1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên

79 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 818,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận “Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thá

Trang 1

VŨ HẢI YẾN

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA HỢP TÁC XÃ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CHÈ AN TOÀN TẠI XÃ PHÚC XUÂN – THÀNH PHỐ

THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2012 – 2016

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận “Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên’’ tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã đào tạo, giảng dạy, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo, Ts Kiều Thị Thu Hương

đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa KT& PTNT đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ UBND xã Phúc Xuân đã nhiệt tình, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại xã

Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình

và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, sơ suất, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Vũ Hải Yến

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐVT Đơn vị tính

FAO Tổ chức nông lương liên hiệp quốc tế

FAOSTAT Số liệu thống kê của Tổ chức nông lương liên hiệp quốc tế NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

VA Giá trị gia tăng

GO/TC Tổng giá trị sản xuất/Tổng chi phí

VA/TC Giá trị gia tăng/tổng chi phí

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về chè 4

2.2 Cơ sở thực tiễn 14

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế gới và trong nước 14

2.2.2 Tình hình phát triển HTX trên thế giới và trong nước 22

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 35

3.2 Nội dung nghiên cứu 35

3.3 Phương pháp nghiên cứu 36

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 36

3.3.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp 36

3.3.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp 36

3.3.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 37

3.4 Các chỉ tiêu dùng trong phân tích 37

Trang 6

3.4.1 Chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ 37

3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè 38

3.4.3 Các chỉ tiêu bình quân 39

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phúc Xuân 40

4.1.1 Vị trí địa lý 40

4.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 40

4.1.3 Khí hậu, thời tiết, thủy văn 41

4.1.4.Tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản 41

4.1.5 Điều kiện kinh tế- xã hội 43

4.2 Thực trạng sản xuất chè tại xã Phúc Xuân 44

4.3 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ chè an toàn của nhóm hộ điều tra 47

4.3.2 Diện tích trồng chè của các hộ tham gia HTX và các hộ không tham gia HTX 48

4.3.3 Cơ cấu giống chè của các hộ tham gia HTX và các hộ không tham gia HTX 49

4.3.4 Tình hình sản xuất chè của các hộ tham gia vào HTX và hộ không tham gia HTX 50

4.3.5 So sánh chi phí sản xuất chè của hộ tham gia HTX và hộ không tham gia HTX 51

4.3.6 Về tiêu thụ của hộ nghiên cứu 53

4.3.7 Phân tích kết quả sản xuất 1 sào chè của các hộ nghiên cứu trong 1 năm 54

4.3.8 Phân tích hiệu quả sản xuất chè của các hộ điều tra 56

4.4 Vai trò của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã Phúc Xuân 59

4.4.2.1 Vai trò của HTX trong quá trình sản xuất 60

4.4.2.2 Vai trò của HTX trong tiêu thụ sản phẩm 61

4.4.2.3 Vai trò của HTX trong chuyển giao khoa học kỹ thuật 62

Trang 7

4.5 Những thuận lợi và khó khăn của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an

toàn tại xã Phúc Xuân 64

4.5.1 Thuận lợi của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn 64

4.5.2 Khó khăn của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn 65

4.6 Giải pháp để nâng cao vai trò của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn 65

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Kiến nghị 68

5.2.1 Đối với cấp chính quyền 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

Trong quá trình phát triển, chè đã khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là cây trồng chủ lực góp phần xóa đói giảm nghèo, thậm chí còn giúp người dân vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao làm giàu Và cây chè còn giúp phủ xanh đất trống, đồi trọc, cải tạo đất, tăng độ phì

từ đó góp phần bảo vệ môi trường

Đã từ lâu, cây chè được xác định là thế mạnh của Thái Nguyên, đem lại hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được vấn đề việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện cuộc sống người dân Bên cạnh đó sản phẩm chè đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí quan trọng

Sau hơn 10 năm thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ của tỉnh Thái Nguyên cho sản xuất chè đã tạo nên sự chuyển biến rõ rệt từ khâu giống, kỹ thuật chăm sóc, chế biến từ đó chất lượng chè đã được nâng lên Giai đoạn 2006 - 2010, diện tích chè toàn thành phố liên tục được mở rộng, năm 2010 diện tích chè là 1.302,9

ha, tăng 1,8 lần so với năm 2006, hình thành nên vùng chuyên canh trọng điểm như: Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Quyết Thắng Trong quá trình hình thành các vùng chuyên canh chè, nhiều HTX chè cũng được hình thành ở nhiều nơi Phát triển mô hình HTX chè an toàn được xem là một hướng đi mới để nâng

Trang 9

cao giá trị cây chè, đem lại thu nhập cao cho người dân, nhằm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường cũng như tạo điều kiện để giúp đỡ lẫn nhau theo mô hình HTX

Tuy nhiên số lượng các hợp tác xã chè còn rất ít, phổ biến vẫn là quy

mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu dẫn đến việc sản xuất kinh doanh chưa đạt hiệu quả Từ sản xuất đến tiêu thụ còn nhiều vấn đề bất cập như chưa giải quyết được vấn đề đầu ra ổn định cho sản phẩm chè, năng lực quản lý cũng như hoạt động kinh tế tập thể cnhiều yếu kém, chưa phát huy được vai trò của nền kinh tế tập thể

Để nghiên cứu tình trạng trên và đưa ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò của HTX và các hình thức kinh tế hợp tác trong quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn

tỉnh Thái Nguyên việc lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên” trong giai đoạn hiện nay là cần thiết

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng và vai trò HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn, từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình kinh tế hợp tác trên địa bàn xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ của HTX trong sản xuất chè

an toàn trên địa bàn xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá được vai trò của HTX đối với hộ trong sản xuất kinh doanh chè

an toàn trên địa bàn xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

Trang 10

- Đề xuất được một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn

1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và khoa học

- Quá trình thực hiện đề tài là cơ hội để củng cố, áp dụng kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tiễn, đồng thời nâng cao kiến thức, năng lực và

kỹ năng nghiên cứu khoa học cho bản thân

- Là căn cứ khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về chè

2.1.1.1 Khái niệm về chè an toàn

Chè an toàn là sản phẩm chè được sản xuất phù hợp với các quy trình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có trong VietGAP hoặc các tiêu chuẩn tương đương VietGAP, được chế biến theo quy trình chế biến chè an toàn do

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và mẫu điển hình đạt chỉ tiêu an toàn thực phẩm

UTZ Certufied là chương trình chứng nhận toàn cầu trong lĩnh vực cấp chứng chỉ sản xuất các sản phẩm tốt, có trách nhiệm, truy nguyên nguồn gốc,

an toàn thực phẩm và bền vững trong ba lĩnh vực: Kinh tế - Môi trường – Xã hội

Nhiệm vụ của UTZ Certified là để tạo ra một thế giới nơi mà nông nghiệp bền vững là tiêu chuẩn, nơi nông dân thực hiện các thực hành nông nghiệp tốt và quản lý trang trại của họ mang lại lợi nhuận với sự tôn trọng con người và hành tinh của ngành công nghiệp

2.1.1.2 Khái niệm sản xuất

Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?

