* Kinh tế hộ nông dân: Theo Frank Ellis 1988 thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NGUYỄN VIỆT HƯNG
Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHONG NIÊN, HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Thái Nguyên - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NGUYỄN VIỆT HƯNG
Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHONG NIÊN, HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Th.s Dương Xuân Lâm - Giảng viên khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn đã
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ, Đảng viên, UBND xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng cùng các hộ nông dân xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công việc trong thời gian thực tập tại địa phương
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cho nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên
Xin chân thành cảm ơn!
Lào Cai, ngày 10 tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Việt Hưng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Một số yếu tố khí hậu của xã Phong Niên năm 2015 19
Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu về dân số xã Phong Niên giai đoạn 2013 - 2015 22
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu về lao động xã Phong Niên giai đoạn 2013 - 2015 22 Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Phong Niên 24
Bảng 4.5: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng của xã 25
Bảng 4.6: Thực trạng phát triển đàn gia súc, gia cầm của xã 27
Bảng 4.7: Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của xã 28
Bảng 4.8: Một số chỉ tiêu về GD - ĐT của xã Phong Niên năm 2013- 2015 29 Bảng 4.9: Một số chỉ tiêu về Y tế của xã Phong Niên từ năm 2013 - 2015 30
Bảng 4.10: Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2013-2015 32
Bảng 4.11: Phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp tại các hộ điều tra 34
Bảng 4.12: Phân công lao động trong các hoạt động khác 35
Bảng 4.13: Tỉ lệ tiếp cận thông tin tại khu vực nghiên cứu 38
Bảng 4.14: Tỉ lệ tham gia tập huấn tại khu vực nghiên cứu 39
Bảng 4.15: Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 40
Bảng 4.16 Tình hình quản lý tài chính của hộ tại vùng nghiên cứu 40
Bảng 4.17: Ý kiến về một số vấn đề trong gia đình 45
Bảng 4.18 Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và công cuộc phát triển 49
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ 37 Hình 4.2: Biểu đồ trình độ văn hoá của nam và nữ trong độ tuổi ở vùng
nghiên cứu 42 Hình 4.3: Biểu đồ tỉ lệ người ốm được chăm sóc chữa trị 43 Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình 44 Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ nam và nữ giới nắm quyền phân công lao động
trong hộ 45
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục đích cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa học tập 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sơ ̉ khoa ho ̣c của đề tài 4
2.1.1 Phát triển kinh tế hộ 4
2.1.2 Giơ ́ i tính và giới 5
2.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 8
2.2.1 Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội 8
2.2.2 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ 9
2.3 Thư ̣c tra ̣ng vai trò của phu ̣ nữ trên thế giới và ở Vi ệt Nam trong phát triển kinh tế hộ 9
2.3.1 Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới 9
2.3.2 Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 11
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
3.1.2 Phạm vi nghiên cư ́ u 15
3.2 Đi ̣a điểm và thời gian nghiên cứu 15
Trang 83.3 Nô ̣i dung nghiên cứu 15
3.4 Phương pha ́p nghiên cứu 16
3.4.1 Phương pha ́p thu thâ ̣p số liê ̣u 16
3.4.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 16
3.4.3 Phương pháp sử lý và phân tích số liệu 17
3.4.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 17
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của xã Phong Niên 18
4.1.1 Vị trí địa lý 18
4.1.2 Điều kiện tự nhiên 18
4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 20
4.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Phong Niên 31
4.2.1 Thông tin chung về các hộ điều tra ở xã 31
4.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong các hộ điều tra 32
4.3 Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế 46
4.3.1 Yếu tố thuận lợi 46
4.3.2 Yếu tố cản trở 48
4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy và nâng cao vai trò của phụ nữ trong thời gian tới trên địa bàn xã 50
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao
đô ̣ng trong xã hô ̣i Họ góp phần rất q uan tro ̣ng trong viê ̣c làm gi àu cho xã hô ̣i và phong phú cuô ̣c sống của con người Phụ nữ luôn thể hiện tầm quan trọng của mình trong các mă ̣t của đời sống xã hô ̣i như trực tiếp làm ra của cải vâ ̣t chất để nuôi sống con người Ngoài ra phụ nữ còn tái sản suất ra con người để duy trì và ph át triển xã
hô ̣i Trong nền văn hóa của bất kỳ quốc gia , dân tô ̣c nào cũng có sự tham gia đóng góp của phụ nữ trên nhiều phương diện
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước , họ tham gia vào tất
