1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa phượng hoàng huyện võ nhai tỉnh thái

57 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 635,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, con người đã và đang thải vào khí quyển một lượng lớn các chất khí độc hại có ảnh hưởng sấu đến môi trường sống của con người nói riêng và của tất

Trang 1

CHU VĂN TÂM

Tên đề tài

“ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ CÁC BON PHẦN

TRÊN MẶT ĐẤT CỦA MỘT SỐ TRẠNG THÁI RỪNG TỰ NHIÊN TẠI XÃ THẦN SA, THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA - PHƢỢNG HOÀNG, HUYỆN VÕ NHAI,

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Quản lí Tài nguyên rừng Lớp : 44 - QLTNR

Khoa : Lâm nghiệp Khóa : 2012 – 2016

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 2

CHU VĂN TÂM

Tên đề tài

“ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ CÁC BON PHẦN

TRÊN MẶT ĐẤT CỦA MỘT SỐ TRẠNG THÁI RỪNG TỰ NHIÊN TẠI XÃ THẦN SA, THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG, HUYỆN VÕ NHAI,

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Quản lí Tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp

Khóa : 2012 – 2016 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Trần Quốc Hưng

Khoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn chung thực, khách quan và chưa hề sử dụng cho một khóa luận nào Nếu

có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm

XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan

PGS.TS Trần Quốc Hưng Chu Văn Tâm

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa chữa sai sót sau khi

Hội đồng chấm và yêu cầu

(Ký,họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đối với sinh viên cuối khóa thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng Đây là giai đoạn cần thiết cho mỗi sinh viên, nó giúp sinh viên nâng cao được năng lực và khả năng sáng tạo của mình, đồng thời nó giúp sinh viên có dịp được vận dụng tổng hợp những kiến thức đã được học, làm quen dần với việc nghiên cứu khoa học Nhằm hoàn thành chương trình và mục tiêu đào tạo kĩ sư Lâm nghiệp có đầy đủ kiến thức về lý luận cũng như kĩ năng ngoài thực tiễn Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, tôi tiến hành thực tập tại xã Thần Sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Để hoàn thành khóa luận này tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Quốc Hƣng người đã hướng dẫn chỉ

bảo tôi tận tình để tôi hoàn thành tốt bản khóa luận này Đồng thời tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban quản lí khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, Hạt kiểm lâm huyện Võ Nhai – tỉnh Thái Nguyên, UBND xã Thần Sa, đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điền kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Với kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm còn hạn chế, do vậy bản khóa này không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhân được những ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn bè để bản khóa luận này được hoàn thiên hơn Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Chu Văn Tâm

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 lượng các bon tích lũy trong các kiểu rừng 8

Bảng 4.1 Diện tích đất và các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu 29

Bảng 4.2 Bảng mô tả đặc điểm của các OTC đo đếm ngoài thực địa 30

Bảng 4.3 Sinh trưởng của các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu 31

Bảng 4.4 : công thức tổ thành các trạng thái rừng nghiên cứu 31

Bảng 4.5:Lượng Các bon trong thành phần cây gỗ 36

Bảng 4.6 : Các bon trong tầng cây bụi, thảm tươi, cây tái sinh của từng trạng thái 36

Bảng 4.7 : Các bon trong tầng thảm mục của từng trạng thái 37

Bảng 4.8 :Kết quả tổng hợp lượng Các bon tích lũy trên toàn bộ diện tích của các trạng thái nghiên cứu trong xã 39

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Bố trí ô tiêu chuẩn vệ tinh 22 Hình 3.2 Sơ đồ bố trí các ô đo đếm 22 Hình 4.1 Tổng Các bon tích luỹ trên mặt đất của các trạng thái rừng 39

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

MỤC LỤC vi

MỤC LỤC vi

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4.Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.4.2.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3

Phần 2: TỔNG QUAN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.1.1 Công ước của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu 4

2.1.2 Cơ chế phát triển sạch (CDM) và thị trường Các bon 4

2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5

2.2.1 Trên thế giới 5

2.2.2 Ở Việt Nam 9

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 12

2.3.1 Điều kiên tự nhiên 12

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 15

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Giới hạn nghiên cứu 20

3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 20

Trang 9

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 20

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.3.1 Xác định cấu trúc của các trạng thái rừng tự nhiên tại xã Thần Sa thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Thần Sa - Phượng Hoàng 20

3.3.2 Xác định lượng C tích lũy trên mặt đất trong các trạng thái rừng tự nhiên 20 3.3.3 Tổng trữ lượng C tích lũy toàn bộ cảnh quan khu vực nghiên cứu 21 3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1.Phương pháp kế thừa 21

3.4.2.Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 21

3.4.3 Phương pháp phân tích cảnh quan 28

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

4.1 Hiện trạng các loại rừng tự nhiên 29

4.1.1 Diện tích của các trạng thái rừng 29

4.1.2 Cấu trúc của trạng thái rừng tự nhiên IIb,IIIA1 30

4.2 Lượng Các bon tích luỹ trên mặt đất của các trạng thái rừng tự nhiên 35

4.2.1 Lượng Các bon trong thành phần cây gỗ 36

4.2.2 Lượng Các bon tích luỹ trong thành phần cây bụi thảm tươi, cây tái sinh 36

4.2.3 Lượng Các bon tích lũy trong thành phần thảm mục 37

4.3 Tổng lượng Các bon tích luỹ trong các thành phần của từng trạng thái rừng 38

4.4 Tổng lượng cácbon tích lũy trên mặt đất của các trạng thái rừng tự nhiên 39

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.1.1 Hiện trạng rừng của xã 41

5.1.2 Sinh khối trên mặt đất của các trạng thái 41

5.1.3 Lượng Các bon tích lũy trên mặt đất của các trạng thái 41

5.1.4 Tổng trữ lượng C tích lũy trên mặt đất của các trạng thái 42

5.2 Kiến nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề

Rừng là nguồn tài nguyên quý của tự nhiên Rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như trong sự tồn tại của con người và các loài sinh vật khác trên Trái đất Rừng cung cấp thức ăn, chỗ ở cho các loài động vật Đối với con người rừng điều hòa khí hậu, điều hòa nguồn nước, cung cấp thức ăn…và nhiều sản phẩm khác cho con người Đặc biệt rừng cung cấp khí O2cho sự sống của con người và các loài sinh vật khác Rừng ảnh hưởng đến sự cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, và nó giữ vai trò là bể chứa CO2

Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, con người đã và đang thải vào khí quyển một lượng lớn các chất khí độc hại có ảnh hưởng sấu đến môi trường sống của con người nói riêng và của tất cả các loài sinh vật nói chung Một trong các vấn đề nóng được toàn xã hội quan tâm hiện nay là nhiệt độ Trái đất tăng lên, mà nguyên nhân của sự tăng nhiệt độ này chính là sự gia tăng của khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển Trước tình hình đó các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn sự nóng lên của trái đất và sự gia tăng của các chất khí độc hại thải vào môi trường, nhưng hiệu quả của những giải pháp đó mang lại không cao Cho đến những năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và chỉ ra rằng các loài cây rừng có khả năng hấp thụ một lượng lớn khí CO2 và các chất khí độc hại khác do con người thải ra

Rừng với chức năng là bể chứa CO2, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong cân bằng O2 và CO2 của khí quyển Do đó, nó có ảnh hưởng lớn đến tiểu khí hậu của từng vùng cũng như toàn cầu Rừng có ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ trái đất thông qua việc điều hòa các khí gây hiệu ứng nhà kính, mà quan trọng là khí CO2 Với mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và các hoạt động khác hiện nay của con người, các nhà khoa học đã ước tính nhiệt độ trái đất có thể tăng lên từ 1,5o

C – 4,5oC vào năm 2050

Trang 11

Nhưng nhờ có rừng mà hàng năm có khoảng 100 tỷ tấn CO2 trong khí quyển được cố định bởi quá trình quang hợp của cây xanh, và cũng một lượng tương tự được trả lại do quá trình hô hấp của sinh vật Đồng thời cây rừng cũng thải ra khoảng 52,2 tỷ tấn O2 để phục vụ cho quá trình hô hấp của con người và các sinh vật khác trên trái đất Do đó, việc quản lý chu trình CO2

trong điều hòa khí hậu, giảm tác hại hiệu ứng nhà kính đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá về khả năng hấp thụ của từng kiểu thảm phủ cụ thể để làm cơ sở lượng hóa những giá trị kinh tế mà rừng mang lại nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả trong bảo vệ, phát triển rừng và các chính sách chi trả cho chủ rừng và các cộng đồng vùng cao

Mặt khác, trên thế giới, việc nghiên cứu để lượng hóa những giá trị về mặt môi trường của rừng trong giai đoạn khởi đầu là hoàn toàn mới ở Việt Nam Chính vì vậy, nghiên cứu sự tích lũy Các bon trong thực vật thân gỗ để xác định giá trị kinh tế đối với chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng tự nhiên là một hướng nghiên cứu mới cần được quan tâm

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“ Đánh giá khả năng tích lũy Các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã Thần Sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của các trạng thái rừng tự nhiên thuộc tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nhằm xác định giá trị rừng thông qua lượng các bon tích lũy, đồng thời làm cơ sở khoa học cho việc gia nhập cơ chế REDD ở Việt Nam

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được lượng các bon tích lũy trên mặt đất trong các trạng thái rừng tự nhiên tại xã Thần Sa thuộc Khu bảo BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng

Trang 12

- Tính toán được tổng lượng các bon tích lũy trong các trạng thái rừng tự nhiên trên địa bàn xã Thần Sa

1.4.Ý nghĩa của đề tài

1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Qua quá trình nghiên cứu đề tài sẽ củng cố cho sinh viên những kiến thức đã học trên lớp vào thực tiễn, nhằm giúp cho sinh viên được làm quen dần với thực tế sản xuất Sau khi hoàn thành đề tài sinh viên có thể học được các phương pháp, kĩ năng trong lập kế hoạch, viết báo cáo, phân tích số liệu…Đây là những vấn đề cần thiết cho công việc sau này

1.4.2.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được vai trò của rừng nói chung và của từng trạng thái rừng nói riêng trong việc hấp thụ khí CO2 nhằm góp phần nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái

Nghiên cứu đề tài giúp xác định lượng C tích lũy trong một số trạng thái rừng phổ biến làm cơ sở cho việc ra nhập cơ chế REDD ở Việt Nam

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Công ước của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

Công ước của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhằm làm ổn định các khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở một mức có thể ngăn chặn và hạn chế tất cả những biến đổi nguy hiểm của khí hậu Công ước LHQ về thay đổi khí hậu đó đã được thông qua trong hội nghị thượng đỉnh về Trái đất họp tại Riode Janerio, 1992 Cho đến nay đã được 186 nước thành viên phê chuẩn công ước này

Để đưa công ước này vào hoạt động, một nghị định thư đã được soạn thảo và đưa ra thảo luận tại hội nghị Kyoto năm 1997 Điểm quan trọng của nghị định Kyoto là sự cam kết có tính pháp lí của 39 nước phát triển nhằm giảm mức phát thải KNK của họ tối thiểu là 5,2% trong giai đoạn 2008-2012

so với các mức năm 1990 Và đây được coi là “ bước cam kết đầu tiên”

2.1.2 Cơ chế phát triển sạch (CDM) và thị trường Các bon

2.1.2.1 Cơ chế phát triển sạch (CDM)

CDM là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto, trong đó

nó cho phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về giảm phát thải KNK bắt buộc thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải KNK Các dự án CDM có 2 mục tiêu chính là:

- Nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển, nơi sẽ thực hiện các dự án CDM đạt được mục tiêu phát triển bền vững

- Nhằm cung cấp cho các nước phát triển có “cơ hội linh hoạt” để làm giảm chỉ tiêu phát thải KNK, và cho phép họ thu được các chửng chỉ giảm phát thải từ các dự án CDM đầu tư tại các nước đang phát triển (Ngô Đình Quế và cs, 2006) [5]

Trang 14

2.1.2.2 Thị trường Các bon

Tháng 8/2001 thị trường về mua bán chỉ tiêu phát thải KNK đã được khai trương ở London Tại thị trường này trước tiên có 6 loại KNK sẽ được giao dịch trong đó quan trọng nhất là khí CO2 Đơn vị đo các loại hàng hóa khí thải nhà kính trên thị trường được tính theo tấn khí CO2 và khối lượng quy đổi ra các loại khí khác

Tại New Zealand tháng 8/2008 đề án thương mại phát thải đã được luận hóa và được sửa đổi vào thàng 11/2009

