1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên

87 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên các làng nghề chè vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu nên hiệu quả sản xuất kinh doanh chè chưa cao, chưa

Trang 1

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2012 - 2016

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Trang 3

Để hoàn thành khóa luận này, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ủy ban nhân dân xã Phúc Xuân, các hộ sản xuất chè trong làng nghề và không nằm trong làng nghề trên địa bàn xã đã cung cấp cho tôi những nguồn tư liệu hết sức quý báu.Trong suốt quá trình nghiên cứu, tôi nhận được

sự quan tâm, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi về cả vật chất và tinh thần của gia đình và bạn bè Thông qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến những tấm lòng và sự giúp đỡ quý báu đó

Trong quá trình hoàn thành khóa luận, tôi đã có nhiều cố gắng Tuy nhiên, khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu xót vì vậy, tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các quý thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 06 tháng 05 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Hà Nghiệp Thuận

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè năm 2012 của một số nước

trên thế giới 25Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam từ năm 2008 –

2012 27Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất tại xã Phúc Xuân 37Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè tại xã Phúc Xuântừ năm 2013

-2015 40Bảng 4.3: Một số thông tin chung về các hộ điều tra 44Bảng 4.4 Cơ cấu diện tích đất trồng chè của hộ làng nghề và hộ không phải

làng nghề 45Bảng 4.5: Tình hình sản xuất chè giữa hộ làng nghề và hộ không phải làng

nghề 46Bảng 4.6: So sánh các giống chè của hộ điều tra trên địa bàn xã 48Bảng 4.7: So sánh chi phí đầu vào bình quân 1 sào chè/năm của hộ làng nghề

với hộ không phải làng nghề 51Bảng 4.8: Kết quả sản xuất chè của hộ tính bình quân 1sào/năm 54Bảng 4.9: Bảng so sánh hiệu quả sản xuất chè trên một sào/năm của các hộ

điều tra 2016 55Bảng 4.10: Tình hình tiêu thụ sản phẩm chè của các hộ điều tratham gia làng

nghề và không tham gia làng nghề 57Bảng 4.11 Mức độ tham gia các lớp tập huấn của 2 nhóm hộ điều tra 58

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NQTW Nghị quyết trung ương

TT-BNN Thông tư bộ nông nghiệp

CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa

GO/TC Tổng giá trị sản xuất/ Tổng chi phí

VA/TC Giá trị gia tăng/ tổng chi phí

FAO Tổ chức nông lương liên hợp Quốc tế

FAOSTAT Số liệu thống kê của Tổ chức nông lương liên hợp

Quốc tế

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống 4

2.1.2 Phân loại làng nghề 5

2.1.3 Vai trò của làng nghề đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội 7

2.1.4 Chủ trương chính sách phát triển làng nghề 8

2.1.5 Những khái niệm cơ bản về cây chè 9

2.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè 12

2.2 Cơ sở thực tiễn 18

2.2.1 Sự phát triển của làng nghề 18

2.2.2 Một số tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề 23

2.2.3 Tình hình sản xuất chè trên thế giới 24

2.2.4 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 26

2.2.5 Tình hình sản xuất chè ở tỉnh Thái Nguyên 27

PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

Trang 7

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31

3.2 Nội dung nghiên cứu 31

3.3 Phương pháp nghiên cứu 32

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 32

3.3.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 33

3.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 33

3.4 Hệ thống chỉ tiêu áp dụng 34

3.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ 34

3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè 35

3.4.3 Các chỉ tiêu bình quân 35

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 36

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36

4.2 Thực trạng phát triển sản xuất chè ở xã Phúc Xuân - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên 38

4.2.1 Tình hình phát triển sản xuất chè ở xã Phúc Xuân 39

4.2.2 Đặc điểm chung của nhóm hộ nghiên cứu 43

4.2.3 Tình hình sản xuất chè của 2 nhóm hộ điều tra 46

4.3 Thực trạng phát triển làng nghề chè tại Phúc Xuân 47

4.3.1 Tình hình sản xuất chè của nhóm hộ điều tra 47

4.3.2 So sánh chi phí sản xuất chè của hộ tham gia làng nghề và hộ không tham gia làng nghề 50

4.3.3 Kết quả sản xuất một sào chè của các hộ điều tra trong 1 năm 54

4.3.4 Phân tích hiệu quả sản xuất chè của các hộ 55

4.3.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm chè của các hộ điều tra tham gia làng nghề và hộ không tham gia làng nghề trên địa bàn xã Phúc Xuân 57

Trang 8

4.3.6 Về tập huấn kỹ thuật của 2 nhóm hộ 58

4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển làng nghề chè 59

4.4.1 Những thuận lợi phát triển làng nghề chè 59

4.4.2 Khó khăn của làng nghề chè 60

4.5 Một số giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống 61

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Kiến nghị 64

5.2.1 Đối với các cấp chính quyền 64

5.2.2 Đối với làng nghề chè 65

5.2.3 Đối với hộ sản xuất chè 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Làng nghề - một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sự phát triển làng nghề đã góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết lao động nông nhàn, tăng thu nhập ở nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Đảng và Nhà nước nhận thức được tầm quan trọng của làng nghề nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nước, đã ban hành hàng loạt chính chính sách hỗ trợ lĩnh vực kinh

tế này Trong nghị quyết 26/NQTW tại hội nghị 7/2008 của ban chấp hành Trung Ương khóa X của Đảng cộng sản Việt Nam về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” đã khẳng định việc phát triển bền vững các nghành nghề ở nông thôn có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Tuy nhiên, sự phát triển của làng nghề Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế như: các làng nghề mang tính tự phát, nhỏ lẻ; trang thiết bị thủ công, đơn giản, công nghệ lạc hậu; hiệu quả sử dụng nguyên, nhiên liệu thấp; ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe chưa cao Làng nghề đứng trước nhiều khó khăn như thiếu thông tin thị trường, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, khả năng cạnh tranh thấp, môi trường ở nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân Chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế

Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung Du và miền núi phía Bắc nơi hội

tụ của nhiều của nhiều giá trị tự nhiên và văn hóa Bên cạnh đó, Thái Nguyên còn là vùng đất nổi tiếng về nghề truyền thống trồng và chế biến chè, cùng với nhiều làng nghề chè truyền thống nổi tiếng được hình thành từ lâu đời Ở Thái Nguyên, cây chè là cây trồng chủ lực góp phần xóa đói giảm nghèo và

Trang 10

hiện nay chè còn được coi là cây làm giàu của nhiều hộ dân Cây chè không những đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần giải quyết vấn đề việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện cuộc sống người dân

Và cây chè còn giúp phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo đất, tăng độ phì đất, bảo vệ môi trường Bên cạnh đó sản phẩm chè hiện nay là mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí quan trọng

Thái Nguyên rất chú trọng việc khôi phục và phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh đặc biệt là làng nghề chè truyền thống Hiện nay, trên toàn tỉnh có 162 làng nghề, trong đó có 140 làng nghề chè truyền thống Việc bảo tồn, khôi phục các làng nghề thủ công truyền thống nói chung và làng nghề chè nói riêng (bảo vệ, lưu giữ, truyền lại) và phát huy giá trị để làng nghề có thể tiếp tục phát triển bền vững là rất cần thiết

Tuy nhiên các làng nghề chè vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu nên hiệu quả sản xuất kinh doanh chè chưa cao, chưa giải quyết được vấn đề đầu ra ổn định cho sản phẩm chè của các hộ làng nghề, sản phẩm làng nghề chưa có thương hiệu khả năng cạnh tranh với sản phẩm thị trường không cao, ô nhiễm môi trường xung quanh làng nghề Năng lực quản lý và tổ chức hoạt động kinh tế chung còn kém Mối liên kết giữa làng nghề với nhau và với doanh nghiệp còn lỏng lẻo

