1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu tiểu luận cao học

22 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 128,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày nay, xu hướng quốc tế hoá sản xuất và đời sống ngày càng một gia tăng, cách mạng khoa học – kỹ thuật trên thế giới diễn ra như vũ bão thì công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, với việc đổi mới và nâng cao trình độ văn hoá giáo dục, khoa học – công nghệ. Đó cũng là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, trong đó vai trò của khoa học, công nghệ được Đảng Cộng sản Việt Nam coi là nền tảng, là động lực. Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của mỗi quốc gia. Phần thắng trong cuộc chiến “ai thắng ai” trên thị trường, suy cho cùng là do trí tuệ và năng lực sáng tạo của cả dân tộc, biết học hỏi một cách khôn ngoan kinh nghiệm và thành tựu tri thức của nhân loại, tận dụng được lợi thế của người đi sau, đề ra được những chủ trương, biện pháp thích hợp với đất nước trong hoàn cảnh mới, giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ, kỹ thuật, môi trường, sinh thái. Ngày nay, không một quốc gia nào lại không nhận thức được vai trò then chốt của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rằng: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” (1). Điều đó nói lên vai trò to lớn của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, cả về lý luận và thực tiễn, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thời kỳ quan trọng nhất của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thực hiện sự lãnh đạo đối với khoa học và công nghệ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay, xu hướng quốc tế hoá sản xuất và đời sống ngàycàng một gia tăng, cách mạng khoa học – kỹ thuật trên thế giới diễn ra như vũbão thì công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, với việc đổi mới và nângcao trình độ văn hoá - giáo dục, khoa học – công nghệ Đó cũng là nhiệm vụtrung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, trong đóvai trò của khoa học, công nghệ được Đảng Cộng sản Việt Nam coi là nền tảng,

là động lực Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh vàtốc độ phát triển của mỗi quốc gia Phần thắng trong cuộc chiến “ai thắng ai”trên thị trường, suy cho cùng là do trí tuệ và năng lực sáng tạo của cả dân tộc,biết học hỏi một cách khôn ngoan kinh nghiệm và thành tựu tri thức của nhânloại, tận dụng được lợi thế của người đi sau, đề ra được những chủ trương, biệnpháp thích hợp với đất nước trong hoàn cảnh mới, giải quyết có hiệu quả các vấn

đề kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ, kỹ thuật, môi trường, sinh thái

Ngày nay, không một quốc gia nào lại không nhận thức được vai trò thenchốt của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển đất nước Đảng Cộng sản

Việt Nam đã khẳng định rằng: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” (1) Điều đó nói lên vai trò tolớn của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, cả về lý luận và thực tiễn,trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thời kỳ quantrọng nhất của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa

xã hội Vì vậy, thực hiện sự lãnh đạo đối với khoa học và công nghệ là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam

1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 112.

Trang 2

B NỘI DUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ.

1 Vị trí, vai trò của khoa học công nghệ.

Khoa học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ra đời vào thời kỳ chế

độ chiếm hữu nô lệ, khi xã hội đã có sự phân công lao động thành lao động trí óc

và lao động chân tay Có thể nói khoa học là kết quả tất yếu của phân công laođộng xã hội, khoa học xuất hiện khi hình thức lao động trí óc đã hình thành vàtách biệt hẳn với hình thức lao động chân tay

Khoa học về một phương diện nào đó, có thể hiểu là một tập hợp nhữnghiểu biết về tự nhiên, xã hội, tư duy và quy luật khách quan của sự phát triển củachúng trên cơ sở thực tiễn xã hội

Công nghệ, hiểu một cách chung nhất là một tập hợp những tri thức hướngvào cải tạo tự nhiên, phục vụ nhu cầu của con người Các công nghệ sản xuất làmột tập hợp các phương pháp, quy tắc, kỹ năng và kỹ xảo được sử dụng trongquá trình tác động vào đối tượng lao động để tạo ra một dạng sản phẩm nào đó

Sự tác động đó thường phải thông qua các phương tiện vật chất như: máy móc,công cụ, v.v