Tháng 12/2009 Công ty cổ phần tài chính dầu khí Việt Nam (PVFC) đưa

ra đấu giá 350.000 CERS từ dự án thu hồi và sử dụng khí đồng hành mỏ Rạng Đông là dự án phát triển sạch (dự án CDM 0152) đầu tiên được chứng nhận giảm phát thải

Tháng 4/2010 Tokyo (Nhật Bản) đã khởi động chương trình buôn bán phát thải Các bon Giai đoạn đầu của chương trình này kéo dài tới năm 2014, trong thời gian đó, các tổ chức tham gia sẽ phải cắt giảm phát thải Các bon ở mức 6%

Năm 2005 giá trị giao dịch của thị trường tài chính Các bon đạt 10,908

tỷ USD với khối lượng giao dịch khoảng 0,718 tỷ tấn, năm 2006 đạt 31,235 tỷ USD với khối lượng 1,745 tỷ tấn, đến năm 2007 con số này đã đạt đến mức 64,035 tỷ USD cho 2,983 tỷ tấn và năm 2008 đã tăng đến mức 126,345 tỷ USD cho mức giao dịch của 4,811 tỷ tấn Đến 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính nên giá trị giao dịch của thị trường Các bon giảm với khối lượng 8,2 tỷ tấn khí thải CO2 đã được trao đổi trên thị trường mua bán hạn ngạch khí thải thế giới với giá trị giao dịch khoảng 135 tỷ USD

2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

2.2.1 Trên thế giới

* Nghiên cứu sinh khối và năng suất rừng

Sự tăng trưởng sinh khối gắn liền với tích lũy các bon của cây rừng, để nghiên cứu trữ lượng các bon của rừng hấp thu được thì bước đầu tiên là nghiên cứu sinh khối rừng

Trang 15

Đầu thế kỷ 19 đã có những nghiên cứu về sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng, tiêu biểu 1.2.1 Nghiên cứu sinh khối và năng suất rừng như Baur, Breymann, Danckemam, Weise mỗi tác giả đều có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau nhưng đều tìm hiểu về những quy luật sinh trưởng, mối quan hệ giữa sinh trưởng và sản lượng rừng vào không gian dinh dưỡng, quy luật kết cấu lâm phần, đặc tính di truyền của mỗi loài cây và mô phỏng bằng mô hình toán học Từ các công trình đó đã đưa ra kết luận rằng sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối có quan hệ chặt chẽ với nhau và phụ thuộc vào chiều cao, đường kính

Liebig (1862) đã định lượng về sự tác động của thực vật tới không khí, sau đó Mitscherlich E.A (1954) đã phát triển luật tối thiểu thành luật “năng suất” [15]

Lieth, H (1994) đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất

Duyio cho biết: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ

10 – 50 tấn/ha/năm, trung bình là 20 tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60 –

800 tấn/ha/năm, trung bình là 450 tấn/ha/năm

M.G.R Canell (1982) đã cho ra đời cuốn sách “sinh khối và năng suất sơ cấp của rừng thế giới”, cho đến nay nó vẫn là tác phẩm quy mô nhất Tác phẩm đã tổng hợp hơn 600 công trình nghiên cứu được tóm tắt xuất bản về sinh khối khô, thân, cành , lá và một số thành phần sản phẩm sơ cấp của hơn

1200 lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới [16]

Trong khi nghiên cứu về sinh khối cũng đã có nhiều tác giả quan tâm đến phương pháp xác định vì nó liên quan đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu

* Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng

Trên thế giới, 2 nơi có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn CO2 phát thải vào không khí bởi các hoạt động của con người đó là đại dương và thảm

Trang 16

thực vật Trong đó thảm thực vật đã lưu trữ một lượng CO2 lớn hơn 1 nửa khối lượng chất khí phát thải đó và cũng chính từ nguyên liệu các bon này hàng năm thảm thực vật trên trái đất đã tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật Rừng nhiệt đới toàn cầu có diện tích khoảng 17,6 triệu km2 chứa đựng 547 tỷ tấn các bon trong sinh khối và trong đất

Năm 1980 Brawn và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng các bon trung bình trong rừng nhiệt đới châu Á là 144 tấn/ha trong phần sinh khối và 148 tấn/ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1m, tương đương 42 – 43 tỷ tấn các bon trong toàn châu lục Tuy nhiên lượng các bon có biến động rất lướn giữa các vùng và các kiểu thảm thực bì khác nhau Thông thường lượng các bon trong sinh khối biến động từ dưới 50 tấn/ha đến 360 tấn/ha, phần lớn

ở các kiểu rừng là 100 – 200 tấn/ha

Palm C.A et al, 1986 cho rằng lượng các bon trung bình trong sinh khối phần trên mặt đất của rừng nhiệt đới châu Á là 185 tấn/ha và biến động từ 25 – 300 tấn/ha

Brawn.S, 1991 Rừng nhiệt đới Đông nam Á có lượng sinh khối trên mặt đất từ 50 – 430 tấn/ha (tương đương 25 – 215 tấn C/ha) và trước khi có tác động của con người thì các trị số tương ứng là 350 – 400 tấn/ha (tương đương

175 – 200 tấn C/ha)

Lasco.R (1999) rừng tự nhiên thứ sinh ở Philippines có 86 – 210 tấn C/ha trong phần sinh khối trên mặt đất, ở rừng già là 370 – 520 tấn sinh khối/ha (tương đương 185 – 260 tấn C/ha, lượng các bon ước tính 50% sinh khối)

Rừng Malaysia lượng các bon biến động từ 100 – 160 tấn/ha nếu tính cả sinh khối trong đất là 90 – 780 tấn/ha

Theo MC Kenzie (2001) các bon trong hệ sinh thái rừng thương tập trung ở 4 bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng Việc xác định lượng các bon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác định sinh khối rừng

Trang 17

Brown và Pearce (1994) đã nhận định rằng: Một khu rừng nguyên sinh

có thể hấp thụ được 280 tấn các bon và sẽ giải phóng 200 tấn các bon nếu chuyển thành du canh du cư và sẽ giải phóng nhiều hơn một chút nếu được chuyển thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng

115 tấn các bon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến ¼ khi rừng bị chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp

Lasco (2002) lượng sinh khối và các bon của rừng nhiệt đới châu Á bị giảm khoảng 22 – 67% sau khi khai thác Tại Philippines ngay sau khi khai thác thì lượng các bon bị mất là 50% so với rừng thành thục trước khai thác

và ở Indonesia là 38 – 75% [17]

Hầu hết lượng các bon trên trái đất được tích lũy trong sinh khối cây rừng, đặc biệt là rừng mưa nhiệt đới Woodwell đã đưa ra bảng thống kê lượng các bon theo kiểu rừng như sau:

Bảng 1.1 lƣợng các bon tích lũy trong các kiểu rừng

(Theo Woodwell,Pecan, 1973)

Kiểu rừng Lƣợng các bon (tỷ tấn) Tỷ lệ %

Trang 18

Xét trên phạm vi toàn cầu, số liệu thống kê năm 2003 cho thấy lượng các bon lưu trữ trong rừng khoảng 800 – 1.000 tỷ tấn trong 1 năm rừng hấp thu khoảng 100 tỷ tấn khí Các bon níc và thải ra khoảng 80 tỷ tấn Oxy [4]

Trong một nghiên cứu của Arild Angelsen and Sven Wunder (2003) đã chỉ ra rằng: "Trong các dịch vụ môi trường mà những cộng đồng vùng cao có thể được đền bù (hấp thụ các bon, bảo vệ vùng đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học) thì cơ chế đền bù cho thị trường các bon là cao hơn cả, thậm chí rừng các bon được xem là một đóng góp quan trọng trong giảm nghèo"

Một nghiên cứu khác của Joyotee Smith và JScherr (2002) đã định lượng được lượng Các bon lưu trữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các loại hình sử dụng đất tại Brazil, Indonesia và Cameroon, bao gồm trong các sinh khối thực vật và dưới mặt đất từ 0 - 20cm Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng khí Các bon ít biến động hơn, nhưng cũng có xu hướng giảm dần từ rừng tự nhiên đến đất không có rừng

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Bang Oregon và một số viện khác kết luận trong các bản báo cáo “Những điều luật tính toán đến các bon đối với rừng nên chủ trương bảo vệ những khu vực rừng già khỏi tác động bên ngoài Một lượng lớn các bon sẽ quay trở lại bầu khí quyển nếu những khu vực rừng này bị xáo trộn” Phân tích 519 nghiên cứu khác nhau cho thấy 15% đất rừng phía Bắc Hemisphere không được kiểm soát, đặc biệt là những khu rừng già, chúng chiếm đến 10% lượng hấp thụ CO2 toàn cầu (Trà Mi, 2008- Theo Science Daily)

Tại huyện Kabupaten Nunukan, phía đông Kalimantan đã áp dụng công cụ RACSA để giám sát lượng dự trữ các bon trong khu vực

2.2.2 Ở Việt Nam

* Nghiên cứu sinh khối và năng suất rừng

Nghiên cứu về sinh khối rừng ở nước ta tiến hành muộn hơn nhưng cũng

đã có một số công trình nghiên cứu sau:

Trang 19

Hoàng Mạnh Trí (1986) thực hiện nghiên cứu “Sinh khối và năng suất rừng đước” đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng Đước đối với rừng ngập mặn ven biển Minh Hải [12]

Hà Văn Tuế (1994) cũng dùng phương pháp cây mẫu để nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại Vĩnh Phúc [13]

Lê Hồng Phúc (1996) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối hoàn chỉnh, đây được xem là tác phẩm mang tính chất đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu sinh khối ở nước ta với đối tượng nghiên cứu là Thông ba lá tại Đà Lạt – Lâm Đồng Sau khi nghiên cứu, tác giả đã lập được một số phương trình tương quan giữa sinh khối của các bộ phận của cây rừng với đường kính D1.3

Vũ Văn Thông (1997) với luận văn thạc sĩ đã xác lập được mối quan hệ giữa sinh khối của các bộ phận với đường kính D1.3 cho loài keo lá tràm [11] Nguyễn Ngọc Lung (2004) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối rừng Thông ba lá để tính toán thử khả năng cố định CO2 mà cây rừng hấp thụ Từ việc nghiên cứu này tác giả đã xác định được một số hàm tương quan mang tính chất định lượng sinh khối [6]

Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu về cây bụi, thảm tươi tại Hòa Bình

và Thanh Hóa, kết quả cho thấy sinh khối của lau lách khoảng 104 tấn/ha, trảng cây bui cao 2 -3 m khoảng 61 tấn/ha, cây bụi cao 2 – 3m là 27 tấn/ha, cây bụi cao dưới 2m và tế guột là 20 tấn/ha, cỏ lá tre 12 tấn/ha, cỏ tranh 10 tấn/ha [7]

Nguyễn Văn Tấn (2006) nghiên cứu về sinh khối rừng bạch đàn Urophylla ở Yên Bái cho kết quả với sinh khối tươi ở tuổi 4 bằng 183,54 tấn/ha, ở tuổi 5 là 219.77 tấn/ha và ở tuổi 6 là 239,19 tấn/ha Trong đó sinh khối trên mặt đất chiếm từ 77,78% - 89,12% Tương ứng sinh khối ở tuoir 4 là 66,87 tấn/ha tuổi 5 là 73,53 tấn/ha, tuổi 6 là 96,02 tấn/ha Trong đó sinh khối khô trên mặt đất chiếm từ 64,27 % - 85,92% [10]

Trang 20

* Nghiên cứu khả năng hấp thụ các bon của rừng

Nguyễn Ngọc Lung (2004) công bố nghiên cứu sinh khối rừng Thông ba

lá để tính toán thử khả năng cố định CO2 mà cây rừng hấp thu Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng, tạo tiền đề cho việc xây dựng dự án trồng rừng CDM sau này [6]

Ngô Đình Quế (2005) cho biết với tổng diện tích là 123,95ha sau khi trồng Keo lai 3 tuổi, Quế 17 tuổi, Thông ba lá 15 tuổi, Keo lá tràm 12 tuổi thì sau khi trừ đi tổng lượng các bon của đường cơ sở, lượng các bon thực tế thu được qua việc trồng rừng theo dự án CDM là 7.553,6 tấn các bon, tương đương 27.721,9 tấn CO2 [9]

