MÙI THỊ THU Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA NÔNG HỘ VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI SẢN XUẤT CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHÚC TRÌU – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 1MÙI THỊ THU
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA NÔNG HỘ VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI SẢN XUẤT CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ PHÚC TRÌU – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MÙI THỊ THU
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA NÔNG HỘ VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI SẢN XUẤT CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ PHÚC TRÌU – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Lớp : K 44 - PTNT
Giảng viên hướng dẫn : ThS Bùi Thị Minh Hà
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu với mỗi sinh viên, nhằm giúp sinh viên vận dụng kiến thức lý luận đã học vào thực tiễn, so sánh kiểm nghiệm lý thuyết với thực tiễn và học hỏi thêm những kiến thức kinh nghiệm được rút ra qua thực tiễn để nâng cao được chuyên môn từ đó giúp sinh viên ra trường trở thành một cử nhân nắm chắc được về lý thuyết về thực hành và biết vận dụng nhuần nhuyễn lý thuyết vào thực tế
Xuất phát từ cơ sở trên được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế&Phát triển nông thôn – Trường Đại Học Nông lâm Thái
Nguyên, em tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài:“Đánh giá nhận thức của nông hộ về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất chè trên địa bàn xã Phúc trìu - Thành phố Thái Nguyên”
Đến nay bài khóa luận đã hoàn thành, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn –
Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và đặc biệt cô giáoThS.Bùi Thị Minh Hà đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình thực hiện đề tài
Em cũng xin được gửi lời cám ơn tới ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên UBND
xã Phúc Trìu cùng bà con nhân dân trên địa bàn xã đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian qua
Do trình độ kinh nghiệm thực tế bản thân có hạn vì vậy bài khóa luận không tránh khỏi những sai sót, nên rất mong được sự chỉ bảo của thầy cô, sự đóng góp ý kiến của các bạn sinh viên để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng06năm 2016
Sinh viên
Mùi Thị Thu
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên 3 năm 2013 – 2015 24
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất của xã Phúc Trìu năm 2015 26
Bảng 4.3: Cơ cấu giống chè ở xã qua 3 năm 2013 - 2015 30
Bảng 4.4: Năng suất, sản lượng chè kinh doanh của xã Phúc Trìu qua 3 năm 2013 - 2015 31
Bảng 4.5: Nhân lực của nhóm hộ điều tra 33
Bảng 4.6: Diện tích đất sản xuất bình quân của nhóm hộ điều tra 34
Bảng 4.7: Diện tích, cơ cấu và năng suất chè bình quân của nhóm hộ điều tra 35
Bảng 4.8: Phương tiện sản xuất chè của nhóm hộ điều tra 37
Bảng 4.9: Mức độ quan tâm đến BĐKH của nhóm hộ điều tra 42
Bảng 4.10: Nguồn tiếp cận thông tin về BĐKH của nhóm hộ điều tra 44
Bảng 4.11 Dấu hiệu và nguyên nhân BĐKH 45
Bảng 4.12: Biểu hiện của BĐKH tại địa phương của nhóm hộ điều tra 47
Bảng 4.13: Những yếu tố trong BĐKH ảnh hưởng tới sản xuất chè 49
Bảng 4.14: Ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất chè 51
Bảng 4.15: Biện pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng của BĐKH 54
tới sản xuất chè hiện nay 54
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Diễn giải
ANLT : An ninh lương thực
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
1.3.3 Ý nghĩa đối với sinh viên 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở của khoa học đề tài 4
2.1.1 Khái niệm, nguyên nhân, biểu hiện, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu 4
2.1.2 Một số quan điểm và phân loại nhận thức 11
2.1.3 Cơ sở lý luận về sản xuất chè 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.3 Các phương pháp ngiên cứu 21
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 21
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 21
3.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 22
Trang 7PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Phúc Trìu - Thành phố Thái Nguyên 23
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 26
4.2 Thực trạng sản xuất chè của xã Phúc Trìu 29
4.2.1 Tình hình sản xuất chè và cơ cấu giống chè tại địa bàn nghiên cứu 29
4.2.2 Thực trạng sản xuất chè của hộ điều tra 32
4.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong sự phát triển chè ở xã Phúc Trìu trong những năm qua 38
4.3 Nhận thức hiểu biết của người dân về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất chè 41
4.3.1 Nhận thức của người dân về BĐKH 41
4.3.2 Nguồn tiếp cận thông tin BĐKH 43
4.3.3 Nhận biết của người dân về biểu hiện của BĐKH tại địa phương 45
4.4 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè 48
4.4.1 Các yếu tố trong BĐKH có ảnh hưởng đến sản xuất chè 48
4.4.2 Các biện pháp khắc phục ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè hiện nay người dân đang sử dụng 53
4.5 Đế xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức về BĐKH 54
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 58
Trang 8PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chè là cây công nghiệp dài ngày, được trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu là một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…Nước chè là một thức uống tốt, rẻ tiền hơn cà phê, ca cao, có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích sự hoạt động của hệ thần kinh hệ tiêu hóa và chữa một số bệnh đường ruột Chính vì những đặc tính ưu việt trên chè đã trở thành một loại đồ uống phổ thông với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng trên toàn thế giới Đây chính là lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển
Ở nước ta, cây chè cho sản phẩm từ 6-7 lứa/năm, mang lại thu nhập khá
ổn định cho người sản xuất, nó thích ứng với các vùng miền núi và Trung du phía Bắc, cây chè giúp chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc, thu hút lao động nhàn rỗi Vì vậy, việc phát triển cây chè ở nhiều vùng sẽ góp phần tạo ra của cải vật chất, tạo vùng chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu.Nhận thấy được tầm quan trọng của cây chè Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách xác định vị trí vững chắc của cây chè trong nền nông nghiệp nước ta, bao gồm cả nhu cầu dự trữ và xuất khẩu
Do vậy chè được coi là một sản phẩm có giá trị cao, góp phần không nhỏ vào công cuộc Công nghiệphóa - Hiện đại hóa đất nước.Chè được trồng chủ yếu
ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Thái Nguyên, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Yên Bái…Ở Thái Nguyên cây chè được chú trọng phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân nơi đây Thành phố Thái Nguyên là một thành phố trung du miền núi Bắc
Bộ, được thiên nhiên ưu đãi một hệ thống đất đai và điều kiện khí hậu thời tiết khá thích hợp cho việc phát triển cây chè So với các huyện trong tỉnh, thành
Trang 9phố có diện tích chè khá lớn được phân bố chủ yếu ở các xã phía Tây, với vùng trọng điểm là các xã: Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Thịnh Đức Ở
xã Phúc Trìu do có các điều kiện tự nhiên thích hợp với cây chè nên trong thập kỷ qua cây chè đã được chú trọng phát triển Tuy nhiên kéo theo sự phát triển thì cũng kèm theo những nguy cơ gây hại đến cuộc sống người dân và môi trường sống cộng đồng, cũng như ảnh hưởng đến nghành nông nghiệp và các nghành công nghiệp khác chính là sự biến đổi khí hậu ngày nay đang ngày càng tăng Nhất là đối với cây chè sự biến đổi khí hậu có ảnh hưởng xấu đến sản xuất, chất lượng, năng suất …Gây ảnh hưởng đến cuộc sống người dân và các nông hộ trồng chè
Xuất phát từ những lý do trên em đã chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá nhận thức của nông hộ về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất chè trên địa bàn xã Phúc trìu - Thành phố Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được đầy đủ chính xác tình hình sản xuất chè trên địa bàn xã Phúc Trìu và nhận thức của người dân trong xã về BĐKH,mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất chè đồng thời đề xuất một số giải pháp tăng cường nhận thức về BĐKH cho người dân, góp phần phát triển sản xuất chè trong điều kiện BĐKH
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
-Đánh giá được thực trạng sản xuất chè ở xã Phúc Trìu
- Đánh giá được nhận thức của người dân trồng chè về biến đổi khí hậu
và những ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè cũng như những giải pháp ứng phó BĐKH trong sản xuất chè của người dân hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức về BĐKH cho người dân tại xã Phúc Trìu
Trang 101.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.3 Ý nghĩa đối với sinh viên
-Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố thêm những kiến thức kỹ năng đã học, đồng thời có cơ hội vận dụng chúng vào thực tế
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở của khoa học đề tài
2.1.1 Khái niệm, nguyên nhân, biểu hiện,ảnh hưởngcủa biến đổi khí hậu
2.1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu Trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình
Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu
BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn[15]
“Biến đổi khí hậulà “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” [2]
Bất kỳ sự thay đổi có hệ thống của các nhân tố khí hậu trong một thời gian dài (nhiệt độ, áp suất hoặc gió) qua hàng chục năm hoặc lâu hơn BĐKH
có thể do các quá trình tự nhiên, như các thay đổi trong quá trình phát năng
Trang 12lượng của mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay trái đất, hoặc
do các quá trình tự nhiên nội tại của hệ thống khí hậu, hoặc do các tác động từ các hoạt động của con người [3]
2.1.1.2 Nguyên nhân của BĐKH
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là chủ yếu do hoạt động của con người, chủ yếu là do hiệu ứng nhà kính (HUNK)[3]
Do tự nhiên
- Kiến tạo mảng : Qua hàng triệu năm sự chuyển động của các mảng làm tái xếp các lục địa và đại dương trên toàn cầu đồng thời hình thành lên địa hình bề mặt
- Do sự tương tác hoạt động giữa trái đất và vũ trụ
Những yếu tố ảnh hưởng đến khí hậu nhưng không phải là khí hậu như tác động của CO2 , bức xạ mặt trời….vv
- Sự phun trào núi lửa
- Sự thay đổi quỹ đạo
- Sự thay đổi của đại dương: Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh, thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh
hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 và trong khí quyển
- Sự xuất hiện của vết đen mặt trời[3]
Do hoạt động của con người
- Do con người sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch, sử dụng hóa chất cho trồng trọt , chăn nuôi, sinh hoạt….Các nhà máy xí nghiệp hàng ngày xả
Trang 13hàng tấn bụi,khí CO2,SO2 ra bầu không khí gây ô nhiễm môi trường, phá hủy
hệ sinh thái
- Con người khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức và đang dần làm chúng cạn kiệt nhất là đối với những tài nguyên không thể tái tạo như dầu mỏ, than …vv [3]
2.1.1.3.Biểu hiện của biến đổi khí hậu
-Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
-Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển
-Sự dâng cao mực nước biển do tan băng
-Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất
-Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
-Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển [16]
2.1.1.4.Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Ảnh hưởng đến sự phát triển của nhân loại:
-Môi trường sống bị thay đổi do biến đổi khí hậu làm mở rộng vành đai nhiệt đới Trong 25 năm qua vành đai nhiệt đới của Trái đất đã mở rộng thêm vài trăm km về phía hai cực của trái đất, khiến cho các khu vực cận nhiệt đới càng trở nên khô hạn
-Nguy cơ thiếu lương thực đặc biệt ở các nước nghèo do đất bị suy thoái, cây trồng thoái hoá
-Nhiều căn bệnh mới sẽ xuất hiện,những căn bệnh cũ sẽ phức tạp lên do môi trường bị thay đổi
-Thiếu nước sinh hoạt do băng tan và nước biển dâng
-Lũ lụt xảy ra thường xuyên do nước biển dâng
Trang 14-Số dân tị nạn tăng cao do hạn hán và nước biển dâng
-Các cuộc xung đột giữa các nhóm người tăng do tài nguyên cạn kiệt,các luồng di dân tự do
-Nạn khủng bố lan rộng, tập trung đặc biệt vào những nước mà chúng cho rằng đã gây nên tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu
- Khoảng cách giàu nghèo gia tăng do giá lương thực bị đẩy lên cao,các nước nghèo chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sớm nhất [15]
Ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên
- Giảm đa dạng môi trường sinh học: Nhiệt độ Trái Đất tăng cao làm phá vỡ hệ thống khí hậu, gây ra những thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa trong các khu vực, đe dọa giảm đa dạng sinh học, số lượng loài và đa dạng nguồn gen
- Các loài lưỡng cư giảm đi với tốc độ chưa từng có, cá khan hiếm nguồn thức ăn sự thay đổi trong sinh sản của các sinh vật phù du do nước biển ấm lên
- Bệnh dịch và các loài gây hại tăng nhanh do khí hậu ấm lên đẩy mạnh quá trình phát triển và phát tán của mầm bệnh,giảm thời gian ngủ đông trong chu kì hoạt động của mầm bệnh và thay đổi khả năng nhiễm bệnh
Lượng mưa phân bố không đều thảm thực vật sẽ thay đổi theo, ảnh hưởng đến động vật có liên quan và nguy cơ tuyệt chủng cục bộ [15]
Trang 15-Ngư nghiệp: Các loại thủy hải sản bị suy kiệt do nước biển ấm lên làm sản lượng khai thác giảm
- Công nghiệp:Nguồn nguyên liệu cung cấp từ nông-lâm-ngư nghiệp giảm và ngày càng khan hiếm
Công nghiệp khai thác dầu khí bị cản trở do nước biển dâng ngày càng cao
- Dịch vụ:Hoạt động du lịch bị ngưng trệ do nước biển dâng, đa dạng sinh học giảm
Quan hệ thương mại giũa các nước có thể trở nên căng thẳng hơn vì thị trường thế giới khan hiếm về các nguồn nguyên liệu
Giao thông vận tải đường biển gặp khó khăn do nước biển dâng [15]
2.1.1.5 Tác động của BĐKH đến nông nghiệp Việt Nam
Từ xưa đến nay, Việt Nam là nước luôn có thế mạnh trong việc phát triển nền nông nghiệp lúa nước, người dân Việt Nam đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu trong trồng trọt và sản xuất, đã dựa vào các điều kiện vốn có của tự nhiên để mở rộng đất canh tác,nâng cao năng suất qua mỗi mùa
vụ Ngày nay, ngoài những kinh nghiệm đã có, người dân đã và đang áp dụng nhiều thành tựu khoa họckỹ thuật, máy móc tiên tiến vào việc trồng trọt, nâng cao năng suất cây trồng, sản lượng tăng vùn vụt qua mỗi năm, nền nông nghiệp được coi là một thế mạnh trong nền kinh tế của nước ta
Sự phát triển của KH-CN ngoài những thành tựu to lớn mà nó đã đạt được, đem lại cho nhân loại nhiều sự đổi mới, cuộc sống ngày càng được nâng cao thì tác hại của nó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường, đăc biệt là sự biến đổi khí hậu Sự biến đổi khí hậu của trái đất không ai là không nhận thức được, nó đang biến đổi từng ngày từng giờ, trái đất đang ngày một nóng lên, băng ở hai cực đang tan ra,nhiều vùng đất thấp ở ven biển đã bị nhấn chìm trong nước,nhiều vùng đất bị ngập mặn, thiên tai, lũ lụt, hạn hán
Trang 16ngày càng gia tăng, nhiều dịch bệnh phát triển mạnh mẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt và cuộc sống của con người [11]
- Mất dần diện tích đất nông nghiệp do mực nước biển dâng
Do ảnh hưởng của BĐKH trái đất nóng lên, mực nước biển dâng khiến diện tích đất nông nghiệp ngày càng mất dần, đặc biệt là nhiều đợt lũlụt, bão khiến gây ra làm giảm sản lượng, năng suất hoa màu, ảnh hưởng tới sản xuất của bà con
-Xâm nhập mặn
Khí hậu biến đổi cũng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình sản xuất, trồng trọt của người dân Việt Nam.Nhiều đồng ruộng các vùng đồng bằng ven biển đang dần bị hoang mạc hóa,đất bị nhiễm mặn,hạn hán gia tăng;diện tích đất canh tác của người dân vùng này đã bị thu hẹp, sản lượng giảm người dân mất đất canh tác dẫn đến nghèo nàn lạc hậu [11]
Đồng bằng Sông cửu long là một trong những nơi chịu ảnh hưởng nặng
nề của xâm nhập mặn,không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp mà con ảnh hưởng đến đời sống của bà con[11]
-Lũ lụt hạn hán nghiêm trọng
-Dịch bệnh…vv
2.1.1.6 Tác động của BĐKH tới cây chè
Biến đổi khí hậu được cho là đang ảnh hưởng đến việc trồng chè ở nước ta và trên thế giới, với những thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa không chỉ làm thay đổi hương vị, mùi thơm, và lợi ích sức khỏe tiềm năng của loại
đồ uống phổ biến này mà còn ảnh hưởng tới cuộc sống của những người nông dân trồng chè sống dựa vào cây trồng này Vào ngày 24/1/2014 Một nhóm nghiên cứu do nhà sinh vật học Colin Orians (Giáo sư khoa Sinh học, TrườngNghệ thuật và Khoa) tại trường Đại học Tufts sẽ nghiên cứu tiến trình
Trang 17này trong một dự án nghiên cứu kéo dài bốn năm từ nguồn tài trợ 931.000 USD của quỹ Khoa học Quốc gia [20]
Nghiên cứu đầu tiên sẽ nghiên cứu xem biến đổi khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến hàm lượng các hợp chất hóa học quy định các đặc tính có lợi ích cho sức khỏe, chất kích thích, cảm quan Công việc của họ sẽ đucợ các nhà nghiên cứu và chuyên gia về chè Selena Ahmed(khi cô là một sinh viên đại học và sau đó là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ của chương trình giáo dục đào tạo Nghiên cứu Kỹ năng quan trọng - TEACRS tại Tufts) xây dựng trên nghiên cứu sơ bộ được tiến hành ở phía tây nam tỉnh Vân nam của Trung Quốc
