
Kết quả nghiên cứu về loài cây Căm xe (Vương Hữu Nhị, 2004) [12]; Cây Giáng hương (Hà Thị Mừng, 2005) [10]; Cây Huỷnh, Giổi xanh (Nguyễn Xuân Tý và Nguyễn Đức Minh, 2002)[19]; Cây Mun (Ngô Văn Nhương, 2014) [13]; Cây Vối thuốc (Đoàn Đình Tam, 2012) [14] Các tác giả đã tập trung làm rõ, hình thái, sinh thái, thu hái chế biến, bảo quản hạt giống, sản xuất cây con, trồng rừng và sinh trưởng của một số loài cây nghiên cứu
Trang 21Vũ Văn Cần (1997) [2] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần,… tác giả cũng đưa ra kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài Chò đãi
Lê Viết Lộc (1964) [8] về “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra 47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản đồ phân bố của 11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy ở Cúc phương Chò chỉ( Parashorea
chinensisWang Hsie) là cây ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng –
Sấu – Chò chỉ - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964 Các thảm thực vật rừng ở Cúc Phương)
Nguyễn Bá Chất (1996) [3] đã nghiên cứu biện pháp lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh,…Tác giả đã đưa ra một số biện pháp
kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa
2.2.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Xoan đào
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu, tài liệu về loài Xoan đào
(Pygeum arboreum Endl) rất hiếm và hầu như chưa có công trình nghiên cứu
nào cụ thể và chi tiết nào về loài cây này Sau đây là một số tài liệu liên quan đến loài Xoan đào Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài Xoan đào mới chỉ là bước đầu, chưa đồng bộ và chưa đủ cơ sở để phục vụ cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật gieo ươm và gây trồng trên diện tích lớn
Xoan Đào sinh trưởng ở độ cao từ 700 đến 1000m so với mặt nước biển Phân bố rải rác ở các tỉnh vùng đồi phía Bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Ninh… và một
số khu vực khác của Tây Nguyên Tại Kom Tum, Xoan Đào phát triển tốt ở
Trang 22một số huyện như: Sa Thầy, Kon Rẫy, Kon Plong Xoan Đào còn rất ít cá thể
ở khu vực rừng miền Đông Nam Bộ[34]
Xoan Đào sinh trưởng nhanh, tăng trưởng bình quân năm đạt đường kính 2 - 2,5cm và đạt chiều cao 1,2 - 2m Gỗ Xoan Đào được dùng làm ván lạng, ván bóc và các đồ nội thất gia đình như cửa gỗ, bàn ghế, tủ bếp… Đặc biệt hiện nay gỗ Xoan Đào được dùng làm ván lạng cho veneer rất phổ biến, loại gỗ này đang rất được ưa chuộng trên thị trường Chất liệu veneer Xoan Đào đang trở thành xu hướng và sự lựa chọn của rất nhiều gia đình Việt Lá non và vỏ cây có thể dùng để chiết xuất tinh dầu
Là loại gỗ có độ bền và độ ổn định cao, thiết kế được nhiều kiểu dáng, mẫu mã hiện đại, sau khi đã được xử lý kỹ thuật thì độ chịu ẩm và khả năng kháng mối mọt tốt hơn Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam năm
2012 đạt 3,8 tỷ USD - đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á, thứ Nhất Đông Nam
Á - trong đó các mặt hàng chế biến từ gỗ Xoan Đào khá lớn Xoan Đào cho giá trị kinh tế rất cao
Xoan Đào cũng thuộc họ Hoa hồng(Rosaceae), nên có tính chịu hạn
cao Thích hợp với vùng đất nghèo dinh dưỡng, khô hạn
“Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Xoan đào bản địa (Pygeum arboreum Endl)phục vụ trồng rừng kinh doanh gỗ lớn tại tỉnh
Lào Cai” (2013)[33] do Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng thực hiện Địa điểm triển khai thực hiện tại huyện Văn Bàn Mục tiêu nghiên cứu cơ bản của