Nguyễn Văn Dũng (2005) nghiên cứu về rừng Thông mã vỹ tại núi Luốt – đại học Lâm nghiệp cho thấy rừng Thông mã vỹ thuần loài 20 tuổi lượng các bon tích lũy là 80,7 – 122 tấn/ha, giá trị các bon tích lũy ước tính đạt 25,8 – 39 triệu VNĐ/ha Rừng keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng lượng các bon tích lũy là 62,5 – 103,1 tấn/ha, giá trị tích lũy các bon ước tính đạt 20 – 33 triệu VNĐ [2]

Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng các bon theo các trạng thái rừng cho biết: Rừng giàu có tổng trữ lượng các bon 694,9 – 733,9 tấn CO2/ha; rừng trung bình là 539,6 – 577,8 tấn CO2/ha; rừng tre nứa là 116,5 – 277,1 tấn CO2/ha [7]

Phạm Tuấn Anh (2007) nghiên cứu về năng lực hấp thụ CO2 của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh ở ĐăkNông cho kết quả: Lượng tích lũy CO2 hàng năm từ 1,73 đến 5,18 tấn/ha/năm tùy theo trạng thái rừng [1]

Theo kết quả nghiên cứu của Võ Đại Hải và cộng sự (2009) đã thực hiện

đề tài “Nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ các bon của một số dạng rừng trồng ở Việt Nam” nhằm xác định lượng Các bon hấp phụ ở rừng trồng

Mỡ thuần loài tại 2 tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ năm 2006 - 2008 Kết quả cho thấy: Đối với cấu trúc Các bon cây cá thể Mỡ thì thân cây chiếm 54 -80%, rễ chiếm 14-30%, cành chiếm 3-11%, lá cây chiếm 1-6% và tổng lượng các bon tích luỹ trong lâm phần trồng Mỡ dao động khá lớn từ 55,93 đến

Trang 21

112,4 tấn/ha, bao gồm 4 thành phần chính là Các bon trong đất, các bon trong tầng cây gỗ, các bon trong vật rơi rụng và các bon trong cây bụi thảm tươi [3]

Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Đình Quế và cộng sự (2006) về khả năng hấp phụ Các bon ở rừng Thông, Keo, Bạch đàn Phương pháp thực hiện

là lập ô tiêu chuẩn chọn một số cây cân đo khối lượng Biomass tươi và khô

Từ đó sẽ có tổng tích lũy CO2 trong quá trình quang hợp để tạo thành Biomass rừng trồng Đề tài đo đếm sinh trưởng, năng suất rừng trồng ở 180 ô tiêu chuẩn, giải tích cây điển hình, phân tích 300 mẫu dung trọng, 200 mẫu Các bon trong đất và 300 mẫu Các bon trong thực vật từ các kết quả phân tích thu được xây dựng các hệ số quy đổi tính lượng CO2hấp phụ từ rừng trồng Phương pháp này nhìn chung đã đo đếm tương đối chính xác lượng các bon tích luỹ, tuy nhiên sẽ mất khá nhiều thời gian để giải tích cây và xác định hệ

số quy đổi [9]

Từ ngày 22 đến ngày 27 tháng 11 năm 2008, ICRAF Việt Nam đã cộng tác với Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (TUAF) tổ chức: “ Hội thảo tập huấn quốc gia cây trên cảnh quan đa mục đích ở Đông Nam Á” Khóa tập huấn này nhằm giới thiệu 3 công cụ: PaLA (Đánh giá nhanh cảnh quan), RHA (Đánh giá nhanh thủy văn) và RacSA (Đánh giá nhanh dự trữ các bon) thuộc gói công cụ TULSEA Đây là một cơ hội lớn cho Việt Nam có thể cho Việt Nam có thể sử dụng bộ công cụ này, đặc biệt là công cụ RacSA để đo đếm lượng các bon tích lũy trong các trạng thái rừng Bộ công cụ này hiện nay đã bước đầu được ứng dụng

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiên tự nhiên

*Vị trí địa lý: Xã Thần Sa vị trí địa lý 2100 51/ 26// Vĩ bắc, 1050 58/ 18//Kinh đông, nằm ở phía Bắc của huyện Võ Nhai, cách trung tâm huyện 40km Phía Bắc giáp các xã Bình Vãn, như Cố, Quảng Chu - huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Cạn; phía Nam giáp xã Tân Long - huyện Đồng Hỷ, xã Cúc Đường - huyện Võ Nhai; phía Đông giáp xã Thượng Nung, xã Sảng Mộc - huyện Võ Nhai; phía Tây giáp xã Vân Lãng - huyện Đồng Hỷ Tổng diện tích tự nhiên

Trang 22

của xã là 10.262,46 ha, trong đó đất nông nghiệp là 137 ha (bằng 1,33% so với tổng diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp chiếm 9.037,58 ha (bằng 88,06%

so với tổng diện tích tự nhiên) Địa hình xã Thần Sa bao gồm nhiều đồi núi dạng bát úp, núi đá vôi xen kẽ những thung lũng, có rất nhiều hang động kỳ

vĩ, đặc biệt là Khu khảo cổ học Mái Đá ngầm đã có người nguyên thủy sống cách đây từ 18.000 năm đến 30.000 năm , được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia vào năm 1982 và danh thắng mưa Rõi, được UBND tỉnh chọn làm khu bảo tồn thiên nhiên từ năm 2006

Do điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý như vậy nên xã Thần Sa có tiềm năng , thế mạnh để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, phát triển du lịch lịch

sử - sinh thái, khái thác đá vôi chế biến vật liệu xây dựng và có điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu , trao đổi hàng hoá với các xã, huyện lân cận

Hình 2.1 Sơ đồ ranh giới khu vực nghiên cứu

Trang 23

* Địa hình : Thần Sa có địa hình phức tạp mang đặc điểm điển hình của

xã miền núi, bề mặt không bằng phẳng, bao quanh nhiều đồi, núi đá vôi, ô trũng bậc thang Mặt khác xă Thần Sa có sông, suối, ao thuận lợi cho việc nuôi cá nước ngọt và dự trữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

* Đất đai: Trong xã có các loại đất chính sau:

- Đất phù sa không được bồi hàng năm: phân bố dọc các triền sông Tầng dày > 100 cm, đây là diện tích trồng cây lương thực và hoa màu hàng năm chủ yếu của xã

- Đất phù sa ngoài suối: phân bố ở ngoài các con suối, là những dải đất

có diện tích hẹp với thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, hàm lượng mùn nghèo, được dùng để trồng lúa 2 vụ và hoa màu khác