cả các lĩnh vự c kinh tế , chính trị , văn hóa, xã hội , anh ninh quốc phòng và ngày càng thể hiện rõ vị trí của mìn h trong xã hô ̣i Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhâ ̣n n hững cống hiến to lớn của phu ̣ nữ Trong công cuô ̣c đổi mới đất nước , họ luôn giữ gìn phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước , đoàn kết, năng đô ̣ng, sáng tạo và khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập , lao đô ̣ng Trong gia đình, phụ nữ v ừa là người con dâu, người vợ, người me ̣, người thầy của các con
Đảng và Nhà nước ta ngày cang quan tâm phát huy vai trò của phu ̣ nữ trong
xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả cá c lĩnh vực kinh tế , văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào q uá trình phát triển kinh tế gia đình , mỗi phu ̣ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội , góp phần quan trọng phát triển kinh tế xã hội , ổn định an ninh quốc phòng đi ̣a phương, làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam
Tuy nhiên sự đóng góp của phu ̣ nữ chưa được ghi nhâ ̣n mô ̣t cách xứng đáng , chưa xứng với vai trò và vi ̣ trí c ủa họ trong nền kinh tế , trong xã hô ̣i và trong đời sống gia đình Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay , người phu ̣ nữ vừa phải đảm nhiệm tốt công việc xã hội , lại vừa phải chăm lo cho gia đình , trong khi
Trang 10vốn thời gian của ho ̣ cũng chỉ như mo ̣i người , sức khỏe la ̣i ha ̣n chế Họ phải hi sinh rất nhiều nhưng chưa nhâ ̣n được sự quan tâm đúng mức
Xuất phát từ tính cấp thiết trên và sự nhâ ̣n thức về tiềm năng to lớn của phu ̣ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn , em tiến hành nghiên cứu
đề tài : “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ trên đi ̣a bàn xã Phong
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ , đưa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng mọi mặt để phát triển kinh tế , tăng thu nhâ ̣p , cải thiện đời sống gia đình , góp phần vào sự phát triển chung của đi ̣a phương
1.2.2 Mục đích cụ thể
- Phân tích, đánh giá thực tra ̣ng vai trò của phu ̣ nữ trong phát triển kinh tế hô ̣ tại xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
- Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng đóng góp của phu ̣ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn Qua đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phu ̣ nữ trong phát triển kinh tế trên đi ̣a bàn xã Phong Niên ,huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa học tập
- Cung cấp những kinh nghiệm thực tế cho sinh viên trong quá trình tiếp xúc làm việc với người dân
- Bổ xung kiến thứ c về phu ̣ nữ và vai trò của ho ̣ đã đươ ̣c ho ̣c trong nhà trường
- Giúp bản thân hiểu thêm về những phương pháp ho ̣c tâ ̣p và nhâ ̣n thức được tầm quan trọng giữa học lý thuyết kết hợp với thực tế
- Trang bị thêm kiến thức thực tiễn cho quá trình làm viê ̣c sau này
Trang 111.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài là cơ sở cho viê ̣c nâng cao vai trò của phu ̣ nữ trong mo ̣i mă ̣t của đời sống xã hô ̣i ta ̣i đi ̣a phương
- Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý , các cấp lãnh đạo địa phương đánh giá được sự ảnh hưởng của phụ nữ trên nhiều phương diện nhằm đưa ra các quyết đi ̣nh phù hợp để cải thiê ̣n đời sống vâ ̣t chất và tinh thần cho người phu ̣ nữ ta ̣i
đi ̣a phương
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sơ ̉ khoa ho ̣c của đề tài
2.1.1 Phát triển kinh tế hộ
2.1.1.1 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế
* Phát triển : là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế , bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lượng , cải thiện về cơ cấu , hoàn thiện t hể chế nhằm nâng cao chất lươ ̣ng cuô ̣c sống (Đỗ Văn Viện và Đỗ Văn Tiến)[8]
* Phát triển kinh tế : có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh
tế trong mô ̣t thời kỳ nhất đi ̣nh Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về q uy mô sản lươ ̣ng và sự tiến bô ̣ về cơ cấu kinh tế xã hô ̣i (Đỗ Văn Viện và Đỗ Văn Tiến)[8]
2.1.1.2 Khái niệm, đă ̣c điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân
* Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa
khái niệm hộ gia đình:
- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân;
- Cùng cư trú;
- Có cơ sở kinh tế chung
Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia
đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình
* Kinh tế hộ nông dân:
Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao
Kinh tế hộ nông dân được phân biệt các hình với thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:
Trang 13- Đất đai: nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai
- Lao động: lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhận Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thái hàng hoá, họ không có khái niệm tiền công, tiền lương
- Tiền vốn: chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ
Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường (Đỗ Văn Viện
và Đỗ Văn Tiến)[8]
2.1.2 Giơ ́ i tính và giới
2.1.2.1 Khái niệm giới tính và giới
* Giơ ́ i tính: Là một thuật ngữ được các nhà khoa học xã hội và các nhà sinh
học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về
mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới.