đề tài, nhằm xác định được các đặc tính sinh học, vật hậu học và xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật nhân giống, trồng mô hình cây xoan đào để gia tăng
số lượng, giảm nguy cơ tuyệt chủng.Kết quả bước đầu: Cơ quan thực hiện đã xác định được vị trí phân bố của 50 cây trội để theo dõi nghiên cứu một số đặc điểm lâm học, sinh thái, vật hậu học và thu hái, bảo quản hạt giống Gieo ươm được 7 vạn cây giống, cây cao bình quân khoảng 60 – 80 cm sinh trưởng
Trang 23và phát triển tốt Hiện đang tiếp tục theo dõi chăm sóc cây giống tại vườn ươm thuộc xã Võ Lao, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Kỹ thuật trồng cây Xoan đào(Pygeum arboreum Endl)của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam [34] đã nêu lên các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, giống và tạo cây con Ngoài ra còn cho biết về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, khai thác và sử dụng
Qua khảo sát Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại địa phương xã
Hiếu, huyện Kon Plong tỉnh Kon Tum cho thấy loài cây ưa sáng hoàn toàn, ngoài ra việc khảo sát còn nghiên cứu về vấn đề hình thái vật hậu, tái sinh, mật độ, giá trị kinh tế, biện pháp kỹ thuật trong gieo ươm cây Xoan đào từ hạt
và các biện pháp lâm sinh trồng và chăm sóc loài này[34]
Quyết định của bộ lâm nghiệp số 2198/CNR ngày 26 tháng 11 năm
1977 ban hành bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong
cả nước của bộ trưởng bộ lâm nghiệp thì Xoan đào (Pygeum arboreum Endl)
thuộc gỗ nhóm VI[35]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nướcngoài
2.2.2.1 Về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thực vật
Họ Hoa hồng (danh pháp khoa học: Rosaceae)là một họ lớn trong thực
vật, với khoảng 2.000-4.000 loài trong khoảng 90-120 chi, tùy theo hệ thống phân loại Hiện tại hệ thống APG II công nhận 2.520 loài trong 90 chi Theo truyền thống nó được chia thành 4 phân họ: Rosoideae, Spiraeoideae, Maloideae, Amygdaloideae Các phân họ này được miêu tả đặc trưng chủ yếu theo cấu trúc của quả, mặc dù cách tiếp cận này không phải là được tuân theo một cách rộng khắp Các công trình gần đây đã xác nhận rằng kiểu phân chia truyền thống 4 phân họ như vậy không phải đều có tính đơn ngành, vì thế cấu trúc của họ này vẫn phải chờ giải pháp hoàn thiện và tổng thể hơn [22]
Trang 24Sơn Tra có tên khoa học là Crataegus oxycantha, còn được gọi là
Hawthorn, là một loài cây bụi thuộc họ Hoa Hồng (Rosaceae) Sơn tra đã
được sử dụng trong nhiều thế kỉ ở Châu Âu và được sử dụng rộng rãi ở Bắc
Mĩ trong thế kỉ trước như một vị thuốc có lợi cho tim mạch,giúp chống tăng huyết áp và hỗ trợ điều trị rối loạn lipid huyết Công trình nghiên cứu loài Sơn tra từ lâu đời ngoài nghiên cứu về tác dụng các chất có tác dụng làm thuốc chữa bệnh, công trình nghiên cứu đã nêu lên đặc điểm hình thái, vật hậu, đặc điểm sinh tháu, phân bố của loài này [31]
Hoa hồng có tên khoa học là Rosa sp có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới vùng Bắc bán cầu, được xếp vào lớp Song tử diệp (Dicotyledones), bộ Hồng (Rosales), họ Hồng (Rosaceae) Hoa hồng đã có mặt trên Trái đất cách