Orians lưu ý rằng chè xanh được biết đến bởi hàm lượng chất chống oxy hóa cao được cho là giúp ngăn ngừa hoặc kiểm soát một loạt các vấn đề sức khỏe liên quan đến tim, lượng đường trong máu và tiêu hóa Vì chất lượng chè được xác định bởi một loạt các chất thứ cấp phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, biến đổi khí hậu có thể có những hậu quả nghiêm trọng đến thị trường trà, Orians cho biết.Người ta mua và uống chè vì những phẩm chất nhất định của loại đồ uống này, nếu những phẩm chất này không còn thì họ sẽ không mua chè [20]
Các kết quả nghiên cứu có thể giúp các nhà khoa học và người trồng chè hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu tới các sản phẩm nông nghiệp khác như nho và anh đào Những gì chúng ta thấy xảy ra với chè thì có thể là một dấu hiệu của những gì có thể xảy ra đối với ngành nông nghiệp nói chung, Orians nói: Chè là một trong những loại đồ uống được tiêu thụ rộng rãi trên thế giới Một trong những thị trường lớn nhất của chè là Mỹ
Ahmed là một trợ lý giáo sư trong hệ thống thực phẩm bền vững tại trường Đại học bang Montana, Ahmed đã khảo sát người trồng chè ở Vân Nam, Trung Quốc Nông dân định giá chè qua vị ngọt đắng và dư vị từ vị ngọt đọng lại của chè.Trong nghiên cứu của nhóm, các nhà nghiên cứu nhận
Trang 18biết được rằng người nông dân nhận thức được chất lượng chè giảm sút - điều
mà họ gắn với sự khởi đầu của gió.Nhóm nghiên cứu đã nhận thấy một sự sụt giảm trong thành phần của một số hợp chất hóa học chính quy định hương vị
và các đặc tính có lơi cho sức khỏe của chè
Chất lượng chè giảm đi có thể cản trở nhu cầu tiêu thụ chè, đây là điều rất quan trọng đối với những người nông dân sống phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ chè, Ahmed nói các nhà nghiên cứu cũng sẽ xem xét cách mà người trồng chè có thể điều chỉnh phương pháp canh tác để giảm thiểu những ảnh hưởng của thay đổi thời tiết [20]
2.1.2 Một số quan điểm và phân loại nhận thức
2.1.2.1 Một số quan niện về nhận thức
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn [7]
Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể [7]
Nhận thức là một quá trình.Đó là quá trình đi từ trình độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận, từ trình độ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học Dựa trên nguyên tắc đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Nhận thức là quá trình phản án biện chứng tích cực,
tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn[7]
2.1.2.2 Phân loại nhận thức
Dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng
- Nhận thức kinh nghiệm là nhận thức hình thành từ sự quan sát các sự vật hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội hoặc qua các hiện tượng nghiên cứu
Trang 19khoa học Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm Tri thức này có 2 loại là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học, chúng bổ sung cho nhau làm phong phú lẫn nhau [8]
- Nhận thức lý luận là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính
hệ thống trong việc khái quát bản chất, quy luật của các sự vật hiện tượng
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau, có quan hệ biện chứng với nhau.Trong đó nhận thức kinh nghiệm
là cơ sở của nhận thức lý luận.Nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể Vì nó gắn chặt với thực tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luận và cung cấp tư liệu để tổng kết thành lý luận Ngược lại, mặc dù được hình thành từ tổng kết kinh nghiệm, nhận thức lý luận không xuất hiện một cách tự phát từ kinh nghiệm
Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những sự kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn Thông qua đó mà nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái khái quát, phổ biến [8]
Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật
- Nhận thức thông thường: Là loại nhận thức được hình thành một cách
tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hằng ngày của con người Nó phản ánh
sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm, chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật.Vì vậy nhận thức thông thường mang tính phong phú nhiều vẻ và gắn liền với những quan niệm sống thực tế hằng ngày,
vì thế nó có vai trò thường xuyên và phổ biến chi phối hoạt động của mọi người trong xã hội [8]
- Nhận thức khoa học:Là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm, bản chất, những quan hệ tất yếu
Trang 20của đối tượng nghiên cứu Sự phản ánh này diễn ra dưới sự trừu tượng logic.Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát, lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực[8]
Hai loại nhận thức này cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau Nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập và làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức thế giới của con người[8]
2.1.3 Cơ sở lý luận về sản xuất chè
2.1.3.1 Khái niệm sản xuất
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?[4]
Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn
vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tài sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền [4]
2.1.3.2 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Nó là một loại cây trồng có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát triển
Trang 21kinh tế và văn hóa con người, sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng khắp các nước trên thế giới, kể cả những nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn về chè Ngoài tác dụng giải khát chè còn có tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, tăng năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể [9]
Đối với nước ta sản xuất chè không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động