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Ví dụ: người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú
Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng
* Giơ ́ i: chỉ sự khác biệt về mặt xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em
trai và trẻ em gái , giữa nữ giới và nam giới , đươ ̣c hình thành và khác nhau ngay trong mô ̣t nền văn hóa , giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biê ̣t này được nhâ ̣n biết mô ̣t cách rõ ràng trong vai trò , trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn, thuâ ̣n lợi của các giới tính
Khái niệm về "giới" được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80
“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ "Giới" đề cập đến
Trang 14việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể (Tổ chức Lao động quốc tế, 2005) [5].
2.1.2.2 Đặc điểm, nguồn gốc va ̀ sự khác biê ̣t về giới
*Đặc điểm giới
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
* Nguồn gốc giới
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu,
trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ
nữ và nam giới trong xã hội
- Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các
Trang 15thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau (Tổ chức Lao động quốc tế, 2005) [5].
2.1.2.3 Nhu cầu, lơ ̣i ích và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ
công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện
cụ thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn
cảnh cụ thể
* Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ nữ
và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này
khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng
* Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được
công nhận và có vị thế bình đẳng
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống (Tổ chức Lao động quốc tế, 2005) [5]
2.1.2.4 Vai tro ̀ của giới
- Vai trò sản xuất: được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi hình thức
để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội
- Vai trò tái sản xuất sức lao động: bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học,
Trang 16mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu như của người phụ nữ
- Vai trò cộng đồng: thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng (Tổ chức Lao động quốc tế, 2005) [5]
2.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
2.2.1 Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Theo một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí Phát triển châu Phi, tuy phụ nữ toàn cầu đang tiến gần đến việc xóa sổ khoảng cách giáo dục so với nam giới, nhưng chưa tiếp cận được sự công bằng trong những cơ hội tuyển dụng việc làm Họ vẫn tụt lại phía sau trong tuyển dụng và trong các cơ quan đại diện chính trị, với tỷ lệ tương ứng là 70% và 26% Theo nghiên cứu, những thay đổi về bình đẳng giới phải thích hợp với những thay đổi đại diện chính trị, bởi đây được xem như một đấu trường mà nơi đó, phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi nhất Đã có những bước tiến lớn được phát triển theo hướng công bằng giới tính trong giáo dục và đời sống, đại diện chính trị chỉ đạt được bước tiến nhỏ trong 3 thập kỷ qua Phụ nữ chỉ chiếm 26% số ghế trong quốc hội trên toàn cầu trong năm 2011 so với 12% trong năm
1990 Trong bài phát biểu trước Đại hội đồng LHQ vào tháng 3-2015, Tổng Thư ký Ban Ki-moon đã nhấn mạnh : “Hiện vẫn còn 5 nước không có đại diện nữ giới trong quốc hội và vẫn có 8 nước trên thế giới không có đại diện nữ giới trong chính phủ Tôi hối thúc lãnh đạo các nước này làm nhiều hơn nữa để thúc đẩy quyền của phụ nữ”( www.sggp.org.vn )[10]
Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt
là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội
Trang 172.2.2 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
- Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng đồng tại xóm, thôn bản
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
2.3 Thƣ ̣c tra ̣ng vai trò của phu ̣ nƣ̃ trên thế giới và ở Viê ̣t Nam trong phát triển kinh tế hộ
2.3.1 Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu nhập của nam giới (Borje Ljunggren) [7]
Trang 18Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em
không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái (Bùi Đình Hòa) [6]
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động:
Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao Một số tài
liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
- Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động so
với 82,5% nam giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%) Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30-
49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54 Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động (tapchicongsan.org.vn) [14]
- Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất
từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị
cùng nhóm tuổi (tapchicongsan.org.vn) [14]
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp:
Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai Vì ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thân của mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ (tapchicongsan Org.vn) [14]
Trang 19Theo một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí Phát triển châu Phi, tuy phụ nữ toàn cầu đang tiến gần đến việc xóa sổ khoảng cách giáo dục so với nam giới, nhưng chưa tiếp cận được sự công bằng trong những cơ hội tuyển dụng việc làm Họ vẫn tụt lại phía sau trong tuyển dụng và trong các cơ quan đại diện chính trị, với tỷ lệ tương ứng là 70% và 26% (tapchicongsan Org.vn) [14].