đây 35 triệu năm Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Sumerian, nay thuộc Irap, đã có những ghi nhận đầu tiên về hoa hồng Trung Quốc có thể là nơi đầu tiên thuần hóa hoa hồng, cách đây khoảng 5000 năm Nhưng mãi đến thế kỷ XVIII thì những giống hồng từ Trung Quốc mới được giới thiệu ở châu Âu, sau đó du nhập qua Hà Lan, Pháp, Đức, Bungari và chính người Châu Âu mới có công lai tạo ra nhiều giống mới hiện đại như ngày nay Trong tự nhiên, giống hoa hồng có khoảng 150 loài, phân bố khắp bán cầu bắc, từ Alaska cho đến Mexico và ở cả Bắc Phi Các công trình mô tả rất chi tiết về hình thái, vật hậu, mật độ, khả năng gây trồng thuần hóa, lai tạo và phân bố sinh thái của loài hoa đẹp này
Theo Odum E.P (1971) [26] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái,
trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã
phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý
Trang 25Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới(World Agroforestry Centre,
2006) [30], Kebler, Sidiyasa (1994) [25],Vối thuốc (Schima wallichii) và đã
mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong dự
án trồng rừng
Trên thế giới nhiều nhà khoa học đã quan tâm mô tả hình thái loài Căm
xe và được Troup và Joshi (1983) [29], đã tổng hợp tương đối đầy đủ về thân, cành, lá và các cơ quan sinh sản
W.Lacher (1978) [28] đã chỉ rõ vấn đề nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, nhiệt
độ, độ ẩm, khí hậu
Theo Khamleck (2004) [24], họ Dẻ có phân bố khá rộng, khoảng 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, xong chưa có tài liệu nào công bố chúng ở vùng nhiệt đới Châu Phi Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt là Việt Nam có tới 216 loài
và ít nhất là Châu Phi và Vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài
2.2.3 Thảo luận
Từ các công trình nghiên cứu được trình bày như trên ta thấy các công trình nghiên cứu lý thuyết về hình thái, vật hậu, sinh thái cũng như các nghiên cứu về tái sinh, mật độ, cấu trúc,…đối với một số loài cây thuộc họ Hoa Hồng
(Rosaceae) như: Hoa Hồng, Sơn tra, Táo mèo,…các nghiên cứu khác được thực
hiện khá nhiều, nhưng những nghiên cứu về loài Xoan đào còn rất hạn chế nên thiếu các cơ sở khoa học để chọn tạo và nhân giống Mặc dù có một số công trình nghiên cứu về Xoan đào tuy nhiên chưa có công trình nào hoàn thiện Dựa trên những kiến thức trên là cơ sở cho tôi nghiên cứu về loài cây này
Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên
là cơ sở tốt để tôi lựa chọn những nội dung và hướng đi thích hợp cho đề tài
Trang 26nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài Xoan đào (Pygeum arboreum
Endl) tại xã Nghinh Tường huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”
2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Nghinh Tường là một xã thuộc vùng đồi cao và nằm ở phía Bắc của huyện Võ Nhai Có tọa độ 210 52’32” B 10604’51” Đ, được thành lập từ năm
1952 Tổng diện tích tự nhiên của xã là 8.428,60ha Xã Nghinh Tường gồm
12 xóm: Na Hấu, Bản Nhàu, Thâm Thạo, Bản Trang, Bản Na, Bản Rãi, Nà Giàm, Nà Lẹng, Bản Cái, Thượng Lương, Hạ Lương
Xã cách trục quốc lộ 1B là 30km, cách trung tâm huyện Võ Nhai 50km
Xã có diện tích tự nhiên là 84,296 Km2, dân số 3.086khẩu, mật độ nhân khẩu là 36,6 người/km2 được chia thành 12 xóm Do nằm ở vị trí cửa ngõ giao thông của 6 xã phía Bắc nên có vai trò khá quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã cũng như của các xã trong khu vực
2.3.1.2 Địa hình
Nghinh Tường là một xã có địa hình đa dạng, phức tạp xen kẽ núi đất
và núi đá vôi Là vùng núi cao, độ cao trung bình từ 500m đến 800m