Để nghiên cứu tình trạng trên và đưa ra giải pháp nhằm phát triển làng

nghề chè, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng làng nghề chè tại xã Phúc Xuân, từ đó đưa ra một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển của làng nghề tại vùng chè đặc sản xã Phúc Xuân

Trang 11

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá được thực trạng phát triển của làng nghề chè tại xã Phúc Xuân

- Phân tích được thuận lợi và khó khăn trong phát triển làng nghề chè

- Đề xuất một số giải phát thúc đẩy sự phát triển của làng nghề chè

1.3 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, tạo điều kiện cho sinh viên tích lũy kiến thức và kinh nghiệm trong thực tiễn

- Rèn luyện các kỹ năng thu thập và xử lý số liệu, viết báo cáo

- Dùng làm tài liệu tham khảo và góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển các đề tài khác

Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề tại xã Phúc Xuân và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề Trên cở sở đó đề xuất giải pháp phát triển làng nghề tại xã phúc xuân

Trang 12

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống

- Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những

sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền [6]

- Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn

hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau [6]

- Làng nghề là khi một làng nào đó ở nông thôn có một hay một số

nghề thủ công được tách khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập thì đó là làng nghề [6]

- Làng nghề truyền thống là đơn vị dân cư cùng làm sản xuất những

mặt hàng có từ lâu đời, những sản phẩm này có nét đặc thù riêng đặc trưng cho vùng và con người ở đó [6]

* Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống

- Tiêu chí công nhận nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí:

+ Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm đề nghị công nhận

+ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc

+ Nghề gắn với tên tuổi của một hoặc nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của một làng nghề [6]

Trang 13

- Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí:

+ Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn

+ Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

+ Chấp hành tốt chính sách pháp luật nhà nước [6]

- Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống:

Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống [6]

2.1.2 Phân loại làng nghề

Hiện nay có nhiều cách phân loại làng nghề gồm:

Phân loại theo tuổi đời làng nghề (có làng nghề truyền thống và làng nghề mới)

Phân loại theo quy mô sản xuất và quy trình công nghệ

Phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm

Phân loại theo nguồn nước thải và mức độ ô nhiễm

Phân loại theo thị trường tiêu thụ sản phẩm

Phân loại theo mức độ sử dụng nguyên liệu

Dựa vào tổng hợp các tiêu chí phân loại trên, làng nghề được phân thành các nhóm chính sau đây:

Làng nghề dệt, nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Các làng nghề này thường có

từ lâu đời, có sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, bản sắc địa phương như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may… Quy trình sản xuất không thay dổi nhiều, với lao động tay nghề cao Tại các làng nghề này lao động nghề thường là lao động chính cao hơn tỷ lệ lao động nông nghiệp [3]

Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: Số lượng làng nghề lớn, phân bố khá đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng lao

Trang 14

động nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và ít thay đổi quy trình sản xuất so với thời điểm khi làng nghề hình thành Các làng nghề truyền thống như nấu rượu, đậu phụ, bánh đa nem, miến dong, bún, bánh… Với nguyên liệu chính là gạo, khoai ngô, sắn, đậu, mỳ Phế phụ phẩm cảu các sản phẩm này thường được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi ở quy mô

hộ gia đình [3]

Làng nghề tái chế phế liệu: Chủ yếu là các làng nghề mới hình thành,

số lượng ít nhưng phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy, nhựa, vải đã qua sử dụng) Ngoài ra, các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng xếp vào loại hình làng nghề này Đa số các làng nghề nằm ở phía bắc với công nghệ sản xuất từng bước cơ khí hóa [3]

Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng Lao động gần như hoàn toàn thủ công, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay đổi [3]

Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Gồm các làng nghề gốm, sành sư, thủy tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, sản xuất mây tre đan, chạm mạ vàng bạc, đồ gỗ

mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren… Đây là nhóm nghề chiếm tỷ trọn lớn về số lượng, có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét văn hóa đặc trưng địa phương, dân tộc Lao động đòi hỏi có tay nghề cao, chuyên môn hóa, tỷ mỷ và sáng tạo, quy trình sản xuất ít thay đổi [3]

Các nhóm nghề khác: Gồm ngành nghề chế tạo nông cụ thô sơ như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt, đan vó, đan lưới… Những làng nghề nhóm này xuất hiện từ lâu đời, sản phẩm phục vụ trực tiếp nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương Lao động thủ công với

số lượng và chất lượng ổn định [3]

Trang 15

Bộ Tài Nguyên và Môi trường dự báo, nhìn chung số lượng làng nghề trong tương lai có xu hướng tăng lên trừ ngành vật liệu xây dựng sẽ giảm do phải cạnh tranh với nhiều sản phẩm sản xuất công nghiệp

2.1.3 Vai trò của làng nghề đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội

Sự phát triển làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đóng góp hiệu quả và quá trình chuyển dịch cơ câu kinh tế ở địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn Tại các làng nghề, mặc dù đại bộ phận dân cư làm nghề thủ công nghiệp vẫn tham gia vào sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định, nhưng cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến rõ nét với đóng góp nông nghiệp giảm dần trong khi thu nhập từ tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tăng dần Tại các làng nghề, tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp dịch vụ đạt từ 60 – 80% so với nông nghiệp chỉ ở mức 20 – 40%

Bên cạnh đó sản xuất làng nghề là một nguồn tạo công ăn việc làm khổng lồ tại các địa phương Trong năm 2009, khu vực này đã thu hút trên 11 triệu lao động chiếm 30% lực lượng lao động tại nông thôn Hiện tại, trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân tại các làng nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 – 10 lao động thời vụ Các hộ cá thể chuyên ngành đào tạo trung bình từ 4 đến 6 lao động thường xuyên và 2 đến 5 lao động thời vụ Mức thu nhập của người lao động trong làng nghề cao gấp 3 đến 4 lần thu nhập của người lao động thuần nông [2] Theo báo cáo nghiên cứu về quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam của Bộ NN & PTNT 2004 thì tỷ lệ hộ nghèo trung bình của các hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp là 3,7% thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước là 10,4%

Sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng thị trường trong nước với các mức độ nhu cầu khác nhau mà còn xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài

Trang 16

với nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng có giá trị cao Trong đó, điển hình nhất

là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Giá trị hàng hóa từ các làng nghề hàng năm đóng góp cho nền kinh tế quốc dân từ 40 – 50 nghìn tỷ đồng Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH nông thôn

Lợi ích phát triển làng nghề không chỉ ở khía cạnh kinh tế - giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được giá trị văn hóa lâu dài Các làng nghề nếu được tổ chức tốt có sức thu hút đặc biệt cề du lịch bởi mỗi làng nghề gắng với một vùng văn hóa, một hệ thống di tích lịch

sử Việc du khách được thăm quan tận mắt quy trình sản xuất và thậm chí tham gia thực hành là một điều hấp dẫn của du lịch làng nghề Nhiều tỉnh như Hòa Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bến Tre, Phú Thọ đang triển khai mạnh mẽ loại hình du lịch này

2.1.4 Chủ trương chính sách phát triển làng nghề

Nhận thức rõ vài trò và tiềm năng kinh tế từ phát triển làng nghề, Chính phủ, cán bộ, ngành đều có những chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, phát triển làng nghề, phát triển ngành nghề nông thôn Năm 2006, chính phủ ban hành Nghị định 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn, nhấn mạnh chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề gồm: bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống, phát triển làng nghề gắn với du lịch, phát triển làng nghề mới, phong tặng nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân, thương hiệu về làng nghề thủ công nổi tiếng cho những đơn vị, cá nhân có công bảo tồn, phát triển ngành nghề thủ công truyền thống, ngành nghề mới ở nông thôn nước ta Trong năm 2006, Bộ Công nghiệp đã xây dựng xong và trình chính phủ chiến lược phát triển tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006- 2015, đặt mục tiêu giải quyết việc làm thường xuyên cho 1,5 triêu lao động và 3 đến 5 triệu lao động nông nhàn, xây dựng hệ thống sản xuất cạnh tranh và bền vững, phát triển các sản phẩm thủ công và tăng cường năng lực cho các làng nghề Năm 2005, Bộ

