Quan hệ đối tác Công – Tư (PPP) được coi là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước có được cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ lợi ích công và phát triển kinh tếxã hội. Tầm quan trọng của hình thức hợp tác này đã được khẳng định ở các nước phát triển. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì PPP được xem là công cụ cải cách quan trọng lĩnh vực quản lý công. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, sử dụng được kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả trong quản lý của khu vực tư nhân; buộc khu vực nhà nước ngay từ đầu phải chú trọng vào đầu ra và lợi ích; đưa vốn tư nhân vào và giúp giảm nhẹ gánh tài chính cho dự án; rủi ro được chia sẻ giữa các đối tác khác nhau…Vậy mô hình đối tác công tư có phải là một phép màu và là chìa khóa vạn năng cho mọi vấn đề?Hay nó còn có những nhược điểm gì cần khắc phục? Trùng với quan điểm này, có một học giả đã nhận định rằng: “Đối tác công tư là một trong những định hướng cải cách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà nước. Tuy nhiên, đối tác công tư không phải là “cây đũa thần” để giải quyết vấn đề cải thiện chất lượng hoạt động của Nhà nước”
Trang 1Phân tích luận điểm: “Đối tác công tư là một trong những định hướng cải cách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà nước Tuy nhiên, đối tác công tư không phải là “cây đũa thần” để giải quyết vấn đề cải thiện chất lượng hoạt động của Nhà nước”.
BÀI LÀM
Quan hệ đối tác Công – Tư (PPP) được coi là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước có được cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ lợi ích công và phát triển kinh tế-xã hội Tầm quan trọng của hình thức hợp tác này đã được khẳng định
ở các nước phát triển Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì PPP được xem là công cụ cải cách quan trọng lĩnh vực quản lý công Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao,
sử dụng được kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả trong quản lý của khu vực tư nhân; buộc khu vực nhà nước ngay từ đầu phải chú trọng vào đầu ra và lợi ích; đưa vốn tư nhân vào và giúp giảm nhẹ gánh tài chính cho dự án; rủi ro được chia sẻ giữa các đối tác khác nhau…
Vậy mô hình đối tác công tư có phải là một phép màu và là chìa khóa vạn năng cho mọi vấn đề?Hay nó còn có những nhược điểm gì cần khắc phục? Trùng với quan điểm này, có một học giả đã nhận định rằng: “Đối tác công tư là một trong những định hướng cải cách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà nước Tuy nhiên, đối tác công tư không phải là “cây đũa thần” để giải quyết vấn đề cải thiện chất lượng hoạt động của Nhà nước”
Để hiểu rõ về luận điểm này, chúng ta cần nắm rõ khái niệm, lĩnh vực đối tác công tư tại Việt Nam(được quy định tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP), những nguyên tắc, lợi ích, khó khăn, thuận lợi, hạn chế của hình thức PPP cũng như tình hình thực hiện các dự án theo hình thức PPP tại Việt Nam Cụ thể:
1 Hình thức đối tác công tư là gì
1.1 Khái niệm
Trang 2Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (sau đây gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công
1.2 Đặc điểm của PPP
- Đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi hài hòa giữa các bên
- Sự tham gia của nhà nước
- Cơ chế tài chính của dự án PPP (khả thi về mặt tài chính, không làm tăng
nợ công)
- Không phải là tư nhân hóa, nhà nước vẫn nắm quyền sở hữu, quản lý Khi kết thúc dự án, nhà nước sẽ sở hữu công trình hoặc dịch vụ được tạo ra
1.3 Những lợi ích của hình thức đối tác công tư(PPP):
- Để mở rộng việc cung cấp dịch vụ công
- Tăng cường nguồn lực đầu tư trong khi ngân sách của chính phủ còn hạn chế
- Giúp chính phủ tránh được những khoản nợ, giữ mức nợ chính phủ trong giới hạn an toàn; không làm tăng thâm hụt ngân sách
- Tăng hiệu quả kinh tế Vì mục tiêu lợi nhuận nên các nhà đầu tư tư nhân phải tìm cách để dự án được vận hành hiệu quả hơn Thêm vào đó, với việc tham gia của khu vực tư nhân, sự sáng tạo, trách nhiệm giải trình cũng như sự minh bạch
có khả năng sẽ được cải thiện
- Xã hội và nhà nước hỗ trợ khu vực tư nhân (trong và ngoài nước) thể hiện vai trò tích cực của trong tăng trưởng kinh tế
- Tìm phương thức quản lý và đầu tư mới