Trang 27Cónhiều đồi núi chạy dọc theo địa bàn của xã cao hơn rất nhiều so với mực nước biển ví dụ như ngọn núi Khau Nao cao 855m
Địa hình khó khăn phức tạp bị chia cắt bởi nhiều đồi núi và dòng suối Nghinh Tường là xã đầu nguồn của sông Nghinh Tường, dòng sông bắt nguồn từ cách cung Ngân Sơn ở khu vực ranh giới thuộc tỉnh Lạng Sơn rồi chảy về phía tây và đổ ra sông Cầu
2.3.1.3 Đặc điểm đất đai
Địa hình của xã tương đối đa dạng và phức tạp, chủ yếu là đồi đồi đất
có độ dốc lớn và núi đá vôi Diện tích đất canh tác cây hàng năm chiếm tỷ lệ không nhiều so với tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu nằm rải rác theo các khe suối, thung lũng hẹp Đây là một yếu tố không thuận lợi cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt, xây dựng các công trình phục vụ sản xuất và đời sống cũng như các hoạt động về giao thông, thương mại và dịch vụ Địa hình Nghinh Tường là một xã có địa bàn đa dạng, có nhiều đồi núi chạy dọc theo chiều dài của xã cao hơn rất nhiều so với mặt nước biển
Thổ nhưỡng: nhìn chung đất đai phù hợp với nhiều loại cây ngắn ngày
và dài ngày như: Lúa, ngô, khoai, sắn, nhãn, vải, chè, keo tai tượng, mỡ…
Số liệu thống kê về tình hình đất đai của xã năm 2015 như sau:
Trang 28Biểu 2.1: Tình hình đất đai của xã Nghinh Tường năm 2015
Loại đất Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
B.Quân/
người (m 2 )
B.Quân/hộ (m 2 )
Đất sông suối và mặt nước chuyên
(Nguồn: Số liệu tại Ban địa chính xã Nghinh Tường)
Qua bảng trên ta thấy diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp của
xã là rất lớn (96,89%) so với tổng diện tích tự nhiên Đất lâm nghiệp là 7.819,12 ha chiếm 92.76%, trong đó rừng trồng là 757,06 ha chiếm 8,98%
Trang 29Đất chưa sử dụng bao gồm đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núivà núiđá vôi chủ yếu là sử dụngvào mục đích phòng hộ, bảo tồn thiên nhiên và là vùng đệm cho rừng đặc dụng Do vậy xu hướng trong tương lai là dựa vào điều kiện tự nhiên và những yếu tố sẵn có để tìm ra giải pháp thích hợp nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng suất, sản lượng nông nghiệp; khai thác thế mạnh ngành lâm nghiệp, chăn nuôi, bảo vệ và khai thác một cách phù hợp, có hiệu quả đối với khu vực đất chưa sử dụng, kết hợp với việc
mở rộng và đa dạng hoá các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để từng bước đưa kinh tế địa phương ngày càng phát triển, đó cũng là vấn đề nhằm tăng nguồn thu trên địa bàn xã
2.3.1.4 Đặc điểm khí hậu
Là một xã vùng cao nằm ở phía Bắc huyện Võ Nhai.Mang đặc điểm của vùng đồi Bắc Bộ Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa.Trong năm chia thành bốn mùa rõ rệt nên rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất Nông nghiệp đa dạng và bền vững, đồng thời tạo ra sự đa dạng và phát triển trong hệ sinh thái rừng
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ trung bình vào mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là
200C , thời tiết lạnh nhất vào tháng 1 và tháng 2 chỉ từ 80C – 130C, đặc biệt là những ngày rét đậm rét hại nhiệt độ hạ thấp xuống còn 30C
Từ tháng 4 đến tháng 10 nhiệt độ bình quân dao động từ 200C-
250C.Vào tháng 6 và tháng 7 nhiệt độ trung bình là 280C - 290C
Trang 30+Mùa mưa ít: Từ tháng 11 đến 4 năm sau chiếm 11,5% tổng lượng mưa
2.3.1.5 Điều kiện thủy văn
Địa bàn xã bị chia cắt bởi khe suối quanh co, uốn khúc được bắt nguồntừ các dãy núivà thượng nguồn phía Bắc về
Đặc điểm cạn về mùa đông, sẵn nước về mùa hè nhưng do địa hình dốc