Trang 17

Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có đề án chương trình “ mỗi làng một nghề” giai đoạn 2006- 2015 Mục tiêu nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của địa phương về ngành nghề nông thôn, mở rộng thị trường tiêu thụ trong

và ngoài nước, thu hút và tạo ra liên kết giữa nhiều “nhà” như: nhà nước, nhà kinh doanh, nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà du lịch cùng tham gia phát triển ngành nghề, tạo ra những nghề mới, bảo tồn giá trị truyền thống, tạo ra các bản sắc mới của làng xã trong các sản phẩm Từ đó thúc đẩy ngành nghề nông thôn phát triển bền vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành phi nông nghiệp, dịch vụ và thu nhập cho người dân nông thôn Tổng Cục Du Lịch đang hình thành “Nghiên cứu khả thi phát triển du lịch gắn với sản xuất tiểu thủ công nghiệp dọc hành lang Đông – Tây” Mục tiêu là kết hợp giữa hoạt động phát triển du lịch với sản xuất tiểu thủ công nghiệp thông qua du lịch làng nghề trong khu vực dọc tuyến hành lang từ Myanmar qua Thái Lan, Lào đến Việt Nam

2.1.5 Những khái niệm cơ bản về cây chè

Cây chè có tên khoa học là Camellia Sinensis là loài cây mà lá và chồi

của chúng được sử dụng để sản xuất các sản phẩm chè khác nhau Cây chè có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến

ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Nó là loại cây xanh mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa để thấp hơn 2 mét khi được trồng để lấy lá Nó có rễ cái dài, hoa màu trắng ánh vàng, đường kính từ 2,5 – 4 cm, với 7 – 8 cánh hoa Hạt của nó có thể ép lấy dầu [16]

Chè xanh, chè đen và chè ô long tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng được chế biến ở các mức độ oxi hóa khác nhau Lá của chúng dài từ 4 – 15 cm và rộng từ 2 – 5 cm Lá tươi chứa khoảng 4% caffein Lá non và các

lá còn có màu xanh lục nhạt được thu hoạch để sản xuất chè khi mặt bên dưới

Trang 18

của chúng còn các sợi lông tơ màu trắng Các lá già có màu lục sẫm Các độ tuổi khác nhau của lá chè tạo ra các sản phẩm khác nhau về chất lượng, do thành phần hóa học trong các lá này là khác nhau Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mới mọc gần thời gian đó được thu hoạch để chế biến Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặn sau khoảng 1 đến 2 tuần [16]

2.1.6.1 Một số đặc điểm chung của sản xuất chè

Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Chè đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa của con người Cây chè được trồng ở nhiều nơi trên thế giới với nhiều giống chè khác nhau, chè mang đến cho thế giới những sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu của hầu hết người tiêu dùng trên thế giới Ngoài tác dụng làm nước giải khát chè còn được coi như một loại thần dược phòng và chữa bệnh cho con người, là lớp thực vật bảo vệ đất và môi trường

Sản phẩm chè của nước ta không chỉ đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng nội địa mà còn được xuất khẩu nhiều nơi trên thế giới Góp phần

mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông sản trong nước, đồng thời thu

về nguồn ngoại tệ không nhỏ cho đất nước

Đối với người nông dân sản xuất chè, ngoài việc tạo công ăn việc làm

ổn định và đem lại thu nhập cho gia đình góp phần duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ Hầu hết người nông dân làm chè ít bị thất nghiệp và

có thu nhập ổn định hơn các cây trồng khác trong vùng

Ngoài giá trị về kinh tế, cây chè còn góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Vì là cây công nghiệp dài ngày và phát triển tương đối ổn định (chè giống mới có chu kỳ sống khoảng 15 – 20 năm, chè trung du khoảng 30 – 40 năm) đã góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững cho một nước đang phát triển như nước ta

Trang 19

Như vậy, việc phát triển sản xuất chè không những góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội mà còn góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân, cải thiện đời sống nông thôn, làm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Việc sản xuất chè còn góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, giảm bớt khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền trong cả nước

a Đặc điểm một số giống chè

- Giống chè Trung du (hay còn gọi là chè ta) đây là giống chè Trung Quốc, được du nhập vào nước ta từ rất lâu đời, ở vùng Trung Du Bắc Bộ Giống có khả năng thích ứng với vùng đất khô cằn, khả năng chịu sâu bệnh và

ở mức trung bình cho cả sản xuất chè xanh và chè đen Hiện nay, giống này chiếm khoảng 60% tổng diện tích chè cả nước

- Giống chè lai: Có các loại giống lai phổ biến như LDP1, LDP2… Chè lai có đặc điểm chung là năng suất cao hơn vì búp to hơn, dậy mùi thơm hơn nhưng vị thường nhạt hơn

- Giống mới: Các giống chè mới thường được nhập từ nước ngoài như: Kim tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc… Các giống này có mùi thơm đặc trưng, hoàn toàn khác mùi hương chè bình thường

- Giống Kim Tuyên (Kim Huyên, A17 hoặc dòng 27) có nguồn gốc là giống vô tính của Đài Loan, được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống Ô Long lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975 Nhập nội vào Việt Nam năm 1994 được trồng ở các tỉnh Yên Bái, Lạng Sơn, Phú Thọ, Lâm Đồng

- Giống chè Phúc Vân Tiên: Có nguồn gốc là giống vô tính của Trung Quốc, chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống chè Phúc Đỉnh Đại Bạch Trà và bố là giống chè Vân Nam lá to từ 1957 – 1971 bởi Viện Nghiên cứu chè tỉnh Phúc Kiến nhập nội vào Việt Nam năm 2000

Trang 20

- Giống chè TRI777: Thuộc biến chủng chè Shan, cây sinh trưởng khá, búp to có lông tuyết, mật độ búp thấp, góc độ phân cành hẹp, tán tương đối rộng Đây là giống chè thích hợp chế biến chè xanh và chè đen chất lượng cao Dễ giâm cành, cây sinh trưởng khỏe, tỷ lệ sống cao khi trồng Nhưng khả năng chống chịu sâu bệnh hại kém: bị bọ xít muỗi và rệp nhảy phá hoại

Còn nhiều giống chè khác, nhưng trên đây là giống chè phổ biến được trồng ở Việt Nam Nông dân người ta thường gọi giống chè trung du (chè ta)

là giống chè truyền thống vì nó đã được đưa vào Việt Nam khá lâu đời và trồng bằng hạt Giống chè lai (LDP1, LDP2) và giống chè mới (giống chè Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc, TRI777…) người ta gọi chung là chè cành mới xuất hiện vài chục năm lại đây và có đặc điểm phân biệt là khi trồng thì dùng cành ươm, sau đó mang đi trồng

b Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè

Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khi trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản Vì thế để phát triển nghành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần quan tâm, chú trọng từ khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra những sản phẩm hàng hóa

có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tư sản xuất trong và ngoài nước Cây chè là cây trồng mũi nhọn của địa phương vì thế cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng cho sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè

2.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè

2.1.6.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

+ Đất đai và địa hình: Đất đai là yếu tố ảnh hưởng đến sảng lượng, chất lượng chè nguyên liệu và thành phẩm Yếu tố đất đai quyết định chè được phân bổ ở các vùng địa hình khác nhau