- Đất dốc tụ thung lũng: phân bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độ dốc địa hình nhỏ Đất có thành phần cơ giới nhẹ, có lẫn nhiều mảnh đá dăm Phần lớn diện tích này được dùng để trồng chè, cây ăn quả và hoa màu

- Đất feralit: bao gồm các loại đất feralit bị biến đổi do trồng lúa nước, đất feralit nâu đỏ trên đá macma trung tính và bazơ, đất feralit trên đá macma axit và đất feralit trên đá sét

Nhìn chung trong xã có nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng, song chủ yếu là đất đồi núi, nhưng diện tích đất bằng phẳng phục vụ cho canh tác nông nghiệp rất thấp chỉ có 137 ha

* Khí Hậu- Thủy Văn: Khí hậu xã Thần Sa cũng như khí hậu của huyện

Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu tỉnh Thái Nguyên nằm trong vùng trung du miền núi phía Bắc chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa Một năm được phân thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam; mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Trang 24

Nhiệt độ trung bình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là 240C Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6,7,8 nhiệt độ trung bình là 27,80C; thấp nhất là vào tháng

1 trung bình 14,90C Số giờ nắng bình quân trong năm là 1.402,5 giờ, cao nhất vào tháng 9 là 2.305 giờ; thấp nhất vào tháng 3 là 43 giờ Độ ẩm tương đối bình quân trong năm là 82% Lượng mưa bình quân trong năm là 1.695,9mm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 7, ít nhất là tháng 12

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Tình hình dân số và lao động: Trong 3 yếu tố lao động, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, thì lao động là lực lượng, là yếu tố chủ yếu nhất trong quá trình sản xuất

Lao động là điều kiện cho xã hội tồn tại và phát triển Để sản xuất phát triển, vấn đề đặt ra là phải tổ chức lao động như thế nào, đòi hỏi trình độ quản lý sử dụng vốn, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật một cách hiệu quả Các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp được sử dụng gắn liền với điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết của vùng, luôn gắn với đất đai, hiệu quả của đất cũng như độ phì nhiêu của từng loại đất như ta đã biết sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế và giá trị thấp hơn so với các ngành nghề khác, do vậy việc tổ chức quản lý, sử dụng lao động đòi hỏi phải khoa học, hợp lý thì mới đem lại hiệu quả tốt trong sản xuất nông nghiệp

So với các xã khác của huyện Võ Nhai, Thần Sa là một xã có tổng diện tích tự nhiên rộng, xong dân số ít do đó vấn đề lao động cũng còn nhiều khó khăn (năm 2012 có 558 hộ, 2.382 nhân khẩu; năm 2013 có 560 hộ, 2.394 nhân khẩu; năm 2014 có 562 với 2442 nhân khẩu) Qua 3 năm cho thấy diễn biến tình hình dân số và lao động xã Thần Sa như sau: Dân số toàn xã năm

2012 là 2.382 người đến năm 2014 tăng lên là 2.442 người , như vậy qua 3 năm dân số tăng bình quân đạt 0,60% Số hộ cũng tăng từ 558 hộ năm 2012 lên 562 hộ năm 2014, tốc độ tăng bình quân đạt 0,60% Nhìn chung tốc độ tăng dân số của xã tăng không đáng kể

Trang 25

Là một xã chủ yếu sản xuất nông, lâm nghiệp, nên số lao động trong nông thôn chiếm tỷ trọng cao Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế chung

có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, do đó cơ cấu lao động trong xã cũng có những biến động Năm 2012 lao động nông lâm nghiệp là 1.432 người chiếm 58,86%, đến năm 2014 là 1.621 người chiếm 66,3%

* Vãn hóa – Giáo Dục – Y tế

Kinh tế - xã hội là hai mặt của nền kinh tế nói chung, nếu như phát triển kinh tế mà không phát triển xã hội thì cũng không thể phát triển bền vững được Do vậy, phát triển nông nghiệp nông thôn phải gắn liền với phát triển

xã hội, vãn hoá, giáo dục, y tế

Về vãn hóa : Xã Thần Sa là một xã gồm nhiều dân tộc anh em cùng chung sống xen lẫn nhau, có 6 dân tộc (Tày, Dao, Mông, Nùng, Kinh, Sán Dìu) trong đó chiếm số đông nhất là dân tộc Tày, ít nhất là dân tộc Sán Dìu Với phong tục tập quán của mỗi dân tộc có khác nhau cho nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, khả năng nhận thức, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Những năm qua xã đã có nhiều biện pháp để giảm bớt khoảng cách giữa các dân tộc, nâng cao dân trí, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo giữa các hộ Tuy nhiên kết quả đạt được còn hạn chế

Giáo dục :So với các xã khác trong huyện Võ Nhai, Thần Sa có hệ thống giáo dục tương đối phát triển, hệ thống trường học của xã được đầu tý xây dựng nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của con em nhân dân trong xã Thực hiện tốt chủ trương tất cả con em đến tuổi đi học đều được đến trường, chất lượng chuyên môn dạy và học trong các trường không ngừng được nâng lên rõ rệt Để đạt được điều đó trước tiên là do có sự quan tâm giúp đỡ của cấp trên về đầu tý nâng cấp cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ cán

bộ giáo viên, bên cạnh đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao cấp uỷ Đảng, chính quyền, công tác tuyên truyền vận động của các tổ chức đoàn thể xã Thần Sa Kết quả đến nay cả xã có tổng số 3 trường học: 1 trường Mầm non, 1 trường

Trang 26

Tiểu học, 1 trường Trung học cơ sở; số trường đạt chuẩn quốc gia là 2 trường (1 trường Tiểu học và 1 trường Mầm non); tổng số học sinh các cấp học, bậc học là 503 em; tổng số lớp học 39 lớp; tổng số giáo viên là 83 thầy cô