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến:
Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nước đang phát triển Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng
Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu Đất nước
ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn
ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó khăn nhất định Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ… Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự
2.3.2 Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
*Thực trạng phụ nữ Việt Nam:
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Hiện nay, phụ nữ góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đất nước, thể hiện ở
Trang 20số lượng nữ lao động chiếm tỷ lệ rất cao, hơn 50% và ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước
Theo báo cáo của Liên minh Nghị viện Thế giới, tại thời điểm cuối năm
2011, tỷ lệ phụ nữ tham chính tại Việt Nam đứng thứ 43 trên thế giới, giảm so với thứ 36 vào năm 2010 và 2009, thứ 33 năm 2008, thứ 31 năm 2007, thứ 25 năm
2006 và thứ 23 năm 2005 Việt Nam là một trong 21 quốc gia có sự sụt giảm rõ rệt
về tỷ lệ phụ nữ tham chính vào năm 2011 (www.undp.org) [13]
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI có 18 ủy viên nữ trong tổng số
200 ủy viên – chiếm 9% Năm 2012, tỷ lệ nữ Đảng viên trên cả nước đạt 32%, tăng đáng kể so với năm 2005 chỉ có 20% Đảng viên nữ (www.undp.org) [13].
Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII nhiệm kỳ 2011-2016 là 24.4%, thấp nhất trong 4 nhiệm kỳ vừa qua Ở cấp địa phương, phụ nữ chiếm 26% các vị trí trong Hội đồng nhân dân, trong đó 3% Chủ tịch Hội đồng nhân dân là nữ (www.undp.org) [13]
Trong xu thế đất nước hội nhập và phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn Chính sự phát triển kinh tế đã phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới cùng chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình Sự phân công lao động trong xã hội có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác Tuy nhiên, đó cũng chỉ mới là những bước khởi đầu thuận lợi Hiện nay chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục trong vấn đề bình đẳng giới
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
- Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng
năm nước ta có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó: lao động nữ chiếm 55% (www.sggp.org.vn) [10]
- Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức
Trang 21của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
- Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác
xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả
là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về
nghề nông (Trương Ngọc Chi, 2002 )[4]
*Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế-
xã hội: : Là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng
gắn 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 58,02%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp như: cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo .
Theo thống kê 2015, lao động nữ nông thôn chiếm 43.5% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; sản xuất hơn 60% sản phẩm nông nghiệp (https://gso.gov.vn ) [9] Như vậy, phụ nữ nông thôn Việt Nam là một chủ thể kinh
tế quan trọng mang lại thu nhập cho các hộ gia đình và đang có vai trò, vị trí đặcbiệt trong đời sống kinh tế – xã hội ở nông thôn Hiện nay, biến đổi của lao động nữ nông thôn đang diễn ra theo ba xu hướng cơ bản,nâng cao chất lượng lao động nữ nông thôn đáp ứng nhu cầu lao động của thời kỳ mới từng bước chuyển dần từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, thương mại và dịch vụ và, chủ động, tích cực tham gia thị trường lao động quốc tế trong và ngoài nước
Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách nâng cao chất lượng, hiệu quả của lao động nông thôn nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng
Đề án “Đào ta ̣o nghề cho lao đô ̣ng nông thôn đến năm 2020” và Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho lao động nông thôn nói chung và lao động nữ nói riêng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và tiếp cận tốt hơn tới việc làm có thu nhập ổn định, giúp xóa đói, giảm nghèo và nâng cao vị thế Ngoài chính sách
Trang 22dạy nghề, Nghị quyết 26-NQ/TW cũng nhấn mạnh mục tiêu tạo chuyển biến mạnh
mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, qua đó các chương trình chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã được triển khai rộng khắp
Trong lĩnh vực tín dụng, hệ thống các Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam…) đã và đang thực hiện nhiều chương trình tín dụng phát triển kinh tế khu vực nông thôn (Nghị định 41/2010/NĐ-CP, Nghị định 78/2002/NĐ-CP)
Về khía cạnh giới trong phát triển kinh tế, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2010 – 2020 đưa ra mục tiêu “Không ngừng nâng cao năng lực nhằm bảo đảm sự tham gia ra quyết định của phụ nữ trong các hoạt động phát triển kinh tế…” (http://enternews.vn )[11]
Sau khi hòa bình được lập lại, đất nước được thống nhất, đặc biệt là từ năm
1986 khi Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện, đưa đất nước hội nhập với thế giới, một lần nữa, phụ nữ Việt Nam lại tiếp tục đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, thể thao, bảo đảm an ninh, quốc phòng Ngày nay, cứ
100 phụ nữ trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên thì có 73,5 người đang làm việc
so với 82,5 người của nam giới; có 6,7% lao động nữ có bằng cao đẳng và đại học trở lên so với 7,5% của nam giới (http://www.sggp.org.vn) [12] Phụ nữ đang chiếm lĩnh những đỉnh cao của tri thức và khoa học công nghệ tiên tiến Từ năm 2006 đến năm 2014 Việt Nam có gần 811 giáo sư, phó giáo sư là phụ nữ, chiếm 22% tổng số giáo sư, phó giáo sư cả nước (http://www.sggp.org.vn) [12] Phụ nữ Việt Nam cũng rất thành đạt trong lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp; nắm giữ vị trí cao trong các
cơ quan quyền lực Nhà nước Tại Quốc hội Việt Nam hiện nay có 24,4% đại biểu là
nữ Bình quân ở cấp Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố có 25,17% đại biểu là nữ Chị em phụ nữ còn tích cực tham gia công tác Hội, xây dựng và phát triển hệ thống các cấp Hội phụ nữ ngày càng vững mạnh Trong số hơn 21,4 triệu phụ nữ trên 18 tuổi, có hơn 15,5 triệu người tham gia Hội phụ nữ chiếm 72,5% (http://www.sggp.org.vn) [12]
Trang 23Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tươ ̣ng nghiên cứu là phu ̣ nữ trong các hô ̣ trên đi ̣a bàn xã Phong Niên , huyê ̣n Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nô ̣i dung nghiên cứu : Nghiên cứu vai trò của phu ̣ nữ trong phát triển
kinh tế hô ̣
-Về không gian nghiên cư ́ u : Đề tài đươ ̣c thực hiê ̣n ta ̣i mô ̣t số nhóm hô ̣ sản
xuất nông nghiê ̣p , lâm nghiê ̣p , dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn và tại mô ̣t số cơ quan tổ chức kinh tế xã hô ̣i
3.2 Đi ̣a điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: xã Phong Niên, huyê ̣n Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
- Thời gian nghiên cứu: sử dụng các số liệu của các ban ngành đoàn thể
trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2015 và các số liệu trong điều tra thực địa năm 2016
3.3 Nô ̣i dung nghiên cứu
- Điều kiện Tự nhiên,kinh tế, xã hội của xã Phong Niên , huyê ̣n Bảo Thắng , tỉnh Lào Cai
- Thực trạng vai trò của phụ nữ trong các nhóm hộ trên địa bàn xã
- Một số yếu tố thuận lợi khó khăn ảnh hưởng tới vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy và nâng cao vai trò của phụ nữ trong thời gian tới trên địa bàn xã
Trang 243.4 Phương pha ́ p nghiên cứu
3.4.1.1 Thông tin thư ́ cấp
* Nguồn số liệu: Được thu thập số liệu thống kê, báo cáo sơ tổng kết hàng
năm, nhiệm kỳ của:
- Một số bộ, ngành có liên quan
- Ban vì tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ xã Phong Niên
- Phòng thống kê xã Phong Niên
- Văn phòng UBND-HĐND Xã Phong Niên
- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn
đề vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
* Phương pháp thu thập: thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cần thiết
cho đề tài
3.4.1.2 Thông tin sơ cấp
* Nguồn số liệu : Thu thâ ̣p qua phỏng vấn sâu các tổ chức cá nhân am hiểu như hội phụ nữ, hội nông dân, ban vì sự tiến bộ của phụ nữ vv Điều tra 51 hô ̣ trên
đi ̣a bàn xã
* Phương pháp: Điều tra hô ̣ bằng phiếu và phỏng vấn trực tiếp
3.4.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Do thời gian nên không thể điều tra toàn bộ các hộ trên địa bàn xã vì vậy tôi
đã dựa trên tiêu trí vị trí địa lý, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu dân tộc để tiến hành chọn ra 3 thôn tiến hành điều tra:
- Thôn Làng Cung 3: Là một thôn có số hộ là người dân tộc thiểu số cao nhất, chủ yếu là người H’Mông chiếm 50,6% , dân tộc dao chiếm 4,9% còn lại là dân tộc kinh (năm 2016), kinh tế kém phát triển, chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp
là chủ yếu, số hộ nghèo cao nhất toàn xã chiếm 28,57% tổng số hộ
- Thôn Tân Phong 2: Đại đa số các hộ trên địa bàn thôn là dân tộc kinh chiếm 81,2% Kinh tế phát triển mạnh và đồng đều, cơ cấu ngành nghề đa dạng đời sống người dân tương đối cao
Trang 25- Thôn Xả Hồ: Là thôn có số hộ người dân tộc kinh chiếm tỉ lệ cao nhất xã 96% Nằm ở vị trí cửa ngõ của xã và tiếp giáp với 2 xã khác, nên ngành dịch vụ rất phát triển, đời sống người dân cao, nhưng chênh lệch giầu nghèo khá lớn (Danh sách nhân khẩu, hộ khẩu xã Phong Niên 2016) [2]
3.4.3 Phương pháp sử lý và phân tích số liệu
- Phương pháp sủ lý số liệu: Các số liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý bằng máy vi tính và chương chình MS Excel để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp thống kê so sánh: Có được các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp thành các bảng số liệu, tôi tiến hành so sánh để thấy được sự ảnh hưởng của các yếu
tố khác nhau ảnh hưởng tới vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
- Phương pháp phân tích SWOT: Để phân tích các yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn địa bàn nghiên cứu
3.4.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
* Nhóm chỉ tiêu thể hiện sự đóng góp của người phụ nữ trong kinh tế hộ:
- Số lượng và tỉ lệ nữ quyết định các công việc trong gia đình
- Số lượng và tỉ lệ nữ tham gia các công việc khác
* Nhóm chỉ tiêu phản ánh đời sống của hộ:
- Các tài sản có trong gia đình
- Các nguồn thu nhập của hộ
* Nhóm chỉ tiêu về số lượng và năng lực phụ nữ:
- Tổng số nữ trong các nhóm tuổi
- Trình độ học vấn
- Tỉ lệ tham gia tập huấn kiến thức
- Tỉ lệ tiếp cận thông tin
Trang 26Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của xã Phong Niên
4.1.1 Vị trí địa lý
Tổng diện tích đất của xã Phong Niên là 4232,93 ha, với nền vật chất chủ yếu là các loại đá mẹ, có nguồn gốc từ đá trầm tích và đá biến chất có kết cấu hạt mịn, đá hỗn hợp và các loại đá vôi Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, thì trên phạm
vi xã có hai loại đất chính là đất sông suối và đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất
Xã.Phong Niên là xã vùng III của huyện Bảo Thắng nằm phía Đông của huyện Bảo Thắng, cách trung tâm huyện 15km
- Phía Nam giáp giáp xã Xuân Quang
- Phía Bắc giáp xã Cốc Ly (huyện Bắc Hà)
- Phía Đông giáp xã Bảo Nhai (huyện Bắc Hà)