và hẹp nên dễ gây ra lũ nhanh và cường độ lớn Nước phục vụ trong sản xuất trong mùa khô gặp nhiều khó khăn do nước cạn ở các khe suối và các đập hồ
dự trữ không đủ đáp ứng nhu cầu
Khí hậu thủy văn trên địa bàn thay đổi theo mùa
- Mùa mưa lũ từ tháng 04 đến tháng 09
- Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 03 năm sau, lượng mưa ít,độ ẩm thấp
Do đặc thù địa hình đồi núi, diện tích đất canh tác nông nghiệp không tập trung mà phân tán nhỏ lẻ nên việc đầu tư và khai thác các công trình thủy lợi gặp nhiều khó khăn Hiện tại, nguồn nước phục vụ sản xuất của xã được khai thác và sử dụng từ các nguồn sau:
- Hệ thống thủy lợi do nhà nước đầu tư: 1.700m kênh mương, ống dẫn nước phục vụ cho 43 ha lúa 2 vụ
- Hệ thống thuỷ lợi do nhân dân tự làm: Bao gồm các đập nhỏ do dân
tự xây dựng mang tính thủ công và có tính bền vững thấp, phục vụ cho 12 ha lúa 2 vụ và 25 ha lúa 1 vụ
Trang 31Còn lại là số diện tích canh tác không chủ động được nguồn nước tưới
mà phải phụ thuộc vào tự nhiên hoặc phải dùng đến các các loại máy bơm công suất nhỏ do nhân dân tự mua nên gặp nhiều khó khăn trong sản xuất
2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.3.2.1 Tình hình dân số và lao động
Theo thống kê của xã đến năm 2015 thì xã Nghinh Tường có 12 xóm,
và 668 hộ gia đình với 3086 nhân khẩu.Phân bố dân cư không đồng đều giữa các xóm trong xã Gồm 2 dân tộc chính đó là dân tộc Tày và dân tộc Dao, ngoài ra còn một số dân tộc khác nhưng với số lượng rất ít như: Mường, Mông, Nùng, Sán rìu, Cao lan, Khơ me
Do địa hình bị chia cắt bởi núicao và khe suối nên có nhiều xóm nằm trong vùng sâu vùng xa, đường sá đi lại khó khăn
Để thấy được nguồn lực về lao động cũng như sự biến đổi về nhân khẩu của xã ta đi nghiên cứu bảng sau đây:
Trang 32Biểu 2.2: Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2013, 2014, 2015
Số Lượng
Cơ cấu (%)
Số Lượng
Cơ cấu (%)
Số Lượng
Cơ cấu (%) 2013/2014 2014/2015
Bình quân
1.Tổng số nhân khẩu Người 2.801,00 100,00 2.832,00 100,00 3.086,00 100,00 101,11 102,54 101,83
Trang 33Qua bảng trên ta thấy: Năm 2013toàn xã có 565 hộ với 2.801 khẩu, đến năm 2015số hộ khẩu tăng lên là: 3086 khẩu/688hộ, tốc độ tăng bình quân là 1,83% Trong đó tốc độ khẩu phi nông nghiệp tăng mạnh là 18,40%, còn khẩu nông nghiệp chỉ tăng 3,01% nhưng số khẩu nông nghiệp vẫn chiếm đa
số trong số khẩu của cả xã Tổng số khẩu nông nghiệp năm 2015là: 2.585khẩu chiếm 83,77% còn khẩu phi nông nghiệp chỉ chiếm 16,23% tương ứng là 501khẩu
Do số khẩu nông nghiệp lớn dẫn tới số hộ nông nghiệp trong toàn xã cũng cao: Năm 2015cả xã có 600hộ nông nghiệp chiếm 89,82% còn hộ phi nông nghiệp là 68hộ chiếm 10,18% Xu thế chung của xã là số hộ nông nghiệp vẫn tăng với tốc độ bình quân là 9,01%, nguyên nhân là do việc tách
hộ cộng với việc di dân từ nơi khác đến xã Việc chuyển dịch sang hình thức phi nông nghiệp cũng có chiều hướng tăng, Qua ba năm 2013 - 2015số hộ phi nông nghiệp giảm14hộ, tốc độ giảmbình quân là 7,28% Đồng thời thấy lực lượng lao động nông nghiệp cũng có số lượng đông đảo, năm 2015có: 1.368 lao động nông nghiệp chiếm 82,44% và 365lao động phi nông nghiệp bằng 17,56% tổng số lao động Bình quân lao động nông nghiệp trên một hộ nông nghiệp là 2,28lao động Trong khi đó số khẩu nông nghiệp trên một hộ nông nghiệp là 4,31, như vậy cứ một người lao động nông nghiệp phải nuôi một người không lao động
