Xuất phát từ cơ sở trên được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn – Trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
XÃ ĐIỀM MẶC –HUYỆN ĐỊNH HÓA-TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
XÃ ĐIỀM MẶC –HUYỆN ĐỊNH HÓA-TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu với mỗi sinh viên, nhằm giúp sinh viên vận dụng kiến thức lý luận đã học vào thực tiễn, so sánh kiểm nghiệm lý thuyết với thực tiễn và học hỏi thêm những kiến thức kinh nghiệm được rút ra qua thực tiễn để nâng cao được chuyên môn từ đó giúp sinh viên ra trường trở thành một cử nhân nắm chắc được về lý thuyết về thực hành và biết vận dụng nhuần nhuyễn lý thuyết vào thực tế
Xuất phát từ cơ sở trên được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn – Trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên, em tiến
hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá nhận thức của nông hộ về ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc - huyện Định Hóa-tỉnh Thái Nguyên”
Đến nay bài khóa luận đã hoàn thành, em xin được bài tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn – Trường Đại
Học Nông Lâm Thái Nguyên và đặc biệt cô giáo ThS.Bùi Thị Minh Hà đã trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình thực hiện đề tài Em cũng xin được gửi lời cám ơn tới ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên UBND xã Điềm Mặc cùng bà con nhân dân trên địa bàn xã đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian qua
Do trình độ kinh nghiệm thực tế bản thân có hạn vì vậy bài khóa luận không tránh khỏi những sai sót, nên rất mong được sự chỉ bảo của thầy cô, sự đóng góp ý kiến của các bạn sinh viên để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Hà Thị Yến
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Diễn giải BVTV Bảo vệ thực vật BĐKH Biến đổi khí hậu
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ theo xu thế trong 50 năm qua 8
ở các vùng khí hậu và trung bình cho cả nước 8
Bảng 1.2 So sánh nhiệt độ trung bình năm của các thập kỷ 9
1991-2000 và 1931-1940 9
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Điềm Mặc qua hai năm 2013-2015 25
Bảng 4.2: Cơ cấu giống chè của xã Điềm Mặc qua ba năm 2013-2015 34
Bảng 4.3: Năng suất, sản lượng chè kinh doanh 35
của xã Điềm Mặc qua ba năm 2013-2015 35
Bảng 4.4: Nguồn nhân lực của nhóm hộ điều tra năm 2016 39
Bảng 4.5: Tài nguyên đất sản xuất của nhóm hộ điều tra năm 2016 40
Bảng 4.6: Diện tích đất, cơ cấu giống và năng suất chè trung bình 41
của nhóm hộ điều tra năm 2016 41
Bảng 4.7: Phương tiện sản xuất chè của nhóm hộ điều tra năm 2016 43
Bảng 4.8: Nhận thức và mức độ quan tâm đến BĐKH 46
của nhóm hộ điều tra năm 2016 46
Bảng 4.9: Nguồn tiếp cận TT về BĐKH của nhóm hộ điều tra năm 2016 48
Bảng 4.10: Nhận biết dấu hiệu, nguyên nhân BĐKH của nhóm hộ điều tra 49
Bảng 4.11: Các biểu hiện của BĐKH tại địa phương 51
Bảng 4.12: Những yếu tố trong BĐKH ảnh hưởng tới sx chè 53
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của BĐKH đến sx chè 54
của nhóm hộ điều tra năm 2016 54
Bảng 4.14:Biện pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè 56
của Nhóm hộ điều tra năm 2016 56
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu tổng quát 2
1.3 Mục tiêu cụ thể 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
1.4.3 Ý nghĩa đối với sinh viên 3
PHẦN2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở thực tiễn 4
2.1.1 Biến đổi khí hậu 4
2.1.2 Nhận thức 10
2.1.3 Sản xuất chè 12
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
PHẦN III 20
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 20
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 20
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22
4.1.1.Điều kiện tự nhiên 22
Trang 74.1.2 Về kinh tế 26
4.1.3 Về văn hóa- xã hội – cơ sở hạ tầng 29
4.1.4 Đánh giá những thuận lợi khó khăn về điều kiện tự nhiên-kt xã hội 32
4.2 Thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc 33
4.2.1 Tình hình sản suất chè 33
4.2.2 Tình hình chế biến và tiêu thụ chè 38
4.3 Thực trang sản xuất chè của hộ điều tra 39
4.3.1 Nguồn nhân lực của nhóm hộ điều tra 39
4.3.2.Tài nguyên đất của nhóm hộ điều tra 40
4.3.3.Phương tiện sản xuất của nhóm hộ điều tra 42
4.4 Nhận thức của người dân về BĐKH và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sx chè 44
4.4.1 Nhận thức của người dân về BĐKH 44
4.4.2 Nguồn tiếp cận thông tin từ BĐKH 47
4.4.3 Nhận biết của người dân về biểu hiện của BĐKH tại địa phương (TTCĐ, TTBT) 49
4.4.5 Các biện pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè 56
Phần V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 8PHẦN1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường biến đổi khí hậu( BĐKH) là một trong những thách thức lớn của nhân loại, có tác động mạnh mẽ đến sản xuất, đời sống, môi trường, năng lượng, sức khỏe trên phạm vi toàn thế giới…vấn đề BĐKH đã đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH cụ thể với sự gia tăng số lượng, cường độ các đợt bão, lũ, hạn hán, mất mùa, tình trạng xâm thực do nước biển dâng, mất cân bằng sinh thái, dịch bệnh….Theo Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, năm 2015 thiên tai tuy xảy ra ít về số lượng nhưng cường độ tác động một số đợt lại ở mức cao kỉ lục, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân, ước tính tổng thiệt hại khoảng
8114 tỷ đồng.Theo thống kê, thiên tai đã làm 154 người chết, trong đó có 94 người chết do lũ, lũ quét và sạt lở đất; 60 người chết do lốc, sét, không có người chết do bão; 127 người bị thương; 1242 nhà bị đổ, sập, trôi; 35233 nhà bị ngập, hư hỏng; hơn 445000 ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại; hàng triệu m3 đất đá giao thông, thuỷ lợi bị sạt lở, bồi lấp[16]
Nhằm nâng cao biện pháp phòng chống thiên tai năm 2016, ban chỉ đạo trung ương phòng chông thiên tai thực thi các nhiệm vụ, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, kết hợp các biện pháp phòng ngừa thiên tai… Đồng thời, đẩy mạnh công tác dự báo để tiếp tục chủ động ứng phó, chuyển từ bị động sang chủ động, nhằm giảm thiệt hại về thiên tai cho cộng đồng
Xã Điêm Mặc thuộc khu vực trung du miền núi phía bắc, nằm trong huyện Định Hóa với diện tích khoảng 1653,84 ha,được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, địa hình, Điềm Mặc có điều kiện thuận lợi cho phát triển cây chè trong đó diện tích trồng chè khoảng 253 ha, cây chè là cây sinh kế chính, cây thoát nghèo của
bà con nơi đây
Trang 9Trên địa bàn cả nước nói chung và địa bàn xã Điềm Mặc nói riêng đang chịu ảnh hưởng của BĐKH, nó đang tác động vào nhiều mặt đời sống sản xuất của bà con, trong những năm qua trên địa bàn xã Điềm Mặc BĐKH đang biểu hiện rõ rệt hơn, số lượng và cường độ các trận bão gia tăng, tình trạng mất mùa xảy ra nhiều hơn, đón nhiều các đợt nắng gắt, oi bức, nhiệt độ tăng cao vào mùa hè, các hiện tượng cực đoan của thời tiết diễn biến bất thường, đặc biệt là sự ra tăng vềsố lượng
