VI THỊ THANH THÚY Tên đề tài: NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY MÍA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAO KỲ, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy Chuyê
Trang 1VI THỊ THANH THÚY
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY MÍA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAO KỲ, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2VI THỊ THANH THÚY
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY MÍA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAO KỲ, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Lớp : K44 - PTNT
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lành Ngọc Tú
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3triển cây mía trên địa bàn xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn” là
công trình nghiên cứu thực sự của bản thân, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu khảo sát tình hình
thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khóa học của thầy giáo Th.S Lành Ngọc Tú
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này hoàn toàn trung thực, chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào, các thông tin tài liệu trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Thái Nguyên, ngày… tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Vi Thị Thanh Thúy
Trang 4đã được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Tập thể các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lành Ngọc Tú đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp
UBND xã Cao Kỳ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá tình thực tập và nghiên cứu tại cơ sở
Bà con nhân dân trong các thôn được chọn làm địa bàn nghiên cứu đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin nghiên cứu để hoàn thành đề tài này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày… tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Vi Thị Thanh Thúy
Trang 51 UBND Ủy ban nhân dân
2 FAO Tổ chức nông nghiệp và lương thực Liên
Trang 6kỳ 2007-2013) 14
Bảng 2.2: Năng suất mía trung bình mía ở một số nước vụ 2012/2013 15
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng mía ở Việt Nam (2012 - 2014) 19
Bảng 4.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của Xã qua 3 năm 28
Bảng 4.2: Tình hình sản xuất mía của xã trong 3 năm 2013- 2015 36
Bảng 4.3: Diện tích trồng mía của một số thôn tại xã Cao Kỳ 37
Bảng 4.4: So sánh giữa đặc điểm mía đường trồng tại xã và một số loại giống mía lai tạo khác 38
Bảng 4.5: So sánh kỹ thuật trồng mía giữa thực tế và lý thuyết 40
tại các hộ sản xuất mía 40
Bảng 4.7: Tình hình nhân lực sản xuất mía tại các hộ điều tra 44
Bảng 4.8: Trình độ học vấn của các hộ điều tra 45
Bảng 4.9: Diện tích đất trồng mía bán và mía nguyên liệu (mật mía) của các hộ điều tra 46 Bảng 4.10: Chuỗi giá trị cho một tấn mía bán tại các hộ điều tra 48
Bảng 4.11: Chi phí cho sản xuất của 1ha diện tích trồng mía 50
Bảng 4.12: Chi phí cho sản xuất mật mía của 1 ha diện tích trồng mía 52
Bảng 4.13: Hình thức tiêu thụ mía của các hộ điều tra 53
Bảng 4.14: Hiệu quả sản xuất mía của 1ha diện tích trồng mía 53
Bảng 4.15: Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của mía bán và mía nguyên liệu (mật mía) 54
Bảng 4.16: Chỉ tiêu đánh giá khó khăn trong sản xuất mía tại các hộ điều tra 57
Bảng 4.17: Một số đề suất trong sản xuất phát triển cây mía tại các hộ điều tra 58
Bảng 4.18: Một số đề suất cho vay vốn tại các hộ điều tra 59
Trang 7Hình 4.2: Sơ đồ tiêu thụ mía bán tại các hộ điều tra 47 Hình 4.3: Sơ đồ tiêu thụ mật mía tại các hộ điều tra 49
Trang 81.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây mía 4
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 13
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mía đường trên thế giới 13
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mía trong nước 17
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm trong việc sản xuất phát triển cây mía 20
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.1.3 Địa điểm và thời gian tiến hành 23
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp 24
3.3.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin sơ cấp 24
3.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 25
3.3.4 Phương pháp so sánh 25
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn 26
4.1.1 Điều kiện thự nhiên 26
Trang 94.2.1 Thực trạng về năng suất, diện tích và sản lượng mía của xã 35
4.2.2 Cơ cấu về giống mía trên địa bàn xã 37
4.2.3 Quy trình sản xuất mía trên địa bàn xã 39
4.2.3.1 Quy trình sản xuất mía bán 39
4.2.4 Tác động của sản xuất mía đến môi trường trên địa bàn xã 43
4.3 Thực trạng phát triển cây mía tại các hộ điều tra 43
4.3.1 Đặc điểm của các hộ trồng mía 44
4.3.2 Thực trạng tiêu thụ mía các hộ điều tra 47
4.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ trồng mía 50
4.3.4 Những khó khăn gặp phải và đề xuất của các hộ điều tra trong sản xuất mía 55 4.3.4.1 Tình trạng sâu bệnh hại tại các hộ sản xuất mía 55
4.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển cây mía tại xã Cao Kỳ 60 4.4.1 Thuận lợi 60
4.4.3 Khó khăn 61
4.5 Các giải pháp phát triển 62
4.5.1 Giải phát phát triển mía bán 62
4.5.2 Giải pháp phát triển mía nguyên liệu (mật mía) 65
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
5.2 Kiến nghị 68
5.2.1 Đối với Nhà nước 68
5.2.2 Đối với các cấp chính quyền 68
5.2.3 Đối với người dân sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong thời kỳ hội nhập cùng với sự chuyển biến tích cực của nền kinh
tế Việt Nam thì ngành nông nghiệp luôn được coi là ngành quan trọng hàng đầu Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư và quan tâm nhiều hơn tới nông nghiệp Song nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn như khả năng cạnh tranh so với các nước trong khu vực, gặp nhiều rủi ro, bất lợi do thời tiết, thị trường, thể chế chính sách Những rủi ro bất lợi này tác động rất lớn tới người nông dân Xét một cách toàn diện người nông dân luôn là những người chịu nhiều thiệt thòi và luôn gặp khó khăn nhất trong cuộc sống
Đối với nông dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính Ngày xưa cây mía tạo ra thu nhập cho người nông dân với các sản phẩm mật mía, đường mía thì ngày nay, cây mía và ngành mía đường tại Việt Nam được xác định không chỉ là ngành kinh tế và mang lại lợi nhuận cao mà còn là một ngành kinh tế xã hội do nó có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống của hàng nghìn hộ nông dân