Tùy theo sản phẩm, sản xuất được phân thành ba khu vực:

- Khu vực một của nền kinh tế: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

Trang 12

- Khu vực hai của nền kinh tế: Khai thác mỏ, công nghiệp chế tạo (công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng), xây dựng

- Khu vực ba của nền kinh tế, hay khu vực dịch vụ [12]

2.1.1.3 Khái niệm tiêu thụ

Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng

Thích ứng với mỗi cơ chế quản lí, công tác tiêu thụ sản phẩm được quản lí bằng các hình thức khác nhau [13]

2.1.1.4 Vai trò của cây chè

Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Nó có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người Sản phẩm chè có rất nhiều tác dụng như kích thích thần kinh làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể…

Sản phẩm chè không chỉ phục vụ trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế nước ta Cây chè đem lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho người dân, cải thiện đời sống kinh tế,văn hóa, xã hội và tạo ra công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa

Chè là cây trồng sinh trưởng tốt ở Trung Du và Miền Núi, loại cây trồng này ngoài việc giúp người dân nâng cao thu nhập còn giúp cải tạo môi trường, phủ xanh, chống xói mòn đất

Như vậy, việc phát triển cây chè hoàn toàn phù hợp với các vùng Trung

Du và Miền Núi phía Bắc Giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm cho khu vực nông thôn hiện nay

Trang 13

2.1.1.5 Vai trò của sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè

Sản phẩm chè đã và đang là nhu cầu phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều quốc gia sử dụng chè sau chế biến như là một nhu cầu thiết yếu Điều đó đã được khẳng định ở thị trường tiêu thụ chè đen ở Liên Xô trước đây cũng như là các quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Irac, Ấn

Độ…

Trong quá trình phát triển, cây chè đã tự khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Sản phẩm chè không chỉ là nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan

trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn

Sản xuất tiêu thụ chè góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo, giải quyết lao động việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người nông dân, khai thác hiệu quả sức lao động hộ nông dân

Phát triển sản xuất chè ở Trung Du và Miền Núi góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, cải tạo đất, tăng độ phì, góp phần bảo vệ phát triển một nền nông nghiệp bền vững.Sản xuất, tiêu thụ chè mang lại thu nhập cao hơn các loại cây trồng khác Phát triển sản xuất, tiêu thụ chè tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập Việc xuất khẩu chè dưới dạng chè thành phẩm như chè đen, chè vàng, chè xanh chất lượng cao cho phép các quốc gia sản xuất, tiêu thụ chè có điều kiện trao đổi hàng hóa, chuyển giao công nghệ với các quốc gia đối tác

2.1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ chè

Cây chè có yêu cầu khá cao trong sản xuất từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản Vì vậy, muốn có sản phẩm chè chất lượng cần phải chú ý từng khâu sản xuất, loại bỏ các phương thức sản xuất lạc hậu Cần phải thực hiện sản xuất theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng

Trang 14

suất, chất lượng sản phẩm, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân trồng chè Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè:

 Nhân tố tự nhiên

- Đất đai và địa hình: Đất đai là nhân tố quyết định đến sản lượng và

phẩm chất cây chè Cây chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm, nhưng để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè có yêu cầu sau: đất nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất 80cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường

Địa hình có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè, Chè trồng ở trên núi cao có hương thơm, mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp

+ Độ ẩm: Chè là cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp và lá non nên cần nhiều nước Độ ẩm thích hợp cho cây chè phát triển là 80- 85% Thiếu nước thì sức sinh trưởng của búp kém, lá trở nên dày và cứng, hình thành nhiều búp

mù, phẩm chất kém Yêu cầu tổng lượng mưa trong 1 năm của chè khoảng 1.500 mm và phân bố đều trong các tháng

+ Ánh sáng: Chè có tính chịu bóng lớn, nó tiến hành tốt nhất trong điều kiện ánh sang tán xạ Yêu cầu về ánh sáng phụ thuộc theo giống và tuổi cây Chè ở thời kỳ cây con cần ít ánh sáng hơn nên cần che chắn phù hợp Giống

lá chè to cần ít ánh sáng hơn giống lá chè nhỏ

Trang 15

 Nhân tố về kỹ thuật

- Giống chè: Chọn giống luôn là mục tiêu trong sản xuất nông nghiệp,

giống tốt làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cung như tăng năng suất lao động Vì vậy để đa dạng hóa sản phẩm chè và tận dụng lợi thế so sánh, mỗi vùng sinh thái đòi hỏi phải có một tập đoàn giống thích hợp với điều kiện mỗi vùng

- Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè

thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ dốc, điều kiện cơ giới hóa Tùy điều kiện mà ta trồng mật độ khác nhau, nếu mật độ dày hoặc thưa quá đều làm giảm năng suất chè, không tận dụng được đất đai, nên việc phân bố mật độ chè hợp lý rất quan trọng

- Đốn chè: Đốn chè là cắt ngắn đi đỉnh ngọn của các cành chè, ức chế

sinh trưởng đỉnh, kích thích các chồi ngủ, chồi nách mọc thành lá, cành non, mới tạo ra khung tán khỏe mạnh làm cho cây luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế sự ra hoa kết quả, có lợi cho việc ra lá, kích thích sinh trưởng búp non, tăng mật độ búp và trọng lượng búp Tùy theo điều kiện canh tác mà ta có các kiểu đốn chè: đốn phớt, đốn lửng, đốn đau, đốn trẻ lại

- Bón phân: Bón phân cho chè là một biện pháp kỹ thuật quan trọng

nhằm tăng sự sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất, chất lượng chè

Bón kết hợp phân cân đối giữa N, P, K cho năng suất cao hơn hẳn so với chỉ bón đạm và kali hoặc mỗi đạm Bón theo nguyên tắc: từ không đến có,

từ ít đến nhiều, bón đúng lúc, đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời

Nếu bón phân hợp lý sẽ giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với thời tiết, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất

- Kỹ thuật thu hái: Thời điểm và phương thức hái có ảnh hưởng đến

chất lượng chè, hái chè gồm một tôm hai lá vì trong đó chứa hàm lượng

Trang 16

polyphenol và Caphein cao, nếu hái quá già thì chất lượng chè giảm và ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của chè

 Nhân tố về kinh tế

- Thị trường và giá cả: Chính là trả lời được ba câu hỏi: Sản xuất cái

gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Tức là cần xác định nhu cầu thị trường, các thức thực hiện và cuối cùng là phân khúc khách hàng Nếu xác định được rõ ràng các vấn đề trên thì việc sản xuất mới đạt hiệu quả

Thực tế cho thấy, hiện nay thị trường nói chung và thị trường nông sản nói riêng cung như thị trường chè còn chưa ổn định Vì vậy, việc ổn định giá và

mở rộng thị trường rất cần thiết trong quá trình phát triển hiện nay Bởi năng suất có cao, chi phí có giảm mà sản phẩm không được thị trường chấp nhận thì cũng không đem lại doanh thu và lợi nhuận cho người lao động

 Nhân tố xã hội

Sản xuất chè chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện kinh tế xã hội, cụ thể là kết cấu cơ sơ hạ tầng Nếu giao thông không thuận lợi, địa bàn rộng, thì sản phẩm chè làm ra của người dân gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ dẫn đến sản xuất chè chậm phát triển, kéo theo nền kinh tế xã hội và mức sống của người dân cũng không được nâng cao Các vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng, vấn đề về nhân công lao động, các chính sách đầu tư khuyến khích phát triển, các chính sách vĩ mô của Nhà nước cho cây chè đều tác động đến quá trình tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chè Ngoài ra kinh nghiệm và truyền thống

sản xuất cũng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm chè

2.1.2 Một số khái niệm cơ bản về HTX

2.1.2.1 Khái niệm HTX

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội Liên minh hợp tác xã (ICA) lần thứ

31 tổ chức tại Manchester- Vương quốc Anh đã định nghĩa về hợp tác xã như sau: “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với

Trang 17

nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ” [3]

Căn cứ vào tình hình đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước và kế thừa những quy định năm 1996 HTX được định nghĩa là: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể

và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế -

xã hội đất nước” [6]

- Theo luật hợp tác 2012 thì khái niệm được thay đổi như sau: “Hợp tác

xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản

lý hợp tác xã” [7]