Xem xét vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế,

xã hội, văn hoá nói chung và phát triển kinh tế nói riêng, các nhà khoa học chorằng, khoa học và công nghệ vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế, xã hội, vănhoá, vừa là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi tích cực về mặt xãhội và nâng cao giá trị văn hoá của dân tộc, của vùng và thế giới

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng kiến những bước ngoặtcách mạng của khoa học và công nghệ Sau mỗi bước ngoặt đó, những biến đổitrong tri thức khoa học, trong cách thức sản xuất kéo theo những biến động tolớn trong đời sống chính trị – xã hội, làm thay đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vựckinh tế, văn hoá, xã hội dẫn đến sự thay đổi về chất của xã hội cũ, hình thànhnền văn minh mới với những đặc trưng hoàn toàn khác Đặc biệt, cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác động đến tất cả các lĩnh vực khoa

Trang 3

học, đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho bộ mặt thế giới đổi thay

sử trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể Trong lĩnh vực khoa học và công nghệcũng vậy, cơ sở lý luận để hình thành quan điểm của Đảng chính là những tưtưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về khoa học và công nghệ

C Mác nói: “Khoa học là động lực của sự phát triển xã hội, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn công nghệ được đổi mới hết sức nhanh chóng”(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận”(2) Trình độ dân trí, tiềmlực khoa học, công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế củamỗi quốc gia trên thế giới Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại trên thế giới đang phát triển hết sức mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sựphát triển của tất cả các nước, đến mọi lĩnh vực của xã hội loài người Khoa học

và công nghệ càng có vai trò quan trọng đối với các nước chậm phát triển trongviệc xây dựng nền tảng vật chất cho chế độ mới

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội, ĐảngCộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm đến giáo dục và đào tạo, khoa học vàcông nghệ Đảng đã ra một loạt nghị quyết, trong đó xác định vị trí, vai trò,phương hướng và nhiệm vụ của khoa học và công nghệ

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: khoa học và công nghệ là nềntảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chỉ ra thực chất của công nghiệp hoá là thực hiện một cuộc cách mạng kỹ thuật nhằm chuyển nềnkinh tế từ tình trạng năng suất thấp, hiệu quả thấp sang nền kinh tế có năng suấtcao, hiệu quả cao dựa trên sản xuất công nghiệp, sử dụng khoa học và côngnghệ Để công nghiệp hoá phải đổi mới công nghệ trong tất cả các lĩnh vực, phát

Trang 4

triển những ngành mới, nhất là những ngành công nghệ cao, tạo sự dịch chuyển

cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh các ngành có giá trị gia tăng cao Đểlàm được điều đó, không thể không dựa vào khoa học và công

1 V.I Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979 T 17, tr 20.

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, T 12, tr 501.

nghệ Khoa học, công nghệ có phát triển mạnh thì mới có thể đẩy nhanh sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Cùng với quá trình nhận thức của Đảng về vai trò của khoa học và côngnghệ, các chủ trương, đường lối của Đảng vạch ra ngày càng đúng đắn hơn, hoànthiện hơn Có thể nói, với sự ra đời của Nghị quyết hai Ban Chấp hành Trungương khoá VIII, vai trò, vị trí của khoa học, công nghệ được Đảng Cộng sản ViệtNam nhìn nhận và trình bày theo một hệ thống chỉnh thể các quan điểm hết sức

rõ ràng:

1 Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàngđầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độclập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học, công nghệ Đảng và Nhà nước cóchính sách đầu tư khuyến khích, hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ

2 Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động củatất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vàcủng cố quốc phòng – an ninh

Khoa học và công nghệ gắn với giáo dục và đào tạo, khoa học tự nhiên và

kỹ thuật gắn với khoa học xã hội và nhân văn

3 Phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn dân.Phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần chúng, của các tập thể khoa học vàcông nghệ, của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức chính trị –

xã hội và của mỗi công dân trong hoạt động khoa học, công nghệ

4 Phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với tiếpthu thành tựu khoa học, công nghệ thế giới

5 Phát triển khoa học, công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môitrường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững

Trang 5

3 Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ.

Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ được Đảng Cộng sản Việt Namxác định rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (khoá VIII) và

được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước”(1)

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 205.

Để đạt mục tiêu đó, nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và côngnghệ trong thời gian tới cần tập trung vào các vấn đề sau:

Một là, Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển khoa

học và công nghệ gắn với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước:

Phát triển khoa học và công nghệ phải đáp ứng yêu cầu nâng cao mặt bằngdân trí để tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong tất cảcác lĩnh vực đời sống xã hội Khoa học và công nghệ phải bảo đảm luộn cứ khoahọc cho việc xây dựng các chủ trương, đường lối phát triển đất nước; lựa chọn,tiếp thu và làm chủ các công nghệ từ bên ngoài kết hợp với cải tiến công nghệtruyền thống, nâng cao trình độ công nghệ trên tất cả các lĩnh vực sản xuất đảmbảo năng suất, chất lượng và hiệu quả đạt trình độ công nghệ trung bình trongkhu vực ở những ngành sản xuất và dịch vụ chủ yếu

Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trên cơ sở xây dựng đội ngũ trithức đông về số lượng, mạnh về chất lượng; tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuậtcho khoa học và công nghệ, tập trung xây dựng một số ngành khoa học và côngnghệ tiên tiến trên các lĩnh vực công nghệ trọng điểm

Hai là, Đảng lãnh đạo đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động khoa

học và công nghệ bằng việc:

Kiện toàn tổ chức và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhànước về khoa học và công nghệ từ trung ương đến cấp huyện, nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và công nghệ, tăng cường công tác thanhtra, kiểm tra hoạt động

Trang 6

Đổi mới cơ chế đầu tư cho khoa học và công nghệ theo hướng lấy hiệuquả kinh tế – xã hội làm mục tiêu và kiểm tra chặt chẽ nguồn kinh phí đầu tư củaNhà nước cho khoa học và công nghệ.

Ban hành và từng bước hoàn thiện luật khoa học và công nghệ trên tinhthần Nhà nước quản lý thống nhất các hoạt động khoa học và công nghệ, đồngthời có sự phân cấp quản lý và phát huy tính chủ động của các cơ quan khoa học

và công nghệ

Củng cố và tăng cường hoạt động của các hội khoa học và công nghệ,khuyến khích thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài khu vực nhànước Tăng cường hoạt động của các hội khoa học trong việc phổ biến, triển khai

và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng cao vai tròchính trị – xã hội của các tổ chức đó và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chứckhoa học và công nghệ hoạt động có hiệu quả cao

Ba là, Đảng lãnh đạo việc đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên

truyền, phổ cập kiến thức khoa học và công nghệ, trong đó cần tập trung:

Đẩy mạnh các dịch vụ tư vấn, thông tin khoa học và công nghệ về lãnhđạo, quản lý, nghiên cứu khoa học; đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp, đặcbiệt là công nghệ thông tin

Phát triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông tin và khoa học

và công nghệ nước ngoài

Phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học, phát huy sángkiến, cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vàosản xuất và đời sống

Bốn là, Đảng lãnh đạo tạo lập thị trường và đổi mới chính sách khoa học

và công nghệ

Tạo lập thị trường và đổi mới chính sách khoa học và công nghệ sẽ tạođộng lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ Vì vậy,

sự lãnh đạo của Đảng cần tập trung các nội dung sau:

+ Sử dụng các công cụ thích hợp trên cơ sở pháp luật để cho các doanhnghiệp có điều kiện ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh, trong

đó đặc biệt ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước và các lĩnh vực yêu cầu ứngdụng công nghệ cao

Trang 7

+ Tạo điều kiện cho các cơ quan nghiên cứu, triển khai khoa học và côngnghệ hoạt động một cách nhanh nhạy, đáp ứng được yêu cầu thị trường; bảo hộquyền sở hữu trí tuệ cho họ và tạo điều kiện cho các sản phẩm trí tuệ được lưuthông trên thị trường như là một thứ hàng hoá đặc biệt.