- Tăng cường hiệu quả trong việc phân phối, điều hành và quản lý dự án về
hạ tầng
- Có các nguồn lực bổ sung để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của việc đầu
tư vào cơ sở hạ tầng
Trang 3- Có cơ hội tiếp cận và nắm bắt các công nghệ tiên tiến (cả phần cứng và phần mềm)
Mô hình PPP trở nên hấp dẫn với chính phủ các nước đang phát triển vì nó được đánh giá như là một cơ chế ngoài ngân sách phục vụ cho phát triển cơ sở hạ tầng như:
- Giúp tăng cường cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng cần thiết
- Áp dụng mô hình PPP có thể không yêu cầu bất kỳ chi tiêu tiền mặt ngay lập tức qua đó giúp làm giảm gánh nặng của chi phí thiết kế và xây dựng
- Cho phép chuyển nhượng nhiều rủi ro dự án sang khu vực tư nhân
- Mô hình PPP giúp đưa ra những lựa chọn tốt hơn về thiết kế, công nghệ, xây dựng, sự vận hành và chất lượng cung cấp dịch vụ hạ tầng
1.4 Những nhược điểm của PPP
Nhược điểm lớn nhất của mô hình PPP là chi phí lớn hơn do các nhà đầu tư
tư nhân yêu cầu một suất sinh lợi cao hơn Để tiến hành PPP, nhà nước phải bỏ ra chi phí (các khoản hỗ trợ, kích thích đối tác tư nhân, mất nguồn thu phí trong trường hơp đối tác tư nhân được thu phí, …) Xét trong ngắn hạn, nhà nước không phải chi ngân sách nhưng vẫn có nguồn vốn để đầu tư Tuy nhiên, về dài hạn, tổng chi phí giữa việc nhà nước tự đầu tư so với việc thực hiện PPP có thể là tương đương hoặc lớn hơn (trừ trường hợp đối tác tư nhân xây dựng, thực hiện dự án, cung cấp dịch vụ có hiệu quả hơn so với nhà nước)
Hơn thế, mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích cá nhân cũng là một vấn
đề Các dự án PPP thường có tổng mức đầu tư rất lớn, đối tác tư nhân có thể phải
đi vay để đầu tư Vì vậy, cần phải xem xét liệu những lợi ích của PPP có lớn hơn chi phí phải trả từ việc khu vực tư nhân đi vay với lãi suất cao hơn chính phủ đi vay hay không?
- Không phải tất cả các dự án PPP đều có tính khả thi do các nguyên nhân về chính trị, pháp lý, hay tính khả thi thương mại
Trang 4- Khu vực tư nhân có thể không quan tâm đến một dự án PPP do rủi ro cao xuất phát từ năng lực nhận thức của các bên tham gia về một dự án PPP hoặc có thể là sự hạn chế về mặt kỹ thuật, năng lực tài chính, trình độ quản lý thực hiện dự án
- Một dự án PPP có thể tốn kém hơn một dự án thông thường, trừ khi các khoản chi phí tăng thêm (chi phí tài chính và chi phí vận hành dự án) có thể được
bù đắp thông qua việc tăng tính hiệu quả của dự án
- Thay đổi trong hoạt động quản lý và kiểm soát tài sản của các cơ sở hạ tầng thông qua một dự án PPP có thể không đủ để cải thiện hiệu suất kinh tế của
nó, trừ khi các điều kiện cần thiết khác được đáp ứng Những điều kiện này có thể bao gồm môi trường hoạt động thích hợp, cải cách hành chính, và thay đổi trong thực tiễn hoạt động cũng như quản lý hoạt động của cơ sở hạ tầng
- Thông thường, sự thành công của một dự án PPP phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của công tác quản lý và phối hợp giữa các bên liên quan trong hợp đồng PPP
Ngoài ra, thiếu ngân sách của chính phủ được xem là yếu tố chính trong việc xem xét một dự án PPP Các khoản chi phí tăng thêm trong một dự án PPP thường
là chi phí vay vốn đối với khu vực tư nhân cao hơn so với khu vực công cộng, và các chi phí hành chính liên quan đến việc quản lý hợp đồng PPP Chi phí giao dịch của các dự án PPP cũng rất đáng kể
2 Tình hình thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư tại Việt Nam
2.1 Một số hình thức hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công
tư tại Việt Nam:
1 Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu
Trang 5tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu
tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định
3 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện Dự án khác theo các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 14 và Khoản 3 Điều 43 Nghị định 15
4 Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định
5 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTL) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu
tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch
vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định này