2.1.2.1 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của HTX

Việc tổ chức hoạt động của HTX của các nhà kinh tế, chính trị có nhiều quan điểm khác nhau nhưng đều xoay quanh những nguyên tắc cơ bản sau: Một là, tính dân chủ và tự nguyện, đây là nguyên tắc quan trọng nhất vì

dựa trên tinh thần tự chủ của mỗi cá nhân,mọi người đều bình đẳng và có quyền tham gia, và tinh thần tự nguyện của các hộ nông dân Họ nhận thấy được lợi ích của việc tham gia tổ chức HTX, từ đó họ sẽ quyết định tham gia

và nhiệt tình đóng góp để xây dựng, phát triển HTX không chỉ vì lợi ích cá nhân mà cả lợi ích các xã viên khác Chính vì vậy, Các Mác, Ăng - ghen, Lê Nin đã nhấn mạnh: “Tuyệt đối không được cưỡng ép nông dân mà phải để cho người nông dân tự suy nghĩ,thấy rõ lợi ích thiết thực của mình và tự

Trang 18

nguyện hợp tác với nhau” Tuy nhiên, để đảm bảo duy trì nguyên tắc này thì điều cần thiết phải thực hiện dân chủ trong quản lý và phân chia lợi ích.[2] Hai là, vấn đề xây dựng và phát triển HTX Theo quan điểm của Các

Mác và Ăng - Ghen thì “HTX phải tiến hành từng bước, có tính đến bước đi

và sự chờ đợi và cần phải lôi cuốn được nông dân, cùng với giai cấp công nhân đi lên chủ nghĩa xã hội Bên cạnh đó việc xây dựng các HTX phải có sự giúp đỡ của nhà nước chuyên chính vô sản để đảm bảo tính pháp lý cho sự ra đời kinh tế HTX Đồng thời, nhà nước sẽ giúp đỡ các HTX về tài chính, khoa học kỹ thuật, lao động… thông qua các chính sách kinh tế, xã hội”

Hiện nay, địa phương nào cũng được chính quyền quan tâm, nếu cán bộ HTX nhiệt tình, tâm huyết, có năng lực quản lý, các nguyên tắc dân chủ trong HTX được phát huy thì HTX tại địa phương đó sẽ đi lên theo hướng tích cực

và đem lại hiệu quả cao

Ba là, về cách tổ chức sản xuất kinh doanh Theo Các Mác và

Ăng-ghen thì “Hình thức và biện pháp thực hiện hợp tác phải thiết thực cụ thể, hết sức tránh những biện pháp và hình thức thiếu thực tế, mơ hồ Hợp tác được thực hiện ở nhiều lĩnh vực, hình thức và biện pháp, trong mỗi lĩnh vực lại khác Trong lĩnh vực nông nghiệp, loại hình đất đai khác nhau, cây trồng, vật nuôi khác nhau, quan hệ thị trường khác nhau… ngoài ra phải tính đến nhiều yếu tố khác nhau như phong tục tập quán của mỗi vùng” Hoạt động hợp tác đem lại rất nhiều lợi ích, chính vì vậy, sự hợp tác là rất cần thiết, cụ thể và phù hợp với mọi hoàn cảnh

Cuối cùng, là về khâu phân phối thành quả cho các thành viên Theo tư

tưởng Hồ Chí Minh: “Sản xuất được nhiều, đồng thời phải chú ý phân phối cho công bằng, cán bộ phải chí công, vô tư thậm chí có khi cán bộ vì lợi ích chung mà phải chịu thiệt thòi phần nào Chớ nên cái gì tốt thì giành về mình, xấu để cho người khác” Người cũng đưa ra nguyên tắc trong quá trình phân

Trang 19

phối: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” Yếu tố công bằng trong phân phối sẽ là động lực giúp người lao động gắn bó, nhiệt tình, phát huy được năng lực của mình trong công việc Chính điều đó làm cho các HTX cũng như các tổ chức khác hoạt động có hiệu quả và ngày càng phát triển [3]

Theo Luật hợp tác xã năm 2012 quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động của HTX như sau:

Một là: Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập,

ta khỏi hợp tác xã Hợp tác xã tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp hợp tác xã

Hai là: Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp

tác xã thành viên

Ba là: Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu

quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý, hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ

Bốn là: Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, chịu trách nhiệm về

hoạt động của mình trước pháp luật

Năm là: Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp

tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định điều lệ Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm

Sáu là: Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi

dưỡng cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động

Trang 20

trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Bảy là: Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững

cộng đồng thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác

xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế [7]

2.1.2.2 Vai trò của HTX trong sản xuất chè an toàn

Thực tế các HTX sản xuất và chế biến chè an toàn ở Thái Nguyên ngày càng được nhiều nông dân có nguyện vọng tham gia HTX Vì HTX chè kiểu mới mang lại cho nông dân nhiều lợi ích hơn

Lợi ích đầu tiên là nhờ có hoạt động HTX các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất chè được cung cấp kịp thời, đảm bảo chất lượng, các khâu tiếp theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của các hộ tăng lên

Thứ hai là thông qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết của HTX được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng chuyên môn hóa

Thứ ba là lợi ích kinh tế hợp tác xã đưa lại là điều kiện tạo sự ổn định

và gắn kết giữa các cá xuất nhân trong cộng đồng Thông qua hợp tác xã, các thành viên có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề trong cuộc sống như thăm hỏi, động viên, giúp đỡ nhau trong sản,… Với những thành quả không chỉ có

ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội như vậy đã khẳng định vai trò ngày càng tăng lên của hợp tác xã trong phát triển KT –

XH đất nước

Thứ tư là hợp tác xã giúp kết hợp hài hòa và làm cho các quan hệ trong

cơ chế thị trường không trở nên đối kháng nhau, loại trừ nhau mà ngược lại

hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Trang 21

Cuối cùng là hoạt động của HTX có vai trò làm cầu nối giữa Nhà nước với hộ nông dân một cách có hiệu quả trong một số trường hợp

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế gới và trong nước

2.2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới

 Tình hình sản xuất chè trên thế giới

Chè là da ̣ng cây bụi của miền nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa Quê hương của cây chè là Mianma , Việt Nam và Trung Quốc Cây chè xuất hiện cách đây khoảng 5000 năm và từ đây lan sang các nơi khác Vào đầu thế kỷ

19, người Châu Âu đem chè về trồng ở các thuộc địa ấn Độ, Pakixtan, Inđônêxia… Đến nay trên thế giới đã có 58 nước trồng chè phân bố ở khắp 5 châu, tập trung chủ yếu ở châu Á chiếm tới gần 90% tổng diê ̣n tích, sau đó là châu Phi, châu Mỹ

Trên thế giới đang phổ biến 4 loại chè chính: chè ấn Độ với đặc điểm chịu lạnh, lá to và mềm, dễ vò, tỷ lệ búp cao, dễ chăm sóc và thu hái; chè Trung Quốc lá nhỏ, dày; chè Vân Nam lá lớn và chè Shan lá lớn, mềm

+ Sản lượng chè thế giớ i tăng đều qua các năm và tương đối ổn định trên 2 triệu tấn/năm Hiê ̣n nay, những nước trồng nhiều chè là Ấn Độ , Trung Quốc, Kenya, Viê ̣t Nam, Nhật Bản, những nước này chiếm tới 78% sản lượng chè của toàn thế giới

+ Chè được tiêu thụ dưới hai dạng khác nhau: chè đen và chè xanh Trên thế giới, thị trường chè đen có sức mua lớn hơn thị trường chè xanh Lượng chè xuất khẩu hàng năm trên thế giới là trên 1 triệu tấn Các nước xuất khẩu nhiều chè nhất thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia Thị trường nhập khẩu là Anh, Hoa Kỳ, LB Nga,…

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới và một số nước

trồng chè chính năm 2012

Trang 22

(ha) (tạ khô/ha) (tạ khô)

(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2013)

Theo FAO, trong những năm gần đây sản xuất chè trên thế giới có xu hướng tăng, tăng cả về diện tích lẫn sản lượng Tính đến năm 2012 diện tích chè trên thế giới là 3.275.991 ha Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích 1.513.000 ha, nhưng lại có năng suất thấp nhất11.334 tạ khô/ha Qua bảng ta thấy các nước có năng suất bình quân cao hơn năng suất bình quân của thế giới là: Srilanca, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, và Việt Nam Trong đó Thái Lan có năng suất bình quân cao nhất thế giới đạt 34.884 tạ khô/ ha Về sản lượng, đứng đầu thế giới là Trung Quốc có sản lượng đạt 1.714.902 tạ khô