Trang 21

Để cây sinh trưởng tốt, có tiềm năng suất thì phải đạt yêu cầu: Đất tốt, nhiều mùn, có độ sâu, chua và thoát nước Độ PH từ 4,5 - 6,0, đất trồng có độ sâu ít nhất là 60 cm, mực nước ngầm dưới 1m Địa hình ảnh rất lớn đến sinh trưởng và chất lượng chè Chè trồng trên vùng đất cao có hương vị thơm và mùi vị tốt hơn vùng thấp, nhưng lại sinh trưởng kém hơn vùng thấp

+ Thời tiết khí hậu: Các yếu tố như: Nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa, thời gian chiếu sáng trong ngày và sự thay đổi mùa đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng, chất lượng chè

Cây chè sinh trưởng được ở nhiệt độ >100

C Nhiệt độ trung bình hàng năm để cây chè sinh trưởng và phát triển bình thường là 12,50

C, cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 15 - 230

C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân cây chè sinh trưởng trở lại

Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm từ 3000 - 40000C Nhiệt độ quá cao và quá thấp đều ảnh hưởng đến việc tích lũy tanin trong chè, nếu nhiệt độ quá 350C liên tục kéo dài sẽ dẫn đến cháy lá chè Nhiệt độ thấp kết hợp với khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù

Cây chè quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ, ánh sáng trực xạ trong điều kiện nhiệt độ không khí cao không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè Thời kỳ cây non, giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn cây trưởng thành và giống chè lá nhỏ

Cây chè là cây thu hoạch lấy búp non và lá non nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước Yêu cầu lượng mưa trung bình năm khoảng 1500 mm và phân bố trong các tháng Lượng mưa và phân bố lượng mưa ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và thu hoạch của cây chè Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời sinh trưởng khoảng 85% Nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp nhất cho chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng 5,

6, 7, 8, 9, 10 trong năm

Trang 22

2.1.6.2 Nhóm nhân tố về kỹ thuật

- Ảnh hưởng của giống chè: Chè là loại cây có chu kỳ sản xuất dài, giống chè tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất Nên việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm

Giống chè ảnh hưởng tới năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường Mỗi sản phẩm chè đòi hỏi một nguyên liệu nhất định, mỗi vùng, mỗi điều kiện sinh thái thích hợp lại thích hợp cho một hoặc một số giống chè Vì vậy, để đa dạng hóa sản phẩm chè và tận dụng lợi thế so sánh của mỗi vùng sinh thái cần đòi hỏi giống thích hợp điều kiện mỗi vùng

- Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong nước chè có hàm lượng nước lớn, nhưng chè rất sợ úng và không chịu úng Chè gặp khô hạn sẽ bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm chí còn chết Việc tưới nước cho chè là biện pháp giữ

ẩm cho đất để cây sinh trưởng và phát triển bình thường, cho năng suất và chất lượng cao

- Đốn chè: Là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Vì thế, kỹ thuật đốn chè được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu

Đốn chè tốt nhất vào thời gian cây chè ngừng sinh trưởng và đã đề ra các mức đốn hợp lý cho từng loại hình đốn:

+ Đốn phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết cũ 3 – 5 cm, khi cây chè cao hơn 70 cm thì hàng năm đốn cao hơn vết đến cũ 1 - 2cm

+ Đốn lửng: Đốn cách mặt đất 60 - 65 cm

+ Đốn dàn: Đốn cách mặt đất 40 - 50 cm

Trang 23

+ Đốn trẻ lại: Đốn cách mặt đất 10 - 15 cm

Đốn chè có tác dụng loại trừ các cành già yếu, giúp cho cây chè luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế ra hoa, kết quả, kích thích hình thành búp non, tạo cho cây chè có bộ lá, bộ khung tán thích hợp, vừa tầm hái

- Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ dốc, điều kiện

cơ giới hóa Tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ quá thưa hoặc quá dầy sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ dại, vì vậy cần phải

bố trí mật độ chè cho hợp lý

- Bón phân: Đây là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, cây chè đã lấy đi một lượng phân rất cao ở trong đất, trong khi đó chè thường được trồng trên sườn đồi, núi cao, dốc, nghèo dinh dưỡng… Nên lượng dinh dưỡng trong đất trồng chè ngày càng bị thiếu hụt

Chính vì thế, để cây chè sinh trưởng và cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho cây chè là biện pháp không thể thiếu được Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy hiệu quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 – 60%

Đạm và lân có ảnh hưởng lớn hơn đối với cây chè nhỏ tuổi, lớn hơn vai trò tổ hợp của đạm và kali Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng

và năng suất chè ở giai đoạn khác nhau, cho thấy: Phân lân có vai trò với sinh trưởng cả về đường kính thân, chiều cao cây, độ rộng tán của cây con

Bón phân cân đối giữa N, P, K cho năng suất cao hơn hẳn so với chỉ bón phân đạm và kali hoặc chỉ mỗi phân đạm Tuy nhiên, mỗi giai đoạn cây một lượng khác nhau với nguyên tắc: từ không đến có, từ ít đến nhiều, bón đúng lúc, đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời

Trang 24

Nếu bón phân hợp lý sẽ giúp cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất của cây chè

- Hái chè: Thời gian, thời điểm và phương thức hái có ảnh hưởng đến chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm hái một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho chế biến chè, vì chứa hàm lượng Polyphenol và Caphein cao, nếu hái quá già thì chất lượng chè giảm và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển cây chè

- Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Chè sau khi thu hái có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10h do nhà máy chế biến ở xa hoặc công suất nhà máy thấp Khi thu hái không để dập nát búp chè

- Công nghệ chế biến: Tùy vào mục đích của phương án sản phẩm mà

có các quy trình công nghệ phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến có hai giai đoạn là sơ chế và tinh chế thành phẩm

+ Chế biến chè xanh: Là phương pháp chế biến được người dân áp dụng rất phổ biến từ trước đến nay, quy trình như sau: từ chè búp xanh (1 tôm

2 lá) sau khi hái về đưa vào chảo quay xử lý ở nhiệt dộ 1000C với thời gian nhất định rồi đưa ra máy vò để cho búp chè săn lại, đồng thời giảm tỷ lệ nước trong chè Sau khi vò xong lại đưa chè vào quay xử lý ở nhiệt độ cho đến khi chè khô hẳn (nhiệt độ phải giảm dần) Sau khi chè khô ta có thể đóng bao bán ngay hoặc sát lấy hương rồi mới bán, khâu này tùy vào khác hàng Đặc điểm của chè xanh là có màu xanh óng ánh, vị chát đậm, hương vị tự nhiên, vật chất khô ít bị biến đổi

+ Chế biến chè vàng: Là sản phẩm của một số dân tộc ít người trên các vùng núi cao, được chế biến theo phương pháp thủ công

+ Chế biến chè đen: gồm: Hái búp chè – làm héo – vò – lên men - sấy khô – vò nhẹ - phơi khô Chè đen thường được sơ chế bằng máy mọc hiện đại

Trang 25

với năng suất chất lượng cao, đòi hỏi quy trình kỹ thuật phải nghiêm ngặt tạo hình cho sản phẩm và kích thích các phản ứng hóa học trong búp chè

2.1.6.3 Nhóm nhân tố về kinh tế

- Thị trường và giá cả: Kinh tế học chỉ ra 3 vấn đề kinh tế cơ bản : Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, buộc người sản xuất trả lời cho được, để trả lời câu này người sản xuất phải xác định được nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hóa mà họ sẽ sản xuất ra được người tiêu dùng chấp nhận