6 Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BLT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu
tư được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong
Trang 6một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định này; hết thời hạn cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
7 Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (sau đây gọi tắt là hợp đồng O&M) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn nhất định
Lĩnh vực đầu tư của các dự án đầu tư theo hình thức hợp tác công tư là các
dự án xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp trang thiết bị hoặc dịch vụ công gồm:
a) Công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có liên quan; b) Hệ thống chiếu sáng; hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước;
hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải; nhà ở xã hội; nhà ở tái định cư; nghĩa trang;
c) Nhà máy điện, đường dây tải điện;
d) Công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
đ) Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khí tượng thủy văn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung; ứng dụng công nghệ thông tin;
e) Công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển liên kế
2.2 Những nguyên tắc của hình thức đối tác công tư tại Việt Nam:
- Thu hút được nguồn vốn ñầu tư của khu vực tư nhân trong và ngoài nước cho phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ công
- Vốn của khu vực tư nhân tham gia dự án được huy động theo nguyên tắc không dẫn đến nợ công
Trang 7- Vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư trong dự án phải đảm bảo tối thiểu bằng 30% phần vốn của khu vực tư nhân tham gia dự án Vốn vay thương mại (không có bảo lãnh của Chính phủ) tới mức tối đa bằng 70% phần vốn của khu vực tư nhân
- Cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế, phù hợp với pháp luật Việt Nam, theo tập quán và thông lệ quốc tế
2.3 Lĩnh vực thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư tại Việt Nam:
- Đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ
- Đường sắt, cầu đường sắt, hầm đường sắt
- Giao thông đô thị
- Cảng hàng không, cảng biển, cảng sông
- Hệ thống cung cấp nước sạch
- Nhà máy điện
- Y tế (bệnh viện)
- Môi trường (nhà máy xử lý chất thải)
- Các Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
3 Tình hình thực hiện các dự án theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009 đã có 32
dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ đô
la Trong đó mô hình BOT và BOO là chủ yếu Hai lĩnh vực đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất là điện và viễn thông Từ những năm 1990 đến nay có khoảng 26 dự án thực hiện theo hình thức BOT với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO
Theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2010 tổng số dự án cấp mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án,
Trang 8trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự
án cấp mới Nhưng số lượng dự án cấp mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự án, chiếm, tỷ trọng cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư
Theo số liệu của Cục quản lý đấu thầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng số dự án PPP được đề xuất hiện nay là 186 dự án, gồm 165 dự án đề xuất từ UBND tỉnh/thành phố, 21 dự án đề xuất từ các bộ ngành Trong đó lĩnh vực giao thông chiếm 30%, môi trường chiếm 25%, dịch vụ thương mại chiếm 25%, năng lượng-y tế-nông nghiệp chiếm 20% và các lĩnh vực khác chiếm 5%
3.1 Những khó khăn và thách thức:
+ Khung pháp lý cho mô hình PPP chưa được hoàn thiện, chưa có Luật về PPP và các văn bản hưởng dẫn chưa đầy đủ
Khảo sát của Trung tâm Thông tin và Dự báo KT - XH Quốc gia cho thấy, các nhà tư vấn nước ngoài đánh giá môi trường thể chế về PPP ở Việt Nam chưa cao, vẫn còn những hạn chế Ví như, cụm từ “thí điểm” tạo cảm giác bất an và không chắc chắn đối với các nhà đầu tư
Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư cũng không nêu được định nghĩa rõ ràng về PPP Những lĩnh vực của PPP rất hạn hẹp, mặc dù các điều khoản cho phép Chính phủ có thể bổ sung, nhưng cơ chế kém minh bạch và rắc rối này được đánh giá là cách thức không tích cực Quy định về mức tham gia tối đa của vốn nhà nước là 30% sẽ loại