dư thừa nhất là ở vùng nông thôn Nếu so sánh cây chè với loại cây trồng khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn, vì cây chè có chu kì kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng 50 - 60 năm, do vậy nó sẽ tạo ra một nguồn thu đều đặn lâu dài và có giá trị kinh tế cao, giúp các hộ cải thiện đời sống, nâng cao mức sống của người dân Mặt khác, cây chè là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất miền núi và trung
du, những vùng đất cao, khô thoáng.Hơn thế nữa nó còn gắn bó keo sơn với những vùng đất đồi dốc khô cằn sỏi đá.Chính vì vậy trồng chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo ra cảnh quan đẹp Kết hợp trồng chè với trồng rừng sẽ tạo ra những vành đai chống xói mòn, rửa trôi, giữ lại lớp màu mỡ cho đất, cải tạo đất tăng độ phì cho đất bạc màu, góp phần bảo vệ môi trường phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Như vậy, phát triển sản xuất chè đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống ở khu vực nông thôn, nó góp phần vào việc thúc đẩy nhanh hơn công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giảm bớt chênh lệch
về kinh tế xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng núi và đồng bằng
Trang 222.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến sản xuất chè
Điều kiện tự nhiên
- Đất đai: Đất đai quyết định đến sản lượng và chất lượng của sản phẩm chè Chè là một cây không yêu cầu khắt khe và đất so với một số cây công nghiệp dài ngày khác Tuy nhiên để cây chè sinh trưởng, phát triển tốt, nương chè có nhiệm kì kinh tế dài, khả năng cho năng suất kinh tế cao, ổn định, chất lượng chè ngon thì cây chè cũng phải được trồng ở nơi có đất tốt, phù hợp với đặc điểm sinh học của nó Qua nghiên cứu các chuyên gia cho thấy đất trồng chè tốt phải đạt yêu cầu sau: Độ pH từ 4,5 - 5,5; hàm lượng mùn 2% - 4%; độ sâu ít nhất 0,6 - 1m; mực nước ngầm phải dưới 1m; kết cấu của đất tơi xốp sẽ giữ được nhiều nước, thấm nước nhanh, thoát nước tốt, có địa hình dốc từ 10 – 20o
[9]
- Thời tiết khí hậu
Độ ẩm, nhiệt độ và lượng mưa là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cây chè Để cây chè phát triển tốt thì nhiệt độ bình quân là 22 – 28oC, lượng mưa trung bình là 1500 – 2000mm/năm nhưng phải phân đều cho các tháng, ẩm độ không khí từ 80 - 85%, ẩm độ đất từ 70 - 80%, cây chè là cây ưa sáng tán xạ, thời giant rung bình chiếu sáng 9 giờ/ngày [9]
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè.Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí dưới
10oC hay trên 40oC.Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắt đầu phát triển trở lại Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn tùy thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức
độ chống chịu khác nhau
Yếu tố thuộc về kỹ thuật
- Ảnh hưởng của giống chè
Trang 23Giống chè ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh.Mỗi một điều kiện sinh thái, mỗi vùng lại thích hợp cho một giống chè hay một số giống nhất định.Vì vậy để có nguyên liệu phục vụ chế biến, tạo ra chè thành phẩm có chất lượng cao và để góp phần đa dạng hóa sản phẩm ngành chè, tận dụng lợi thế so sánh của các vùng sinh thái đòi hỏi phải có nguồn giống thích hợp [9]
Ở trong nước ta đã chọn tạo được nhiều giống chè tốt bằng phương pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3 Đây là một số giống chè khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và chất lượng búp cao,
đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện tích rộng, bổ sung
cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương chè cằn cỗi Bên cạnh đặc tính của các giống chè, phương pháp nhân giống cũng ảnh hưởng trực tiếp tới chè nguyên liệu.Hiện nay có 2 phương pháp được áp dụng chủ yếu là trồng bằng hạt và trồng bằng giâm cành.Đặc biệt phương pháp trồng chè cành đến nay đã được phổ biến , áp dụng rô ̣ng rãi và dần dần trở thành biện pháp chủ yếu trên thế giới cũng như ở Việt Nam
- Ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật
Nước tưới: Trong búp chè có hàm lượng nước lớn vì vậy phải cung cấp
đủ nước sẽ làm tăng năng suất và sản lượng chè, cho nên phải chủ động tưới nước cho chè vào vụ đông
Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp
kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng chè Vì vậy bón phân cần phải bón đúng cách, đúng lúc, đúng đối tượng [1]
Che nắng Theo các chuyên gia về chè, nếu thời tiết khô hạn kéo dài thì cây bóng mát được trồng 170-230 cây/ha che phủ được 20-30% diện tích thì
độ ẩm sẽ cao [1]
Trang 24Mật độ gieo trồng: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè, mật độ trồng chè phụ thuộc vào các giống, độ dốc, điều kiện cơ giới hóa Qua thực tế nếu mật độ vườn đảm bảo từ 18.000-20.000 cây/ha thì sẽ cho năng suất và chất lượng tốt
Đốn chè: Đốn chè là cắt đi đỉnh ngọn của các cành chè, ức chế ưu thế sinh trưởng đỉnh và kích thích các trồi ngủ, trồi nách mọc thành lá, cành non mới tạo ra một bộ khung tán khỏe mạnh, làm cho cây luôn ở trạng thái sinh trưởng đinh dưỡng hạn chế sự ra hoa, kết quả có lợi cho việc ra lá, kích thích sinh trưởng búp non, tăng mật độ búp [9]
Điều kiện xã hội
- Thị trường: Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến
sự tồn tại của cơ sở sản xuất kinh doanh chè, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị trường Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng, khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được tối đa
Ngành chè có ưu thế hơn một số ngành khác, bởi sản phẩm của nó được sử dụng khá phổ thông ở trong nước cũng như quốc tế.Nhu cầu về mặt hàng khá lớn và tương đối ổn định
- Giá cả: Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, của người trồng chè nói riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá chè trên thị trường, giá cả không ổn định ảnh hưởng tới tâm lý người trồng chè Do đó việc ổn định giá
cả, mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho sự phát triển lâu dài của cây chè
- Yếu tố lao động: Nhân tố lao động là yếu tố quyết định trong việc sản xuất, trong sản xuất chè cũng vậy, yếu tố con người mang lại năng suất, sản lượng, chất lượng cho chè Trong hai khâu: Sản xuất - chế biến, nhân tố con