ở mức độ nào, giá có phù hợp hay không, từ đó hình thành mối quan hệ giữa cung và cầu một cách toàn diện

Nhu cầu sử dụng chè trên thế giới ngày càng tăng và tập trung vào ba loại chè là chè xanh, chè đen và chè Ô Long Chè đen được bán ở thị trường Châu Âu và Châu Mỹ, chè xanh tiêu thụ ở thị trường Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc…) Vì vậy, nghiên cứu thị trường chè cần lưu ý tới cung cầu về chè

Vấn đề sản xuất cho ai? Ở đây muốn đề cập tới kênh phân phối Hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ như thế nào? Ai là người hưởng lợi ích từ việc sản xuất đó, cụ thể là bao nhiêu? Cứ như vậy mới kích thích được sự phát triển sản xuất có hiệu quả

Để ổn định giá cả và mở rộng thị trường chè, một yếu tố cần thiết là hệ thống đường giao thông Phần lớn các vùng sản xuát chè xa đường quốc lộ rất khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm Do đường giao thông kém, đi lại khó khăn neenn người sản xuất thường bán giá thấp do tư thương ép giá, làm hiệu quả sản xuất thấp Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh cho ngành chè cần phải có hệ thống đường giao thông thuận lợi

Trang 26

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Sự phát triển của làng nghề

2.2.1.1 Quá trình phát triển làng nghề truyền thống ở thế giới

Làng nghề truyền thống đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Tại Nhật Bản, mặc dù quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra một cách mạnh mẽ từ đầu thế kỷ 19, song họ vẫn duy trì

và phát triển các làng nghề cổ truyền Vào cuối thế kỷ 20, Nhật Bản còn khoảng 867 nghề thủ công cổ truyền hoạt động với các ngành nghề chế biến lương thực thực phẩm, đan lát, nghề dệt, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề dệt lụa

và nghề rèn nông cụ Tại Trung Quốc, nghề thủ công có từ lâu đời và nổi tiếng như: Đồ gốm, dệt vải, tơ lụa, luyện kim, nghề giấy… Sang đầu thế kỷ

20 Trung Quốc có khoảng 10 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp làm việc trong các gia đình, trong phường nghề, làng nghề Đây chính

là là tiền đề phát triển nền “ Công nghiệp Hương Trấn” vào cuối những năm

70 ở quốc gia này, góp phần đáng kể và việc thay đổi bộ mặt nông thôn Những năm 80 các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triển nhanh chóng đóng góp tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn và trong số 32% sản lượng công nghiệp nông thôn do các xí nghiệp cá thể tạo ra

và góp phần đáng kể từ làng nghề [4]

2.2.1.2 Quá trình phát triển một số làng nghề ở Việt Nam

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng nghìn năm trước đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính Bởi lẽ trước đấy kinh tế chủ yếu của người Việt cổ chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa, nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ

Trang 27

để làm nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, về sau tăng thêm thu nhập cho gia đình

Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của

nó, mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre, lụa… Phục vụ sinh hoạt, hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ cho nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa Từ chỗ một vài hộ trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển thành làng, hay nhiều làng gần nhau

Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được làng nghề Việt Nam đã ra đời hàng nghìn năm trước, như làng gốm cổ Bát Tràng huyện Gia Lâm – Hà Nội đã hình thành và phát triển từ thế kỷ 15 với hơn 600 năm tồn tại và phát triển; làng đúc đồng Đại Bái huyện Gia Bình

- Bắc Ninh cũng được hình thành và phát triển từ thế kỷ 16; làng lụa Vạn Phúc – Hà Đông có trên 1200 năm tồn tại và phát triển… [1]

Tính đến năm 2013 theo thống kê của Hiệp Hội Làng Nghề Việt Nam, hiện nay nước ta có 2.790 làng nghề, 1/3 trong đó là các làng nghề truyền thống, riêng Hà Nội có 1.160 làng nghề Theo tổng hợp của Tổng cục Môi trường, làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng Sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%), miền Nam (khoảng 10%)

* Một số làng nghề ở Việt Nam

Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc (nay thuộc phường Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km) là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam, lụa Hà Đông từng được chọn may trang phục cho triều đình

Trang 28

Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều họp chợ dưới gốc đa trước đình “Lụa Hà Đông” cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa

Năm 2009, làng Vạn Phúc có khoảng 1000 khung dệt, sản xuất nhiều loại lụa cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước, trong đó có các loại lụa cao cấp như lụa vân quế hồng diệp, lụa vân lưỡng song long phượng [12]

Lụa Vạn Phúc có nhiều loại mặt hàng: Lụa, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn, sa, cầu, kỳ, đũi Khổ vải thường là 90 – 97cm

Làng gốm cổ Bát Tràng, huyện Gia Lâm, nằm mạn bắc sông Hồng, cách trung tâm Hà Nội khoảng 15km, được UBND thành phố phê duyệt quy hoạch chi tiết, được chọn làm điểm đầu tư phát triển làng nghề, bảo tồn làng gốm cổ

Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Dư địa chí của Nguyễn Trãi và truyền thuyết dân gian, làng gốm sứ Bát Tràng được hình thành từ thế

kỷ 15 Trong 600 năm tồn tại và phát triển của làng, nhiều đời nghệ nhân đã làm ra những sản phẩm có giá trị, tạo lập danh tiếng cho xứ sở Bát Tràng ngày nay trải dài gần 3km ven sông Hồng với 2 thôn, 11 xóm, 1600 hộ dân, trong đó 70% số hộ trực tiếp sản xuất và 30% làm dịch vụ Xã có hơn 1100 lò gốm, mỗi năm sản xuất 100-120 tỷ đồng hàng hóa, đã xuất hiện hàng trăm chủ trẻ, hàng chục công ty TNHH, doanh thu hàng chục tỷ, có nhiều lô hàng xuất khẩu, đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc đặt Khách trong, ngoài nước tấp nấp đến thăm và mua hàng Trong các cửa hàng có đủ các mẫu gốm sứ từ

cổ truyền đến hiện đại của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Italy Có hơn 100 gia đình trên xã sắm máy vi tính, nối mạng internet, mở trang thông tin giớ thiệu sản phẩm, giao dịch buôn bán với bên ngoài Phát

Trang 29

triển làng nghề gốm sứ, không chỉ Bát Tràng giàu, mà nơi tạo ra việc làm cho 4000-5000 lao động từ các địa phương khác đến

Làng Đồng Kỵ có 3271 hộ với 5327 lao dộng trong diện tích hơn 1 Đồng Kỵ giải quyết việc làm tại chỗ cho 5000 lao động và trên 4000 lao động ngoại tỉnh (Thái Bình, Nam Định, Hà Tây…)

Hiện nay, làng nghề Đồng Kỵ có 71 doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký sản xuất Mỗi đơn vị có số vốn đầu tư khoảng 800 triệu – 1,5 tỷ đồng, có công

ty đầu tư 12- 15 tỷ đồng Sản phẩm mỹ nghệ của Đồng Kỵ có mặt trên khắp

61 tỉnh thành Sản phẩm chủ yếu là những mặt hàng đồ mỹ nghệ cao cấp do các nghệ nhân sản xuất ra như: tủ, giường, sập, bàn ghế, tượng, đôn, bình phong, câu đối… được trạm trổ điêu khắc khảm trai như kiểu tứ linh: long –

ly – quy - phượng, tứ quý: cúc – trúc - thông – mai và các loại giống khác Các sản phẩm này có mặt hầu hết ở trong nước và được xuất khẩu ra thế giới