và cường độ các đợt rét
Cùng với các tác động của thiên tai, ngoài các đặc điểm khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thì Xã Điềm Mặc còn là nơi sinh sống của dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Sán Trí và hộ nghèo chiếm tỉ lệ cao, hiểu biết hay nhận thức của người dân về BĐKH, các hiện tượng TTCĐ còn hạn chế vì vậy cần đưa ra các giải pháp ứng phó với các hiện tượng bất thường của thời tiết và giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết hay nhận thức của người dân về BĐKH
Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giánhận thức của nông hộ về ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè trên địa
bàn xã Điềm Mặc - huyện Định Hóa- tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được đầy đủ chính xác tình hình sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc và nhận thức của người dân trong xã về BĐKH, mức độ ảnh hưởng của BĐKHđến sản xuất chè, đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức về BĐKH cho người dân góp phần sản xuất chè trong điều kiện BĐKH
1.3 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc
- Đánh giá được nhận thức của người dân trồng chè về BĐKH và ảnh hưởng tới sản xuất chè
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè tại xã Điềm Mặc
Trang 101.4.Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về pt sx chè tại địa phương
- Xác định cơ sở khoa học tác động của BĐKH đến phát triển sx chè
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học
1.4.3 Ý nghĩa đối với sinh viên
- Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố thêm những kiến thức, kỹ năng đã học Đồng thời có
cơ hội vận dụng chúng vào thực tế
Trang 11PHẦN2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”[3]
“Biến đổi xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ Sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được”[17]
“Bất kỳ sự thay đổi có hệ thống của các nhân tố khí hậu trong một thời gian dài (nhiệt độ, áp suất hoặc gió) qua hàng chục năm hoặc lâu hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên, như các thay đổi trong quá trình phát năng lượng của mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay trái đất, hoặc do các quá trình tự nhiên nội tại của hệ thống khí hậu; hoặc do các tác động từ các hoạt động của con người”[17]
2.1.1.2.Biểu hiệncủa BĐKH
- Sự nóng lên của trái đất
Trong 100 năm qua ( 1906 -2005 ), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,740C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó Trong 10 năm qua ( tính từ năm 2001), nhiệt độ trung bình cao hơn 0,50
C
Trang 12so với giai đoạn 1961 – 1990[15] Một số hiện tượng tiêu biểu liên quan đến nhiệt
độ tăng như sau:
+ Giai đoạn 1995 – 2006 có 11 năm ( trừ 1996 ) được xếp vào danh sách 12 năm nhiệt độ cao nhất trong lịch sử kể từ năm 1850, nóng nhất là năm 1998 và năm
2005 Gần đây nhất là năm 2010, năm được coi là nóng nhất trong lịch sử và tháng
6 năm 2010 được ghi nhận là tháng nóng nhất trên toàn thế giới kể từ năm 1880[15]
+ Đáng lưu ý là, mức tăng nhiệt độ của Bắc Cực gấp đôi mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu Nhiệt độ cực trị cũng có xu thế phù hợp với nhiệt độ trung bình, kết quả là giảm số đêm lạnh và tăng số ngày nóng
+ Ở Việt Nam trong khoảng 50 năm qua nhiệt độ trung bình năm đã tăng lên khoảng 05-070C, BĐKH làm cho thiên tai bão lũ ngày càng ác liệt hơn[2]
- Mực nước biển dâng
+ Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong
đó không bao gồm thủy triều, nước dâng do bão Nước biển dâng tại một vị trí nào
đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác Quan trắc mực nước biển cho thấy mực nước biển trung bình tăng khoảng 20cm trong vòng 100 năm qua Trong thập kỷ qua, mực nước biển dâng nhanh nhất ở vùng phía tây Thái Bình Dương và phía đông Ấn Độ Dương, Việt Nam trong khoảng 50 năm trở lại đây mực nước biển dâng khoảng 20 cm[2]
Trang 132.1.1.3.Nguyên nhân dẫn đến BĐKH
Do tự nhiên
+ Kiến tạo mảng : Qua hàng triệu năm sự chuyển động của các mảng làm tái xếp các lục địa và đại dương trên toàn cầu đồng thời hình thành lên địa hình bề mặt
+ Do sự tương tác hoạt động giữa trái đất và vũ trụ
+ Những yếu tố ảnh hưởng đến khí hậu nhưng không phải là khí hậunhư : Tác động của CO2, bức xạ mặt trời….vv
+ Sự phun trào núi lửa
+ Sự thay đổi quỹ đạo
+ Sự thay đổi của đại dương: Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh, thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 và trong khí quyển
+ Sự xuất hiện của vết đen mặt trời
Do hoạt động của con người
+ Do con người sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch, sử dụng hóa chất cho trồng trọt , chăn nuôi, sinh hoạt….các nhà máy xí nghiệp hàng ngày xả hàng tấn bụi ,khí CO2,SO2 ra bầu không khí gây ôi nhiễm môi trường, phá hủy hệ sinh thái
+ Con người khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức và đang dần làm chúng cạn kiệt nhất là đối với những tài nguyên không thể tái tạo như dầu mỏ, than …vv Nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu đó là sự ra tăng các hoạt động tạo
ra chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bề mặt hấp thụ khí nhà kính như sinh khối rừng, hệ sinh thái biển, ven biển …[18]
2.1.1.4 Hậu quả của BĐKH
- Hệ sinh thái bị phá hủy: BĐKH và lượng cacbon dioxite ngày càng tăng cao đang thử thách các hệ sinh thái của chúng ta Các hậu quả như thiếu hụt nguồn nước ngọt, không khí bị ô nhiễm nặng, năng lượng và nhiên liệu khan hiếm, và các vấn đề y tế liên quan khác không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta mà còn là vấn đề sinh tồn[19]
-Mất đa dạng sinh học: Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 0C nữa Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa, do
Trang 14nạn phá rừng và do nước biển ấm lên Các loài có nguy cơ tuyệt chủng như cáo đỏ,sếu…vv[19]
-Chiến tranh xung đột
Những biến đổi về môi trường sống, sự thay đổi khí hậu theo chiều hướng xấu, nước ngọt khan hiếm, đất đai dần mất dần,nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt đây
là những yếu tố gây ra chiến tranh,xung đột giữa các nước và vùng lãnh thổ
- Dịch bệnh
Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện cho các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột…sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới
Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết Những vùng trước đây có khí hậu lạnh giờ cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới[19]
-Tác hại kinh tế