 Tình hình tiêu thụ sản phẩm chè trên thế giới

Năm 2011, tổng kim ngạch của 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,18 tỉ đô la Mỹ, chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập khẩu chè toàn thế giới So với cùng kỳ năm 2010, kim ngạch nhập khẩu chè các nước này tăng trung bình 16,89% Năm nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 là Nga (510,6 triệu đô la), Anh (364 triệu đô la), Mỹ (318,5

triệu đô la), Nhật Bản (182,1 triệu đô la) và Đức (181,4 triệu đô la)

Trang 23

Trong khi đó, tổng kim ngạch của 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới đạt gần 3,5 tỉ đô la Mỹ, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2010 Danh sách các nước trong bảng xếp hạng top 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 không có nhiều thay đổi so với năm 2010 với ba nước dẫn đầu là Srilanka (đạt 1,2 tỉ đô la), Trung Quốc (682,3 triệu đô la) và Ấn Độ (501,3 triệu đô la)

Về thị trường tiêu thụ, theo dự báo của FAO, trong giai đoạn 2011 -

2012, nhập khẩu chè đen thế giới ước tính khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm Các nước nhập khẩu chính như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới vào năm 2012 Cụ thể, Pakistan tăng 2,9%/năm, từ 109.400 tấn lên 150.000 tấn; Nhật Bản cũng tăng từ 18.000 lên 22.000 tấn, tăng 1,8%/năm

Tại thị trường châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè Ngay từ những tháng đầu năm 2011, tại các thị trường này, người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế biến đặc biệt Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống liền và chè chế biến đặc biệt trong khi tại các nước Tây Á và châu Á vẫn thích dùng các sản phẩm chè truyền thống

2.2.1.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trong nước

 Tình tình sản xuất chè trong nước

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, có điều kiện thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực sự được quan tâm và đầu tư sản xuất từ những năm đầu của thế kỷ 20 trở lại đây Cây chè Việt Nam được chính thức khảo sát nghiên cứu vào năm 1885

do người Pháp tiến hành Sau đó vào các năm 1890 - 1891 người Pháp tiếp

Trang 24

tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở Việt Nam năm 1890 ở tỉnh Phú Thọ và thành lập các trạm nghiên cứu chè ở Phú Hộ (1918), Pleiku (1927) và Bảo Lộc (1931)

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954): Do ảnh hưởng của chiến tranh hai miền Nam - Bắc chia cắt nên sản xuất chè bị đình trệ, diện tích năng suất, sản lượng chè giảm nghiêm trọng Sau khi hoà bình được lập lại cây chè lại được chú trọng phát triển, các nông trường được thành lập, các vùng kinh tế mới và lúc này thị trường được mở rộng Năm 1977, cả nước có 44.330 ha sản lượng là 17.890 tấn chè búp khô Đến năm 1985 cả nước có 52.047 ha, sản lượng đạt 25.392 tấn chè búp khô theo báo cáo định hướng phát triển của ngành chè (1985)

Giai đoạn sau chiến tranh (1954-1990), sản xuất chè được phục hồi trở lại, năm 1990 diện tích chè cả nước đã có 60 nghìn ha, sản lượng đạt 32,2 nghìn tấnkhô (tăng 53% so với năm 1980) Công nghiệp chế biến phát triển mạnh, nhiều cơ sở sản xuất, nhiều nhà máy chế biến chè xanh, chè đen được thành lập với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, sản phẩm chế biến chủ yếu được xuất khẩu sang các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ)

Đến nay cùng với sự đổi mới về quản lý, nhiều hình thức liên doanh liên kết được hình thành (với các nhà sản xuất Nhật Bản, Đài Loan, ) cơ chế quản lý được đổi mới, nhiều công nghệ tiên tiến được đầu tư dẫn đến diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng tăng lên Cây chè đã thực sự là cây trồng mũi nhọn và là cây trồng chiến lược của vùng Trung Du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên

Trang 25

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè Việt Nam

những năm gần đây

(ha)

Năng suất (tạ khô/ha)

Sản lƣợng (tạ khô)

so với năm 2008 Sản lượng chè dao động từ 173.500 tạ (2008)lên 216.900 tạ(2012) tương ứng tăng 25,01% so với năm 2008 Ngành chè nước ta có được những thành quả trên là do chúng ta đã áp dụng những tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào trong sản xuất

 Tình hình tiêu thụ chè trong nước

Theo số liệu thống kê, xuất khẩu chè của Việt Nam sang các thị trường trong 6 tháng đầu năm 2014 đạt 58.041 tấn chè, trị giá 94.707.293 USD, giảm 5% về số lượng nhưng tăng nhẹ 1,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước

Chè đen chiếm gần 80% tổng xuất khẩu chè của Việt Nam Pakistan, Đài Loan và Nga là những khách hàng chủ chốt của Việt Nam

Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu chè lớn thứ 5 trên thế giới, có

kế hoạch sản xuất 1,2 triệu tấn chè nguyên liệu và xuất khẩu 200.000 tấn chè vào năm 2014

Trang 26

Pakistan vẫn là thị trường lớn nhập khẩu chè của Việt Nam, với lượng nhập 11.768 tấn chè, trị giá 26.474.363 USD, tăng 56,4% về lượng

và tăng 89,21% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, chiếm 28% tổng trị giá xuất khẩu

Đài Loan xếp vị trí thứ hai trong xuất khẩu chè Việt Nam, với 10.351 tấn chè, trị giá 14.128.341 USD, tăng 0,15% về lượng và giảm 1,35 về trị giá Đứng thứ ba là thị trường Nga, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này 5.531 tấn chè, trị giá 9.182.5990 USD, giảm 4,27% về lượng và tăng 0,32 %

về trị giá so với cùng kỳ năm trước

Ba thị trường xuất khẩu trên chiếm 50% tổng trị giá xuất khẩu chè của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2014

Dù xếp trong top 5 quốc gia sản xuất chè lớn nhất thế giới, nhưng xét

về giá trị, do hơn 90% lượng chè vẫn xuất khâu thô ở dạng chè rời, ít doanh nghiệp đầu tư vào thương hiệu, đóng gói sản phẩm, nên tổng giá trị xuất khẩu mặt hàng chè vẫn chưa đạt kết quả cao

2.2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Thái Nguyên

 Tình hình sản xuất chè tại Thái Nguyên

Sản xuất chè ở Thái Nguyên còn chủ yếu là sản xuất quy mô hộ Tuy vậy, do đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, tăng đầu tư thâm canh chè mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm qua diện tích, năng suất, sản lượng của Thái Nguyên không ngừng tăng:

+ Năm 2011: 18199 ha, sản lượng búp chè tươi đạt 18100 tấn

+ Năm 2012: 18600 ha, sản lượng đạt 18500 tấn búp chè tươi tăng 2,2% so với năm 2011

+ Năm 2013: 19000 ha, sản lượng đtạ 19000 tấn búp chè tươi, tăng 2,7% so với năm 2012

Trang 27

+ Tỉnh Thái Nguyên đang đẩy mạnh việc chuyển đổi giống chè theo hướng giảm giống chè trung du tăng các giống chè nhập nội và các giống chè trong nước chọn, lai tạo như Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, TRI 777, LDP1

Hiện nay tỉnh Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn tỉnh làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư sản xuất chè hàng hóa chất lượng, giá trị cao, xây dựng vùng chè sản xuất nguyên liệu theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu; áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến thành phẩm cuối cùng gắn với việc được chứng nhận bởi các tổ chức chứng nhận trong nước và quốc tế ( VietGAP, GlobalGAP, Utz Certified …) Chương trình chuyển đổi giống mới và ứng dụng biện pháp canh tác tiên tiến sản xuất chè an toàn, đã nâng cao năng xuất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên.[8]