Trang 25người đều quyết định đến sản lượng và chất lượng của chè, trong khâu sản xuất, từ việc chọn giống, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch tất cả đều phụ thuộc vào nhân tố lao động Lao động có tay nghề sẽ tạo ra năng suất chất lượng cao
BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng BĐKH ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm Với sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới thu hẹp lại Ranh giới của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về phía vùng núi cao hơn và các vĩ độ phía Bắc Phạm vi thích nghi của cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp thêm Vào những năm 2070, cây á nhiệt đới ở vùng núi chỉ có thể sinh trưởng ở những độ cao trên 100 - 500m và lùi xa hơn
về phía Bắc 100 - 200 km so với hiện nay BĐKH có khả năng làm tăng tần
số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc, các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như
Trang 26thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm năng suất và sản lượng của cây trồng và vật nuôi BĐKH gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Một phần đáng kể diện tích đất nông nghiệp ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long bị ngập mặn do nước biển dâng, nếu không có các biện pháp ứng phó thích hợp
Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người, dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm Ở miền Bắc, mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người BĐKH làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: Sốt rét, sốt xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan Thiên tai như bão, tố, nước dâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất Gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người
bị thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe thông qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng, bệnh tật hoặc do những đổ vỡ của kế hoạch dân số, kinh tế - xã hội, cơ hội việc làm và thu nhập Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, trẻ em và phụ nữ[6]
Hiện nay không chỉ là nước ngoài hay trong nước đã có nhiều nghiên cứu về BĐKH, những đánh giá về hiện trạng, tác động hay hậu quả của BĐKH hay đánh giá về mức độ nhận thức của người dân về BĐKH Đặc biệt
là những nghiên cứu về tác động hay mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp, đa dạng sinh học, môi trường như: “Nhận thức của cộng đồng về tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp và các giải pháp ứng phó” Tạp chí Khoa học, đại học Huế số 67, 2011 của Lê Nguyễn
Trang 27Đan Khôi kết quả khảo sát cho thấy nguồn thông tin về BĐKH được người dân ở Bến Tre tiếp nhận khá rộng rãi, chủ yếu qua Tivi/ radio và phần lớn họ đánh giá nguyên nhân của biến đổi khí hậu là do các hoạt động của con người gây ra
Đối với sản xuất nông nghiệp có nhiểu các nghiên cứu, tiểu luận đề tài liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là những nghiên cứu đánh giá, nhận thức của người dân về tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp, tác động của BĐKH đến năng suất cây trồng( lúa, ngô, …) đó là cơ sở cung cấp thông tin cho việc nghiên cứu sau này từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về BĐKH
Trang 28PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nông hộ trồng chè trên địa bàn xã Phúc Trìu
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: nghiên cứu thực hiện phạm vi địa bàn
xã Phúc trìu - TP Thái Nguyên
Phạm vi thời gian: Từ ngày 03/01/2016 -16/4/2016
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng phát triển sản xuất chè của xã Phúc Trìu
-Nhận thức của người dân trồng chè về biến đổi khí hậu
- Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức về BĐKH cho người dân tại xã Phúc Trìu
3.3 Các phương pháp ngiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Là thu thập các tài liệu thông qua văn bản, sách báo, tạp chí, niên giám thống kê, các trang website của chính phủ và các bộ ngành Các số liệu và báo cáo tổng kết của xã đang nghiên cứu để có được các số liệu thống kê
Đây là những số liệu đã được công bố, đảm bảo tính đại diện và khách quan của đề tài nghiên cứu Những số liệu này mang tính tổng quát, giúp cho
ta bước đầu hình dung tình hình sản xuất, những vấn đề thuận lợi khó khăn
mà người dân gặp phải
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Chọn mẫu điều tra
Trang 29Phương pháp điều tra:Phỏng vấn theo bảng hỏi tại hộ gia đình
3.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Từ các nguồn điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, tiến hành phân tích và tổng hợp điều tra
- Thực hiện tổng hợp theo từng nội dung nghiên cứu của phiếu điều tra thu được trong lần đi thực tế
- Thực hiện nhập số liệu đã tổng hợp vào máy tính, sử lý bằng phương pháp toán học thông thường
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Phúc Trìu-Thành phố Thái
- Phía bắc giáp xã Phúc Xuân
- Phía nam giáp xã Tân Cương
- Phía đông giáp xã Quyết Thắng và xã Thịnh Đức
- Phía tây giáp Hồ Núi Cốc và xã Phúc Tân
4.1.1.2 Địa hình - khí hậu
- Xã Phúc Trìu mang đặc điểm địa hình của xã trung du miền núi phía Bắc: Địa hình không bằng phẳng, xen kẽ các dãy núi là đồng bằng ruộng thấp trũng dễ gập úng về mùa mưa Độ cao tự nhiên tại khu vực bằng là 20 -25m, tại khu vực đồi, gò là 60 -80m Hướng dốc từ Bắc xuống Nam và từ Đông Bắc sang Tây Nam Nhìn chung địa hình không ảnh hưởng nhiều đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng và khu dân cư
- Xã Phúc Trìu có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mang đặc trưng của khí hậu miền Bắc nước ta Trong 1 năm có bốn mùa rõ rệt: Xuân - Hạ- Thu -Đông
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình trong năm là 22-23o
C
+ Nắng: Số giờ nắng trong năm là 1.600 - 1.700 giờ