Cao Kỳ với đơn vị hành chính gồm 14 thôn, người dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, là vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp với cây công nghiệp như đỗ tương, lạc, mía….So với các cây trồng khác thì cây mía
là loại cây có giá trị cao Trong những năm gần đây diện tích trồng mía và số
hộ trồng mía ngày càng tăng, theo đó đời sống của người dân được cải thiện
rõ rệt, là một hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng đúng đắn Cây mía góp phần tạo công ăn việc làm, tận dụng lao động hợp lý, tăng thu nhập cho người lao động Đây là thực tế đáng mừng bởi như thế có nghĩa là người dân đã tìm
ra được lối thoát xóa đói giảm nghèo cho chính họ
Tuy nhiên, người trồng mía vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất do điều kiện thời tiết khí hậu, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, giá cả thị trường không ổn định và giá cả vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất mía tương đối cao Do đó, người nông dân không giám mạnh dạn đầu tư thâm
Trang 12canh dẫn đến hiệu quả sản xuất mía thấp Xuất phát từ thực tế đó, việc xem xét tình hình sản xuất mía của địa phương, đánh giá chính xác hiệu quả kinh
tế của cây trồng là một trong những cơ sở để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất mía để giúp các hộ sản xuất mía có
hiệu quả hơn Đó là lý do chính mà tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu các giải pháp phát triển cây mía trên địa bàn xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng sản xuất mía ở địa phương, phát hiện điểm thuận lợi
và khó khăn, từ đó đề xuất các định hướng và một số giải pháp khả thi Khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống của người nông dân trên địa bàn xã
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng phát triển cây mía trên địa bàn nghiên cứu
- Xác định rõ những thuận lợi, khó khăn trong phát triển cây mía trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển cây mía trên địa bàn một cách có hiệu quả trong thời gian tới
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn, tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học
- Rèn luyện các kỹ năng thu thập xử lý số liệu, viết báo cáo
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo các ban ngành tham khảo đưa ra phương hướng để phát triển tiềm năng và thế mạnh, giải quyết những khó khăn và trở ngại nhằm phát triển cây mía tại xã Cao Kỳ nói riêng và nông sản hàng hóa trên địa bàn huyện Chợ Mới nói chung
Trang 13PHẦN II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Nguồn gốc
Cây mía xuất hiện trên trái đất từ thời rất xa xưa, khi lục địa châu Á và châu Úc còn dính liền Một số tác giả cho rằng vùng Tân Guinea là quê hương của cây mía nguyên thủy và từ đây mía được đưa đến các vùng khác nhau trên thế giới Tuy nhiên, trong tác phẩm "Nguồn gốc cây trồng" của De Candelle lại viết: "Cây mía được trồng đầu tiên ở vùng Đông Nam Á, rồi từ đó qua châu Phi và sau cùng là châu Mỹ" (Humbert, 1963) Trong ngôn ngữ Sankrit (tiếng phạn) các từ như Sarkara hay Sakkara chỉ tên đường ăn là bắt nguồn từ ngôn ngữ châu Á, điều đó càng khẳng định cây mía có ngruồn gốc từ đây Khi cây mía được đưa đến trồng ở vùng Ả Rập, tên Sarkara hay Sakkara được chuyển thành Sukkar Từ vùng Ả Rập cây mía được đưa sang Ethiopia, Ai Cập, rồi Sicilia và những thập tự quân đưa đến Chipre Những người Ả Rập cũng đem mía vào Tây Ban Nha, Thái tử Bồ Đào Nha Don Enrique nhập mía đem trồng ở đảo Madeira rồi từ đó chuyển đến Canarias Ở vùng này, điều kiện khí hậu, đất đai rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây mía, và chính nơi đây đã sản xuất ra tất cả lượng đường tiêu dùng của châu
Âu trong vòng 300 năm Cây mía được đưa đến châu Mỹ trong chuyến đi thứ hai của Cristobal Colon vào năm 1493 và trồng tại đảo Santo Domingo Cuối thế kỷ 18 ở châu Âu người ta tìm ra một loại đường mới lấy từ cây củ cải đường và từ đó đường mía và đường củ cải cùng song song phát triển (Humbert, 1963) [11]
Cùng với cây mía là công nghệ chế biến đường mía và Ấn Độ (châu Á)
là nước đi đầu trên thế giới (Nguyễn Ngộ và ctv, 1984) Ngay từ thế kỷ thứ
IV, họ đã biết chế biến mật thành đường kết tinh Từ Ấn Độ, Trung Quốc, kỹ
Trang 14nghệ chế biến đường mía được lan rộng sang các vùng Ả Rập, châu Phi, châu
Âu, châu Mỹ và châu Úc Lúc đầu còn thô sơ, người ta ép bằng hai trục gỗ đứng và kéo bằng sức người hoặc trâu bò Dần dần, ngành công nghiệp này ngày một phát triển Năm 1163, Gillerme II ở Sicilia đã tặng nhà dòng San Benito một máy ép mía với đầy đủ phụ tùng Đến thế kỷ XVI, nhiều nhà máy đường được xây dựng hoàn chỉnh hơn và sang thế kỷ XIX thì nhà máy đường
hiện đại đầu tiên ra đời [11]
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây mía
2.1.2.1 Đặc điểm sinh học của cây mía
Mía có tên khoa học là Sacharumof feiniruml, là ngành có hạt, lớp 1 lá mầm, thuộc họ hoa thảo, chu kỳ sinh trưởng của cây mía hom đến khi thu hoạch kéo dài một năm Trường hợp đặc biệt là 2 năm như ở Hawoai (Mỹ) Thời gian sinh trưởng mía kéo dài 5 giai đoạn: nảy mầm, đẻ nhánh, vươn cao, chín công nghiệp và giai đoạn kéo cờ Mía có một số đặc điểm sinh học cụ thể như sau [4]
- Khả năng sinh khối lớn: Nhờ đặc điểm có chỉ số diện tích lá lớn và khả năng lợi dụng cao ánh sáng mặt trời Trong thời gian 10 – 12 tháng, 1ha mía
có thể cho năng suất hàng trăm tấn mía cây và một khối lượng lớn lá xanh, gốc rễ để lại trong đất [5]
- Khả năng tái sinh mạnh: Mía có khả năng lưu gốc được nhiều năm một lần trồng thu hoạch được nhiều vụ và giảm chi phí sản suất
- Khả năng thích ứng rộng: Mía có thể trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau (khí hậu, đất đai, khô hạn hoặc úng ngập…), chống chịu tốt với các điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên và môi trường [5]
Trang 152.1.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây mía
- Nhiệt độ: Thích hợp trong phạm vi 20 - 250C Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp Thời kỳ đầu, từ khi đặt hom đến mọc mầm thành cây con nhiệt độ thích hợp
từ 20 - 250C Thời kỳ đẻ nhánh (cây có 6 - 9 lá), nhiệt độ thích hợp 20 - 300C
Ở thời kỳ mía làm dóng vươn cao, yêu cầu nhiệt độ cao hơn để tăng cường quang hợp, tốt nhất là 30 - 320C [2]
- Ánh sáng: Rất cần cho sự quang hợp để tạo đường cho cây mía Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng Thiếu ánh sáng cây mía phát triển yếu, vóng cây, hàm lượng đường thấp và cây mía
dễ bị sâu bệnh Trong suốt chu kỳ sinh trưởng, cây mía cần khoảng 2.000 - 3.000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng 1.000 giờ trở lên [2]