- Y tế : Hiện nay cả xã có 01 Trạm xá, với tổng số giường bệnh là 4 giường; tổng số cán bộ y, bác sĩ là 6 người (1 bác sỹ, 3 y tá và 2 điều dưỡng viên), số cán bộ y tá thôn bản 9 người Nhìn chung cơ sở y tế, trang thiết bị còn ít và lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân trong xã Sự yếu kém của mạng lưới y tế có ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho người dân Do vậy trong những năm tới xã cần tiếp tục đề nghị các cấp các ngành quan tâm đầu tý xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm các trang thiết bị phục vụ y tế hiện đại hơn để đáp ứng nhu

cầu khám chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ của người dân

- Hệ thống Giao thông : Trong những năm gần đây được sự quan tâm của tỉnh, huyện, xã Thần Sa đã được đầu tý mở rộng nhiều tuyến đường giao thông trong xã, do vậy việc đi lại, Lưu thông hàng hoá trong những nãm gần đây được thuận tiện hõn Đến nay tất cả các xóm đều có đường ô tô đi đến trung tâm xóm, trong xã có hõn 12km đường trải nhựa, đáp ứng nhu cầu đi lại

và phát triển kinh tế của nhân dân trong xã

- Hệ thống điện : Trong những nãm qua xã đã có nhiều cố gắng đýa lýới điện quốc gia về phục vụ nhân dân trong xã Đến nay toàn xã đã có 04 Trạm biến áp từ 50KV trở xuống, hệ thống điện này chủ yếu để phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân Đến hết nãm 2014 có 8/9 xóm bản được sử dụng

điện lýới quốc gia

- Thông tin liên lạc : Trong nền kinh tế thị trường, ngoài chức nãng về chính trị, xã hội, thông tin liên lạc trở thành yếu tố quan trọng đối với sản xuất kinh doanh Người nông dân cần có thông tin kinh tế chính xác từ đó đýa ra các quyết định về sản xuất kinh doanh hợp lý Nhờ có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo giúp đỡ của các cấp các ngành, huyện Võ Nhai đã phát triển hệ thống

Trang 27

thông tin liên lạc đến tất cả các xã, thị trấn trong toàn huyện Đối với xã Thần

Sa tất cả các xóm đều có đường dây cáp điện thoại dẫn đến trung tâm xóm, ngoài ra trên địa bàn xã hiện nay đã phủ sóng điện thoại di động Vinaphone, Viettel Đến nay theo thống kê số hộ dân trong xã sử dụng điện thoại bàn là

150 hộ/tổng số 576 hộ, ýớc tính số lượng máy điện thoại di động trên 1750 chiếc Nhìn chung hệ thống Býu điện, thông tin liên lạc cõ bản đã phục vụ được 100% khu dân cý trên địa bàn xã Mạng lýới truyền thanh truyền hình Trung ương cũng được phát triển rộng khắp Tồn tại cõ bản là cõ sở vật chất

kỹ thuật còn đõn giản, chất lượng thông tin cung cấp cho nông dân trong xã,

đặc biệt là các hộ nghèo còn hạn chế

- Thủy lợi : Hệ thống thuỷ lợi được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tãng nãng suất phần lớn các loại cây trồng, tãng hệ số sử dụng ruộng đất, cung cấp nước vào mùa khô, thoát nước vào mùa mýa Trong những nãm qua công tác thuỷ lợi được quan tâm phát triển, hệ thống kênh mương được cải tạo và nâng cấp, đã kiên cố hoá được 2,8km kênh mương, xây dựng 01 trạm bõm điện Do địa hình phức tạp nên trong địa bàn xã còn có nguồn nước chảy ra từ các dãy núi đá vôi, ngoài ra xã Thần Sa còn được hýởng nguồn nước từ hệ thống Sông Nghinh Tường bắt nguồn từ dãy vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa và đổ vào Sông Cầu Nhìn chung về cõ bản hệ thống thuỷ lợi đã đáp ứng được nhu cầu týới tiêu nước phục vụ cho sản xuất nông

nghiệp trên địa bàn xã

2.3.3 Đánh giá chung

* Thuận lợi:

- Thần Sa là một xã của huyện Võ Nhai có địa giới giáp danh với huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên, huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Cạn và một số xã của huyện Võ Nhai, nên có nhiều thuận tiện trong việc lưu thông trao đổi hàng hoá, học tập kinh nghiệm trong sản xuất để phát triển kinh tế, xã hội

Trang 28

- Với diện tích đất lâm nghiệp lớn 9.037,58 ha (bằng 88,06% so với tổng diện tích tự nhiên), do đó xã Thần Sa có tiềm nãng về phát triển kinh tế trang trại, trồng rừng, ngoài ra xã còn có tiềm nãng về khai thác đá vôi để chế biến vật liệu xây dựng, tạo thêm được nhiều việc làm, tãng thêm thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhân dân

- Cấp uỷ Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền vận động, tạo điều kiện thuận lợi để cho nhân dân phát triển sản xuất Nhân dân các dân tộc trong xã có truyền thống cần cù chịu khó lao động, đoàn kết, trung thành tin týởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau

* khó khãn :

- Là một xã thuần nông, xuất phát điểm thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém Nền kinh tế mới được tập trung phát triển ở các xóm trung tâm của xã, còn ở các xóm vùng sâu vùng xa giao thông đi lại còn nhiều khó khãn thì kinh tế phát triển còn rất chậm

- Do địa hình phức tạp, diện tích đất nông nghiệp ít 137 ha (mới chỉ đạt 1,33% so với tổng diện tích tự nhiên), đất đai có độ dốc lớn, thời tiết khắc nhiệt, tình trạng hạn hán và rét đậm kéo dài vào mùa khô do đó có ảnh hýởng lớn đến sản xuất, nhất là sản xuất nông - lâm nghiệp

- Tuy býớc đầu đã hình thành một số ngành nghề sản xuất hàng hoá nhý: phát triển trồng rừng, trồng chè, đậu tương, nuôi cá nước ngọt, khai thác chế biến vật liệu xây dựng xong quy mô sản xuất còn manh mún nhỏ lẻ, chýa đồng bộ, chất lượng sản phẩm chýa có sức cạnh tranh lớn trên thị trường

- Thần Sa là một xã có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số nhý (dân tộc Tày, Dao, Mông, Nùng ), trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều giữa các vùng miền, các dân tộc khác nhau cho nên việc tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất còn có những hạn chế nhất định Đây là những nguyên nhân không chỉ làm cho tỷ lệ hộ nghèo đói trong

xã Thần Sa ngày càng cao mà nó còn làm cho công tác xoá đói giảm nghèo gặp rất nhiều khó khãn