+ Mưa: Lượng mưa trung bình trong năm là 1.764mm (chiếm 85% lượng mưa cả năm)
Trang 31+ Độ ẩm: Trung bình năm đạt khoảng 82%
+ Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu là gió mùa Đông Nam gió mùa Đông Bắc Do nằm xa biển nên xã ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão
-> Với những đặc điểm trên cho thấy, khí hậu xã Phúc Trìu nói riêng và thành phố Thái Nguyên nói chung thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Bảng 4.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên 3 năm 2013 – 2015 Tháng Nhiệt độ TB
( o C)
Lượng mưa TB (mm)
Ẩm độ không khí
(%)
Số giờ nắng (h)
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Thái Nguyên)
Qua bảng ta nhận thấy được là thới tiết ngày đang càng nóng dần lên, nhiệt độ trung bình qua các năm ngày càng một tăng lên, số giờ nắng tăng lên làm cho khí hậu thời tiết thay đổi, lượng mưa dồi dào thuận lợi cho bà con sản xuất nông nghiệp, nhưng mỗi năm thời tiết diễn biến thất thường tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của bà con
4.1.1.3 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Xã Phúc Trìu có nguồn nước mặt khá dồi dào Được cung cấp bởi lượng mưa tự nhiên hàng năm khoảng 1.700 - 1.800mm cùng với nước của sông Công, hồ Núi Cốc đây là điều kiện thuận lợi cho xã phát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân
Trang 32- Nguồn nước ngầm: Trên địa bàn xã chưa có khảo sát, nghiên cứu đầy
đủ về trữ lượng và chất lượng nước ngầm, tuy nhiên qua đánh giá sơ bộ của các hộ gia đình hiện nay đang khai thác sử dụng thông qua hình thức giếng khơi cho thấy mực nước ngầm ở khu vực đông bằng có ở độ sâu 5 -6m Hiện tại nguồn nước này mới chỉ khai thác sử dụng trong sinh hoạt
4.1.1.4 Tài nguyên rừng
Theo số liệu kiểm kê diện tích đất lâm nghiệp của xã có 607,10ha, trong đó rừng sản xuất có 385,10ha và rừng phòng hộ có 222,03ha Hiện tại chất lượng rừng chủ yếu là rừng trung bình, rừng non với các loại cấy trồng chính như: Bạch đàn, keo và các loại cây chịu hạn khác Trên địa bàn xã nhiều khu vực đang áp dụng mô hình vườn rừng kết hợp với các loại cây trồng chính như: Vải, nhãn, hồng…
4.1.1.5 Tình hình sử dụng đất của xã
Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 2.120,98 ha Trong đó:
Đất nông nghiệp: có 1.433 ha chiếm 67,57% tổng DT tự nhiên
- Đất trồng cây hàng năm có diện tích là 346,38 ha chiếm 16,79% diện tích tự nhiên Trong đó đất trông lúa là 263,10 ha chiếm 12,68% diện tích đất
tự nhiên Đất trông cây hàng năm còn lại 85,35 ha
- Đất trồng cây chè là 397,39 ha chiếm 19,15% diện tích tự nhiên
- Đất lâm nghiệp: có 642,94ha chiếm 28,98% diện tích đất tự nhiên
- Đất nuôi trồng thủy sản: có 44,26ha chiếm 2,65% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là ao hồ phân bố trong dân cư
Đất phi nông nghiệp: Có tổng diện tích 610,83ha chiếm 28,80% diện
tích tự nhiên Bao gồm: Đất trụ sở cơ quan, công trình sự ngiệp 3,5 ha, đất cơ
sở sản xuất kinh doanh 3,49 ha, đất sản xuất vật liệu 1,43 ha, đất tông giáo tín ngưỡng 1,2 ha, đất nghĩa trang nghĩa địa 2,07 ha, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 423,23 ha, đất phát triển hạ tầng 125,68 ha
Trang 33Đất chưa sử dụng: DT là 31,80ha chiếm 1,49% diện tích đất tự nhiên Đất ở nông thôn: DT là 40,30ha chiếm 2,14% diện tích đất tự nhiên
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất của xã Phúc Trìu năm 2015
(Nguồn: Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai – xã Phúc Trìu 2015)
Qua bảng số liệu ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã là2.120,98ha, vì là xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu cho nên trong đó đất nông nghiệp nhiều nhất chiếm 67,57% với 1.433,04ha: đất trồng lúa chiếm 12,68% với 263,10 ha, đất trồng cây chè chiếm 19,15% với 379,39 ha và cây chè chính là cây chủ lực sản xuất của xã, ngoài ra còn có đất rừng sản xuất chiếm 18,27% với 420,69ha chủ yếu là trồng các loại cây bạch đàn, keo…Còn lại là đất phi nông nghiệp chiếm 28,80% với 610,83ha và đất khu dân cƣ là 45,30 ha chiếm 2,14% còn lại là đất chƣa sử dụng
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động
Phúc Trìu theo thống kê của UBND xã tính đến năm 2015 có 1.682 hộ
- Tổng số nhân khẩu là: 5.740 nhân khẩu đƣợc phân bố trên 15 xóm Xóm ít nhất có 52 hộ, xóm nhiều nhất có trên 190 hộ Xã có 1/3 dân số là theo đạo Thiên Chúa và có 1/3 là dân tộc thiểu số
Trang 34- Tổng số lao động trong toàn xã là 3.500 lao động Trong đó lao động
nữ 1.800, lao động nam là 1700
Số lao động trong độ tuổi: 2.800 lao động Trong đó nữ: 1.450 người, nam: 1350 người
Số lao động đi làm việc ngoài xã dao động khoảng 300-350 người
Số lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm là 2.800 lao động chiếm 89%
- Tổng số nhân khẩu 5.740 người Trong đó nữ có 2.865 người chiếm 49,9%
Và nam là 2.875 chiếm số đông hơn với 50,1%
Xã có nguồn lao động dồi dào thuận lợi cho việc phát triển sản xuất kinh tê các ngành trên toàn xã
4.1.2.2 Cơ sở hạ tầng
Hiện nay UBND xã đã kí kết hợp đồng với các đơn vị tư vấn để làm quy hoạch về sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng hóa, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp dịch vụ
Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội – môi trường theo chuẩn: Đó là quy hoạch về mạng lưới giao thông thủy lợi, trường học, trạm y
tế và cơ sở các nhà văn hóa xóm, đất chợ và các công trình văn hóa thể dục thể thao
Quy hoạch phát triển khu dân cư và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương
- Về giao thông: Xã Phúc Trìu nằm ở tuyến đường tỉnh lộ 267 chạy ngang qua phía Tây nam của xã Kết cấu mặt đường là đường BT nhựa có mặt đường B=0,7m, lề đường mỗi bên 1,0m, là tuyến đường giao thông đối ngoại của xã đi sang huyện Phổ Yên và đi TP.Thái Nguyên đã tạo nhiều thuận lợi để phát triển nền kinh tế địa phương
+ Đường liên xã có chiều dài 8,96km