+ Có chính sách thoả đáng cho cán bộ khoa học và công nghệ cả về vậtchất và tinh thần, điều kiện và môi trường làm việc, cập nhật thông tin; biểudương và tôn vinh những người có đóng góp lớn, những chuyên gia hàng đầu;tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ

cả về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và trình độ trí tuệ; khuyến khích

và tạo điều kiện cho trí thức Việt kiều về nước tham gia hoạt động khoa học vàcông nghệ; xây dựng và đảm bảo quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học vàcông nghệ; mở rộng hợp tác quốc tế và tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ

từ nhiều nguồn khác nhau

4 Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ.

Một là, Đảng đề ra các chủ trương, đường lối, chiến lược về khoa học vàcông nghệ gắn với điều kiện thực tiễn của đất nước và xu hướng phát triển củathời đại Cấp uỷ đảng ở địa phương, các ngành đề ra những chủ trương công tác

cụ thể về hoạt động của lĩnh vực này Trên cơ sở những quan điểm, nhữngnguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về khoa học và công nghệ, các cấp chínhquyền và đoàn thể chính trị – xã hội cụ thể hoá thành pháp luật, thành các quychế, quy định để tổ chức thực hiện trong thực tiễn phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ, với từng giai đoạn lịch sử, với từng địa phương, đơn vị cụ thể

Hai là, Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhànước về khoa học và công nghệ thật sự trong sạch, vững mạnh để các tổ chứcnày có đủ khả năng và uy tín chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủtrương, đường lối của Đảng về khoa học và công nghệ Xây dựng cơ chế quản lýhợp lý trên tinh thần từng bước xoá bỏ sự hành chính hoá trong khoa học vàcông nghệ và tạo môi trường thuận lợi để phát huy cao nhất tính chủ động sángtạo trong lĩnh vực này Các cơ quan quản lý điều tiết, kiểm tra, giám sát sự đầu

tư của Nhà nước vào lĩnh vực này một cách chặt chẽ, hợp lý, có hiệu quả

Ba là, Đảng kiểm tra việc quán triệt và thực hiện các quan điểm, nguyêntắc, tư tưởng chỉ đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong

Trang 8

các cơ quan khoa học và công nghệ; đồng thời kiểm tra qua các tổ chức quầnchúng, sự giám sát của nhân dân trên lĩnh vực đó Các tổ chức đảng phải tăngcường củng cố tổ chức để thật sự trở thành hạt nhân lãnh đạo trong các cơ quankhoa học và công nghệ; tích cực phát triển đảng viên trong lĩnh vực hoạt độngnày Mỗi đảng viên của Đảng phải thật sự có năng lực trí tuệ, phẩm chất chínhtrị, đạo đức cách mạng, tiên phong gương mẫu, thực sự có uy tín trong tập thể,được quần chúng tin tưởng.

Bốn là, Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra các quan điểm về cán bộ, công táccán bộ và chính sách cán bộ Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý nhà nước và các

tổ chức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ lập chương trình, kế hoạch xâydựng đội ngũ cán bộ theo yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức mình Đảng không canthiệp trực tiếp vào công việc của các cơ quan đó, nhưng Đảng cử những cán bộ

có năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức tốt nắm giữ các cương vị lãnh đạo,quản lý chủ chốt trong các cơ quan đó, trên cơ sở uy tín cán bộ và bầu cử dânchủ

Nói cách khác, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và côngnghệ là bằng đường lối, chính sách; bằng vai trò tiên phong gương mẫu của các

tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan đó; băng công tác tư tưởng, côngtác tổ chức và cán bộ; bằng phát huy tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sángtạo trong hoạt động của các tổ chức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; bằngvai trò làm chủ của quần chúng nhân dân

II VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

1 Sự phát triển của khoa học và công nghệ trong thời gian qua.

Qua hơn 20 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm trở lại đây, Đảng và Nhànước Việt Nam đã đặc biệt chú trọng đẩy mạnh hoạt động khoa học và phát triểncông nghệ của đất nước, trên thực tế, hoạt động này đã đạt được nhiều kết quảđáng kể, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật, trên 2.250.000người có trình độ đại học và cao đẳng, trên 18.000 thạc sỹ và 16.000 tiến sỹ và

Trang 9

tiến sỹ khoa học, trong đó có 610 tiến sỹ khoa học Bình quân có 193 cán bộkhoa học công nghệ trên 10.000 dân

Theo báo cáo phát triển con người năm 2004 của UNDP, ở Việt Nam đang

có khoảng 50.000 người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học

và phát triển công nghệ Trong số này có hơn 37.000 người (72% có trình độ đạihọc trở lên) làm việc trong các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ của Nhà nước, với 68,9% làm việc theo chế độ biên chế và 31,1% làm việctheo chế độ hợp đồng

Các kết quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của Việt Namđược thể hiện rõ ràng nhất thông qua số lượng các công trình khoa học đượccông bố và số lượng các đăng ký sáng chế hằng năm ở Việt Nam

Có thể nhận thấy trong 10 năm gần đây, số lượng bài báo đăng trên các tạpchí khoa học và công nghệ trong nước đã tăng hơn gấp 3 lần Tuy nhiên, số côngtrình, bài báo khoa học của Việt Nam công bố ở nước ngoài mới đạt khoảng 300bài/ năm Trong giai đoạn 1998 – 2002, tỷ lệ số bài báo khoa học của Việt Namtrên tổng só của thế giới chỉ đạt 0,02% Trong lúc đó ở Hàn Quốc và Đài Loan:0,77%; Xin-ga-po: 0.25%; Thái Lan: 0,11%; Ma-lai-xi-a: 0,08%; Phi-líp-pin:0,05%; In-đô-nê-xi-a: 0,04%

Số lượng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích chủ yếu là do các doanhnghiệp đầu tư nước ngoài đăng ký thông qua nhập khẩu công nghệ Số lượngđăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích của người Việt Nam mới đạt khoảng 10%trong một số năm gần đây Số đăng ký sáng chế quốc tế của Việt Nam trong 5năm (2001 – 2005) chỉ có 11 đơn, trong khi đó của một số nước trong khu vực

và trên thế giới là: Ma-lai-xi-a: 147; Phi-líp-pin: 85; Thái Lan: 39; In-đô-nê-xi-a:36; Hàn Quốc: 15.000; Nhật Bản: 87.620; Mỹ: 206.710 Những con số trên chothấy trình độ khoa học và công nghệ của Việt Nam vẫn còn một khoảng cách lớn

so với ngay cả các nước trong khu vực

Năm 2006, tổng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ

đã tăng lên gần 5.890 tỉ đồng, đạt 2% chi ngân sách nhà nước Nguồn đầu tư từngân sách nhà nước chiếm đến 60% tổng đầu tư của xã hội cho khoa học và côngnghệ, trong đó 2/3 dành cho sự nghiệp khoa học và 1/3 dành cho xây dựng cơbản Ở các nước, số đầu tư của doanh nghiệp cho khoa học và công nghệ chiếmtrên 60%, còn đầu tư của nhà nước chỉ chiếm 30%

Trang 10

Tình hình phát triển công nghệ ở Việt Nam có thể đánh giá thông qua giátrị nhập khẩu máy móc, trang thiết bị công nghệ trong thời gian gần đây Trong 5năm giai đoạn 2001 – 2005, Việt Nam đã nhập khẩu 35.997 triệu USD máy móc,thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch nhập khẩu Năm

2006, con số này là 9.597 triệu USD, chiếm 21,8% tổng kim ngạch nhập khẩucủa Việt Nam