bỏ tới 80% các dự án PPP, trong khi không có quy định rõ phần đóng góp của Nhà nước cụ thể bao gồm những nội dung nào
Bên cạnh đó, theo các nhà tư vấn, việc Quyết định 71 không khuyến khích hình thức nhà đầu tư tự đề xuất dự án PPP là không phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng như không hoàn toàn phù hợp với điều kiện hiện nay của nước ta Quy trình phê duyệt dự án PPP còn phức tạp và thẩm quyền cuối cùng của mọi dự án PPP đều thuộc Thủ tướng Chính phủ, kể cả các dự án nhỏ Tư vấn quốc tế đánh giá đặc
Trang 9điểm này là không tích cực Chúng ta cũng chưa có một khung pháp lý đồng nhất cho những dự án theo hình thức PPP Nghị định 108/2009/NĐ-CP dành cho các dự
án BOT và Quyết định 71 dành cho các dự án PPP có những nội dung không đồng nhất và cũng không kết nối với nhau
Nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo Quốc gia cũng chỉ ra rằng, năng lực thực hiện của các cơ quan nhà nước còn hạn chế, đặc biệt là ở cấp địa phương Cho đến nay, quá khứ và hồ sơ thực hiện dự án theo hình thức PPP đúng nghĩa hầu như không có, là điều nhà đầu tư quan ngại và không phản ứng tích cực
+ Chưa thấy rõ nét hình thức hợp tác công - tư, mà mới chỉ thấy hình thức hợp tác công - công
Về thực tế triển khai thí điểm dự án PPP theo Quyết định 71, hiện nay tình
trạng ôm dự án rất phổ biến, chỉ định thầu là chủ yếu Hầu hết các doanh nghiệp,
Tập đoàn, Tổng công ty, công ty nhà nước đều hoạt động chủ yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng Trong khi, các doanh nghiệp này chính là nòng cốt của nền kinh
tế và nhiều công ty đang là nhà đầu tư của những dự án lớn
Điều này cũng cho thấy, nhà đầu tư Việt Nam không có vốn, hoạt động nhờ
vốn ngân hàng, mà chủ yếu là ngân hàng thương mại nhà nước, rồi sau đó xin trái
phiếu Chính phủ là đủ vốn để tham gia các dự án đầu tư “Như vậy, xét cho cùng hợp tác công - tư thực chất là công – công Chính vì vậy, khi có lợi thì nhà đầu tư nhảy vào, nhưng khi thua lỗ lại mang trả Nhà nước
+ Cán bộ thực hiện chưa được đào tạo bài bản về lĩnh vực PPP và chưa có kinh nghiệm về mô hình đầu tư này
+ Do nguồn vốn đầu tư công bị hạn chế nên gặp nhiều khó khăn trong việc phân bổ nguồn vốn nhà nước tham gia vào các dự án PPP
+ Trong bối cảnh khủng hoảng kinh té toàn cầu, khả năng hỗ trợ của các nhà tài trợ, tổ chức tài chính và nhà đầu tư nước ngoài đối với các dự án PPP tại Việt Nam bị hạn chế
3.2 Những giải pháp khắc phục
Trang 103.2.1 Hoàn thiện cơ bản về khung pháp lý về PPP
Để khắc phục hạn chế trên cần phải có một khung khổ pháp lý có hiệu lực cao hơn (luật về PPP), bằng cách hợp nhất Nghị định số 108/2009/NĐ-CP, Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg thành Nghị định về đầu tư theo hình thức PPP và Nghị định số 15/2015
Việc xây dựng khung pháp lý phải giải quyết được các vấn đề: hai bên tham gia đến đâu? Trách nhiệm đến đâu? Quyền lợi đến đâu? Tức, để bảo đảm tính chất công, Nhà nước có thể can thiệp bất cứ lúc nào khi có thương hại đến lợi ích của cộng đồng Vì vậy, không nên quy định mức tỷ lệ cứng, nhưng phải quy định rõ những quyền và trách nhiệm của hai bên Để không còn “công – công”, thì bản thân dự án phải làm rõ được sinh lời ở đâu và bao nhiêu thì mới hấp dẫn nhà đầu tư
Với mục đích mong muốn thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân vào phát triển
cơ sở hạ tầng trong bối cảnh khung thể chế còn chứa nhiều rủi ro tiềm tàng và phải cạnh tranh với các nước trong khu vực nên việc hoàn thiện hơn nữa các chính sách
về PPP và tiến tới xây dựng Luật Đầu tư đối tác công - tư là hết sức cần thiết Cụ thể:
- Làm rõ các hình thức hợp tác trong PPP và phạm vi áp dụng;
- Thành lập và vận hành một tổ chức quản lý PPP ở cấp quốc gia, chịu trách nhiệm xúc tiến các dự án PPP;
- Các quy định cụ thể về xây dựng dự án tiền khả thi, khả thi, đánh giá thẩm định dự án PPP trước khi đấu thầu;
- Các quy định cụ thể liên quan đến đấu thầu và lựa chọn nhà cung ứng: Thủ tục đấu thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, chấm thầu, công bố kết quả;
- Các quy định cụ thể về các hình thức và nội dung trong hợp đồng PPP;
- Làm rõ các rủi ro có thể, các tranh chấp có thể phát sinh, các bên có liên quan về cách giải quyết cũng như trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện dự án