Các thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra cũng ngày càng tăng theo nhiệt độ trái đất Các cơn bão lớn làm mùa màng thất bát, tiêu phí nhiều tỉ đô la; ngoài ra, để khống chế dịch bệnh phát tán sau mỗi cơn bão lũ cũng cần một số tiền khổng lồ Khí hậu càng khắc nghiệt càng làm thâm hụt các nền kinh tế
Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống Người dân phải chịu cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang; các chính phủ phải đối mặt với việc lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu thực phẩm
và nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ, và các căng thẳng về đường biên giới.Trong vòng những năm trở lạ đây, các đợt bão lũ xảy ra nhiều và càng khốc liệt hơn chính vì vậy gây tổn thất lớn về người và tài sản, trong bối cảnh giá cả thực phẩm, nhiên liệu leo thang[19]
-Hạn hán, lũ lụt
Trang 15- Xu thế biến đổi nhiệt độ
Xu thế diễn biến nhiệt độ ở các vùng khí hậu và trung bình cho cả nước nghiên cứu qua số liệu của 161 trạm trên đất liền và 10 trạm ngoài đảo trong 50 năm (1958 - 2007)[7] Kết quả xu thế diễn biến nhiệt độ ở các vùng khí hậu và trung bình cho cả nước được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ theo xu thế trong 50 năm qua
ở các vùng khí hậu và trung bình cho cả nước
Nguồn: (Đinh Vũ Thanh, Nguyễn Văn Viết 2012)
Có thể nhận thấy nhiệt độ tháng 1 (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng 7 (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi
cả nước trong 50 năm (1958 - 2007) Nhiệt độ vào mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và các vùng có nhiệt độ tăng nhanh hơn là Tây Bắc, đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3 – 1,50C/50 năm) Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ
Vùng khí hậu Số lượng
trạm
Nhiệt độ Tháng 1 Tháng 7 Trung bình
Trang 16có nhiệt độ tháng 1 tăng chậm hơn các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6 – 0,9
0C/50 năm) Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta tăng lên 1,2
0C trong 50 năm qua Nhiệt độ tháng 7 tăng khoảng 0,3 – 0,5 0C/50 năm trên tất cả các vùng khí hậu của cả nước Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5 – 0,6 0C/50 năm ở Tây Bắc, đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,3 0C/50 năm Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ trung bình năm đã tăng lên khoảng 0,56 0C trong 50 năm (1958-2007) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở Hà Nội cao hơn trung bình nhiều năm (1961-1990) 0,7 0C
Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở cả 3 nơi là Hà Nội, Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh, đều cao hơn trung bình năm của thập kỷ 1931-1940 với trị
số lần lượt là 0,8 0C, 0,4 0C và 0,7 0C Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi đều cao hơn trung bình của các thập kỷ đã nêu lần lượt là 0,8-1,3 0
C và 0,4-0,5 0C Nhiệt độ trung bình năm qua các thập kỷ cũng diễn ra với xu thế tăng cao (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 So sánh nhiệt độ trung bình năm của các thập kỷ
1991-2000 và 1931-1940
Nguồn: (Đinh Vũ Thanh, Nguyễn Văn Viết 2012)
- Xu thế biến đổi số giờ nắng
Số giờ nắng là một yếu tố quan trọng đối với quá trình quang hợp của thưc vật Biến đổi số giờ nắng thể hiện đặc trưng qua sự thay đổi của số giờ nắng tháng
1, tháng 7, số giờ nắng năm và theo vụ (đông xuân và mùa) Đối với miền núi và trung du Bắc Bộ: Tháng 1 số giờ nắng có xu hướng giảm so với TBNN 20 giờ, tháng 7 giảm khoảng 10 giờ, cả năm giảm 45 giờ Tổng số giờ nắng vụ đông xuân
Trang 17giảm 40 giờ, vụ mùa giảm khoảng 1 giờ đồng bằng Bắc Bộ: Trạm Hà Nội, trạm Hải Dương, trạm Nam định: đều có xu thế giảm vào tháng 1 từ 10 – 20 giờ, tháng 7 giảm 20 – 30 giờ Vụ đông xuân và vụ mùa giảm 50 – 70 giờ Bắc Trung Bộ: Trạm Vinh số giờ nắng giảm 5 – 10 giờ đối với tháng 1, tháng 7 cả năm và mùa vụ Nam Trung Bộ: Trạm Nha Trang số giờ nắng tăng vào tháng 1, tháng 7, cả năm và mùa vụ[7]
- Xu thế biến đổi lượng mưa
Lượng mưa biến đổi không nhất quán, có nơi tăng, nơi giảm Lượng mưa mùa ít mưa (tháng 11- tháng 4 năm sau) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng
kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Lượng mưa mùa mưa (tháng 5 – tháng 10) giảm từ 5 đến trên 10% trên đa phần diện tích phía Bắc và tăng khoảng 5-20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Xu thế diễn biến của lượng mưa năm hoàn toàn tương tự lượng mưa mùa mưa nhiều, tăng ở vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa ít mưa, mùa mưa nhiều
và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở Việt Nam, nhiều nơi tăng đến 20% trong 50 năm qua[7]
2.1.2.Nhận thức
2.1.2.1.Khái niệm nhận thức
“Nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn”[8]
“Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể”[9]
“Nhận thức là một quá trình.Đó là quá trình đi từ trình độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận, từ trình độ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học Dựa trên nguyên tắc đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn”[9]
Trang 182.1.2.2.Các giai đoạn của nhận thức
- Nhận thức cảm tính: Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau
- Nhận thức lý tính: Là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận
- Nhận thức trở về thực tiễn: Ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai Nói cách khác, thực tiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được Do
đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức
vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh nghiệm
- Nhận thức: Dựa vào tính tự giác hay tự phát của sự xâm nhập vào bản chất hay tự giác của sự vật:
+ Nhân thức thông thường: Là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người.Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm, chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật Vì vậy nhận thức thông thường mang tính phong phú nhiều vẻ và gắn liền với những quan niệm sống thực tế hằng ngày, vì thế nó có vai trò thường xuyên
và phổ biến chi phối hoạt động của mọi người trong xã hội[11]
+ Nhận thức khoa học: Là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác
và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của các sự vật Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực[11]
Hai loại nhận thức này cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau Nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội
Trang 19dung của các khoa học Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập và làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức thế giới của con người
2.1.3.Sản xuất chè
2.1.3.1 Khái niệm sản xuất
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay
để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?