- Lượng nước và độ ẩm đất: Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây mía Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% khối lượng) Lượng mưa thích hợp 1.500 - 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian từ 8 - 10 tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch Cây mía là loại cây trồng cạn, có bộ rễ ăn nông nên rất cần nước nhưng không chịu được ngập úng Ở vùng đồi gò đất cao cần nước tưới trong mùa khô Nơi đất thấp cần thoát nước tốt trong mùa mưa Thời kỳ cây mía làm dóng vươn cao cần rất nhiều nước, độ ẩm thích hợp khoảng 70 - 80%, ở các thời kỳ khác cần ẩm độ 65 - 70% [2]
- Độ cao: Độ cao có liên quan đến cường độ chiếu sáng cũng như mức chênh lệch giữa ngày và đêm, do đó ảnh hưởng đến khả năng tích tụ đường trong mía Giớ hạn về độ cao cho cây mía sinh trưởng và phát triển ở vùng xích đạo là 1.600 m, ở vùng nhiệt đới là 700 - 800 m[2]
- Đất trồng: Mía là loại cây công nghiệp khỏe, dễ tính, không kén đất có thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau, từ 70% sét đến 70% cát Đất thích
Trang 16hợp nhất cho mía là những loại đất xốp, tầng đất canh tác sâu, có độ phì cao, giữ ẩm tốt và dễ thoát nước Có thể trồng mía có kết quả trên cả những nơi đất sét nặng cũng như trên đất than bùn, đất hoàn toàn cát, đất chua mặn, đất đồi, đất khô hạn ít màu mỡ Yêu cầu tối thiểu với đất trồng là có độ sâu, độ thoáng nhất định, độ pH không vượt quá giớ hạn từ 4 - 9, độ pH thích hợp là 5,5 - 7,5 Độ dốc địa hình không vượt quá 150, đất không ngập úng thường xuyên Những vùng đất đai bằng phẳng cơ giới vận tải tương đối thuận lợi đều có thể
bố trí trồng mía Ngoài ra, người ta có thể canh tác mía ở cả những vùng gò đồi có độ dốc không lớn lắm ở vùng trung du miền núi Tuy nhiên, với những vùng địa bàn này cần bố trí các rãnh theo các đường đồng mức để tránh sói mòn đất Ngành trồng mía chỉ có thể cho hiệu quả kinh tế cao khi hình thành những vùng chuyên canh có quy mô lớn [2]
- Gió: Mía sợ gió mạnh và khô Gió bão làm cây đổ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây mía, đồng thời tăng thêm chi phí thu hoạch[8]
- Giống mía: Giống mía đóng vai trò quan trọng trong sản xuất mía, giống mía có thể sử dụng phần ngọn của cây mía khi thu hoạch hoặc sử dụng toàn bộ cây mía để làm giống Giống mía tốt là giống cho năng suất cao, hàm lượng đường nhiều, thích hợp với điều kiện sinh thái, trồng trọt và chế biến của từng vùng Yêu cầu này thể hiện ở các tiêu chuẩn chung và tăng trưởng nhanh, tỷ lệ đường cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh, thích hợp với điều kiện sinh thái và đất đai của từng vùng, để gốc tốt, không hoặc ít ra hoa, thích hợp với điều kiện chế biến của mỗi nơi Hiện nay, nhờ tiến bộ kỹ thuật, nước
ta đã sản xuất ra các loại giống mía mới cho năng suất và chất lượng cao[2]
- Giai đoạn từ những năm 2000 tới nay, công tác nghiên cứu, chuyển giao giống mía và biện pháp thâm canh tiếp tục được nhà nước, các Bộ, ngành mía đường, các địa phương, các doanh nghiệp mía đường và người trồng mía quan tâm Trong những năm qua, trung tâm nghiên cứu và phát triển mía
Trang 17đường Việt Nam đã lai tạo và đưa được nhiều loại giống mía có năng suất cao
và trữ lượng đường với tỷ lệ cao như: Giống mía VN84 - 422, ROC10, MI, F156, VN85 - 1427, DLM24, MI55 - 14, K48 - 200, VN84 - 1437…những giống này có năng suất cao, ổn định và có HQKT cao Cho đến năm 2008, trên toàn quốc đã đưa vào sử dụng nhiều giống mía phù hợp với từng địa phương [4]
2.1.1.3 Phân loại giống mía ở Việt Nam
Trên thực tế hiện nay ở Việt Nam, cây mía được chia thành hai loại mía chính: mía ăn và mía công nghiệp
- Mía ăn: Nhóm này chiếm diện tích rất ít, chỉ một phần nhỏ và tập trung chủ yếu ở các tỉnh như: Hà Tây, Hưng Yên, Bắc Kạn, Hòa Bình… Đây là nhóm mía nhiệt đới, thân mềm, nhỏ, hàm lượng đường glucose và fuctose cao hơn các nhóm khác nên rất bổ mát Nhóm mía này hoàn toàn là nhóm mía nguyên thủy chưa trải qua công nghệ chuyển gen hiện đại Nhóm mía này có thể trồng quanh năm không theo mùa vụ chính, không chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh Tuy nhiên, yêu cầu về chế độ dinh dưỡng cao không thích hợp để trồng cây công nghiệp Một số giống tiểu biểu như: mía tím, mía bầu…
- Mía ép công nghiệp: Đây là các giống mía dùng để phục vụ cho công nghiệp chế biến đường, phần lớn các giống mía này được nhập từ Đài Loan,
Ấn Độ, Trung Quốc Căn cứ vào thời điểm chín công nghiệp của mía người ta chia mía ép thành các nhóm chính như sau [4]:
+ Nhóm mía chín sớm: Nhóm này chiếm khoảng 20 - 30% diện tích của
vụ, thu hoạch vào đầu tháng 10 Nhóm này gồm: Giống Việt đường 54 - 143, giống Neo 320, giống Ja 60-5…
Trang 18+ Nhóm mía chín trung bình: Đây là nhóm mía trồng chính của ngành công nghiệp mía, diện tích trồng chiếm 40 - 50% diện tích cả vụ Bao gồm các giống: Giống F156, giống Co 715, giống F134…
+ Nhóm mía chín muộn: Nhóm này chiếm tỷ lệ 20 - 30% diện tích của mía ép công nghiệp, gồm giống My 514 là giống mía gốc Cuba hiện đang được trồng phổ biến ở nam bộ, năng suất đạt 80 - 1000 tấn/ha
2.1.1.4 Kỹ thuật gieo trồng
- Thời vụ gieo trồng: Thời vụ trồng mía có thể kéo dài từ tháng 9 đến hết tháng 3 năm sau[3]
- Xử lý giống: Hom giống nên trồng ngay khi hom giống còn tươi, chỉ
xử lý hoặc ngâm ủ đối với vùng trồng có nhiệt độ thấp hoặc bị nấm bệnh[3]
- Mật độ, khoảng cách trồng: Khoảng cách trồng mía và số lượng hom giống thay đổi tuy theo điều kiện khí hậu, đất đai, giống, trình độ tập quán canh tác từng nơi Khoảng cách trồng mía dao động từ 0,9 m đến 1,2 m, lượng hom biến động từ 4 đến 8 tấn/ha [3]
- Cách trồng: Trên rãnh đặt hom trồng thành một hàng hay hai hàng so
le, đặt mầm mía nằm ra hai bên, lấp đất dày mỏng tùy đất khô hay ẩm, nhiệt
độ cao hay thấp (khô, rét lấp đất dày; ẩm lấp đất nông; trồng vụ thu chỉ cần lấp kín hom) [3]
- Làm đất trồng mía: Chuẩn bị đất trồng mía là khâu kỹ thuật đầu tiên rất quan trọng Làm đất trồng mía có hai bước: Cày bừa và hót luống (rạch hàng) [3] + Cày, bừa: Phải đảm bảo 2 tiêu chuẩn cơ bản là độ sâu và độ mịn Cày được càng sâu càng tốt, vì bộ rễ mía ăn sâu đến 50 - 60% cm
+ Hót luống: Rãnh trồng mía phải sâu 25 cm, đáy rãnh có một lớp đất xốp 5 - 10 cm
- Chăm sóc
Trang 19+ Bón phân: Nguyên tắc là đất xấu bón nhiều phân, đất tốt thì bón ít phân, đất nghèo loại phân gì thì bón loại phân đấy [3]
Phân hữu cơ: Bón từ 8 đến 20 tấn/ha bón lót toàn bộ
Phân tổng hợp sinh học: Bón từ 1.500 - 2.000 kg/ha, bón lót 50%, bón thúc khi mía kết thúc đẻ nhánh 50%
Đạm urê: Bón lót từ 300 đến 450 kg/ha, cá biệt có thể bón đến 550 kg/ha, bón lót 50%, bón thúc lúc mía kết thúc đẻ nhánh 50%
Phân lân: Bón từ 400 đến 600 kg/ha, cá biệt có thể bón 1.000kg/ha, bón lót toàn bộ