 Tình hình tiêu thụ chè tại Thái Nguyên

Sản phẩm chè Thái Nguyên hiện nay chủ yếu là tiêu thụ nội địa

Sản lượng chè xuất khẩu chiếm tỷ lệ thấp, giá trị xuất khẩu không cao Thị trường xuất khẩu chủ yếu sang các nước Trung Quốc, Anh, Pakistan, Liên Bang Nga, Đài Loan…[8]

2.2.1.4 Một số bài học kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu t hụ sản phẩm chè của các nước trên thế giới và của Việt Nam

+ Đối với người trồng chè cần thực hiện bảo hộ có điều kiện, cũng như

các hỗ trợ ở tầm vĩ mô của chính phủ có tính đến các yếu tố luật lệ của tổ chức thương mại thế giới Bảo hộ hàng nông sản vẫn là xu hướng của nhiều nước, kể cả khi có các sức ép của các công ước quốc tế trong tổ chức thương mại thế giới Nước càng phát triển càng có khả năng thực hiện bảo hộ nhiều hơn Những nước đang và kém phát triển thì ít có năng lực tài chính để bảo hộ, những sản phẩm nông nghiệp lại thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim

Trang 28

ngạch xuất khẩu Thế nhưng đã thực hiện bảo hộ thì thường đi liền với việc quản lý chặt chẽ của nhà nước thông qua các khoản trợ cấp của chính phủ

+ Cần nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm thông

qua cải tạo, trồng thay thế giống mới, đổi mới điều kiện canh tác, tạo ra các sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng Ngoài ra, sản xuất chè sạch được coi là xu hướng mới phù hợp với nhu cầu và tâm lý người tiêu dùng hiện nay trên thế giới

+ Không ngừng cải tiến tiếp thị và phát triển thương hiệu hàng hoá để thâm nhập thị trường Nhiều doanh nghiệp chè trên thế giới rất mạnh dạn và

sáng tạo trong hoạt động tiếp thị với chi phí rất lớn nhờ vào tiềm lực tài chính mạnh của mình Thương hiệu và quảng cáo như là một nghệ thuật trong kinh doanh Các công ty đã đem sản phẩm đi tham dự nhiều hội chợ, triển lãm để

có được các giải thưởng khác nhau, từ đó quảng bá cho văn hoá uống chè của mình Ngoài ra ngành chè của các nước còn đầu tư nghiên cứu để khẳng định những tính năng, tác dụng của việc uống chè đối với sức khoẻ và phòng chống bệnh tật Điển hình là Srilanca và Anh đã đạt được nhiều thành công trong việc quảng bá cho sản phẩm chè đen Dilma và Lipton cả về chất lượng lẫn giá cả hợp túi tiền của nhiều đối tượng khách hàng Trong khi đó các hãng chè xanh của Nhật Bản và Đài Loan thì tập trung vào những chủng loại chè khá đắt tiền, lên đến hàng triệu đồng/kg chè (100 -150$/kg)

+ Cần coi trọng cả cạnh tranh và hợp tác Sở dĩ Trung Quốc đã vươn

lên chiếm lĩnh thị phần lớn về chè trên thế giới vì họ đã biết liên kết giữa mạng lưới thương nhân trong nước với các hộ gia đình sản xuất chè, giữa mạng lưới thương nhân trong nước với mạng lưới tiêu thụ ở nước ngoài là người gốc Hoa Kiều Ngoài ra còn có cả xu thế liên kết theo ngành dọc để hình thành những tổ chức tập đoàn sản xuất kinh doanh lớn, có sức canh tranh mạnh, chẳng hạn công ty Uniliver đã liên kết với công ty chè Lipton (của Anh

Trang 29

và Hà Lan); Công ty chè Tata của Ấn Độ đã mua lại Tetley với giá hàng trăm triệu đôla đã được coi là vụ sáp nhập lớn nhất trong ngành chè thế giới Những hiện tượng sáp nhập này không chỉ đem lại lợi ích từ việc ghép các công ty nhỏ thành công ty lớn, mà nó thực sự đem lại hiệu quả và lợi ích kinh

tế nhờ mở rộng quy mô thị trường, san sẻ rủi ro giữa các khâu trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

+ Quan tâm đúng mức đến tổ chức nguồn hàng xuất khẩu Thực tế cho

thấy những nước sản xuất chè thường xuất khẩu là chủ yếu, nhưng ngược lại nước xuất khẩu nhiều chè chưa hẳn đã là nước có nhiều lợi thế về trồng chè Trường hợp chè Lipton của Anh là một thí dụ điển hình, hay ngay Việt Nam, điều kiện khí hậu địa lý rất thuận lợi cho sản xuất chè, về chất lượng cũng không thua kém các nước trong khu vực, tuy nhiên lượng chè xuất khẩu chưa tương xứng với tiềm năng, cũng như mức giá chè chúng ta nhận được chỉ bằng 60%-70% giá chè thế giới, do sản phẩm Việt Nam xuất khẩu vẫn chủ yếu là chè dời, chè bán thành phẩm cho các nước và họ tiếp tục chế biến và lấy thương hiệu của nước họ

Phát triển sâu rộng hơn nữa là có sự liên kết giữa nhà sản xuất với nhà khoa học, giữa nhà sản xuất với các nhà máy chế biến nhằm chuyển giao quy trình công nghệ từ chọn giống đến canh tác, chăm bón, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Nhiều công ty đã thành công trong việc không những bảo đảm quan hệ lợi ích trong các hợp đồng Mà còn quan tâm đến quy trình công nghệ chăm sóc, thu hoạch, thậm chí đến cả những khó khăn của người trồng chè về vốn, cây giống và có biện pháp hỗ trợ thiết thực, kịp thời khi người trồng chè gặp khó khăn

2.2.2 Tình hình phát triển HTX trên thế giới và trong nước

2.2.2.1 Tình hình phát triển HTX trên thế giới

Liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) được thành lập ngày 19/8/1895 tại Vương quốc Anh

Trang 30

Trụ sở của ICA đóng tại Geneve (Thụy Sỹ) ICA là một trong những tổ chức quốc tế lớn nhất trên thế giới, phần lớn các trên 800 triệu xã viên của

225 tổ chức HTX quốc gia của 96 nước

 Phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Ấn độ

Ấn Độ là một nước nông nghiệp, sự phát triển kinh tế của Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào việc phát triển nông nghiệp Người nông dân coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, đầu vào và các nhu cầu cần thiết về dịch

vụ Khu vực HTX có cơ sở hạ tầng rộng lớn, hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng, chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở Những lĩnh vực hoạt động quan trọng của khu vực kinh tế HTX ở Ấn

Độ đang nổi lên là HTX tín dụng nông nghiệp, có tỷ trọng chiếm tới 43% tổng số tín dụng trong cả nước, các HTX sản xuất đường chiếm tới 62,4% tổng sản lượng đường của cả nước, HTX sản xuất phân bón chiếm 34% tổng

số phân bón của cả nước

Nhận rõ vai trò của các HTX chiếm vị trí trọng yếu trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, Chính phủ Ấn Độ đã thành lập công ty quốc gia phát triển HTX, thực hiện nhiều dự án khác nhau trong lĩnh vực chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản, hàng tiêu dùng, lâm sản và các mặt hàng khác, đồng thời thực hiện các dự án về phát triển những vùng nông thôn còn lạc hậu Ngoài ra, Chính phủ đã thực hiện chiến lược phát triển cho khu vực HTX như: xúc tiến xuất khẩu; sửa đổi Luật HTX, tạo điều kiện cho các HTX tự chủ

và năng động hơn; chấn chỉnh hệ thống tín dụng HTX; thiết lập mạng lưới thông tin hai chiều giữa những người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX; bảo đảm trách nhiệm của các liên đoàn HTX đối với các HTX thành viên.[8]

 Phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Nhật Bản

Hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản được đặc trưng bởi hệ thống 3 cấp: các HTX nông nghiệp cơ sở, các liên hiệp và các liên đoàn quốc gia Các tổ

Trang 31

chức HTX cơ sở được tổ chức ở cấp làng, thị trấn và thành phố trực thuộc tỉnh, gồm những thành viên thường xuyên là nông dân và các thành viên liên kết khác HTX nông nghiệp cơ sở có 2 loại: HTX nông nghiệp đa chức năng

20 và HTX nông nghiệp đơn chức năng HTX nông nghiệp đa chức năng có nhiệm vụ hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiếp thị sản phẩm nông nghiệp, cung cấp nguyên liệu sản xuất và các vật dụng thiết yếu hàng ngày; Cho vay và đầu tư vốn, cung cấp bảo hiểm HTX nông nghiệp đơn chức năng hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất cụ thể như chế biến sữa, nuôi gia cầm và các nghề truyền thống khác Ngoài ra, còn có chức năng tiếp thị sản phẩm của các xã viên thành viên và cung cấp nguyên liệu sản xuất [7]

 Kinh nghiệm từ mô hình hợp tác xã nông nghiệp của Đức

Nước Đức được coi là một trong những chiếc nôi đầu tiên của mô hình kinh tế HTX ở châu Âu Tương tự như Việt Nam, số lượng các HTX nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao với 3.188 HTX trong tổng số 5.324 HTX hiện có, chiếm 60% Tổng doanh thu của tất cả các HTX nông nghiệp và 26 liên hiệp,

21 HTX nông nghiệp năm 2007 là hơn 38,3 tỷ Euro Các HTX nông nghiệp

đã thu hút tổng cộng 2,2 triệu thành viên [4] HTX nông nghiệp của Đức hoạt động đa dạng ở tất cả các lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ khác nhau Ngoài ra còn có rất nhiều HTX nông nghiệp hoạt động kinh doanh, dịch vụ ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như dịch vụ quản lý chợ, dịch vụvệ sinh, dịch

vụ vật liệu xây dựng, dịch vụ sấy khô, đóng gói sản phẩm, dịch vụ than, dầu đốt, Trong số các HTX nông nghiệp hiện nay vẫn còn có 214 HTX đang thực hiện đồng thời hoạt động tiết kiệm - tín dụng nội bộ theo giấy phép của

cơ quan chức năng ngành ngân hàng Ngoài dịch vụ cung cấp cho thành viên, các HTX nông nghiệp tạo ra khoảng 150.000 việc làm trực tiếp Tính trung bình mỗi HTX nông nghiệp sửdụng 46 lao động [5]

Trang 32

Các HTX nông nghiệp của Đức đang nắm thị phần cao đối với rất nhiều sản phẩm nông nghiệp quan trọng: 70% thị phần sản phẩm thịt chế biến, hơn 60% thị phần của các sản phẩm sữa, hơn 30% thị phần rượu nho [5]

So với các HTX nông nghiệp Việt Nam, các HTX nông nghiệp Đức không có khó khăn về đất hay trụ sở Các HTX vì vậy không quá chú trọng đến việc phải mua đất hay sở hữu trụ sở riêng Trên cơ sở nguồn đất do HTX quản lý hoặc thuê dài hạn của xã viên, HTX được chính quyền địa phương cho phép xây dựng bán kiên cố các nhà kho, cửa hàng, trụ sở của mình khi có nhu cầu cần thiết Hoàn toàn bình đẳng như các loại hình doanh nghiệp khác, các HTX nông nghiệp ở Đức có thể vay vốn không khó khăn từ các ngân hàng thương mại Họ không nhất thiết phải có hay phải có đủ tài sản thế chấp

mà quan trọng hơn là dự án vay vốn khả thi và HTX có uy tín, hoạt động quản trị, điều hành minh bạch, hiệu quả Theo quy định của Luật HTX Đức, hàng năm các HTX đều được kiểm toán định kỳ do Hiệp hội HTX thực hiện

2.2.2.2 Tình hình phát triển HTX trong nước

Ở Việt Nam, kinh tế hợp tác, hợp tác xã chính thức được Đảng và Nhà nước quan tâm và phát triển từ rất sớm Bắt đầu phát triển từ khi đất nước được giành độc lập (1945), đưa nhân dân ta thoát khỏi cảnh áp bức, nô lệ của thực dân đế quốc Tuy nhiên, tùy thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển phong trào kinh tế hợp tác xã được hình thành và phát triển có khác nhau Quá trình hình thành và phát triển kinh tế hợp tác xã ở nước ta có thể sơ lược như sau:

 Giai đoạn trước hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954)

Giai đoạn này các hợp tác xã tổ chức với mô hình đơn giản, trình độ thấp, hợp tác xã được hình thành trong giai đoạn này chủ yếu ở vùng căn cứ cách mạng Việt Bắc Ngày 08/3/1948, từ một lô sản xuất chai lọ và ống tiêm cho ngành y tế phục vụ cho yêu cầu kháng chiến ở vùng ATK (vùng an toàn khu ở Thái Nguyên), hợp tác xã Thủy tinh Dân chủ được thành lập Mặc dù

Trang 33

mới ra đời, năng lực hạn chế, nhưng đây là cột mốc để xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác xã sau này

 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975

Đây là giai đoạn khó khăn của Việt Nam, vừa xây dựng phát triển kinh

tế miền Bắc, vừa chi viện giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

Tại Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa II) tháng 8/1955 đã đề ra chủ trương xây dựng thí điểm một số hợp tác xã nông nghiệp Trong 3 năm thực hiện thí điểm, chúng ta xây dựng được 45 hợp tác

xã và trên 100.000 tổ đổi công Đến tháng 4/1959, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (khóa II) đã quyết định chính thức đường lối, phương châm, chính sách hợp tác hóa nông nghiệp và Trung ương đã triệu tập nhiều hội nghị nhằm thúc đẩy phong trào hợp tác hóa Đến cuối năm 1960, đại bộ phận nông dân ở miền Bắc đã tham gia hợp tác xã bậc thấp Riêng trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, tháng 6/1958 Phủ Thủ tướng đã ban hành Quy tắc tổ chức tạm thời của hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp – mở đầu cho thời kỳ phát triển hợp tác

xã tiểu thủ công nghiệp

Năm 1961, Nhà nước công bố điều lệ hợp tác xã thủ công nghiệp Việt Nam làm căn cứ thống nhất để củng cố tổ chức và cải tiến quản lý hợp tác xã

Hệ thống quản lý hợp tác xã cũng được kiện toàn, liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp được thành lập tại các tỉnh, thành phố Ngày 06/06/1961 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất các hợp tác xã thủ công nghiệp đã thông qua Điều lệ hợp tác xã thủ công nghiệp và bầu ra Ban chủ nhiệm Trung ương

Sau năm 1972, tình hình kinh tế của các hợp tác xã nhìn chung còn rất nhiều khó khăn, do thiếu hẳn về con người và vật chất, công tác quản lý hợp tác xã không được tăng cường, việc quản lý vốn, tài sản lỏng lẻo, tình trạng quản lý sử dụng lao động không khoa học theo kiểu làm chung và phân phối theo ngày công, gắn với hiện tượng “rong công, phóng điểm” làm cho giá trị

Trang 34

ngày công rất thấp, thậm chí có hợp tác xã xảy ra tình trạng giá trị ngày công

“âm” thực sự đã làm giảm động lực của xã viên

 Giai đoạn từ năm 1976 đến trước khi Luật Hợp tác xã năm 1996

Giai đoạn từ 1976 – 1986

Ở miền Bắc, tiến hành cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản

lý hợp tác xã theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết 61/CP ngày 05/04/1976 của Chính phủ Sau 02 năm thực hiện Nghị quyết 61/CP, có 3.927 hợp tác xã đã tiến hành tổ chức lại sản xuất, trong