Liên Hiệp Quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tài sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể
chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền
2.1.3.2 Ý nghĩa của việc phát triển cây chè
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Nó là một loại cây trồng có
vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế và văn hóa con người, sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng khắp các nước trên thế giới, kể cả những nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn về chè Ngoài tác dụng giải khát chè còn có tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, tăng năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể…[10]
Chè có nhiều vitamin giúp thanh lọc cơ thể, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh về máu do đó chè đã trở thành một thức uống phổ biến trên thế giới[10] Tại một số nước thói quen uống chà đã tạo thành một nền văn hóa truyền
Trang 20thống.Hiệnnay khoa học tiến bộ đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra một số hoạt chất quý trong cây chè như cafein, vitamin …vvvv
Đối với nước ta không chỉ thỏa mãn nhu cầu trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, giúp nước ta có thêm nguồn thu ngoại tệ lớn để đầu tư phát triển đất nước, nâng cao mức sống cho người dân
Đối với các hộ sản xuất kinh doanh sản phẩm chè thì cây chè mang lại thu nhập ổn định, cao hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác bởi cây chè có tuổi thọ cao có thể sinh trưởng, phát triển cho sản phẩm với giá trị cao và đều đặn trong khoảng 50-
60 năm do vậy nó sẽ tạo ra nguồn thu đều đặn và lâu dài hiệu quả kinh tế cao nâng cao mức sông của người dân
Mặt khác, cây chè là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất miền núi và trung du, những vùng đất cao, khô thoáng.Hơn thế nữa nó còn gắn bó keo sơn với những vùng đất đồi dốc khô cằn sỏi đá.Chính vì vậy trồng chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo ra cảnh quan đẹp Kết hợp trồng chè với trồng rừng sẽ tạo ra những vành đai chống xói mòn, rửa trôi, giữ lại lớp màu mỡ cho đất, cải tạo đất tăng độ phì cho đất bạc màu, góp phần bảo vệ môi trường phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Ngoài ra trồng chè và sản xuất chè cần một lực lượng lao dộng lớn cho nên
nó sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tạo điều kiện cho việc thu hút và sử dụng lao động, điều hòa lao động hợp lý hơn Đồng thời tạo ra nguồn của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống cho thu nhập nông thôn, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế cho khu vực nông thôn
2.1.3.3.Ảnh hưởng các yếu tố ngoại cảnh đến sản xuất chè
Như ta đã biết cây chè là cây công nghiệp lâu năm đã được trồng từ rất lâu ngoài cây lúa ra cây chè cũng là cây chủ lực chính, cây xóa đói giảm nghèo cho bà con ở nhiều vùng trên cả nước
Chất lượng, mùi vị chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu đất đai của vùng, những vùng chè khác nhau thì phẩm chè cũng khác nhau, mỗi vùng đều mang mùi
vị đặc trưng của vùng đó Sự thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, lượng mưa, đất đai,
Trang 21không khí, các biện pháp kỹ thuật sẽ làm thay đổi hương thơm, mùi vị, các thành phần chất mang lại lợi ích cho sức khỏe con người mà nó còn làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những người dân nông thôn sống dựa vào cây trồng này Theo những nghiên cứu mới nhất gần đây chất lượng các thành phần hợp chất quyết định đặc tính hương vị chè trong chè giảm sút nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng chè, ảnh hưởng đến năng suất, thị trường tiêu thụ chè
Điều kiện tự nhiên
- Ánh sáng: Chè là cây ưa ẩm, thích hợp với cường độ ánh sáng tán xạ với điều kiện khí hậu nhiệt độ đang có xu hướng tăng như hiện nay sẽ làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây chè đối với những cây có tuổi chè khác nhau thì cường độ ánh sáng cũng khác nhau, đặc biệt là lớp cây chè non mới trồng thì cường độ ánh sáng cần lại ít hơn, với hiện tượng nắng nóng khốc liệt khiến cành cây, lá chè chuyển sang màu đỏ bầm, nếu tình trạng này vẫn xảy ra và không có mưa thì tỉ lệ cây chè chết cháy sẽ chiếm tỉ lệ cao Không ít nhiều bà con đã lâm vào cảnh mất trắng tay vừa không thu được chè vừa phải chặt cây trồng lớp khác điều
đó ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của bà con[10]
- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây chè Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí dưới
100C hay trên 400C.Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắt đầu phát triển trở lại Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn tùy thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức độ chống chịu khác nhau
-Lượng mưa: Cây chè sinh trưởng ở những vùng có lượng mưa hàng năm từ
1000 – 4000mm và trung bình là 1500 – 2000 Trong điều kiện lượng mưa trên 100mm/tháng, chè sinh trưởng tốt, phiến lá to, búp mập.Trong điều kiện lượng mưa dưới 50mm/tháng, chè mọc cằn cỗi, búp nhỏ, cứng, ít búp, tỷ lệ mù xòe cao, nhện
đỏ phá hoại nặng Nếu tình trạng mưa nhiều xảy ra thì chè sẽ bị nhạt do không hấp thụ chất dinh dưỡng tốt, không quang hợp hoàn toàn[10]
-Đất đai: Chè là một cây không yêu cầu khắt khe và đất so với một số cây công nghiệp dài ngày khác Tuy nhiên để cây chè sinh trưởng, phát triển tốt, nương
Trang 22chè có nhiệm kì kinh tế dài, khả năng cho năng suất kinh tế cao, ổn định, chất lượng chè ngon thì cây chè cũng phải được trồng ở nơi có đất tốt, phù hợp với đặc điểm sinh học của nó Qua nghiên cứu các chuyên gia cho thấy đất trồng chè tốt phải đạt yêu cầu sau: độ pH từ 4,5 - 5,5; hàm lượng mùn 2% - 4%; độ sâu ít nhất 0,6 - 1m; mực nước ngầm phải dưới 1m; kết cấu của đất tơi xốp sẽ giữ được nhiều nước, thấm nước nhanh, thoát nước tốt, có địa hình dốc từ 10 – 200[10]
Đối với đất đai, địa hình đất càng nhiều mùn thì việc trồng chè càng tốt, thuận lợi cho cây chè phát triển, đối với đất cằn cỗi ít mùn cần có biện pháp cải tạo nhằm tăng độ dinh dưỡng cho đất như trồng cây phân xanh, cây họ đậu, bón phân hữu cơ, hạn chế rửa trôi , xói mòn
Đối với các yếu tố kỹ thuật
-Giống chè:Giống chè ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh Mỗi một điều kiện sinh thái, mỗi vùng lại thích hợp cho một giống chè hay một số giống nhất định.Vì vậy để có nguyên liệu phục vụ chế biến, tạo ra chè thành phẩm có chất lượng cao và để góp phần đa dạng hóa sản phẩm ngành chè, tận dụng lợi thế so sánh của các vùng sinh thái đòi hỏi phải có nguồn giống thích hợp
Ở nước ta đã chọn tạo được nhiều giống chè tốt bằng phương pháp chọn lọc
cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3 Đây là một số giống chè khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và chất lượng búp cao, đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện tích rộng, bổ sung cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương chè cằn cỗi
Đối với ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật
- Nước tưới: Sản xuất chè chủ yếu là thu hoạch búp nên việc cung cấp đầy đủ hàm lượng nước cho chè là quan trọng làm tăng năng suất và sản lượng chè
- Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng búp chè, nếu bón đạm với hàm lượng quá cao hoặc bón các loại phân theo tỷ lệ không hợp lý sẽ làm giảm chất Tanin hoà tan của chè, làm tăng hợp chất Nitơ dẫn tới giảm chất lượng
Trang 23chè[1] Vì vậy bón phân cần phải bón đúng cách, đúng lúc, đúng thời điểm và cần cân đối các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu như: Đạm, lân, kali
- Mật độ gieo trồng: Mật độ trồng chè phụ thuộc vào các giống, độ dốc, điều kiện cơ giới hoá Nhưng xu thế hiện nay là khai thác sản lượng theo không gian do
đó có thể tăng cường mật độ một cách hợp lý cho sản lượng sớm, cao, nhanh khép tán, chống xói mòn và cỏ dại trong nương chè, mật độ vườn đảm bảo từ 18000 đến
20000 cây/ha thì sẽ cho năng suất và chất lượng tốt, chi phí phải đầu tư tính cho một sản phẩm là đạt mức thấp nhất[4]
- Đốn chè: Đốn chè là cắt đi đỉnh ngọn của các cành chè, ức chế ưu thế sinh trưởng đỉnh và kích thích các trồi ngủ, trồi nách mọc thành lá, cành non mới tạo
ra một bộ khung tán khoẻ mạnh, làm cho cây luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng hạn chế sự ra hoa, kết quả có lợi cho việc ra lá, tăng mật độ búp, tạo bộ khung tán to có nhiều búp, cắt bỏ những cành già tăm hương, bị sâu bệnh thay bằng những cành non mới sung sức hơn giữ cho cây chè có bộ lá thích hợp để quang hợp[4] Bên cạnh đó còn các yếu tố khác như các điều kiện xã hội: Thị trường, yếu tố lao động, giá cả, chính sách của nhà nước:
- Thị trường là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp,đối với bất kỳ người sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải trả lời ba câu hỏi, “ sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai:”, đều phải quan tâm tới đầu đầu
ra cho sản phẩm của mình, đòi hỏi người sản xuất phải nắm bắt được rõ quy luật cung cầu của thị trường Chè là đồ uống phổ biến với người dân Việt Nam chính vì vậy thị trường chè khá ổn định đối với thị trường các sản phẩm khác
- Yếu tố lao động: Là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất, bên cạnh những yếu tố khác ngoài các yếu tố kỹ thuật thì yếu tố tay nghề của bà con cũng là yếu tố quyết định đến năng suất, sản lượng chè, tất cả các khâu chọn giống gieo trồng, chăm sóc,thu hoạch đều ro con người quyết định
- Gíacả: Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, của người trồng chè nói riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá chè trên thị trường; giá cả không
ổn định ảnh hưởng tới tâm lý người trồng chè Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như
Trang 24người làm chè, ngành chè nói riêng Do đó việc ổn định giá cả, mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho sự phát triển lâu dài của ngành chè
- Chính sách của nhà nước: Đối với chính sách phù hợp đảm bảo phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho bà con, đối với những chính sách không phù hợp sẽ kìm hãm phát triển các nghành, hiện nay nhà nước ta đang thực hiện một số chính sách như chính sách như chính sách về giống, tập huấn kỹ thuật
Đang đứng trước nguy cơ chịu hậu quả BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp như hiên nay thì việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật ( phân bón, thu hoạch, phòng trừ sâu bệnh…) phải được triển khai, sâu rộng hơn đối với bà con, cần tăng cường công tác tập huấn khuyến nông nhằm nâng cao nhận thức của bà con trong việc sản xuất chè….Đặc biệt cần nâng cao nhận thức của người dân trong việc áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chè, áp dụng máy móc vào sản xuất nhằm tiết kiệm thời gian công sức, đối với khâu chế biến và bảo quản chè cần cần chú trọng hơn việc đóng gói, bao bì sản phẩm nhằm tạo thương hiệu riêng cho sản phẩm chè của mình
2.2.Cơ sở thực tiễn của đề tài
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nhận thức của người dân về BĐKH đặc biệt là người dân nông thôn và sản xuất nông nghiệp
BĐKH là một vấn đề toàn cầu, luôn được xã hội quan tâm đến, mức độ ảnh hưởng, hậu quả của BĐKH trong những năm gần đây ngày càng biểu hiện rõ rệt hơn( trái đất nóng lên, băng tan ở hai cực, nước biển dâng, dịch bệnh …….vvv), đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, là lĩnh vực chịu thiệt hại nặng nề nhất ro BĐKH, tình trạng mất mùa, mức độ xâm thực xảy ra nhiều, BĐKH có tác động mạnh mẽ đến sản xuất, đời sống cuả người dân…ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Trong những năm gần đây những biểu hiện của BĐKH ngày càng rõ hơn thể hiện bằng sự ra tăng số lượng, cường độ, tính chất của các TTCĐ như bão, lũ, hạn hán, mưa đá, gió lốc, rét hại cháy rừng, xâm ngập mặn làm giảm năng suất, chất lượng cây trồng, gây ra nhiều thiệt hại đối với cơ sở vật chất và đe dọa đến tính mạng con người BĐKH gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, một phần
Trang 25đáng kể diện tích đất nông nghiệp ở vùng đất thấp, đồng bằng ven biển như đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long là hai vùng bị xâm nhập mặn lớn nhất cả nước do nước biển dâng, vì vậy nên có các biện pháp ứng phó thích hợp
BĐKH làm nảy sinh những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, từ đó khiến cho sức khỏe của nhiều người suy giảm nghiêm trọng.Nhiệt độ tăng tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người, dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm Ở miền Bắc mùa đông sẽ ấm lên dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người Theo Báo cáo của Uỷ ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đã khẳng định biến đổi khí hậu gây tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóng nhiệt/nóng, bão, lũ lụt, hạn hán… nhiều bệnh, dịch gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh sống, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, các bệnh đường ruột
và các bệnh khác…Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là nhóm hộ nghèo, dân tộc thiểu số, người già và trẻ em[20]
Hiện nay không chỉ là nước ngoài hay trong nước đã có nhiều nghiên cứu về BĐKH, những đánh giá về hiện trạng, tác động, hậu quả của BĐKH hay đánh giá
về mức độ nhận thức của người dân về BĐKH.Đặc biệt là những nghiên cứu về tác động hay mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp, đa dạng sinh học, môi trường….như: Luận văn thực trạng ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp tại đồng bằng Sông Hồng, luận văn đánh giá tác động của BĐKH đến năng suất chè tỉnh Phú Thọ và đề xuất các giải pháp thích ứng nâng cao năng suất chè(Học viện Nông nghiệp Việt Nam – luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp(2014) của Đào Thị Thu Trang, luận văn đánh giá nhận thức của người dân
về ảnh hưởng của BĐKH tới môi trường nước và đa dạng sinh học huyện Trùng khánh- tỉnh Cao Bằng của Đoàn Hồng Sắc- đại học Nông lâm Thái Nguyên, nhận thức của cộng đồng về tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp và các giải pháp ứng phó(tạp chí khoa học, đại học Huế số 67, 2011của Lê Đan Khôi)
Trang 26Đối với sản xuất nông nghiệp có nhiều các nghiên cứu, tiểu luận đề tài liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là những nghiên cứu đánh giá, nhận thức của người dân về tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp, tác động của BĐKH đến năng suất cây trồng( lúa, ngô, …) đó là cơ sở cung cấp thông tin cho việc nghiên cứu sau này từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về BĐKH
Hiện nay mức độ nhận thức của người dân đặc biệt là người dân nông thôn vùng sâu, vùng xa còn hạn chế chỉ có cái nhìn sơ bộ về BĐKH mà chưa nhận thức đúng về những mối đe dọa tiềm ẩn của BĐKH đối với loài người chính vì vậy cần tăng cường nhiều bài viết liên quan đến nhận thức hay hiểu biết của người dân về BĐKH
Trang 27PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các nông hộ sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi địa bàn xã Điềm Mặc – huyện Định Hóa – tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi thời gian :Từ ngày mùng 03/01/2016 đến ngày 16/4/2016
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1.Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn sẵn có bao gồm các sách, báo, tạp chí khoa học, niên giám thống kê, các wedsite của chính phủ… các số liệu và báo cáo tổng kết của xã đang nghiên cứu để có số liệu thống kê
- Đây là những số liệu đã được công bố đảm bảo tính đại diện và khách quan của đề tài nghiên cứu
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Chọn mẫu điều tra:
- Chọn 3 xóm: Bản Tiến, Đồng Vinh 4, Song Thái 3 là những xóm có tính đại diện cho toàn xã( diện tích chè nhiều nhất)
- Chọn hộ: Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo nhóm hộ khá, trung bình ,cận nghèo và nghèo, chọn 20 % số hộ của các nhóm, cụ thể tổng số hộ của 3 xóm như sau:
Trang 28- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng bảng hỏi soạn sẵn, phỏng vấn trực tiếp
60 hộ sx chè trên địa bàn xã Điềm Mặc, phỏng vấn với thái độ niềm nở, thân mật Các thông tin thu thập được bao gồm nhận thức của người dân về BĐKH, tác động của BĐKH và giải pháp ứng phó
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Từ các nguồn điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, tiến hành phân tích và tổng hợp điều tra
- Thực hiện tổng hợp theo từng nội dung nghiên cứu của phiếu điều tra thu được trong lần đi thực tế
- Thực hiện nhập số liệu đã tổng hợp vào máy tính, sử lý bằng phương pháp toán học thông thường
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiênkinh tế- xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng sản xuất chè tại xã Điềm mặc
- Hiểu biết của người dân trồng chè về BĐKH và những ảnh hưởngcủa BĐKH tới sản xuất chè, giải pháp ứng phó BĐKH trong sản xuất chè của người dân hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và sản xuất chè thích ứng với BĐKH cho người dân tại địa phương
Trang 29PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1.Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Điềm Mặc là một xã miền núi nằm ở phía nam huyện Định Hoá, cách trung tâm huyện 17 km, có đường tỉnh lộ 264b đi qua; Là một địa phương có truyền thống anh hùng cách mạng Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Điềm Mặc đã được Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn làm địa điểm hoạt động
để Lãnh đạo kháng chiến.Là xã nghèo của một huyện miền núi thuộc chương trình
135 của Chính phủ Xã có địa giới
- Phía Đông giáp xã Bình Yên
- Phía Bắc giáp xã Thanh Định
- Phía Tây giáp với núi Hồng xã Hùng Lợi tỉnh Tuyên Quang
- Phía Nam giáp xã Phú Đình
Với vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao thương buôn bán đặc biệt là cầu nối giáp với tỉnh tuyên quang tuy nhiên việc đi lại trong thôn bản vẫn còn khó khăn
4.1.1.2.Khí hậu
Khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc bộ, có 2 mùa mưa và khô rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau (số mưa bình quân 125 ngày), lượng mưa trung bình 1.710mm/năm, tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều, mưa tập trung vào từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm 90 % lượng mưa cả năm
Trang 30- Bão: Xã Điềm Mặc ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, chủ yếu ảnh hưởng gây mưa lớn, hàng năm thường có 5-7 cơn bão gây mưa lớn;
- Mưa: Được chia thành hai mùa rõ rệt, từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm là mùa mưa nhiều, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau là mùa mưa ít Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.252 - 1.262 mm;
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm bình quân từ 80 - 85 %, Độ ẩm cao nhất tập trung vào các tháng 5,6,7 Độ ẩm thấp nhất tập trung vào các tháng 10,11,12 Sương mù xuất hiện nhiều và thường xuất hiện vào các tháng 11,12,1,2,3 Ngoài ra một số năm
có hiện tượng sương muối kèm theo giá rét;
- Nắng: Tổng số giờ nắng trong năm khoảng1600 giờ - 1800 giờ/năm;
Nhìn chung khí hậu thời tiết của xã Điềm Mặc mang đặc trưng của miền núi phía Bắc thích hợp cho sự phát triển đa dạng về sinh học, phù hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng khác nhau: Cây ăn quả, cây chè, cây lâm nghiệp, cây lương thực
- Đất nâu đỏ phát triển trên đá Mắcma bazơ, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, phần lớn diện tích này có độ dốc tương đối lớn vì vậy bị rửa trôi mạnh dẫn đến nghèo dinh dưỡng, hiện đang sử dụng vào mục đích trồng Chè và trồng cây Lâm nghiệp
- Đất đỏ vàng trên đá sét tầng trùng bình, phân bố trong toàn xã phù hợp trồng các loại cây hoa màu
Nhìn chung phần lớn đất đai của xã Điềm Mặc là đất chứa hàm lượng mùn, lân, Ka li ở mức nghèo hiệu quả canh tác thấp
Trang 314.1.1.4 Địa hình
Địa hình xã khá đa dạng, đồi núi chiếm 53,6 % đất tự nhiên của toàn xã, xen
kẽ là những cánh đồng tạo thành địa hình nhấp nhô, ruộng bậc thang Độ dốc lớn và
có nhiều sông suối, ít thuận lợi cho xây dựng Có nhiều tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, kinh tế vườn đồi, chăn nuôi đại gia súc Là xã cách xa trung tâm huyện lỵ, mật độ dân số bình quân/m2 thấp nên rất khó khăn trong việc phát triển các loại
hình dịch vụ thương mại
4.1.1.3 Thủy văn.
Trên địa bàn xã Điềm Mặc có sông đi qua: Sông Công (phần trên đất Định Hoá là thượng nguồn) có hai nhánh Nhánh thứ nhất bắt nguồn từ xã Thanh Định, chảy qua xã Bình Yên, Sơn Phú Nhánh thứ hai bắt nguồn từ dãy núi Khuôn Tát xã Phú Đình chảy qua xã Phú Đình, hợp lưu với nhánh thứ nhất ở xã Bình Thành rồi chảy sang xã Minh Tiến (huyện Đại Từ) Tổng diện tích lưu vực trên địa bàn huyện
là 128km2, lưu lượng mức bình quân 3,06m3/s
- Thuỷ văn: Mạng lưới thủy văn của xã Điềm Mặc đa dạng bao gồm hệ thống sông suối khe đập khá dày đặc nên mùa mưa dễ xảy ra lũ lụt cục bộ tại khu vực xung quanh suối, tuy có mạng lưới dầy đặc nhưng hệ thống suối của Điềm Mặc thường là dốc và ngắn nên không đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cho sản xuất
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên:
* Tài nguyên nước:
- Nguồn nước mặt phục vụ sản xuất: Đây là nguồn chính phục vụ sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên với diện tích khoảng 33,23 ha diện tích ao hồ nhỏ thường không cung cấp đủ cho công tác tưới tiêu, thường bị cạn kho về mùa khô
- Nguồn nước ngầm: Hiện tại chưa có khảo sát về trữ lượng nước ngầm trên địa bàn xã, qua khảo sát sơ bộ tại các hộ dùng giếng khơi chất lượng khá tốt Toàn
xã hiện nay có 98,6% người dân dùng nước giếng khơi, nước tự chảy và 8,88% người dân dùng nước máy và nước giếng khoan Mực nước ngầm trung bình có độ sâu từ 10-20m đây là nguồn nước sạch đảm bảo chất lượng phục vụ cho sinh hoạt của người dân
Trang 32* Tài nguyên đất:
- Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, đất đai Điềm Mặc có nhiều khả năng
để phát triển nông lâm nghiệp Xã Điềm Mặc với tổng diện tích đất tự nhiên là 1653,84ha( chủ yếu là đất đồi núi), với diện tích rừng trong toàn xã là 633,17 ha đây
là lợi thế cho phát triển vùng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ và nguyên liệu sản xuất giấy Bên cạnh đó xã có tiềm năng phát triển cây chè với diện tích trồng chè lớn thứ hai so với các xã trong huyện Định hóa
4.1.1.5 Tình hình đất đai của xã Điềm Mặc
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1653,84 ha với diện tích đất nông nghiệp là 1467,90 ha chiếm 88,76% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất lâm nghiệp
là 633,17 ha chiếm 31,37% tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất phi nông nghiệp là 125,12 ha chiếm 7,56%, nhóm đất chưa sử dụng của xã còn 60,82 ha chiếm 3,68% so với tổng diện tích đất tự nhiên Qũy đất nông nghiệp của xã lớn, đây là thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng hàng hóa bởi vậy đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được của người nông dân
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Điềm Mặc qua hai năm 2013-2015
Nguồn: ( UBND xã Điềm Mặc)
Qua bảng số liệu cho ta thấy: Diện tích đất tự nhiên của xã từ năm
2013-2015 tăng 7,02 ha, cụ thể diện tích đất trồng cây hàng năm tăng 3,14 ha, diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng 2,25 ha, diện tích đất phi nông nghiệp cũng không tăng nhiều lắm chỉ vào khoảng 4,64 ha, diện tích đất tăng chủ yếu là diện tích đất lâm
Trang 33nghiệp tăng mạnh là 70,93 ha,diện tích đất lâm nghiệp tăng mạnh là do xã chủ chương giao đất rừng đến tay người dân quản lý và chăm sóc và xã đang triển khai nhiều dự án nhằm phát triển sản xuất lâm nghiệp hơn nữa những diện tích chè già cỗi cho năng suất kém người dân chuyển đổi sang trồng keo mỡ nên diện tích đất lâm nghiệp tăng bên cạnh đó xã có những biện pháp quản lý rừng đối với từng hộ,
xử lý nghiêm những trường hợp chặt phá rừng bừa bãi, khai thác trái phép
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể là do một số diện tích đất kém màu mỡ người dân không sử dụng nữa, một số những ruộng cạn không canh tác được nữa chuyển đổi sang trồng chè cành hoặc trồng keo
4.1.2 Về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua xã Điềm Mặc có tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng hàng năm, GDP bình quân đầu người tính đến hết năm 2015 là 15 triệu đồng/người/năm tăng lên 8 triệu đồng so với năm 2011 Tổng mức đầu tư toàn xã hội ngày càng được nâng cao, đặc biệt trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng (điện, giao thông, thủy lợi, trường học ) đảm bảo tăng mức sống cho người dân
Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến tích cực giảm tỉ trọng nghành nông nghiệp tăng tỉ trọng nghành công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên nông nghiệp vẫn dữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của xã, tỉ trọng các nghành kinh tế năm 2015 như sau:
- Nông nghiệp 85%
- Tiểu công nghiệp và xây dựng 10%
- Dịch vụ 5%
Tình hình sản xuất nông-lâm- nghiệp
Đối với người dân xã Điềm Mặc sản xuất nông nghiệp vẫn là nghành sản xuất chủ lực đóng góp vào GDP của xã thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển, đảm bảo sinh kế cho người dân trên địa bàn xã
Được sự quan tâm của chính phủ cùng với sự chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương sản xuất nông – lâm- nghiệp trên địa bàn xã ngày càng phát triển thể hiện qua giá trị sản xuất nông nghiệp đóng góp vào GDP của xã là chủ yếu, diện tích gieo trồng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng được đầu tư và mở rộng Tổng sản
Trang 34lượng lương thực cây có hạt từ năm 2011-2016 tăng 10,9%( năm 2011 là 1920 tấn đến năm 2015 là 2092,03 tấn)
Theo báo cáo năm 2015
Trong những năm qua, tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn nhưng chính quyền địa phương đã chỉ đạo, tổ chức điều hành đúng quy trình, áp dụng gieo trồng các loại cây trồng khác nhằm phá vỡ tính độc canh của cây lúa, tạo ra những sản phẩm có giá trị nhằm tăng giá trị sản xuất nghành nông nghiệp.Nhờ đó các loại cây như khoai lang, ngô, rau đậu được đưa vào sản xuất với nhiều hình thức luân canh xen canh hợp lý cụ thể diện tích gieo trồng năm 2015 là:
- Ngô đạt 11,5/13ha năng suất đạt 38 tạ/ha = 42,29 tấn = 88,46% Kế hoạch giao
- Lạc - 2,27/ 3 ha = 75,7% Kế hoạch giao,
- Khoai lang – 2,72 /10 ha = 27,2% Kế hoạch giao,
- Đậu đỗ các loại trồng được là 4,72/5ha = 94,4% KH giao
- Sắn trồng được 10ha/ 10ha = 100% Kế hoạch giao
- Rau các loại 7,5/27 ha = 27,7% kế hoạch giao
Về cây chè:Tổng diện tích chè hiện có là 253 ha
Trong đó:
- Chè kinh doanh = 213 ha (chè thâm canh là 160 ha) năng suất đạt 100 tạ/ ha, Sản lượng đạt 2130 tấn chè búp tươi
Trang 35- Chè trồng mới và trồng thay thế năm 2015 là 20 ha /10 ha = 200% kế hoạch giao, trong đó trồng mới 5 ha, trồng thay thế 15 ha
Hiện nay sản xuất chè trên địa bàn xã đang được đầu tư phát triển cả về vùng nguyên liệu và cở sở sản xuất.Vùng nguyên liệu bao gồm sản xuất chè gồm các giống như; LDP1, Kim tuyên, TRI77 Về cơ sở sản xuất chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ theo quy mô
hộ gia đình
Việc ứng dụng khoa học kỹ công nghệ vào trong sản xuất ngày càng được đầu tư
và chú trọng đảm bảo tăng năng suất, chất lượng chè, sản xuất đạt hiệu quả cao như: Triển khai các giống mới, áp dụng các biện pháp canh tác, kỹ thuật, bón phân, phòng trừ sâu bệnh trong sản xuất chè
Lâm nghiệp và công tác bảo vệ rừng
Tổng diện tích rừng hiện có 1000,13 ha, trong đó rừng đặc dụng là 777,7 ha, rừng sản xuất là 222,43 ha, rừng trồng mới là 5,2 ha
- Công tác quản lý bảo vệ rừng được thực hiện tốt, không có vụ việc lớn về khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn Công tác quản lý bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, không có vi pha ̣m khai thác gỗ trái phép không để sảy ra cháy rừng vào mùa khô
Chăn nuôi
Trong những năm gần đây địa phương đã đẩy mạnh đầu tư cho lĩnh vực chăn nuôi như khuyến khích chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm tăng thu nhập cho hộ, hỗ trợ vay vốn mua giống, đầu tư xây dựng trang trại, bên cạnh đó xã còn triển khai các đợt tập huấn khuyến nông khuyến lâm nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong chăn nuôi Năm 2015 đàn trâu có 574 con đạt 84% kế hoạch năm, đàn bò có 371 con đạt 92,75%
kế hoạch, đàn lợn có 3100 con đạt 96,9% kế hoạch được giao, đàn dê có 1086/750 con đạt 144,8% kế hoạch, gia cầm các loại 34000 con đạt 100% kế hoạch
Được sự hỗ trợ của các cấp, các nghành, địa phương đã duy trì tốt việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn không xảy ra dịch bệnh Tuy nhiên trong những năm qua do
sự gia tăng các đợt rét hại đã xảy ra các loại bệnh như: dịch cúm gia cầm ở gà, dịch tai xanh ở lở mồm long móng ở trâu bò đã làm giảm số lương gia súc, gia cầm
Trang 36 Thủy sản
Việc nuôi trồng thuỷ sản tại địa phương còn nhỏ lẻ, tự phát, diện tích ao hồ nhỏ, thiếu nước thường xuyên, nhân dân chưa đầu tư nhiều vào chăn thả các loại cá cũng như các loại thuỷ sản khác Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 13ha/13 năng suất đạt 12,5 tấn đạt 100% kế hoạch
Tiểu thủ công nghiệp
Lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển bình thường, không có biến động lớn Số hộ làm tiểu thủ công nghiệp 06 hộ, 37 hộ làm thương nghiệp, 07 hộ làm vận tải, 09 hộ dịch vụ khác
Doanh thu thuần từ ngành tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ đạt 55/55 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch năm
4.1.3.Về văn hóa- xã hội – cơ sở hạ tầng
4.1.3.1.Dân số vào lao động
Theo số liệu thống kê năm 2015, xã Điềm Mặc có 4606 người thuộc 10 dân tộc trong đó có một số dân tộc đông dân cư như là tày, kinh, sán trí, cao lan, dao…vv sinh sống trên 23 thôn bản
Năm 2015 toàn xã có 1294 hộ với 4606 khẩu trong đó có 2322 nam và 2284, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,95% Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết chiếm 96,53%, phân bố dân cư không đồng đều, nhìn chung dân cư phân bố cao ở các trục chính đường giao thông gần trung tâm xã, phân bố thưa đối với các thôn vùng sâu
Năm 2015 toàn xã Điềm Mặc có 2240 người trong độ tuổi lao động chiếm 48,63
% tổng dân số của xã trong đó lao động nữ chiếm48,59% Trên địa bàn xã Điềm Mặc có đến 95% là sản xuất nông nghiệp còn lại hoạt động trên lĩnh vực khác Phân bố lao động không đồng đều giữa các nghành kinh tế, ngành nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất, ngành thương mại dịch vụ chiếm tỉ trọng thấp
Hiện nay tiềm năng lao động của xã lớn nhưng chất lượng lao động vẫn còn thấp,
tỉ lệ công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật vẫn còn chiếm tỉ lệ ít, lao động nông nghiệp chỉ mang tính thời vụ nên vẫn có tình trạng dư thừa lao đông
Trang 374.1.3.2 Thực trạng phát triển CSHT
- Điện nước: Lưới điện đã đến tận các thôn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phụ vụ nhu cầu sản xuất sinh hoạt của người dân địa phương.Đến nay có 100% hộ sử dụng điện, người dân có đủ nước sinh hoạt để dùng trong sinh hoạt và sản xuất.Hiện nay
xã Điềm Mặc có 03 trạm biến áp tại 3xóm Bản Giáo, Song Thái 1, Bản Bắc 4, toàn bộ
hệ thống dây điện của xã là hệ thống dây 04 (dây trần) Nhưng trước sự phát triển ngày càng cao của đất nước, nhu cầu sử dụng điện của nhân dân cũng ngày một tăng thêm vì vậy cần đầu tư làm mới thêm các trạm biến áp và nâng cấp các trạm sẵn có để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của nhân dân trong giai đoạn mới
Tuy nhiên tình trạng thiếu điện, cắt giảm tải xảy ra vào mùa hè gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt cuả người dân
- Thủy lợi: Thủy lợi là biện pháp hàng đầu trong phát triển nông nghiệp, trong nhiều năm qua các công trình thủy lợi của xã được làm mới và nâng cấp mang lại hiều hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp Hiện nay hệ thống kênh mương tưới tiêu, hồ chứa đang được xã xây dựng thực hiện các chỉ tiêu về thực hiện nông thôn mới nhằm đáp ứng tốt sản xuất trên địa bàn Tuy nhiên xã hiện có 07 công trình đập chứa nước để phục vụ cho sản xuất, do đã được xây dựng khá lâu, một phần bị xuống cấp, phần khác do nguồn nước ngày một cạn kiệt nên các đập này không phát huy được hết năng lực tưới tiêu
+ Hệ thống kênh mương : Cứng hóa 1,8km kênh mương đường nội đồng
+ Trạm bơm: Xây dựng mới trạm bơm đồng vinh tại vị trí xóm Đồng Vinh 2, trạm bơm Bình Nguyên đảm bảo nước tưới cho khu trồng lúa chuyên canh tại cánh đồng