Kali: Bón lót từ 200 đến 300 kg/ha, bón lót toàn bộ hoặc bón lót 50%
và bón sao khi mía kết thúc đẻ nhánh 50%
Vôi: Bón từ 500 đến 1200 kg/ha, đất quá chua phải bón liên tục cho nhiều năm để đưa độ pH lên xấp xỉ 6
- Diệt cỏ, phá váng, cày xới, dặm mầm, bóc bẹ già [3]
Từ khi trồng đến trước khi mía giao tán phải thường xuyên diệt sạch cỏ dại bằng cuốc, bằng cày hoặc bằng thuốc trừ cỏ
Từ khi trồng đến trước khi mía đẻ nhánh, nếu mưa to phải xới phá váng, nếu thiếu mầm phải dặm kịp thời
Từ khi mía đẻ đến khi giao tán phải thường xuyên cày xới đất giữa hai hàng mía, vun đất cho gốc mía để chống bị đổ mía, thường xuyên bóc lớp bẹ già và bẹ khô
- Phòng trừ sâu bệnh: Mía bị rệp hại nặng sẽ hỏng ngọn, hỏng gốc và mất đường Dùng OFATOX pha với nước tỷ lệ 1/700 - 1/1100 phun diệt rệp triệt để từ khi mới chớm phát sinh [3]
- Thu hoạch: Khi thu hoạch phải chặt sát gốc và hông được làm dập gốc, không được thu hoạch vào lúc đất quá ướt để khỏi ảnh hưởng xấu đến vụ lưu gốc [3]
Trang 202.1.1.5 Giá trị kinh tế của cây mía
Mía là loại cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường Đường là một loại thực phẩm cần có trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của nhiều quốc gia trên thế giới, cũng như là loại nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành sản xuất công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng như bánh kẹo…
Về mặt kinh tế chúng ta nhận thấy trong thân mía chưa khoảng 16 - 18
% đường Vào thời kỳ mía chín già người ta thu hoạch mía rồi đem ép lấy nước từ nước dịch mía được chế lọc cô đặc thành đường [1]
Ngoài sản phẩm chính là đường những phụ phẩm chính của cây mía bao gồm: Bã mía chiếm 25 - 30% trọng lượng mía đem ép Trong bã mía chứa trung bình 49% là nước, 48% là xơ (trong đó chứa 45 - 55% xenlulo) 2,5% là chất hòa tan (đường) Bã mía có thể dùng làm nguyên liệu đốt hoặc làm bột giấy, ép thánh ván dùng trong kiến trúc, cao hơn là làm thành furfural là nguyên liệu cho ngành sợi tổng hợp Trong tương lai khi mà rừng ngày càng giảm nguồn nguyên liệu làm bột giấy, làm sợi thì mía là nguyên liệu quan trọng để thay thế [1]
Mật gỉ chiếm 3 - 5% trọng lượng đường ép Thành phần mật gỉ trung bình chứa 20% nước, đường saccaro 35%, đường khử 20%, tro 15%, protein 5%, sáp 1%, bột 4% trọng lượng riêng Từ mật gỉ cho lên men trưng cất rượu Rhums, sản xuất men các loại Một tấn mật gỉ cho một tấn men khô hoặc các loại axit axetic hoặc có thể sản xuất được 300 lít tinh dầu và 3.800 lít rượu
Từ một tấn mía tốt người ta có thể sản xuất ra 35 – 50 lít cồn 950, 1ha trồng mía với kỹ thuật hiện đại của thế kỷ 21 có thể sản xuất 7.000 – 8.000 lít cồn
để làm nhiên liệu Vì vậy, khi mà nguồn nhiên liệu lỏng ngày càng cạn kiệt thì người ta đã nghĩ đến việc thay thế năng lượng của thế kỷ 21 là lấy từ mía[1] Bùn lọc chiếm 1,5 – 3% trọng lượng mía đem ép Đây là sản phẩm cặn
bã còn lại sau khi chế biến đường Trong bùn lọc chứa 5% N, 3% protein thô
Trang 21và một lượng lớn chất hữu cơ Từ bùn lọc có thể rút ra sáp mía để sản xuất sơn, xi đánh giầy… Sau khi lấy sáp, bùn lọc dùng làm phân bón rất tốt [1] Mía còn là loại cây có tác dụng bảo vệ đất rất tốt Mía thường trồng từ tháng 9 đến tháng 3 hàng năm là lúc lượng mưa rất thấp Đến mùa mưa, mía được 4 - 5 tháng tuổi, bộ lá đã giao nhau thành tán lá xanh dày, diện tích lá gấp 4 - 5 lần diện tích đất làm cho mưa không thể rơi trực tiếp xuống mặt đất
có tác dụng tránh sói mòn đất cho các vùng đồi trung du Hơn nữa mía là loại cây rễ chùm và phát triển mạnh trong khoảng tầng đất thừ 0 - 60 cm Trong 1
ha mía tốt có thể có 13 - 15 tấn rễ, sau khi thu hoạch bộ rễ để lại trong đất cùng với bộ lá là chất hữu cơ quý làm tăng độ phì của đất [1]
Như vậy, nếu đầu tư có hiệu quả ngành mía đường sẽ mở ra một tương lai mới đầy hy vọng cho vùng trồng mía, trước hết là người nông dân, sau đó
là các nhà máy chế biến đường và các nhà máy phụ trợ khác Khi phát triển được vùng chuyên canh có quy mô lớn, vấn đề việc làn cho người lao động nông nghiệp trên lãnh thổ sẽ được giải quyết cơ bản Mặt khác, việc cung cấp mía nguyên liệu ổn định sẽ đảm bảo cho công nghiệp chế biến mía đường phát triển kéo theo các ngành công nghiệp chế biến khác như bánh kẹo, những ngành công nghiệp phụ phẩm sau đường phát triển Giá trị kinh tế hàng hóa cây mía tăng lên, cơ cấu kinh tế cây trồng cũng như cơ cấu kinh tế xã hội có
sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng tiến bộ Khoảng cách về thu nhập của lao động nông nghiệp và công nghiệp được rút ngắn và ổn định
2.1.1.6 Một số nhân tố ảnh hưởng đến năng suất mía
- Nhân tố bên ngoài
+ Điều kiện thời tiết khí hậu: Mía là một cơ thể sống có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng Chính vì vậy, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mía chịu tác động rất lớn của điều kiện tự nhiên như nhiệt độ, ánh sáng, đổ ẩm, lượng mưa…
Trang 22+ Thị trường đầu vào, đầu ra: Giá cả đầu vào và giá cả đầu ra có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định của người sản xuất Giá cả đầu vào tăng cao sẽ hạn chế khả năng đầu tư dẫn đến việc giảm năng suất và chất lượng của cây mía Một thị trường tiêu thụ ổn định, giá cả đầu ra có thể bù đắp được chi phí sản xuất và sinh lợi nhuận chính là điều kiện cần để các hộ tiếp tục đầu tư sản xuất mía
+ Cơ sở hạ tầng: Các yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ thống thủy lợi, thông tin liên lạc, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất mía Cơ
sở hạ tầng phát triển sẽ tao điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất phát triển
và ngược lại cơ sở hạ tầng kém phát triển chính là nhân tố kìm hãm sản xuất phát triển
+ Cơ chế chính sách của nhà nước, tỉnh, địa phương: Ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả sản xuất mía, đặc biệt là một số chính sách về đất đai, tín dụng, thuế…
- Các nhân tố bên trong
+ Quy mô và tính chất đất đai: Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được Chính vì vậy, đất đai chính là yếu tốt quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp Quy mô đất đai có ảnh hưởng rõ rệt tới mức độ đầu tư, khả năng áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của cây trồng
+ Công nghệ kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: Việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất mía đặc biệt là việc đưa giống mới, mô hình trồng mía và cơ giới hóa vào sản xuất
Trang 23+ Mức độ đầu tư: Giống, phân bón, vôi, thuốc BVTV, công chăm sóc ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng của cây trồng Mức độ đầu tư hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế của cây mía
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mía đường trên thế giới
Ngành mía đường trên thế giới phát triển khá lâu đời, vào khoảng thế kỷ thứ 16, khi sự khai thác đầu tiên được hình thành ở Puerto Rico, rồi đến Cuba, nguyên liệu sản xuất đường chủ yếu lúc này là cây mía, vì thế sản lượng đường thu được không cao Cho đến thế kỷ thứ 19, khi chúng ta biết tinh lọc
ra đường từ cây củ cải đường, đã mở ra một ngành công nghiếp sản xuất đường ở Châu Âu Từ đó, sản xuất đường đạt được nhiều đột phá Từ khoảng 820.000 tấn vào đầu những năm đầu cách mạng công nghiệp, đến 18 triệu tấn trước chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918)
Mía được trồng chủ yếu tại khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, là cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường, ưa sáng và cần nhiều nước Tính đến cuối năm 2014, tổng diện tích trồng mía trên toàn thế giới đạt gần 27,6 triệu ha và tổng sản lượng mía thu hoạch đạt 1,94 tỷ tấn, lần lượt tăng 28,7% và 37,3% so với năm 2002 Brazil là nước có diện tích trồng mía lớn nhất thế giới với hơn 9,7 triệu ha (39%), tiếp theo là Ấn Độ (19%), Trung Quốc (7%), Thái Lan (5%) Năng suất mía trung bình trên thế giới vào năm 2014 khoảng 70,5 tấn/ha [11]
Trang 24Bảng 2.1: Bình quân sản xuất và tiêu thụ đường mía hàng năm ở một số
nước (tính trong kỳ 2007-2013)
Quốc gia
Sản xuất (1.000 tấn)
Tiêu thụ (1.000 tấn)
Xuất khẩu (1.000 tấn)
Lượng
dự trữ cuối (1.000 tấn)
Bình quân tiêu
thụ (Kg/người/năm)
Nguồn: Out1ook of the US and World sugar market (2014)
Bình quân tiêu thụ đường của hai nước đông dân nhất hành tinh còn ở mức rất thấp: Trung Quốc là 7 kg/người/năm và người Ấn Độ là 17 kg/người/năm Trong khi đó tiêu thụ nhiều đường nhất thế giới là người Cuba: 61 kg/người/năm, kế đến là Úc: 61 kg/người/năm và Brazil: 56 kg/người/năm Dự báo ngành đường Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tiếp tục phát
Trang 25triển để đáp ứng nhu cầu trong nước; Brazil, Thái Lan, Úc, Nam Phi sẽ mở rộng để xuất khẩu, trong khi Cuba và Mexico sẽ giảm lượng xuất khẩu Các nước nhập khẩu chủ yếu là Mỹ, Indonesia, Hàn Quốc, Canada, Trung Quốc
và Nhật Bản [11]
Không nằm trong các nước lớn về sản xuất và xuất khẩu đường, nhưng
là các nước có năng suất mía bình quân cao nhất thế giới là Peru: 123 tấn/ha, Colombia: 120 tấn/ha, Nicaragua: 102,4 tấn/ha [11]
Bảng 2.2: Năng suất mía trung bình mía ở một số nước vụ 2012/2013
Quốc gia Năng suất
Năng suất (tấn/ha)
Nguồn: USDA, FAO (2013)
Hiện nay, Brazil và Ấn Độ là hai nước đứng đầu thị trường đường, ethanol và điện từ mía đường 60% sản lượng mía của Brazil được dùng để sản xuất ethanol Đáng chú ý là công nghiệp đường sẽ bị tác động nhiều bởi giá dầu, do Brazil (nước xuất khẩu đường hàng đầu thế giới) sẽ gia tăng sản xuất ethanol từ mía đường nếu giá dầu tăng
Ngành mía đường thế giới rất xem trọng công tác nghiên cứu khoa học
và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Việc tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu về cây mía trên đồng ruộng đã được con người tiến hành từ rất sớm ở Ấn Độ (1840), Java (1855), Mauritius (1869), Mỹ (1885), Hawai (1897),… Ở Ấn Độ, Viện Lai tạo giống mía
Trang 26Coimbatore (thành lập 1912) đã lai tạo và tuyển chọn ra nhiều giống mía tốt với ký hiệu Co Từ 1918 Viện đã đưa ra sản xuất giống mía lai đầu tiên Co201 thay cho giống mía Katha cũ Rồi từ đó về sau, hàng năm Viện đều đưa ra sản xuất từ 2 - 101 giống mía mới như Co312, Co419, Co0218, Co0403, Co200012,… Chỉ tính riêng từ 1918 đến 2000, Viện đã chọn tạo và phóng thích ra sản xuất được 2.077 giống mía mới, bình quân mỗi năm phóng thích được khoản 25 giống mía mới, góp phần đưa năng suất mía bình quân ở
Ấn Độ từ 45,58 tấn/ha vào năm 1961 lên đạt 64,77 tấn/ha vào năm 2009 (tăng 42,1%) Hiện nay các giống mía Co không chỉ được trồng và chiếm gần 100% diện tích trồng mía ở Ấn Độ mà còn được xuất khẩu và trồng ở nhiều nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam [11]
Xã hội loài người càng phát triển, trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng cao thì giá trị kinh tế của cây mía càng được phát huy Không những là nguyên liệu để sản xuất đường từ nhiều thế kỷ; trong thế kỷ 21, cây mía còn
là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp thực phẩm, hóa phẩm, dược phẩm, chế biến côn sinh sinh học (ethanol),… Ethanol là một nguồn nhiên liệu không gây ô nhiễm môi trường hay hiệu ứng nhà kính đang dần trở thành nguồn nhiên liệu thiết yếu thay thế cho dầu mỏ của nền kinh tế thế giới
Mía đường là ngành sản xuất đặc thù, không phải là ngành kinh tế vì lợi nhuận tối đa mà là ngành kinh tế - xã hội quan trọng, do vậy các Chính phủ cần phải quan tâm, hướng dẫn phát triển cho phù với yêu cầu của xã hội Trong thế kỷ 21, dân số thế giối tiếp tục tăng, cuộc sống người dân ở các nước nghèo và nước đang phát triển sẽ tiếp tục được cải thiện nâng cao, mức
độ công nghiệp hóa, đô thị hóa tiếp tục diễn ra sâu rộng hơn, dẫn đến nhu cầu
về đường và các sản phẩm phụ của đường sẽ tiếp tục tăng cao, đặc biệt là ở khu vực Châu Á và Châu Phi Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng cao
Trang 27này, ngay từ đầu thế kỷ 21, ngành mía đường thế giới đã phải điều chỉnh hợp
lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp, công nghiệp để tăng hiệu quả, phát triển sản xuất bền vững, đẩy mạnh chế biến các sản phẩm phụ của công nghiệp mía đường nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập, hạ giá thành Do vậy cây mía và ngành mía đường ở các nước vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới còn nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển sản xuất, tăng năng suất, giảm giá thành hơn cây củ cải đường ở vùng ôn đới [11]
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mía trong nước
Về mặt tài nguyên, khí hậu, đất đai thì Việt Nam được đánh giá là nước
có tiềm năng trung bình khá để phát triển cây mía Việt Nam có lượng mưa nói chung là tốt, nhiệt độ phù hợp, độ nắng thích hợp Trên phạm vi cả nước, các vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ đặc biệt là vùng duyên hải Nam Trung Bộ có khả năng phát triển mía đường rất tốt
- Giai đoạn trước khi có chương trình mía đường (1980 - 1994)
Đầu những năm 80, diên tích mía của nước ta có xu hướng tăng và đạt 162.000 ha vào năm 1984 Sau đó diện tích mía lại giảm mà nguyên nhân do giá đường thế giới giảm mạnh, đường nhập khẩu nhiều và thậm chí có lúc vượt quá nhu cầu của người tiêu dùng trong nước Do vậy, nông dân Việt Nam đã giảm diện tích trồng mía [12]
Đầu thập niên 90, sản xuất mía đã được phục hồi dần và có tốc độ phát triển khá hơn giai đoạn trước, những năm 1990 - 1994 đạt tốc độ tăng BQ hàng năm 6,23% Năm 1994, cả nước có 166.000 ha, tập trung chủ yếu ở các vùng: Đông bằng Sông Cửu Long, duyên hải Miền Trung, khu 4 cũ và Đông Nam Bộ [13]
Tính chung trong giai đoạn 180 - 1990, nhìn trung sản lượng mía cả nước tăng thấp, bình quân 2,18%/năm Sau đó sản lượng mía đã tăng nhanh hơn trong những năm 1990 - 1994, bình quân 8,17%/năm Tuy nhiên, chủ yếu
Trang 28tăng về diện tích hơn là năng suất Năm 1994, sản lượng mía cả nước đạt 7,5 triệu tấn [13]
- Trong giai đoạn 1995 - 2002
Trong 5 năm thực hiện trương trình mía đường, diện tích mía và năng suất mía đã có tốc độ tăng nhanh hơn nhiều Nếu như vào năm 1994 cả nước xấp xỉ 170.000 ha thì đến niên vụ mía 1999/2000, diện tích mía cả nước lên tới 344,2 nghìn ha, tăng bình quân 12,5%/năm Trong khi đó năng suất bình quân cả nước đạt 51,6 tấn/ha, tăng đáng kể so với mức xấp xỉ 45 tấn/ha vào năm 1994 [12]
Nhờ sự tăng nhanh về năng suất và nhất là diện tích trồng mía, sản lượng mía cây tăng đột biến, đạt 17,8 triệu tấn vào niên vụ 1999/2000 (gấp 2,4 lần sản lượng cao nhất trước khi có trương trình mía đường) Tốc độ tăng bình quân về sản lượng đạt 18,8%/năm So với các cây công nghiệp hàng năm khác trong cùng kỳ, tốc độ tăng sản lượng của mía chỉ thấp hơn chút so với bông ( 19,7%/năm), nhưng cao hơn nhiều so với lạc (1,6%) và đậu tương (3,1%) So với các cây công nghiệp lâu năm thì tốc độ tăng về sản lượng của mía cũng chỉ thấp hơn so với cà phê (22%), nhưng cao hơn nhiều so với cao
su (10,8%), chè (9%) [13]
Tuy nhiên, hai niên vụ 2000/2001 và 2001/2002 diện tích trồng mía có
xu hướng giảm xuông 300.000 ha trong năm 2000 và chỉ còn 291.000 ha trong niên vụ 2001/2002 Đồng thời năng suất mía cũng có xu hướng giảm sút, chỉ đạt 49,8 tấn vào năm 2000 và còn 49,2 tấn vào năm 2001 Vì vậy, tổng sản lượng mía của cả nước giảm mạnh xuống sấp xỉ 15 triệu tấn niên vụ 2000/2001 và còn 14,3 triệu tấn niên vụ 2001/2002 [13]
- Giai đoạn 2002 - 2011
Diện tích trồng mía từ năm 2002 đến 2011 chẳng những không tăng mà còn giảm nhẹ, duy trì trên dưới 300 nghìn ha, sản lượng mía dao động trong
Trang 29khoảng 15 - 17 triệu tấn mía/năm, trong đó khu vực trồng mía trải dài từ Bắc Trung Bộ vào phía Nam, lớn nhất là đông bằng sông Cửu Long chiếm gần 30% tổng sản lượng cả nước Trong niên vụ 2003/2004, diện tích trồng mía cả nước là 305 nghìn ha, giảm 3,2% so với niên vụ 2002/2003 Diện tích vùng nguyên liệu tập trung là 258 nghìn ha, trong đó diện tích có ký hợp đồng đầu
tư bao tiêu sản phẩm là 194,8 nghìn ha (tăng 23,4% so với niên vụ trước) Năng suất mía bình quân cả nước đạt 47,5 tấn/ha Do vậy, sản lượng mía cây chỉ đạt 14,5 triệu tấn (giảm 7,6% so với niên vụ 2002/2003) [12]
Diện tích và sản lượng mía có dấu hiệu chững lại và giảm dần sau chương trình 1 triệu tấn đường sau đó ổn định và tăng dần Năm 2007 diện tích mía toàn quốc là 290,8 nghìn ha tăng 9,2% so với năm 2005 Năng suất mía đạt 59,76 tấn/ha tăng 6,46% so với năm 2005[12]
Diện tích và sản lượng mía từ năm 2009 đến 2011 tăng trở lại, diện tích năm 2009 đạt 265,6 ha đến năm 2011 đạt 282,2 ha tức là tăng 16,6 ha
- Giai đoạn 2012 đến nay
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng mía ở Việt Nam (2012 - 2014)
Năm
Chỉ tiêu Diên tích
(1.000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 2014)
Qua bảng trên cho ta thấy diện tích trồng mía liên tục tăng qua các năm
từ 271,0 nghìn ha năm 2012 tăng lên 306,0 nghìn ha năm 2014 tức là tăng 35 nghìn ha Tuy nhiên, sản lượng mía của năm 2013 lại giảm so với năm 2012 giảm từ 16.901,3 nghìn tấn năm 2013 xuống còn 16.600 nghìn tấn năm 2013
Trang 30do năng suất liên tục giảm từ 62,4 tấn/ha năm 2012 xuống còn 55,7 tấn/ha năng suất giảm 6,7 tấn/ha Năm 2014 sản lượng mía tăng trở lại từ 16.600 nghìn tấn năm 2013 tăng lên 17.000 nghìn tấn năm 2014 tức tăng 3.400 nghìn tấn, nhưng năng suất mía vẫn liên tục giảm từ 55,7 tấn/ha năm 2013 xuống còn 55,5 tấn/ha năm 2014
Năng suất mía liên tục giảm qua các năm do việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất tại các địa phương chậm và không đồng bộ, do người dân chưa chú trọng đầu tư vào cây mía, do sự thay đổi của khí hậu nên gây ảnh hưởng đến năng suất mía của người dân
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm trong việc sản xuất phát triển cây mía
2.2.3.1 Bài học kinh nghiệm trong sản xuất mía
Một số bài học kinh nghiệm từ Thái Lan về cơ chế liên kết sản xuất, tiêu thụ mía đường
- Thứ nhất, xây dựng cơ chế phân bổ lợi ích rõ ràng giữa người trồng mía
và nhà máy chế biến đường
Mặc dù hệ thống phân bổ thu nhập 70/30 của Thái Lan còn một số điểm chưa hoàn hảo, nhưng hệ thống này tỏ ra rất hiệu quả trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhà máy và người trồng mía và đóng góp rất lớn trong việc đưa Thái Lan trở thành quốc gia xuất khẩu đường lớn thứ hai thế giới
Ở Việt Nam hiện nay, việc thiếu hành lang pháp lý và cơ chế giám sát từ Chính phủ trong việc phân chia thu nhập là một trong những nguyên nhân nổi bật gây ra tình trạng thiếu liên kết giữa người trồng mía và nhà máy đường Cho đến nay, giá mua mía nguyên liệu vẫn chưa được quy định cụ thể Nhà nước chỉ khuyến cáo giá mua mía nhưng không có cơ quan nào đứng ra kiểm tra, giám sát nên nông dân thường bị chèn ép
Do đó, Chính phủ cần phải sớm xây dựng cơ chế phân chia thu nhập hợp
lý nhằm khuyến khích nông dân và nhà máy hợp tác Các nhà máy khi đã đảm
Trang 31bảo nguồn nguyên liệu ổn định sẽ hướng tới quy mô sản xuất công nghiệp hiện đại, gia tăng thêm lợi ích kinh tế cho toàn ngành Ngoài ra, việc nghiên cứu hình thành quỹ mía đường cũng cần thiết nhằm hạn chế các cú sốc về giá
do diễn biến giá hàng hóa thế giới gây ra
- Thứ hai, phát triển thể chế của nông dân và các nhà máy chế biến
Sự thành công của ngành mía đường Thái Lan phải kể đến việc thành lập hàng loạt các hội những người trồng mía, hội những nhà máy chế biến đường Các hội những người trồng mía ở Thái Lan quy mô khá lớn và đủ khả năng thương lượng cũng như đại diện quyền lợi cho người trồng mía Chính những hội này đã cân bằng quyền thương lượng với các hội của các nhà máy chế biến đường Ở Việt Nam cũng cần thành lập các hội những người trồng mía mạnh, bên cạnh những hội của các nhà máy chế biến đường và một tổ chức chung giữa hai tác nhân này Chỉ hình thành những tổ chức này thì cơ chế điều hành của ngành mía đường Việt Nam mới minh bạch và kịp thời phản ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường kinh doanh
2.2.3.2 Cây mía đối với sự phát triển của xã Cao Kỳ
- Tạo điều kiện phát triển kinh tế trong nhân dân và các địa phương
Sản phẩm mía đã tạo ra nguồn thu nhập khá ổn định cho nhân dân, cải thiện cơ bản đời sống đại bộ phận nhân dân, nâng cao từng bước mức sống dân cư nông thôn
Có thu nhập ổn định, nhân dân đã tạo dựng được cơ sở vật chất phục vụ cho đời sống và sinh hoạt, mở mang phát triển văn hóa xã hội, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp nông thôn
Tác động cùng các ngành dịch vụ khác phát triển, góp phần thiết thực, hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
Trang 32- Đối với nền kinh tế chung của xã
Góp phần thúc đẩy nền kinh tế của xã phát triển bền vững, thu nhập từ mía chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu nhập của xã
Thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn, các công trình phúc lợi nông thôn hàng năm tăng khá như: Đường giao thông, hệ thống kênh mương thủy lợi, các công trình thiết chế văn hóa… Trong đó, huy động từ nhân dân chiếm 50 - 60%
Thu nhập từ sản phẩm mía góp phần ổn định chung đời sống nhân dân trên địa bàn, đến nay trên địa bàn không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm đáng kể từ khi có trương trình trồng mía
Trang 33PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề kinh tế, kỹ thuật có liên quan đến quá trình sản xuất, tiêu thụ mía của hộ nông dân trên địa bàn xã Cao Kỳ
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu trên phạm vi 3 thôn: Thôn Tổng Tàng, thôn Tổng Sâu, thôn Nà Cà II trên địa bàn xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu phục vụ nghiên cứu được lấy từ năm 2013- 2015, số liệu khảo sát thực trạng được điều tra năm 2016
3.1.3 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Đề tài được tiến hành thực hiện nghiên cứu trên địa bàn xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Thời gian triển khai thực hiện đề tài: 01/2016 - 05/2016
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng phát triển sản xuất mía của xã Cao Kỳ và ở những hộ điều tra
- Đánh giá những thuận lợi khó khăn trong phát triển cây mía tại địa phương
- Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển diện tích mía trong những năm tiếp theo
Trang 343.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp: Đó là cách khai thác những thông tin tài liệu
có sẵn trong sổ sách, báo cáo của cán bộ thống kê, cán bộ dân số, cán bộ địa chính xã…Các thông tin thứ cấp được thu thập trong đề tài này liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã và các số liệu về tổng diện tích, năng suất, sản lượng mía hàng năm
3.3.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin, số liệu sơ cấp của đề tài được điều tra thu thập thông qua các cán bộ địa phương và các hộ nông dân trồng mía
+ Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho xã về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và các đặc điểm khác của xã Nghiên cứu chọn ra 3 thôn: Tổng Tàng, Tổng sâu và Nà Cà II Đây là 3 thôn có diện tích, năng suất và sản lượng mẫu chọn ra được đại diện cho toàn vùng, vừa đại diện và suy rộng ra toàn xã + Phương pháp chọn mẫu điều tra
Với mục tiêu nghiên cứu, đề tài lựa chọn 60 hộ nông dân tham gia sản xuất mía để bán và mía làm nguyên liệu (mật mía) để tiến hành điều tra khảo sát Khảo sát trên phạm vi 3 thôn mỗi thôn 20 hộ, trong đó: 10 hộ trồng mía
để bán, 10 hộ trồng mía để làm nguyên liệu (mật mía)
Sau khi tiến hành xác định được số lượng mẫu cần điều tra và địa điểm điều tra, tiếp theo là xây dựng phiếu điều tra về tình hình sản xuất và tiêu thụ mía của các hộ trồng mía trên địa bàn xã Cao Kỳ
+ Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân thông qua các câu hỏi đóng và câu hỏi mở phù hợp với tình hình thực tế
Trang 353.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
Áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Dùng để so sánh các yếu tố định lượng hoặc định tính, so sánh các chỉ số chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội đã được lượng hóa có cùng nội dung, tính chất tương tự nhau để xác định mức độ biến động của các nội dung
Từ các nguồn số liệu điều tra, thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, Tôi tiến hành phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu:
- Thực hiện tổng hợp theo từng nội dung nghiên cứu từ phiếu điều tra thu được trong lần phỏng vấn
- Thực hiện số liệu đã tổng hợp vào máy tính và xử lý bằng phương pháp toán học thông thường
Trang 36PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn
4.1.1 Điều kiện thự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Cao Kỳ nằm ở phía Bắc của huyện Chợ Mới, cách trung tâm huyện khoảng 20km về phía Bắc, cách thành phố Bắc Kạn 20km về phía Nam, với tổng diện tích tự nhiên 5.001,35 ha Với 14 thôn, 744 hộ và 3.012 nhân khẩu Địa giới hành chính của xã được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp với xã Hòa Mục và xã Tân Sơn
- Phía Tây giáp với xã Thanh Vận, xã Thanh Mai và xã Nông Hạ
- Phía Nam giáp với xã Nông Hạ
- Phía Đông giáp với xã Yên Cư và huyện Na Rì
Nhìn chung xã Cao Kỳ có vị trí khá thuận lợi, tiếp giáp với nhiều đơn vị hành chính trong huyện và các huyện bạn trong tỉnh Đây là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, dịch vụ và văn hóa, góp phần nâng cao giá trị thu nhập của xã và nhu cầu trao đổi hàng hóa của nhân dân [5]
4.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình xã Cao Kỳ chủ yếu là đồi núi cao, dốc có nhiều khe, suối lớn, nhỏ, chia cắt phức tạp, có sông Cầu chảy qua địa bàn xã, chảy theo hướng Bắc Nam và đi song song với quốc lộ 3, chia cắt địa hình thành hai vùng riêng biệt là phía Đông sông Cầu và phía Tây sông Cầu Độ cao trung bình 400 m -
600 m (cao nhất là đỉnh núi Mỏ Khang cao 911,7 m, ranh giới giáp với xã Hào Mục, điểm thấp nhất là cánh đồng Muội Hua Phai 81,5 m), độ dốc trung bình 250- 350 [5]
Trang 374.1.1.3 Điều kiện thời tiết khí hậu
Khí hậu xã Cao Kỳ mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt
độ trung bình trong năm 22,20
C Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6, 7 và tháng 8 (27 - 27,70C), các tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất
là tháng 1 (120C) Tổng tích nhiệt bình quân năm là 7.8500C Mặc dù nhiệt độ còn phân hóa theo độ cao và hướng núi, nhưng không đáng kể [5]
Ngoài chênh lệch về nhiệt độ theo các mùa trong năm, khí hậu xã Cao Kỳ còn có những đặc trưng khác như sương mù, sương muối Một năm bình quân có khoảng 87- 88 ngày sương mù vào các tháng 10, 11 số ngày sương mù thường cao hơn Đôi khi có sương muối, mưa đá nhưng không nhiều, bình quân mỗi năm có 2- 3 ngày thường vào các tháng 12, tháng 1 và đầu xuân [5].