- Phía Tây giáp xã Thái Niên
Có đường quốc lộ 70 chạy qua nhưng bị chia cắt phức tạp bởi núi đá, địa hình lại dốc, khe, suối nhỏ nên canh tác gặp nhiều khó khăn Cơ cấu kinh tế chủ yếu
là nông lâm nghiệp Trong đó sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, thu nhập chính của người dân là cây lúa, ngô, mía, một số hoa màu và cây ăn quả
4.1.2 Điều kiện tự nhiên
4.1.2.1 Địa hình đất đai
Bao gồm các dải đồi núi chạy dài theo quốc lộ 70 và đường Thuận Hải, địa hình không phức tạp lắm, với các dãy núi có độ cao trung bình 200 - 500 m, độ chia cắt ngang yếu với địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây cùng với và hệ thống suối hiện có tạo điều kiện cho việc khai thác đất đai phát triển sản xuất, tiêu úng vào mùa mưa lũ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
Nhìn chung địa hình xã không thuận lợi cho phát triển nông - lâm nghiệp và dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí dân cư tập trung
Trang 274.1.2.2 Khí hậu
Nói đến sản xuất nông nghiệp là không thể không nói đến yếu tố khí hậu Bởi vì khí hậu là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, có nghĩa là ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng của cây trồng Khí hậu quyết định đến thời vụ trồng, cơ cấu cây trồng của từng vùng
Nó là yếu tố khó điều chỉnh nhất Đối với nền nông nghiệp hiện đại thì việc sản xuất nông nghiệp được tiến hành trong nhà kính Khi đó việc điều chỉnh khí hậu được thực hiện dễ dàng theo từng loại cây trồng Tuy nhiên ở nước ta hiện nay việc đầu
tư cho sản xuất nông nghiệp hiện đại vẫn còn quá tốn kem đối với bà con nông dân nên không áp dụng rộng rãi Vì vậy sản xuất nông nghiệp vẫn còn phụ thuộc vào khí hậu của mỗi vùng
Bảng 4.1: Một số yếu tố khí hậu của xã Phong Niên năm 2015
Tháng Nhiệt độ TB
( o C)
Độ ẩm TB (%)
Trang 28Xã Phong Niên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp khí hậu gió mùa, một năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau:
- Độ ẩm không khí trung bình năm: 80.6 %
- Hướng gió thịnh hành là hướng Đông Nam Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của luồng gió khô và nóng xuất hiện vào các tháng 5, 6, 7
Một số yếu tố khí hậu của xã năm 2015 Nhiêt độ trung bình năm khoảng
28oC và ít biến động Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7 (khoảng 37oC); tháng
có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 (11,8oC) và tháng 12 (15,2oC)
Lượng mưa trung bình năm khoảng 131,2 mm, tập chung từ tháng 4 đến tháng 9 Tháng có lượng mưa cao nhất thường là tháng 8 (336,1mm); tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1 (9,1 mm)
Số giờ nắng của cả năm là 1702,9 giờ, tháng có số giờ nắng trên 150 giờ là tháng 5, 6, 7, 8, 9 Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 7 (226,0 giờ), tháng thấp nhất là tháng 1(77,2 giờ)
Nhìn chung điều kiện khí hậu của xã tương đối thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú Mùa đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau, màu ngắn ngày có giá trị kinh tế
4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong những năm trước đây, vẫn nằm trong thời kỳ bao cấp thu nhập của người dân phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, tuy nhiên sản xuất nông nghiệp lại chưa có đầu tư cao Nguồn thu từ các sản phẩm nông nghiệp chưa đủ đáp ứng nhu cầu của người dân
Trong những năm gần đây Đảng bộ và chính quyền xã Phong Niên đã có chủ trương đổi mới phát triển kinh tế của cả xã, cùng đó kinh tế nông nghiệp và nông thôn cũng ngày một phát triển đời sống của người dân ngày càng một nâng cao
Kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, quy
mô lớn, chất lượng cao mở rộng thị trường trong và ngoài tỉnh Nâng cao rõ rệt chất
Trang 29lượng nguồn nhân lực và các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục - đào tạo, văn hoá , thể dục thể thao Cải thiện đời sống nhân dân đi đôi với xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, bảo đảm an ninh xã hội Phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, giữ vững
ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội
Phát triển nông nghiệp trên cơ sở tăng cường và củng cố các điều kiện về kết cấu hạ tầng (hệ thống thuỷ lợi, giao thông, cung cấp điện) và phát triển mạnh dịch
vụ nông nghiệp (dịch vụ cày, bừa, xay sát, cung ứng giống và vật tư phân bón, phòng chống sâu bệnh, tiêu thụ sản phẩm )
4.1.3.1 Cơ sở hạ tầng
* Hệ thống giao thông
Trong những năm gần đây nhờ được sự đầu tư ngân sách Nhà nước, mạng lưới giao thông trên địa bàn xã với các đường liên xã, đường liên thôn chất lượng từng bước được nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cả giao thông đối nội và đối ngoại góp phần phát triển kinh tế - xã hội của xã
- Năm 2015 xã đã chỉ đạo các thôn huy động 3.429 ngày công tu sửa toàn bộ
hệ thống đường giao thôn nông thôn trên địa bàn xã, đảm bảo phục vụ tốt cho việc
đi lại của nhân dân và giao thương hàng hoá
tưới tiêu cho 95% diện tích canh tác, xã đã chỉ đạo các thôn và nhân dân tu sửa 60.4
km hệ thống kênh mương, hồ đập đảm bảo nước tưới tiêu cho sản xuất
4.1.3.2 Dân số, lao động
* Dân số
Kết quả tổng điều tra dân số xã Phong Niên năm 2015 cho thấy tổng dân số của xã là 7.863 người, gồm 10 dân tộc anh em cùng chung sống trên 22 thôn, mật độ dân số là 88.5người/km
Trang 30Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu về dân số xã Phong Niên giai đoạn 2013 - 2015
(Nguồn: Thống kê xã Phong Niên,2015)
Qua bảng trên cho thấy tốc độ gia tăng dân số xã tăng đồng đều và nhẹ qua
ba năm trở lại đây Cụ thể: dân số năm 2013 là 7.425 người đến năm 2014 là 7.672 người, đến năm 2015 là 7.863 người tăng 438 người so với năm 2013
Mật độ dân số năm 2013 là 88,5 ng/km2 đến năm 2014 là 89,8 ng/km2 tăng 1,3 ng/km2, năm 2015 là 91,1 ng/km2 tăng 1,3 ng/km2 so với năm 2013
Tốc độ tăng dân số tự nhiên của cả 3 năm đều là 1,5%
(Nguồn: Thống kê xã Phong Niên,2015)
Qua bảng 4.3 cho thấy dân số trong độ tuổi lao động đang tăng dần đều qua các năm: Dân số trong độ tuổi lao động năm 2013 là 3.350 người đến năm 2015 là 3.926 người tăng 576 người
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động so với tổng dân số của xã tăng từ 50,24% năm 2013 lên 51,82% năm 2015 thể hiện xu thế trẻ hoá dân số là điều kiện quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội Đến năm 2015 có 3.926 người trong tuổi lao động, bình quân mỗi hộ có 4,2 nhân khâu với 2,1 lao động chính
Trang 31Nhìn chung tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên địa bàn xã còn thấp, lao động chuyên môn chiếm tỷ trọng không cao và đây là một trong những khó khăn, trở ngại trong việc tuyển dụng lực lượng lao động của xã.
4.1.3.3 Thực trạng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế
* Tình hình sử dụng đất
Tổng diện tích tự nhiên của toàn xã: 4.255ha;
Bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người: 0,98ha/người
4.1.3.3.1 Đất nông nghiệp
1.715,13ha, chiếm 40,31% so với tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất sản xuất nông nghiệp 1.715,13 ha, chiếm 40,31% so với tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất lâm nghiệp 973,20 ha, chiếm 56,74% so với tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất nuôi trồng thủy sản 40,63 ha, chiếm 2,37 % so với tổng diện tích đất tự nhiên
- Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp 0,085ha/người
4.1.3.3.2 Đất phi nông nghiệp 280,48ha,chiếm 6,59% so với tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất chuyên dùng 166,3 ha, chiếm 46% so với tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất suối và mặt nước chuyên dùng 11,80 ha, chiếm 4,21% so với tổng diện tích đất
tự nhiên
- Đất ở 39,13 ha, chiếm 13,95% so với tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 32Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Phong Niên
4 Đât sông, suối 444,83 4,66
5 Đất tôn giáo tín ngưỡng 0,00 0,00
(Nguồn: Điều tra thống kê đất đai của xã năm 2015)
Qua bảng số liệu trên cho thấy:
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2015, tổng diện tích tự nhiên của xã là 9.555,31ha Trong đó đất nông lâm nghiệp 6.148,07ha chiếm 64,34% tổng diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp 628,92ha chiếm 6,58%, đất chưa sử dụng còn khá nhiều 2.778,32 ha chiếm 29,08% tổng diện tích đất tự nhiên