Ngày đăng: 07/07/2017, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Phạm Tuấn Anh (2007), Dự báo năng lực hấp thụ CO 2 của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại huyện Tuy Đức, tỉnh Dăk Nông, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo năng lực hấp thụ CO"2" của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại huyện Tuy Đức, tỉnh Dăk Nông
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Năm: 2007
2. Nguyễn Văn Dũng (2005), Nghiên cứu sinh khối và lượng Các bon tích lũy của một số trạng thái rừng trồng tại Núi Luốt, Đề tài nghiên cứu khoa học, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh khối và lượng Các bon tích lũy của một số trạng thái rừng trồng tại Núi Luốt
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2005
3. Võ Đại Hải và cộng sự (2009), Năng suất sinh khối và khả năng hấp thụ các bon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh khối và khả năng hấp thụ các bon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam
Tác giả: Võ Đại Hải và cộng sự
Năm: 2009
4. Phạm Xuân Hoàn (2004), Một số vấn đề trong lâm học nhiệt đới, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong lâm học nhiệt đới
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
6. Nguyễn Ngọc Lung và Nguyễn Tường Vân (2004), '' Thử nghiệm tính toán giá trị bằng tiền của rừng trồng trong cơ chế phát triển sạch '', Tạp chí Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (12
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung và Nguyễn Tường Vân
Năm: 2004
7. Vũ Tấn Phương (2006), Nghiên cứu lượng giá giá trị môi trường và dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yếu ở Việt Nam, Báo cáo sơ kết đề tài, Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết đề tài, Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng
Tác giả: Vũ Tấn Phương
Năm: 2006
8. Vũ Tấn Phương (2007), '' Nghiên cứu trữ lượng Các bon thảm tươi và cây bụi – Cơ sở để xác định đường Các bon cơ sở trong dự án trồng rừng tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam '', Tạp chí Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (8), tr 81 – 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Tác giả: Vũ Tấn Phương
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Tấn (2006), Bước đầu nghiên cứu trữ lượng các bon của rừng trồng Bạch đàn Urophylla tại Yên Bình – Yên Bái làm cơ sở cho việc đánh giá giảm phát thải khí CO2 trong cơ chế phát triển sạch, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu trữ lượng các bon của rừng trồng Bạch đàn Urophylla tại Yên Bình – Yên Bái làm cơ sở cho việc đánh giá giảm phát thải khí CO2 trong cơ chế phát triển sạch
Tác giả: Nguyễn Văn Tấn
Năm: 2006
11. Vũ Văn Thông (1998), Nghiên cứu sinh khối rừng Keo lá tràm phục vụ công tác kinh doanh rừng, Luận văn thạc sỹ lâm nghiệp. Trường đại học lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh khối rừng Keo lá tràm phục vụ công tác kinh doanh rừng
Tác giả: Vũ Văn Thông
Năm: 1998
12. Hoàng Mạnh Trí (1986), Góp phần nghiên cứu sinh khối và năng suất quần xã Đước Đôi ở Cà Mau, Minh Hải, Luận án Phó tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu sinh khối và năng suất quần xã Đước Đôi ở Cà Mau, Minh Hải
Tác giả: Hoàng Mạnh Trí
Năm: 1986
13. Hà Văn Tuế (1994), Nghiên cứu cấu trúc và năng suất của một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng Trung du Vĩnh Phúc, Tóm tắt luận án Phó tiến sĩ khoa học sinh học, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, Viện sinh thái và tài nguyên thực vật.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc và năng suất của một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng Trung du Vĩnh Phúc
Tác giả: Hà Văn Tuế
Năm: 1994
14. Arild Angelsen and Sven Wunder (2003), Exploring the Forest – Poverty link. Key concept, issues and research implications, CIFOR Occasional Paper No. 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploring the Forest – Poverty link
Tác giả: Arild Angelsen and Sven Wunder
Năm: 2003
15. Liebig J.V (1840), Organnic chemistry and its Applications to Agriculture and physiology, London Taylor and Walton. 387 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organnic chemistry and its Applications to Agriculture and physiology
16. Cannell, M.G.R (1982), World forest Biomass and Primary Production Data, Academic Press Inc (London). 391 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: World forest Biomass and Primary Production Data
Tác giả: Cannell, M.G.R
Năm: 1982
5. Ngô Đình Quế và cộng sự (2006),'' khả năng hấp thụ CO2 của một số loại rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam '', tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn số 7 Khác
9. Ngô Đình Quế và cộng sự (2006), '' Khả năng hấp thụ CO2 của một số dạng rừng chủ yếu ở Việt Nam '', Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn Khác
17. Rodel D. Lasco (2002), Forest Các bon budgets in Southeast Asia following harvesting and land cover change, Report to Asia Pacific Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. lƣợng các bon tích lũy trong các kiểu rừng - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
Bảng 1.1. lƣợng các bon tích lũy trong các kiểu rừng (Trang 17)
Hình 2.1 Sơ đồ ranh giới khu vực nghiên cứu - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
Hình 2.1 Sơ đồ ranh giới khu vực nghiên cứu (Trang 22)
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí các ô đo đếm - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí các ô đo đếm (Trang 31)
Hình 3.1. Bố trí ô tiêu chuẩn vệ tinh - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
Hình 3.1. Bố trí ô tiêu chuẩn vệ tinh (Trang 31)
Bảng 4.2. Bảng mô tả đặc điểm của các OTC  đo đếm ngoài thực địa - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
Bảng 4.2. Bảng mô tả đặc điểm của các OTC đo đếm ngoài thực địa (Trang 39)
Bảng 4.3. Sinh trưởng của các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
Bảng 4.3. Sinh trưởng của các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 4.4 : Công thức tổ thành  tầng cây gỗ các trạng thái rừng nghiên - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
Bảng 4.4 Công thức tổ thành tầng cây gỗ các trạng thái rừng nghiên (Trang 40)
Bảng 4.6 : Các bon trong tầng cây bụi, thảm tươi, cây tái sinh của từng - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
Bảng 4.6 Các bon trong tầng cây bụi, thảm tươi, cây tái sinh của từng (Trang 45)
Bảng đo đếm các giá trị khối lượng tầng thảm mục    OTC - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
ng đo đếm các giá trị khối lượng tầng thảm mục OTC (Trang 56)
Bảng đo đếm các giá trị khối lượng tầng cây bụi thảm tươi OTC - Đánh giá khả năng tích lũy các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã thần sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng   huyện võ nhai   tỉnh thái
ng đo đếm các giá trị khối lượng tầng cây bụi thảm tươi OTC (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w