Tóm lại tình hình dân số và lao động của xã đang có có hướng thay đổi phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại Đó là tiếp tục duy trì và phát triển nông nghiệp với quy mô khối lượng sản phẩm không kết hợp đồng thời với việc tăng cường tỉ lệ sản xuất phi nông nghiệp Điều này tạo cho xã luôn duy trì được khối lượng lương thực quy thóc và bình quân lương thực trên một đầu người tương đối cao: 445,58kg/người/năm
Trang 342.3.2.2 Tình hình kinh tế xã hội
- Về xã hội:
* Về giáo dục và đào tạo:
Mặc dù điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn Hiện tại các trường của xã chưa đạt chuẩn quốc gia, nhưng công tác Giáo dục luôn được quan tâm và từng bước được nâng cao về chất lượng giảng dạy và học tập Tỷ
lệ học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 100%, tỷ lệ học sinh cuối cấp bậc Tiểu học và Trung học cơ sở hàng năm đều đạt 100% Hàng năm, tỷ lệ học sinh khá giỏi ở các cấp học ngày càng tăng Công tác khuyến học được chú trọng và phát huy hiệu quả tích cực Mục tiêu của xã là luôn giữ vững phổ cập tiểu học trong độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thi tốt nghiệp các cấp đạt 99% trở lên
- 155 học sinh trung học cơ sở
+ Số lượng giáo viên là:
- Mầm non: 19 giáo viên
- Tiểu học: 28 giáo viên
- Trung học cơ sở: 21 giáo viên
* Về Y tế:
Toàn xã có 01 Trạm Y tế xã.Hiện tại ở xã cơ sở vật chất của Trạm Y tế
xã nhằm phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn nhiều thiếu thốn Nhưng nhờ có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo huyện, ngành Y
tế huyện, cộng với sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ y, bác sỹ công tác tại xã cho
Trang 35nên mọi chương trình công tác về y tế đã được tổ chức triển khai một cách đầy đủ, hiệu quả và chất lượng Bình quân hàng năm, trạm Y tế xã đã khám, điều trị cho khoảng từ 5.500 đến 6.000 lượt người
* Về hệ thống Điện:
Tỷ lệ hộ được sử dụng điện lưới quốc gia trên toàn xã là 83,34% với 10/12 xóm Còn 02 xóm Hạ Lương; xóm Thượng Lương với 100% số hộ là đồng bào dân tộc Dao là chưa được sử dụng điện do địa hình khe núivà xa trung tâm xã, chỉ có một số hộ tự lắp đặt máy thuỷ điện nhỏ có công suất từ 300W - 500W nhưng chỉ dùng được vào mùa mưa Số hộ còn lại phải dùng đèn dầu và hàng năm vẫn được nhà nước hỗ trợ một phần nhỏ kinh phí theo Quyết định 289/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để mua dầu thắp sáng Chính vì vậy, địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế
- xã hội một cách đồng đều và cân đối
* Về Thông tin, Bưu chính viễn thông:
Hiện tại, ở xã có 01 Bưu điện văn hoá phục vụ nhu cầu liên lạc, tra cứu thông tin văn hoá - xã hội; 02 trạm tiếp sóng di động để phục vụ cho nhu cầu trao đổi thông tin của nhân dân
Tỷ lệ sử dụng máy điện thoại cố định là 7,44 máy/100 dân
* Về hệ thống An ninh - Quốc phòng:
Tình hình An ninh chính tri, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã luôn được đảm bảo và ổn định Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ An ninh trật tự được duy trì thường xuyên và có hiệu quả tích cực Lực lượng công an
xã nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, luôn có sự chủ động, tích cực và có trách nhiệm cao trong công tác Lực lượng Dân quân và Dự bị động viên hàng năm đều được huấn luyện đảm bảo chất lượng, sẵn sàng làm nhiệm vụ khi được yêu cầu Công tác khám, tuyển quân hàng năm đều hoàn thành chỉ tiêu trên giao
Trang 36* Về thông tin thị trường:
Xã có 01 chợ được xây dựng từ năm 2002 theo dự án quy hoạch trung tâm cụm xã, đây là nơi giao lưu hàng hoá của nhân dân trong xã với các địa phương khác Đảm bảo việc tiêu thụ hàng hoá của địa phương và mua sắm hàng hoá, sản phẩm từ nơi khác mang đến
Trang 37Biểu 2.3: Tình hình sản xuất ngành Nông nghiệp của xã qua ba năm 2013 - 2015
Trang 38Về trồng trọt tổng diện tích gieo trồng trong hai năm 2014và 2015đều thấp hơn năm 2013, tốc độ giảm bình quân là 0,32% Diện tích Ngô giảm với tốc độ bình quân là 1,34%, diện tích cây lúa tăng nhưng tốc độ tăng bình quân không lớn, chỉ là 0,21% Bên cạnh đó, năng suất lúa và ngô cũng tăng dẫn tới sản lượng lúa tăng từ: 606,62 tấn năm 2013lên 622,05 tấn năm2015 (tăng 15,43 tấn) Giá trị sản xuất cây lúa tăng từ 4.852,99 năm 2013lên 4.976,40 triệu năm 2015(tăng 123,41 triệu so với năm 2013 Sản lượng ngô tăng bình quân 2,60%, giá trị cây ngô tăng từ đạt 1.594,88 triệu lên 1.679,00 triệu năm 2015(tăng 84,1 triệu so với năm 2013 Giá trị cây sắn tăng từ 802 triệu năm 2013lên 815,12 triệu năm 2015(tăng 13,12 triệu)
Về chăn nuôi: Năm 2015, toàn xã có 550 con trâu, 105 con bò Đàn lợn trung bình năm là 1.735 con, trong đó có 119 lợn nái, sản lượng lợn hơi xuất chuồng là 205 tấn Đàn gia cầm có 12.205 con
Như vậy, qua hai năm giá trị sản xuất nông nghiệp của xã tăng từ 17.618,86 triệu đồng năm 2013 lên 19.749,80 triệu đồng năm 2015 (tăng 2.130,94 triệu đồng) Tỉ trọng ngành nông nghiệp chiếm: 73,58% trong tổng giá trị sản xuất (CN-NN-DV) của cả xã
Với những điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới gió mùa nên diện tích rừng ở xã Nghinh Tường thuộc loại rừng nhiệt đới thường xanh Với
hệ sinh thái phong phú và đa dạng Diện tích rừng đặc dụng thuộc khu bảo tồn Thần Sa Phượng Hoàng còn giữ được các loài thực vật quý hiếm như: Nghiến, Lim,
Rừng phòng hộ được chú trọng bảo vệ, có những diện tích rừng phòng
hộ đang phục hồi và phát triển sau nương rẫy Rừng sản xuất trồng Keo, Mỡ
là chủ yếu
Do diện tích tự nhiên chủ yếu là đất rừng, phì nhiêu màu mỡ Hiện nay
xã quy hoạch thành các loại rừng như sau:
Trang 39- Điều kiện khí hậu, đất đai và thủy văn tạo thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Đồng thời cũng là nhân tố tác động đến hệ sinh thái rừng tự nhiên Do vậy mà rừng tại địa bàn xã là rừng nhiệt đới thường xanh đa dạng phong phú về loài và hệ sinh thái
- Địa bàn xã có điều kiện tự nhiên về đất rừng còn rất tốt, khí hậu thuận lợi nên việc sinh trưởng phát triển của loài Xoan đào gặp nhiều thuận lợi Đây
là điều kiện để phát triển cây Xoan đào trên địa bàn xã
- Trạm kiểm lâm xã có hệ thống ban quản lý với số lượng lớn hơn các
xã khác Chất lượng công tác bảo vệ phát triển rừng khá tốt Nên còn giữ và bảo tồn được các loài thực vật quý hiếm Ngăn chặn được các hành vi phá rừng, khai thác rừng bừa bãi
Đa số người dân là dân tộc ít người nên trình độ dân trí chưa được nâng cao, vì vậy việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng gặp nhiều khó khăn
Trang 40Tình hình kinh tế tại địa bàn xã còn ở mức trung bình, diện tích canh tác nông nghiệp lại hẹp Vì vậy người dân còn dựa vào tài nguyên rừng là chủ yếu Việc phát triển loài Xoan đào tại địa bàn còn chưa được biết đến, nhiều người dân còn chưa hiểu hết về giá trị của loài cây này Nên việc phát triển và bảo vệ loài này ngoài rừng tự nhiên chưa được chú trọng Do không hiểu biết
về giá trị đích thực của Xoan đào nên nhiều khu rừng tự nhiên có Xoan đào bị chặt phá trồng cây khác như Keo, Mỡ,