Lượng mưa thuộc loại trung bình 1.300 - 1.400 mm/năm Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 5, 6 và tháng 7 có ngày mưa tới 100 mm/ngày Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 8 và chiếm tới 75- 80% lượng mưa cả năm Thịnh hành là chế độ gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí khô lạnh và gió mùa Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông tạo ra mưa về mùa hè [5]
4.1.1.4 Tài nguyên nước
- Nước mặt: Có hệ thống sông, suối, ao hồ phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn các thôn bản là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của nhân dân Song do các sông suối nhỏ hẹp, độ dốc tương đối lớn, chênh lệch theo lưu lượng nước theo mùa, nhất là mùa khô thường gây hạn hán kéo dài gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cũng như sản xuất của nhân dân [5]
- Nước ngầm: Xã chưa có điều tra, khảo sát, đánh giá đầy đủ về trữ lượng và chất lượng nước ngầm, nhưng qua khảo sát các giếng đào trong xã cho thấy trữ lượng và chất lượng nước ngầm ở độ sâu khoảng 20 m so với mặt đất là khá dồi dào có quanh năm và chất lượng đảm bảo vệ sinh [5]
4.1.1.5 Tài nguyên đất
Trang 38Bảng 4.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của Xã qua 3 năm
Trang 39Qua 3 năm, tổng diện tích tự nhiên xã Cao Kỳ nhìn chung không thay đổi Tình hình phân bổ về đất đai theo các ngành, lĩnh vực của xã vài năm gần đây có sự thay đổi về cơ cấu Cụ thể theo bảng số liệu cho thấy, tình hình phân bổ sử dụng đất nông nghiệp năm 2014 là 4.276,9 ha, tăng so với năm
2013 khoảng 0,04% và 2015 là 0,06% Diện tích đất nông nghiệp năm 2013 là 4.276,73 ha, chiếm tỷ lệ 85,51% , điều này cho thấy từ năm 2013 xã Cao Kỳ
có thành phần dân cư tham gia vào nông nghiệp tương đối nhiều, đặc biệt là nguồn thu ngân sách của xã từ hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ
lệ lớn Năm 2015, diện tích đất nông nghiệp giảm xuống 2,55 ha so với năm
2014 Vì vậy, tốc độ tăng dất nông nghiệp trung bình hàng năm nằm ở mức thấp rất thấp, hầu như giảm qua các năm
Diện tích đất phi nông nghiệp tăng dần qua các năm Năm 2013 là 428,75 ha, đến năm 2015 là 440,3 ha Tốc độ tăng đất phi nông nghiệp trung bình hành năm là 0,17% Trong khi đó đất chưa sử dụng lại không có xu hướng giảm, mà vẫn giữ nguyên
Về đất lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản có xu hướng giảm, nhưng không đáng kể
Như vậy, trong những năm qua, tình hình phân bố và sử dụng đất của
xã Cao Kỳ đã có những biến đổi nhất định Trong diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất đồng cỏ giảm mạnh từ 42,78 ha năm 2013 đến năm 2015 còn 18,78 ha, giảm 56,11% thay vào đó là đất nuôi trồng thủy sản và đất trông lúa tăng theo năm
Diện tích đất nông nghiệp bình quân/khẩu, đất nông nghiệp/hộ tương đối lớn nhưng tỷ lệ này đang có xu hướng giảm Đây là do yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã Tuy nhiên, quá trình này diễn ra tương đối chậm và được đánh giá là trì trệ [6]
Trang 404.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
4.1.2.1 Đặc điểm kinh tế của vùng
Cao Kỳ là một xã miền núi, nền kinh tế chủ yếu từ ngành nông lâm nghiệp, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ còn chậm phát triển, đặc biệt là ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
a Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp
* Trồng trọt
Người dân trong xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiêp là chính, đời sống vật chất cũng như trình độ dân trí ở mức thấp Trong những năm qua cơ cấu phát triển kinh tế của xã là tập trung phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Năm 2015 tỷ trọng nông lâm nghiệp chiếm 78,9% trong tổng GDP của
xã Mặc dù sản xuất nông lâm nghiệp còn nhiều khó khăn, phụ thuộc vào thời tiết khí hậu, hệ thống các công trình thủy lợi chưa đáp ứng được nhu cầu tưới cho cây trồng, nhưng giá trị ngành nông lâm nghiệp bình quân tăng 4,8% Trong nông lâm nghiệp, ngành nông nghiệp chiếm 70,0%, lâm nghiệp chiếm 26,8% và thủy sản chiếm tỷ trọng rất nhỏ 3,2%
Diện tích gieo trồng cây lương thực năm 2015 là 345 ha, tổng sản lượng đạt 1.237,4 tấn trong đó chủ yếu là diện tích cây lúa chiếm 176 ha chiếm 51,01% diện tích cây lương thực, năng suất đạt từ 50 - 58 tạ/ha Cây công nghiệp hàng năm chủ yếu là: đỗ tương, lạc, mía Diện tích gieo trồng 165 ha chiếm chiếm 43,54% diện tích cây lương thực, sảng lượng chủ yếu phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân trong xã
* Chăn nuôi
Chăn nuôi của xã Cao Kỳ chủ yếu là chăn nuôi gia súc (trâu, bò ,lợn…) gia cầm (gà, vịt, ngan…) và mang tính chất chăn nuôi hộ gia đình, quy mô nhỏ, phục vụ nhu cầu sức kéo và thực phẩm tiêu dùng trong đời sống của