Đến nay, Việt Nam sử dụng công nghệ trung bình là phổ biến, tỷ lệ nhômngành công nghệ cao của Việt Nam hiện nay mới đạt khoảng 20% Tốc độ đổimới công nghệ của cả nước đạt khoảng 10% Trong công nghiệp, tỷ lệ doanhnghiệp tự động hoá chiếm khoảng 1,9%, bán tự động là 19,6%, cơ khí hoá26,6%, bán cơ khí hoá 35,7%, thủ công 16,2%

Trên đây là một số kết quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệcủa Việt Nam trong thời gian qua

Trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ngày 10tháng 4 năm 2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm

2006 – 2010 cũng đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế về khoa học và côngnghệ

2 Thành tựu:

Khoa học và công nghệ đã tập trung hơn vào nghiên cứu ứng dụng, phục

vụ các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội Nhiều thành tựu khoa học và côngnghệ mới được ứng dụng trong các ngành xây dựng, công nghiệp, nôngnghiệp…, đã tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng cao, có sứccạnh tranh, phục vụ xuất khẩu và thay thế nhập khẩu

Khoa học xã hội và nhân văn đã có tiến bộ trong việc điều tra, nghiên cứu,cung cấp tư liệu và luận cứ khoa học và phục vụ hoạch định chủ trương, chínhsách phát triển kinh tế - xã hội và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc

Khoa học tự nhiên đã tăng cường các hoạt động điều tra nghiên cứu, đánhgiá tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và phòng, tránhthiên tai

Bước đầu đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hoá phương thức giao nhiệm vụnghiên cứu như đấu thầu cạnh tranh hoặc hỗ trợ một phần kinh phí nghiên cứuứng dụng cho các doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp liên kết hoặc kýhợp đồng với các tổ chức khoa học và công nghệ Tiềm lực và trình độ khoa học,

Trang 11

công nghệ trong nước đã có bước phát triển; hoạt động khoa học và công nghệđược mở rộng và nâng cao hiệu quả.

Công tác bảo vệ môi trường đạt được những kết quả bước đầu Hoạt độngđiều tra cơ bản về môi trường được duy trì; việc ngăn ngừa và khắc phục ônhiễm môi trường có tiến bộ; đã ban hành một số chính sách về bảo vệ môitrường

3 Hạn chế:

Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, kể cả khoa học tự nhiên và khoahọc xã hội chậm đổi mới; chưa có chính sách và biện pháp tốt để huy động cácnguồn lực và để sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhà nước đầu tư cho khoa học vàcông nghệ; thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu khoa học và công nghệ với đào tạonhân lực, nhất là ở bậc đại học và với hoạt động sản xuất, kinh doanh; chưa pháthuy tác dụng tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hội

Thị trường khoa học và công nghệ chậm được hình thành, hiệu quả ứngdụng các công trình nghiên cứu khoa học thấp; thiếu chính sách và biện phápthúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm đầu tư nghiên cứu và đổi mới công nghệ đểnâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh

Trình độ công nghệ trong nhiều ngành còn lạc hậu; việc chuyển giao côngnghệ còn rất chậm Cơ sở vật chất kỹ thuật của các tổ chức nghiên cứu khoa học

và công nghệ còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ và sử dụng kém hiệu quả

Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học còn hạn chế về trình độ, bất hợp lý

về cơ cấu; thiếu cán bộ đầu ngành và các tập thể khoa học và công nghệ mạnh.Quyền sở hữu trí tuệ chưa được coi trọng đúng mức và còn bị xâm phạm

4 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế:

Những thành tựu đạt được và sự hạn chế của sự phát triển khoa học côngnghệ trong những năm qua là do rất nhiều nguyên nhân, nhưng có một số nguyênnhân cơ bản sau đây:

4.1 Nguyên nhân của những thành tựu:

Có được những thành tựu trên đây, trước hết là do đường lối đúng đắn củaĐảng, do nhu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi đưa tiến bộ khoa học và công nghệvào sản xuất, nhờ sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khoa học và công nghệ Mặtkhác đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đã trưởng thành một bước và có

Ngày đăng: 07/07/2017, 12:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w