Trang 35+ Các tuyến đường giao thông liên xóm trên địa bàn xã có kết cấu mặt đường là bê tông xi măng đi qua các xóm có chiều dài là 13,2km đủ điều kiện phục vụ cho các phương tiện giao thông cơ giới loại trung
+ Các tuyến đường ngõ xóm chủ yếu là đường bê tông do nhân dân tự đóng góp xây dựng với chiều dài 69km
Chất lượng công trình giao thông hiện nay đã và đang xuống cấp, thiếu hệ thống rãnh thoát nước, phương tiện ngày càng mọt gia tăng xe thường vận chuyển hàng hóa quá tải gây nên tình trạng các cây cầy và tuyến đường xuống cấp nhanh
- Về giáo dục: tỷ lệ trường học các cấp mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia là 33%, toàn xã có 3 trường với hơn 900 học sinh, 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học và trung học cơ sở
- Văn hóa: Nhà văn hóa trung tâm và nhà thể thao chưa có
- Y tế: Hiện tại xã có 1 trạm y tế, cơ sở vật chất trang thiết bị của trạm y
tế ngày càng được đầu tư nâng cấp, chất lượng khám chữa bệnh, bảo vệ cho sức khỏe của bà con được tăng lên Với tổng số giường bệnh là 7 giường, số cán bộ y tế là 6 người, trong đó có một bác sĩ, 4 y sỹ, 1 dược sỹ, và 22 cán bộ
y tế thôn bản Xã thực hiện đầy đủ và hiệu quả các chiến dịch tuyên truyền vận động lồng ghép các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, giảm tỉ lệ gia tăng dân
số, giảm trường hợp sinh con thứ 3
- Mạng lưới điện:Trên địa bàn xã có 1 tuyến đường day cao thế 220KV chạy qua, một tuyến đường dây trung thế 22KV chạy qua xã cấp điện cho các trạm biến áp của xã Toàn xã có 4 trạm biến áp có 4km đường dây trung thế, hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện, tỷ lệ hộ dùng điện là 100%
Trang 36- Thủy lợi: Hiện nay trên địa bàn xã có 10 các hồ đạp lớn nhỏ, đặc biệt
là có công trình thủy lợi hồ Núi Cốc đây là nguồn nước dồi dào phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp
4.2 Thực trạng sản xuất chè của xã Phúc Trìu
4.2.1 Tình hình sản xuất chè và cơ cấu giống chè tại địa bàn nghiên cứu
Tình hình sản xuất chè
Được thiên nhiên ưu đãi về đất đại khí hậu, Phúc Trìu có nhiều thuận lợi để phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển cây chè là cây chủ lực chính cây thoát nghèo của người dân trên địa bàn xã Phúc Trìu hơn thế nữa xã còn nằm trong vùng chè đặc sản nên người dân nơi đây chủ yếu tập trung đầu tư sản xuất chè
Diện tích chè của cả xã là 356ha chè, cây chè xuất hiện ở nơi đây đã được hơn 50 năm, trước đây chủ yếu là trồng chè trung du nhưng do loại giống chè cũ trồng lâu nên cho năng suất thấp vì vậy mà nhiều diện tích chè trung du đã bị thoái hóa, tỷ lệ ra búp kém, năng suất thấp
Từ năm 2008 trở lại đây, người dân trong xã đã mạnh dạn chuyển đổi toàn bộ diện tích chè giống cũ, già cỗi, cho tỷ lệ búp thấp sang trồng giống chè giâm cành năng suất cao như: LDP1, TRI 777, Phúc Vân Tiên, Bát Tiên…Tính đến nay xã đã có 80% diện tích là chè giống mới Không chỉ cho năng suất , sản lượng vượt trội mà chè giống mới cũng đ ược thị trường ưa chuộng với giá thành cao hơn
Đa số các hộ dân trồng các giống chè giâm cành thay thế diện tích chè già cỗi thì những giống chè giâm cành thích nghi với khí hậu cũng như thổ nhưỡng của địa phương nên sinh trưởng và phát triển tốt, thời gian cho thu hái nhanh, mật độ ra búp cao hơn nhiều so với giống chè trung du
Xã có 9 làng nghề chè , 3 HTX sản xuất , chế biến chè được thành lâ ̣p , mang la ̣i giá tri ̣ thu nhâ ̣p cao cho người làm chè
Cơ cấu giống chè
Trang 37Bảng 4.3: Cơ cấu giống chè ở xã qua 3 năm 2013-2015
(Nguồn: UBND xã Phúc Trìu)
Từ bảng cơ cấu giống chè ta nhận thấy rằng diện tích chè Trung du qua các năm giảm dần, năm 2014 diện tích chè Trung du giảm hơn so với năm
2013 là 23 ha tương ứng với giảm 30,67 %, năm 2015 giảm hơn so với năm
2014 là 27 ha tương ứng giảm 51,92%, bình quân 3 năm diện tích chè giảm 66,7% chè cũ trồng từ lâu cho năng suất thấp
Về diện tích giống chè mới tăng nhanh qua các năm: năm 2014 diện tích chè năm 2014 tăng lên 23,3 ha so với năm 2013 tức là tăng 8,48% so với năm 2013, năm 2015 lại tiếp tục tăng lên 26,7 ha so với năm 2014 từ 298,3 ha tăng lên 325 ha tương ứng tăng 9,95% Diện tích bình quân chè mới qua 3 tăng 18,18%
Diện tích chè có sự thay đổi tăng diện tích giống chè mới và giảm diện tích giống chè cũ là do người dân nhận thấy giống chè cũ đã trồng lâu và năng suất cho nắng suất kém, lá nhỏ kém hẳn so với các giống chè lai khác, nhận thấy được điều người đã đưa giống chè lai LDP1, TRI77, Phúc Vân Tiên, Bát tiên…vào trồng thử, qua 3 năm chè KTCB thì giống chè bước vào giai đoạn kinh doanh cho năng suất búp tươi khá cao, vì vậy mà từ năm 2008 người dân
Trang 38đã mạnh dạn chuyển hết sang trồng loại chè mới thay cho hàng loạt diện tích chè Trung du
Như vậy việc đưa những giống chè cao sản và những giống mới là những yếu tố đảm bảo cho năng suất chè cao và ổn định hơn so với các giống chè bằng hạt, việc này góp phần nâng cao năng suất chất lượng và nâng cao thu nhập của các hộ trồng chè trong xã
Thực trạng về diện tích, năng suất, sản lượng
Hiện nay khi đã chuyển đổi giống chè mới toàn xã Phúc Trìu có 356ha chè, diện tích chè kinh doanh là 350ha, năng suất đạt 136 tạ/ha, (tăng 80 tạ/ha
so với năm 2005) sản lượng chè búp tươi đạt trên 5.000 tấn Mỗi năm, toàn xã đều trồng mới, cải tạo các diện tích chè cành
Trước đây, bà con bán chè chỉ với giá trên dưới 100 nghìn đồng/kg thì nay đã nâng lên trung bình 200-300 nghìn đồng/kg.Nhờ đẩy mạnh sản xuất chè, đời sống người dân xã Phúc Trìu đã được cải thiện đáng kể Hiện, tỷ lệ
hộ nghèo của xã chỉ còn 2,4% (trên tổng số 1.685 hộ dân của toàn xã), giảm 6% so với năm 2010
Bảng 4.4: Năng suất, sản lượng chè kinh doanh của xã Phúc Trìu qua 3 năm
2015
Diện tích ha 289 317 335 28 109,69 18 105,68 115,92 Năng
suất(tươi) Tạ/ha 132 133 135 1 100,75 2 101,50 102,27 Sản
lượng(tươi) Tấn 3.814 4.216 4.522 402 110,54 306 107,26 118,56
(Nguồn: UBND xã Phúc Trìu)