2.2.1.2 Sự phát triển các làng nghề ở tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 tăng thêm 59 làng nghề để toàn tỉnh có 180 làng nghề, đủ sức làm đòn bẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn Mục tiêu cụ thể được xác định là từ nay đến năm 2010 sẽ tăng thêm 22 làng nghề, đến năm 2015 tăng thêm 22 làng nghề nữa và năm 2020 sẽ tăng thêm 15 làng nghề Trong đó, mở mới 20 làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ và 20 làng nghề trồng nấm, thu hút gần 8.300 hộ với trên 18.000 lao động, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 16,4 triệu sản phẩm các loại [11]

Để thực hiện mục tiêu này, Thái Nguyên tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng cho các làng nghệ hiện có và làng nghề mới, làm đường giao thông vào làng nghề, kéo lưới điện phục vụ sản xuất, hỗ trợ trang thiết bị máy móc Giai đoạn 2009 - 2020, tỉnh sẽ đầu tư mặt bằng sản xuất cho các làng nghề hiện có

là 4.664.900 m2 và các làng nghề mở mới là 460.000 m2 Mỗi năm tỉnh sẽ

Trang 30

mở 9 lớp tập huấn đào tạo nghề tại 9 huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh cho 2.700 người với mức hỗ trợ là 1 triệu đồng/người/khóa học [11]

Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và các nghề truyền thống của Thái Nguyên như sản xuất chế biến chè, chế biến thực phẩm, nghề đan lát đã phát triển khá mạnh, tạo bước khởi đầu thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Toàn tỉnh có khoảng 13.300 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề với gần 26.500 lao động, thu nhập từ ngành nghề đạt gần

210 tỷ đồng Tuy nhiên, mới chỉ có 12 làng nghề được công nhận, còn lại 109 làng nghề chưa được công nhận vì quy mô còn quá nhỏ, giá trị sản xuất và số lao động còn ở mức khiêm tốn, các sản phẩm của làng nghề chưa có thương hiệu, chất lượng không cao, mức độ tiêu thụ còn hạn chế Qua khảo sát điều tra ở một số làng nghề cho thấy, những năm qua, các làng nghề đã chú ý hơn đến việc áp dụng máy móc, thiết bị vào sản xuất nhưng vẫn còn ở mức độ thấp, giữa các ngành và các vùng chưa đồng đều, vấn đề ứng dụng và đổi mới công nghệ còn gặp nhiều khó khăn về vốn, nhân lực Các ngành nghề có số làng nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng số làng nghề ở Thái Nguyên như mây tre đan, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản, chế biến chè, đồ gỗ mỹ nghệ… có mức độ cơ giới hóa còn nhỏ bé, chủ yếu chỉ ở khâu sơ chế ban đầu (như chẻ tre, cưa, xẻ gỗ…) [11]

Hiện nay, các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh chủ yếu của làng nghề ở Thái Nguyên là: hộ sản xuất - kinh doanh (bao gồm hộ chuyên và hộ kiêm); các hợp tác xã làm nghề hay vừa làm nghề, vừa dịch vụ hoặc dịch vụ cho sản xuất trong làng nghề; các doanh nghiệp được tổ chức theo Luật Doanh nghiệp (Công ty tư nhân, Công ty TNHH ); trong đó hình thức sản xuất kinh doanh theo hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn Điều này cho thấy sản xuất ở làng nghề còn nhỏ, manh mún, khó có khả năng phát triển đột biến về kết quả sản xuất, kinh doanh Đây chính là hạn chế của làng nghề tại tỉnh Thái Nguyên [11]

Trang 31

2.2.2 Một số tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề

Bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển của hoạt động sản xuất tại cac làng nghề cũng mang lại nhiều cập, đặc biệt là môi trường và xã hội

Quy mô sản xuất nhỏ là quy mô hộ gia đình (chiếm 72% tổng cơ cấu sản xuất): Quy mô mô sản xuất tại các làng nghề nhỏ do mặt bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu dân cư nông thôn, các khu sinh hoạt Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm đất và ô nhiễm môi trường tại khu vực này càng nghiêm trọng

Nếp sống tiểu thủ công nghiệp cảu người chủ sản xuất nhỏ ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường: Không nhận thức được tác hại ô nhiễm đến môi trường, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, các cơ sở thường lựa chọn quy trình sản xuất thô sơ, tận dụng nhiều lao động với trình độ thấp Nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, nhiều cơ sở còn sử dụng những nguyên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại, không đầu tư phương tiện, dụng cụ bảo

hộ cho người lao động

Quan hệ sản xuất mang tính đặc thù quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã: Nhiều làng nghề đặc biệt là làng nghề truyền thống, sử dụng lao động có tính gia đình, sản xuất theo kiểu “ bí truyền” giữ bí mật, không cải tiến áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật gây cản trở việc áp dụng giải pháp kỹ thuật mới, không khuyến khích sáng kiến làm tăng hiệu quả bảo vệ môi trường

Công nghệ sản xuất và thiết phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp vá, kiến thức tay nghề không toàn diện Dẫn đến tiêu hao nhiều nguyên, nhiên liệu, tăng rác thải, chất ô nhiễm vào không khí, đất, nước, ảnh hưởng đến giá thành

Trang 32

các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động đã tốt nghiệp cấp 1, cấp 2 chiếm 50% Đa số người lao động có nguồn gốc nông dân nên chưa ý thức được vấn đề bảo về môi trường, bảo hộ sức khỏe người lao động

Nhiều làng nghề chưa quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho bảo vệ môi trường: Cạnh tranh về loại hình sản xuất thúc đẩy một số làng nghê đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhưng đây không phải đầu tư cho

kỹ thuật bảo vệ môi trường Vì vậy, hầu hết các cơ sở sản xuất trong làng nghề đều không có hệ thống xử lý rác thải khi thải ra môi trường Đa phần các làng nghề không có đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu gom và xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn về môi trường, không có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh…

2.2.3 Tình hình sản xuất chè trên thế giới

Hiện nay, hàng tỷ người trên thế giới đã sử dụng chè làm thứ nước uống hàng ngày Ngay cả ở các nước Tây Âu thì số người chuyển từ uống cà phê sang uống chè ngày càng nhiều Đến nay, trên thế giới có trên 50 nước trồng chè từ 42 độ Bắc (Gruzia) đến 27 độ Nam (Achentina) với lịch sử phát triển có từ rất lâu đời khoảng 4000 năm, cây chè được phân bố từ 30 vĩ độ Nam đến 45 vĩ độ Bắc Những nước có sản lượng chè lớn trên thế giới là Ấn

Độ, Trung Quốc, Srilanca, Kenya Việt Nam đứng thứ 8 về diện tích, thứ 5 về xuất khẩu trong số các Châu Âu, Trung Cận Đông là những nơi tiêu thụ chè nhiều nhất trên thế giới, nhưng lại sản xuất ít vì điều kiện khí hậu, đất đai không thích hợp với việc trồng chè Chè được trồng ở khá cao, phân bổ từ 0m đến 220m so với mặt nước biển [5] Theo FAO (2013) thì tình hình sản xuất chè trên thế giới tính đến năm 2012 như sau:

Trang 33

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè năm 2012 của một số nước

trên thế giới

STT Tên nước Diện tích

(1000ha)

Năng suất (tạ khô/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2013)

Về năng suất chè của thế giới, Kenya là nước có năng suất chè cao nhất đạt 19,381 tạ chè khô/ha, vượt hơn năng suất bình quân của thế giới là 14,707

tạ chè khô/ha Việt Nam tính đến năm 2012 đạt năng suất 18,704 tạ chè khô/ha vượt hơn năng suất của thế giới

Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới, tuy nhiên về năng suất chè thấp hơn năng suất chè thế giới Cụ thể: năm 2012 năng suất chè Trung Quốc đạt 11,334 tạ chè khô/ha thấp hơn thế giới 3,373 tạ chè khô/ha Điều này cho thấy chúng ta thấy năng suất chè phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau không những điều kiện tự nhiên mà còn bị tác động bởi yếu tố con người