đó có 3.573 hợp tác xã quy mô toàn xã

Ở miền Nam, sau giải phóng, Đảng chủ trương giải quyết vấn đề ruộng đất công bằng cho người dân, sau đó Ban Chấp hành Trung ương có Chỉ thị 15-CT/TW ngày 04/08/1977 về việc thí điểm tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở miền Nam, hầu hết nông dân được đưa vào hợp tác xã và các tập đoàn sản xuất theo đúng cách làm, quản lý giống hệt các hợp tác xã ở miền Bắc Kết quả là phong trào hợp tác xã không thành công như mong muốn; những nguyên tác cơ bản trong xây dựng hợp tác xã đã không được tôn trọng, cộng với tình hình thiên tai liên tục trong thời kỳ này đã làm cho các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất vốn đã yếu ớt càng khó khăn gấp bội Tình hình đó đã dẫn tới chỗ nhiều hợp tác xã và đặc biệt là tập đoàn sản xuất

đã bị tan rã hàng loạt hoặc không hoạt động Đứng trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 6 (khoá IV) tháng 9/1979 đã ra Nghị quyết về những vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội nhằm tạo điều kiện cho sản xuất “bung ra”; một

số hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ, cho phép xã viên bỏ vốn, sức lao động đầu tư thâm canh để được hưởng phần sản phẩm vượt khoán và hiện tượng “khoán chui” ngày càng mở rộng Để chấn chỉnh tình hình, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra thông báo số 22 cho tổ chức tổng kết thực tiễn đến ngày 13/01/1981 chính thức ra Chỉ thị 100-CT/TW khẳng định

Trang 35

chủ trương áp dụng hình thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động

Trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, cũng có tình trạng tương tự như trong nông nghiệp đó là sự gò ép đối với các thợ thủ công nghiệp, cho nênđến năm 1977 toàn miền Nam có 221 hợp tác xã với 31.700 xã viên, chiếm gần 80% lao động thủ công nghiệp toàn miền; các hợp tác xã cũng nhanh chóng được chuyển lên thành hợp tác xã bậc cao, đã dẫn đến tình trạng một số người đứng ra lấy danh nghĩa lập hợp tác xã, tổ hợp tác nhưng họ bao vốn, bao cổ phần và nắm quyền điều hành, xã viên thực chất là thợ làm thuê

Trong thương nghiệp và dịch vụ, ngày 05/06/1976 Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 12/CT về tổ chức hợp tác xã mua bán ở nông thôn miền Nam và phát triển hợp tác xã tiêu thụ ở thành thị Do vậy, chỉ 03 năm sau giải phóng, toàn miền Nam đã có hơn 50% số xã, phường có hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tiêu thụ

Thực tiễn hoạt động trong khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong suốt những năm 70 của thế kỷ XX đã bộc lộ một số khó khăn, yếu kém như: quá chú trọng tập thể hoá mà không coi trọng đúng các quan hệ lợi ích giữa tập thể và hộ gia đình cũng như bản thân xã viên; phương thức quản lý kém hiệu quả, xã viên không còn gắn bó với hợp tác xã, ruộng đất, tài sản không được sử dụng một cách có hiệu quả; quy mô hợp tác xã càng được mở rộng thì tình trạng lãng phí và vô chủ ngày càng trầm trọng; các chính sách của Nhà nước chậm được sửa đổi cho phù hợp, tổ chức và quản lý hợp tác xã mang nặng tính chất hành chính, làm sai lệch bản chất kinh tế đích thực của nó; thậm chí hợp tác xã còn bị coi như là một tổ chức xã hội, động lực xã viên

và người lao động giảm sút nghiêm trọng Nguyên nhân cơ bản những hạn chế, yếu kém về cơ chế, chính sách là do chúng ta nhận thức đơn giản về chủ nghĩa xã hội, nôn nóng đi lên chủ nghĩa xã hội mà không nhận thức và coi

Trang 36

trọng đầy đủ yêu cầu và tác động của các quy luật kinh tế khách quan, coi nhẹ, thậm chí phủ nhận vai trò và sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác trong thời kỳ quá độ; trong xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã, các nguyên tắc cơ bản xây dựng hợp tác xã đã bị vi phạm

Giai đoạn từ 1986 – 1996

Đại hội VI Đảng ta đã xác định rõ đường lối đổi mới nền kinh tế, trong đó

có đổi mới nhận thức về quan niệm và vị trí của các thành phần kinh tế, thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, từ đó kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã đã được nhìn nhận dưới tư duy mới Kinh tế hộ được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ và hợp tác xã bắt đầu được nhìn nhận dưới cấu trúc mới, bao gồm cả kinh tế tập thể và kinh tế hộ gia đình xã viên

Trong nông nghiệp, Bộ Chính trị (khoá VI) đã ra Nghị quyết NQ/TW về đổi mới kinh tế nông nghiệp với nội dung chủ yếu là tổ chức lại sản xuất trong các hợp tác xã, xác định rõ vai trò của kinh tế hộ gia đình xã viên trong phát triển kinh tế tập thể Và từ đó, kinh tế hộ gia đình được công nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, tồn tại lâu dài, là bộ phận cấu thành kinh tế tập thể

10-Trong lĩnh vực tín dụng, nếu như năm 1985 cả nước có 7.160 cơ sở hợp tác xã tín dụng nông thôn thì đến năm 1990, về cơ bản bị xoá bỏ hoặc tan rã; đến năm 1992 chỉ còn 200 hợp tác xã tín dụng hoạt động ở mức thấp; tháng 12/1993, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 190/TTg cho làm thí điểm xây dựng hợp tác xã tín dụng kiểu mới (sau này gọi là Quỹ tín dụng nhân dân) và thành lập các Quỹ tín dụng khu vực Đến tháng 5/1995, Quỹ tín dụng Trung ương được thành lập

Trong lĩnh vực thương mại, ngày 23/12/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 194/HĐBT kèm theo quy định về tổ chức và hoạt động của hợp tác xã mua bán Nhưng sau khi Nhà nước thực hiện chính sách

Trang 37

một giá, tự do lưu thông hàng hoá và một số thay đổi trong chính sách khác

đã làm cho hợp tác xã mua bán gặp nhiều khó khăn, một số bị giải thể do thua

lỗ hoặc chuyển đổi sang hình thức khác Đến năm 1996, cả nước có 326 hợp tác xã mua bán cơ sở, chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Thanh Hoá,…

Trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, việc mất thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ đã làm cho các hợp tác xã thủ công nghiệp hết sức khó khăn Đi liền đó việc giải thể hệ thống Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 16-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá VI) làm cho các hợp tác

xã thủ công nghiệp vốn hoạt động như một xí nghiệp quốc doanh, theo cơ chế

kế hoạch hoá tập trung, bao cấp chưa thích nghi kịp với cơ chế thị trường đã thật sự gặp khó khăn Đến năm 1991, cả nước chỉ còn 2.700 hợp tác xã thủ công nghiệp với hơn 337.000 xã viên; một số tỉnh không còn hợp tác xã thủ công nghiệp

Giai đoạn này có thể coi là thời kỳ khó khăn nhất trong quá trình phát triển hợp tác xã ở nước ta; số lượng hợp tác xã bị giảm mạnh, từ 73.490 hợp tác xã năm 1987 đến năm 1996 giảm xuống còn 18.607 hợp tác xã Mặt khác,

sự giúp đỡ của Nhà nước cho kinh tế hợp tác, hợp tác xã cũng thiếu kịp thời

và không theo kịp tình hình phát triển, nên tình hình phát triển loại hình kinh

tế hợp tác xã thời kỳ này là hết sức khó khăn

 Giai đoạn khi có Luật Hợp tác xã năm 1996 đến trước khi có Luật Hợp tác xã năm 2003

Ngày 20 tháng 3 năm 1996 Quốc hội đã thông qua Luật Hợp tác xã và

có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1997 Luật Hợp tác xã năm 1996 ra đời tạo hành lang pháp lý cho các hợp tác xã hoạt động trong điều kiện kinh tế mới của cơ chế thị trường Để chỉ đạo quá trình thực thi Luật Hợp tác xã, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 68-CT/TW, Chính phủ đã ban hành một số

Trang 38

Nghị định thi hành Luật Hợp tác xã: Nghị định 02/CP quy định về chức năng quản lý Nhà nước đối với hợp tác xã, Nghị định 15/CP quy định về các chính sách ưu tiên đối với hợp tác xã, Nghị định 16/CP quy định về chuyển đổi hợp tác xã cũ theo Luật Đây là lần đầu tiên chúng ta có một hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh về hợp tác xã, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đến thời điểm năm 2000, có tổng số 11.791 hợp tác xã đang hoạt động theo Luật

Ngày 18/3/2003 Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 5 khóa IX ra Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Sau hơn một năm triển khai đã có hơn 100.000 tổ hợp tác và hơn 1.000 hợp tác xã mới ra đời Chỉ riêng năm 2003 thành lập mới được 1.034 hợp tác xã Nhiều chính sách quy định, phát triển về kinh tế hợp tác, hợp tác xã tiếp tục ban hành và sửa đổi tạo tiền đề cho việc ban hành Luật Hợp tác xã mới, hoàn thiện hơn

 Giai đoạn từ khi có Luật Hợp tác xã năm 2003 đến nay

Ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Hợp tác xã năm 2003 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004 Luật Hợp tác xã năm 2003 ra đời trên tinh thần kế thừa và bổ sung Luật Hợp tác xã năm 1996 tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác xã phát triển tốt trong điều kiện tình hình mới như ngày nay Sau khi Luật Hợp tác xã được ban hành, Chính phủ ban hành nhiều Nghị định và các Bộ ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn đảm bảo Luật được thi hành một cách đồng bộ Đây là cơ sở pháp lý tương đối hoàn chỉnh thúc đẩy hợp tác xã phát triển xứng tầm với vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân

Tính đến cuối năm 2009, cả nước ta có 18.104 hợp tác xã, trong đó có 8.828 hợp tác xã nông nghiệp, 896 hợp tác xã thương mại dịch vụ, 1.027 hợp tác xã giao thông vận tải, 510 hợp tác xã thủy sản, 916 hợp tác xã xây dựng,

Trang 39

2.571 hợp tác xã công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, 1.037 quỹ tín dụng nhân dân, 1.932 hợp tác xã điện nước, 121 hợp tác xã môi trường, 266 hợp tác xã lĩnh vực khác[12] Với sự đóng góp của khu vực hợp tác xã hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội và văn hóa Thu hút phần lớn lao động xã hội; khu vực kinh tế này đóng góp gần 8% tổng sản phẩm quốc nội; hỗ trợ tích cực cho kinh tế hộ phát triển; góp phần tăng thu nhập cho xã viên và người lao động; góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.[14]

 Một số hợp tác xã nông nghiệp điển hình tiên tiến ở Việt Nam

- Hợp tác xã rau an toàn Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần

Thơ “Sản xuất rau an toàn, nâng cao thu nhập cho xã viên, góp phần chuyển

dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị” Hợp tác xã nông nghiệp Tân An, xã Tân An,

huyện Đăkpơ, tỉnh Gia Lai “Hợp tác xã làm tốt đầu ra cho xã viên”

- Hợp tác xã chè Tân Lập, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

“HTX vực lại nghề trồng chè xuất khẩu, giúp bà con xoá đói, giảm nghèo, hướng tới làm giàu”

- Hợp tác xã nông nghiệp Tân Dĩnh, xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang “4 dịch vụ - hàng trăm triệu đồng lãi”

HTX Nông Nghiệp Tân Dĩnh thực hiện 4 dịch vụ chính: dịch vụ thuỷ lợi tưới tiêu; dịch vụ chuyển giao khoa học kỹ thuật; dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm; dịch vụ cung ứng điện phục vụ sinh hoạt

và sản xuất Nhìn chung các loại hình dịch vụ của HTX nông nghiệp Tân Dĩnh đều có lãi, năm sau cao hơn năm trước: năm 2005 lãi 149 triệu đồng, năm 2006 lãi 213 triệu đồng; 6 tháng đầu năm 2007 lãi gần 180 triệu đồng (bằng 85% năm 2006); thu nhập bình quân của cán bộ HTX đạt từ 700.000 đến 1.000.000 đồng/người/tháng - mức lương khá so với các HTX dịch vụ nông nghiệp khác

Ngày đăng: 07/07/2017, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. UBND xã Phúc Xuân (2013), Báo cáo: “ Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2013 ước đạt năm 2013. Nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2013 ước đạt năm 2013. Nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2014
Tác giả: UBND xã Phúc Xuân
Năm: 2013
11. UBND xã Phúc Xuân (2014), Báo cáo: “ Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014; phương hướng, nhiệm vụ năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014; phương hướng, nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: UBND xã Phúc Xuân
Năm: 2014
12. UBND xã Phúc Xuân (2014), Báo cáo: “Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015; phương hướng, nhiệm vụ năm 2016”.Tài liệu Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015; phương hướng, nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: UBND xã Phúc Xuân
Năm: 2014
3. Naoto Imagawa (2000), Chu Thị Hảo (2003), Lý luận về HTX – Quá trình phát triển HTX nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Ty (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Hợp tác xã, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
5. Phạm Quang Vinh, Liên minh HTX Việt Nam (2008), Kinh nghiệm từ mô hình HTX nông nghiệp của Đức Khác
6. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Hợp tác xã, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Hợp tác xã, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Trung tâm hỗ trợ phát triển HTX và doanh nghiệp vùng Đồng bằng Bắc bộ TP Hải Phòng (2008), Mô hình kinh Hải Phòng (2013), Một số những điểm mới trong Luật HTX năm 2012 Khác
9. UBND tỉnh Thái Nguyên (2013), Báo cáo tình hình sản xuất và tiêu thụ chè Thái Nguyên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất tại xã Phúc Xuân - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất tại xã Phúc Xuân (Trang 49)
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè tại xã Phúc Xuân từ năm - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè tại xã Phúc Xuân từ năm (Trang 52)
Bảng 4.3: Thông tin chung về các hộ điều tra - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.3 Thông tin chung về các hộ điều tra (Trang 54)
Bảng 4.5: Cơ cấu giống chè của các hộ tham gia HTX và các hộ không - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.5 Cơ cấu giống chè của các hộ tham gia HTX và các hộ không (Trang 56)
Bảng 4.6: Tình hình sản  xuất  chè của hộ tham gia HTX và hộ không - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.6 Tình hình sản xuất chè của hộ tham gia HTX và hộ không (Trang 57)
Bảng 4.7: So sánh  chi phí đầu vào  bình quân 1 sào chè /năm của hộ tham gia HTX với hộ - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.7 So sánh chi phí đầu vào bình quân 1 sào chè /năm của hộ tham gia HTX với hộ (Trang 59)
Bảng 4.8: Doanh thu từ chè của hộ tham gia HTX và hộ không - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.8 Doanh thu từ chè của hộ tham gia HTX và hộ không (Trang 61)
Bảng 4.9: Kết quả sản xuất chè của hộ tính bình quân 1 sào/năm - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.9 Kết quả sản xuất chè của hộ tính bình quân 1 sào/năm (Trang 63)
Bảng 4.10: So sánh hiệu quả sản xuất chè trên một sào/năm của các hộ - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.10 So sánh hiệu quả sản xuất chè trên một sào/năm của các hộ (Trang 64)
Bảng 4.11: Sử dụng vật tƣ đầu vào của hộ tham gia HTX và hộ không - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.11 Sử dụng vật tƣ đầu vào của hộ tham gia HTX và hộ không (Trang 68)
Bảng 4.13: Mức độ, chất lƣợng các lớp tập huấn kĩ thuật của HTX đối - Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã phúc xuân – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên
Bảng 4.13 Mức độ, chất lƣợng các lớp tập huấn kĩ thuật của HTX đối (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w