Về sản lượng chè thế giới năm 2012 là 4.818,99 tấn, Trung Quốc là nước

có sản lượng chè cao nhất thế giới vì là nước diện tích chè lớn nhất thế giới, chiếm 35,6% sản lượng chè thế giới Nhật Bản là nước có sản lượng thấp so với các nước còn lại chỉ chiếm có 1,78% sản lượng chè thế giới Sản lượng chè Việt Nam năm 2012 là 216,90 tấn chiếm 4,5% sản lượng chè thế giới

Trang 34

2.2.4 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam

Nằm trong cùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực sự được quan tâm và đầu tư sản xuất bắt đầu từ đầu thế kỷ 20 trở lại đây

Những năm gần đây Việt Nam đã có nhiều cơ chế chính sách đầu tư ưu tiên phát triển cây chè Cây chè được xem là cây trồng có khả năng xóa đói, giảm nghèo và làm giàu cho nhiều hộ nông dân

Hiện nay, sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có thương hiệu “CheViet” đã được đăng

ký bảo hộ tại 70 thị trường quốc gia và khu vực Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng và xuất khẩu chè sau Trung Quốc, Ấn

Độ, Srilanka, Kenya

Việt Nam có diện tích trồng chè dao động khoảng 126000 – 133000 ha

và thu hút khoảng 2 triệu lao động, Việt Nam là nước xuất khẩu và sản xuất chè lớn thứ 5 trên thế giới, với kế hoạch đạt 1,2 triệu tấn chè thô và xuất khẩu

200 nghìn tấn chè chế biến vào năm 2015

Năm 2012 khép lại những thành tựu đáng mừng của ngành xuất khẩu chè Việt Nam Tổng sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 146,7 nghìn tấn, thu về 224,6 triệu USD, tăng 9,6% về lượng và 10,1% về kim ngạch so với năm 2011, giá chè xuất khẩu bình quân năm 2012 đạt 1531 USD/tấn so với năm 2011

Trong những năm gần đây, nhà nước ta có nhiều cơ chế, chính sách đầu

tư cho phát triển cây chè, do vậy diện tích, năng suất và sản lượng chè không ngừng tăng lên:

Trang 35

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè của Việt Nam từ

năm 2008 – 2012

(1000ha)

Năng suất ( tạ khô/ha)

Sản lƣợng ( 1000 tấn)

(Nguồn: Theo FAO Sart Citation, 2013)

Theo số liệu bảng trên cho ta thấy: Từ năm 2008 đến 2012 diện tích năng suất sản lượng chè tăng nhanh Năm 2008 diện tích chè là 108,8 ha thì năm 2012 tăng lên 115,96 ha Năng suất bình quân năm 2012 là 18,70 tạ khô/ha tương ứng 17,27% so với năm 2008 Sản lượng chè theo đó cũng tăng mạnh đạt 216,9 tấn búp khô vào năm 2012 tăng 43,4 tấn tương ứng 25,01%

so với năm 2008

Theo Hiệp hội chè Việt Nam, dự kiến đến năm 2020 sản lượng chè toàn ngành đạt 250.000 tấn (tăng 43%) Trong đó xuất khẩu đạt 182.000 tấn (chiếm 73% tống sản lượng) với tỷ trọng: Chè xanh và chè đặc sản 60.000 tấn, chè đen OTD 73.000 tấn và chè CTC 49.000 tấn Đơn giá xuất khẩu bình quân năm 2020 đạt 1,99 USD/kg

2.2.5 Tình hình sản xuất chè ở tỉnh Thái Nguyên

a Tiềm năng thế mạnh về sản xuất chè của Thái Nguyên

Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trong cả nước (19100 ha), cả 9 huyện, thành thị đều sản xuất chè Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng cao

Trang 36

Theo phân tích của Viện khoa học Kỹ thuật NLN miền Núi phía Bắc, chất lượng nguyên liệu chè Thái Nguyên có ưu điểm khác biệt với chất lượng nguyên liệu của các vùng chè khác cụ thể là: Nguồn nguyên liệu chè Thái Nguyên ngon đó chính là do điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng của vùng chè Trong đất chè Thái Nguyên có chứa nguyên tố vi lượng phù hợp với cây chè Đất trồng được hình thành trên nền đất Feralitic macma axit hoặc phù sa cổ Đất có độ PH từ 5,5 đến 7, đất hơi chua cực kỳ phù hợp với trồng chè, chính

vì vậy mặc dù chè Thái Nguyên có nguồn gốc từ giống chè Phú Thọ, nhưng

do điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng phù hợp nên nguyên liệu chè Thái Nguyên có hương vị thơm ngon hơn hẳn [14]

Từ những đặc điểm phẩm chất trên, nguyên liệu chè Thái Nguyên có nội chất đáp ứng yêu cầu của nguyên liệu để sản xuất chè xanh chất lượng cao

Bên cạnh thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu thích hợp với sản xuất chè Người làm nghề chè tỉnh Thái Nguyên kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã rạo nên những sản phẩm chè cành đẹp, thơm hương chè, hương cốm, uống “ có hậu” với vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Thái Nguyên, với chất lượng và giá trị cao; 100% sản phẩm của làng nghề chè là sản phẩm chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu [15]

Những hộ làm nghề chè đã hình thành lên những làng nghề truyền thống từ năm 2008 đến năm 2012 đã có 59 làng nghề sản xuất, chế biến chè được UBND tỉnh quyết định công nhận trên địa bàn 5 huyện, 1 thành phố Thái Nguyên Những làng nghề này có từ lâu đời gắn liền với văn hóa mang đậm bản sắc các dân tộc tỉnh Thái Nguyên [7]

b Tình hình sản xuất

Sản xuất chè ở Thái Nguyên chủ yếu là sản xuất theo quy mô hộ Tuy vậy, do đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, tăng đầu tư thâm canh chè

Trang 37

mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm vừa qua, diện tích, năng suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên không ngừng tăng:

+ Năm 2011: diện tích chè toàn tỉnh là 18199 ha, sản lượng chè búp tươi đạt 18100 tấn

+ Năm 2012: diện tích chè toàn tỉnh khoảng 18600 ha, năng suất đạt

109 tạ/ha, sản lượng đạt 18500 tấn chè búp tươi tăng 2,2% với năm 2011

+ Năm 2014 Thái Nguyên có 19100 ha chè, trong đó 17300 ha chè trong giai đoạn kinh doanh Năng suất chè bình quân đạt 111 tạ/ha, sản lượng trên 191000 tấn búp tươi, 80% diện tích chè đáp ứng yêu cầu sản xuất chè an toàn theo chuẩn VIETGAP, giá trị sản xuất đạt 91 triệu đồng/ha Có được kết quả này là nhờ Đề án “ Nâng cao năng lực sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011- 2015”

+ Tỉnh đang đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu giống chè theo hướng giảm giống chè Trung du và tăng các giống chè nhập nội và các giống chè trong nước chọn tạo, lai tạo Năm 2011, cả tính trồng mới và trồng thay thế

1000 ha chè bằng các giống có năng suất và chất lượng cao Năm 2015, cơ cấu giống mới đạt 60%, giống chè Trung du còn 40%

- Xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè búp tươi:

Vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất chè xanh, chè xanh cao cấp gồm giống: Trung du, LDP1, TRI777, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát Tiên, Keo

Âm Tích, phân bố chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, Đồng

Hỷ, Phú Lương, Phổ Yên, chiếm tỷ lệ 80 – 85% nguyên liệu chè búp tươi

Vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất chè đen gồm các giống: Trung du, LDP2, TRI777, chủ yếu phân bố ở các huyện Định Hóa, một phần ở huyện Đại

Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, chiếm tỷ lệ 10 – 15% lượng nguyên liệu chè búp tươi

- Sản xuất chè an toàn ở tỉnh Thái Nguyên: Hiện nay tỉnh Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn toàn tỉnh

Trang 38

làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư sản xuất chè hàng hóa chất lượng, giá trị cao; xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè an toàn theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu; áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến sản phẩm cuối cùng gắn quy trình sản xuất với việc được chứng nhận bởi các tổ chức chứng nhận trong nước và quốc tế (VietGAP, GlobalGAP, Uzt Certified… ) Chương trình chuyển đổi giống mới và ứng dụng các biện pháp canh tác tiên tiến sản xuất theo hướng an toàn, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên

Chè Thái Nguyên được chế biến theo 2 phương thức chủ yếu là:

+ Chế biến theo phương pháp thủ công, truyền thống theo quy mô hộ Sản xuất chè từ lâu đã gắn liền với đời sống xã hội và bản sắc văn hóa dân tộc tỉnh Chế biến chè theo phương pháp truyền thống hiện đang mang lại giá trị

và hiệu quả kinh tế rất cao

+ Chế biến chè theo dây truyền công nghiệp: đối với sản phẩm chè đen theo công nghệ CTC và OTD đối với sản phẩm chè xanh

c Tiêu thụ chè Thái Nguyên

Sản phẩm chè Thái Nguyên hiện chủ yếu là tiêu thụ nội địa, sản lượng chè xuất khẩu chiếm tỷ lệ thấp, giá trị xuất khẩu không cao Xuất khẩu chủ yếu sang các nước Trung Quốc, Anh, Pakistan, Nga, Đài Loan…

Trang 39

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các hộ tham gia làng nghề chè tại xã Phúc Xuân

Từ ngày 06 tháng 01 năm 2016 đến ngày 30 tháng 05 năm 2016

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương liên quan đến sản xuất và kinh doanh chè của các làng nghề

- Thực trạng sản xuất chè của các hộ tham gia làng nghề trên địa bàn xã Phúc Xuân – TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

- So sánh hiệu quả kinh tế của các hộ tham gia làng nghề so với các hộ không tham gia làng nghề

- Những thuận lợi và khó khăn trong việc tham gia và phát triển làng nghề chè

- Đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và phát triển làng nghề chè nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần phát triển kinh tế ở địa phương

Trang 40

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

3.3.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu có sẵn thường có trong các báo khuyến nông hoặc các tài liệu đã công bố Các thông tin này này thường được thu thập từ các cơ quan,

tổ chức, văn phòng

Trong phạm vi báo cáo này bao gồm cả số liệu đã được công bố liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại UBND xã Phúc Xuân

- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Phúc Xuân

- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ và phát triển kinh tế - xã hội năm

2013 – 2016, phương hướng nhiệm vụ 2013 – 2016

- Các báo cáo, đề tài liên quan

3.3.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

a Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Xã Phúc Xuân là một xã thuộc phía tây của thành phố Thái Nguyên, là

xã nằm trong vùng chè đặc sản chè Tân Cương, hiện nay các làng nghề chè đang chú trọng phát triển tại địa phương Xã có 15 xóm trong đó có 9 xóm được công nhận làng nghề chè truyền thống

Trong đề tài nghiên cứu này, 60 hộ dân thuộc 2 xóm Cây Thị và Đèo

Đá được chọn làm điểm nghiên cứu giúp tìm hiểu rõ thực trạng phát triển làng nghề chè truyền thống và từ đó đưa ra giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề chè truyền thống trên địa bàn xã

b Phương pháp chọn mẫu điều tra

- Đề tài chọn 60 mẫu để tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi có sẵn đã được lập trước để thu thập thông tin từ các hộ nông dân

Ngày đăng: 07/07/2017, 08:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Phát triển làng nghề ở Thái Nguyên. http://hrpc.com.vn/vn/phat-trien-lang-nghe-o-thai-nguyen_173.html Link
12. Làng lụa Hà Đông https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A0ng_l%E1%BB%A5a_H%C3%A0_%C4%90%C3%B4ng 13. FAO Start Citation, 2013 Link
15. Thế mạnh về cây chè Thái Nguyên tại tỉnh Thái Nguyên. http://www.loctancuong.com/tu-van-tra-thai-nguyen/the-manh-ve-cay-che-thai-nguyen-tai-tinh-thai-nguyen.html Link
16. Trà (thực vật), đặc điểm cây trà. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt) Link
4. Nguyễn Điền (1997), Công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam Khác
5. Lê Tất Khương (2006), Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng nhân giống vô tính của một số giống chè mới tại Thái Nguyên Khác
6. Thông tư 116/2006 ngày 18 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ – CP ngày 7/7/2006 của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn Khác
7. UBND tỉnh Thái Nguyên, báo cáo: Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè Thái Nguyên của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên 2013 Khác
8. UBND xã Phúc Xuân, báo cáo: Kết quả thực hiện nhiệm vụ và phát triển kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2013, ước đạt năm 2013. Nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 Khác
9. UBND xã Phúc Xuân, báo cáo: Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014; phương hướng, nhiệm vụ năm 2015 Khác
10. UBND xã Phúc Xuân, báo cáo: Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015; phương hướng, nhiệm vụ năm 2016.II. Tài liệu internet Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè năm 2012 của một số nước - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng chè năm 2012 của một số nước (Trang 33)
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè của Việt Nam từ - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè của Việt Nam từ (Trang 35)
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất tại xã Phúc Xuân - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất tại xã Phúc Xuân (Trang 45)
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè tại xã Phúc Xuân - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè tại xã Phúc Xuân (Trang 48)
Bảng 4.3: Một số thông tin chung về các hộ điều tra - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.3 Một số thông tin chung về các hộ điều tra (Trang 52)
Bảng 4.4. Cơ cấu diện tích đất trồng chè của hộ làng nghề - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.4. Cơ cấu diện tích đất trồng chè của hộ làng nghề (Trang 53)
Bảng 4.5: Tình hình sản xuất chè giữa hộ làng nghề và hộ - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.5 Tình hình sản xuất chè giữa hộ làng nghề và hộ (Trang 54)
Bảng 4.6: So sánh các giống chè của hộ điều tra trên địa bàn xã - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.6 So sánh các giống chè của hộ điều tra trên địa bàn xã (Trang 56)
Bảng 4.7: So sánh chi phí đầu vào bình quân 1 sào chè/năm của hộ làng nghề với hộ không phải làng nghề - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.7 So sánh chi phí đầu vào bình quân 1 sào chè/năm của hộ làng nghề với hộ không phải làng nghề (Trang 59)
Bảng 4.8: Kết quả sản xuất chè của hộ tính bình quân 1sào/năm - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.8 Kết quả sản xuất chè của hộ tính bình quân 1sào/năm (Trang 62)
Bảng 4.9: Bảng so sánh hiệu quả sản xuất chè trên một sào/năm của các - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.9 Bảng so sánh hiệu quả sản xuất chè trên một sào/năm của các (Trang 63)
Bảng 4.10: Tình hình tiêu thụ sản phẩm chè của các hộ điều tra - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.10 Tình hình tiêu thụ sản phẩm chè của các hộ điều tra (Trang 65)
Hình 4.1: Sơ đồ tiêu thụ chè làng nghề xã Phúc Xuân - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Hình 4.1 Sơ đồ tiêu thụ chè làng nghề xã Phúc Xuân (Trang 66)
Bảng 4.11. Mức độ tham gia các lớp tập huấn của 2 nhóm hộ điều tra - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân  thành phố Thái Nguyên  tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.11. Mức độ tham gia các lớp tập huấn của 2 nhóm hộ điều tra (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm