1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đánh giá nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất khu vực huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.

45 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ii MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................i MỤC LỤC ..................................................................................................................... ii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT..................................................................................... iii DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................... iii DANH MỤC CÁC HÌNH, ẢNH..................................................................................iv THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI ...........................................v THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI .............................................................................................................................. viii MỞ ĐẦU.........................................................................................................................1 1. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................1 2. Nội dung nghiên cứu ...............................................................................................1 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.................................................................................2 4. Bố cục của của báo cáo ...........................................................................................2 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC QUỐC OAI, HÀ NỘI............................3 1.1. Vấn đề hạ thấp mực nước dưới đất trên địa bàn TP Hà Nội................................3 1.2. Tình hình nghiên cứu địa chất, địa chất thủy văn ................................................6 1.3. Điều kiện tự nhiên và kinh tếxã hội khu vực Quốc Oai .....................................8 1.3.1. Vị trí khu vực nghiên cứu .............................................................................8 1.3.2. Khí hậu, thời tiết ...........................................................................................9 1.3.3. Đặc điểm địa hình ........................................................................................9 1.3.4. Mạng lưới thủy văn.....................................................................................10 1.3.5. Điều kiện kinh tế xã hội vùng nghiên cứu................................................10 1.4. Cấu trúc địa chất.................................................................................................13 1.4.1. Các thành tạo địa chất trước Đệ tứ .............................................................14 1.4.2. Trầm tích Đệ tứ...........................................................................................15 1.5. Địa chất thủy văn ...............................................................................................19 1.5.1. Tầng chứa nước trong trầm tích hệ tầng Thái Bình....................................20 1.5.2. Tầng chứa nước trong trầm tích hệ tầng Hải Hưng ....................................20 1.5.3. Tầng chứa nước trong trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc...................................20 1.5.4. Tầng chứa nước trong trầm tích hệ tầng Hà Nội ........................................20 1.5.5. Tầng chứa nước khe nứt, karst trong đá vôi ...............................................21 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................22 2.1. Các khái niệm cơ bản .........................................................................................22 2.2. Các phương pháp nghiên cứu.............................................................................24 2.2.1. Phương pháp tổng hợp, xử lý tài liệu..........................................................24 2.2.2. Phương pháp khảo sát hiện trường .............................................................25 2.2.3. Phương pháp điều tra, phỏng vấn ...............................................................25 2.2.4. Phương pháp chuyên gia.............................................................................26 CHƯƠNG 3. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ CẠN KIỆT NƯỚC DƯỚI ĐẤT KHU VỰC HUYỆN QUỐC OAI..................................27 3.1. Hiện trạng khai thác nước dưới đất....................................................................27 3.2. Đánh giá nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất ..........................................................29 3.3. Đề xuất giải pháp hạn chế suy kiệt nước dưới đất .............................................33 KẾT LUẬN ..................................................................................................................36 TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................37 PHỤ LỤC .....................................................................................................................38

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Đề tài được hoàn thành tại Khoa Địa chất Trường đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Văn Bình Chúng tôi xin kính gửi đến Thầy lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể các thầy, cô trong Khoa Địa chất đã tận tình giúp đỡ cho chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học công nghệ và các đơn vị khác trực thuộc trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành đề tài

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhân dân trong khu vực Thị trấn Quốc Oai, các

xã Ngọc Mỹ, Thạch Thán, Tuyết Nghĩa, Liệp Tuyết, Đồng Quang, Sài Sơn và nhiều xã khác thuộc huyện Quốc Oai đã nhiệt tình cung cấp thông tin, trả lời phỏng vấn về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu

Chúng tôi xin cảm ơn các bạn trong lớp ĐH4KĐ đã đóng góp những ý kiến trong suốt quá trình nghiên cứu

Trân trọng!

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH, ẢNH iv

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI v

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI viii

MỞ ĐẦU 1

1 Mục tiêu nghiên cứu 1

2 Nội dung nghiên cứu 1

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

4 Bố cục của của báo cáo 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC QUỐC OAI, HÀ NỘI 3

1.1 Vấn đề hạ thấp mực nước dưới đất trên địa bàn TP Hà Nội 3

1.2 Tình hình nghiên cứu địa chất, địa chất thủy văn 6

1.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội khu vực Quốc Oai 8

1.3.1 Vị trí khu vực nghiên cứu 8

1.3.2 Khí hậu, thời tiết 9

1.3.3 Đặc điểm địa hình 9

1.3.4 Mạng lưới thủy văn 10

1.3.5 Điều kiện kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 10

1.4 Cấu trúc địa chất 13

1.4.1 Các thành tạo địa chất trước Đệ tứ 14

1.4.2 Trầm tích Đệ tứ 15

1.5 Địa chất thủy văn 19

1.5.1 Tầng chứa nước trong trầm tích hệ tầng Thái Bình 20

1.5.2 Tầng chứa nước trong trầm tích hệ tầng Hải Hưng 20

1.5.3 Tầng chứa nước trong trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc 20

1.5.4 Tầng chứa nước trong trầm tích hệ tầng Hà Nội 20

1.5.5 Tầng chứa nước khe nứt, karst trong đá vôi 21

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Các khái niệm cơ bản 22

2.2 Các phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Phương pháp tổng hợp, xử lý tài liệu 24

2.2.2 Phương pháp khảo sát hiện trường 25

2.2.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 25

2.2.4 Phương pháp chuyên gia 26

CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ CẠN KIỆT NƯỚC DƯỚI ĐẤT KHU VỰC HUYỆN QUỐC OAI 27

3.1 Hiện trạng khai thác nước dưới đất 27

3.2 Đánh giá nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất 29

3.3 Đề xuất giải pháp hạn chế suy kiệt nước dưới đất 33

KẾT LUẬN 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC 38

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH, ẢNH

Hình 1.1 Sơ đồ khu vực huyện Quốc Oai 8

Hình 1.2 Quốc Oai trong Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội 12

Hình 1.3 Cột địa tầng địa chất của vùng 14

Hình 1.4 Sơ đồ địa chất huyện Quốc Oai 18

Hình 1.5 Sơ đồ địa chất thủy văn huyện Quốc Oai 19

Hình 2.1 Sơ họa tầng chứa nước ngầm 22

Hình 2.2 Sự vận động của nước dưới đất 23

Hình 2.3 Hình vẽ phễu hạ thấp mực nước ngầm 24

Hình 2.4 Nhóm nghiên cứu phỏng vấn cộng đồng dân cư về sử dụng giếng khoan ở xã Ngọc Thán, huyện Quốc Oai, Hà Nội 26

Trang 5

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Nghiên cứu đánh giá nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất khu vực huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

- Sinh viên thực hiện: Đỗ Thị Hiền

Lê Ngọc Huyền

Nguyễn Thị Thu Nga

Lê Thị Kim Ngân

- Lớp: ĐH4KĐ Khoa: Địa chất Năm thứ: 03 Số năm đào tạo: 04

- Người hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Bình

Cảnh báo nguy cơ mức độ hạ thấp mực nước trong tương lai và sau bao nhiêu năm nữa thì hết nước để khai thác Đưa ra các giải pháp khai thác và sử dụng hiệu quả nhất khắc phục nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất

4 Kết quả nghiên cứu:

về tình hình khai thác và vấn đề hạ thấp mực nước dưới đất ở khu vực nghiên cứu

Ý nghĩa thực tiễn:

- Cảnh báo về sự hạ thấp mực nước tới các dân cư, các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai và đề xuất một số giải pháp hạn chế sự suy kiệt nước dưới đất hợp lý

Trang 6

- Sinh viên tham gia nghiên cứu được bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học từ quan điểm tiếp cận, quá trình khảo sát tới công việc giải thích, phân tích, tổng hợp tài liệu, kết quả, xây dựng báo cáo tổng hợp và các sản phẩm của đề tài

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Các kết quả nghiên cứu đặc điểm nước dưới đất sẽ là góp phần nâng cao cơ sở dữ liệu, khoa học phục vụ cho học tập nghiên cứu tại trường Đại học Tài nguyên và Môi

trường Hà Nội

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài:

- Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học cấp trường

Về tính cấp thiết của đề tài:

Cạn kiệt nước dưới đất đang là vấn đề nóng bỏng được nhiều Quốc gia, vùng lãnh thổ trên Thế giới quan tâm, có rất nhiều đề tài, chương trình, dự án nghiên cứu về vấn đề này được công bố Trong những năm gần đây, trên toàn thành phố Hà Nội được cảnh báo là bị suy kiệt nước dưới đất, mực nước dưới đất bị hạ thấp nhanh chóng Sau khi đươc sáp nhập vào thành phố Hà Nội năm 2008, huyện Quốc Oai có tốc độ đô thị hóa rất nhanh dẫn đến nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh, nguồn nước dưới đất bị suy giảm, vì vậy nhóm sinh viên chọn đề tài đánh giá suy kiệt nước dưới đất khu vực này nghiên cứu là cần thiết

Về cách tiếp cận: Nhóm tác giả đã tiến hành tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ tổng quát

đến chi tiết theo nội dung nghiên cứu

Trang 7

Về phương pháp nghiên cứu: Nhóm tác giả đã sử dụng hệ phương pháp nghiên cứu

truyền thống như khảo sát thực địa, tổng hợp tài liệu, điều tra phỏng vấn, phương pháp chuyên gia, đây là những phương pháp truyến thống đã được sử dụng nhiều

Ý nghĩa khoa học: Nhóm tác giá đã xây dựng thành công bản đồ hiện trạng khai thác

nước dưới đất và bản đồ hạ thấp mực nước Tuy mức độ chi tiết còn hạn chế song đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về tình hình khai thác và vấn đề hạ thấp mực nước dưới đất ở khu vực nghiên cứu

Ý nghĩa thực tế:

- Sản phẩm của đề tài đã góp phần cảnh báo về sự hạ thấp mực nước tới các dân

cư, các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai và đề xuẩt một số giải pháp hạn chế sự suy kiệt nước dưới đất hợp lý

- Các sinh viên tham gia nghiên cứu được bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học từ quan điểm tiếp cận, quá trình khảo sát tới công việc giải thích, phân tích, tổng hợp tài liệu, kết quả, xây dựng báo cáo tổng hợp và các sản phẩm của đề tài

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017

Người hướng dẫn

Nguyễn Văn Bình

Trang 8

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Sơ lược về sinh viên:

Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Nga

Sinh ngày: 12 tháng 11 năm 1996

Nơi sinh: Như Quỳnh - Văn Lâm – Hưng Yên

Lớp: ĐH4KĐ

Khoa: Địa chất

Địa chỉ liên hệ: Như Quỳnh - Văn Lâm – Hưng Yên

Điện thoại: 0965680710 Email: nguyennga.9396.mt@gmail.com

2 Quá trình học tâp:

• Năm thứ 1:

Ngành: Kỹ thuật địa chất Khoa: Địa chất

Kết quả xếp loại học tâp: 2.08 (trung bình)

• Năm thứ 2:

Ngành: Kỹ thuật Địa chất Khoa: Địa chất

Kết quả xếp loại học tập: 2.88 (trung bình)

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Xác nhận của trường đại học Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Thu Nga

Trang 9

MỞ ĐẦU

Nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất đang là vấn đề đáng quan tâm của các nước trên thế giới nói chung cũng như của nước ta nói riêng Hiện nay, do quá trình đô thị hóa nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng nhiều, việc khai thác nước tăng cao đã làm cho mực nước dưới đất ở các đô thị lớn liên tục bị hạ thấp và tác động không tốt đến nhiều mặt của đời sống xã hội Trên địa bàn Hà Nội sự suy kiệt nguồn nước dưới đất đang diễn ra ở hầu hết các khu vực Những năm gần đây, lưu lượng, mực nước, chất lượng các nguồn nước mặt, nước dưới đất đều có xu hướng giảm Nhiều khả năng trong tương lai xu hướng này còn tiếp tục diễn ra

Huyện Quốc Oai nằm ở phía Tây Hà Nội Khu vực này đang trong quá trình đô thị hóa với tốc độ cao, dân số tăng nhanh, kinh tế đang trên đà phát triển nên nhu cầu

sử dụng nước cũng tăng theo Hiện tại, nguồn nước chính phục sinh hoạt trong các khu dân cư, khu công nghiệp, khu đô thị chủ yếu được khai thác từ các giếng khoan Trên địa bàn huyện chưa có hệ thống cấp nước sạch hoàn chỉnh nên việc khai thác nước dưới đất diễn ra ồ ạt, thiếu kiểm soát dẫn đến mực nước dưới đất bị hạ thấp nhanh chóng, nguồn nước dưới đất bị cạn kiệt

Hậu quả của cạn kiệt nước dưới đất và hạ thấp mực nước dưới đất rất nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của nhân dân trong vùng như: thiếu nước sạch phục vụ cho sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, Ngoài ra, cạn kiệt nước dẫn đến việc phải khoan sâu và tìm kiếm nước trong các tầng đá vôi, có nguy cơ bị sập khoan

do gặp phải các hang karst, gây nguy hiểm và làm mực nước bị hạ thấp Về lâu dài, nó

sẽ gây ra hiện tượng lún - sụt để lại hậu quả khó lường

Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra đề tài: “Nghiên cứu đánh giá nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất khu vực huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”

1 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ nguyên nhân gây ra hiện tượng cạn kiệt nước ở khu vực Quốc Oai Đề ra các giải pháp khai thác và quản lý hợp lý

2 Nội dung nghiên cứu

- Thu nhập, xử lý, đánh giá tài liệu địa chất thủy văn ở huyện Quốc Oai

- Điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế khu vực huyện Quốc Oai

- Đánh giá nguy cơ cạn kiệt tài nguyên nước dưới đất

Trang 10

- Đề xuất các giải pháp quản lý khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước của vùng nghiên cứu một cách bền vững

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

về tình hình khai thác và vấn đề hạ thấp mực nước dưới đất ở khu vực nghiên cứu

Ý nghĩa thực tiễn:

- Cảnh báo về sự hạ thấp mực nước tới các dân cư, các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai và đề xuất một số giải pháp hạn chế sự suy kiệt nước dưới đất hợp lý

- Sinh viên tham gia nghiên cứu được bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học từ quan điểm tiếp cận, quá trình khảo sát tới công việc giải thích, phân tích, tổng hợp tài liệu, kết quả, xây dựng báo cáo tổng hợp và các sản phẩm của đề tài

4 Bố cục của của báo cáo

Mở đầu:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

khu vực Quốc Oai, Hà Nội

- Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Hiện trạng khái thác và đánh giá nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất

Kết luận và kiến nghị

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN,

KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC QUỐC OAI, HÀ NỘI 1.1 Vấn đề hạ thấp mực nước dưới đất trên địa bàn TP Hà Nội

Theo các tác giả Tung Q Nguyen & Donald C Helm [8], từ những năm đầu của thế kỷ 20 đến năm 1991 lượng nước dưới đất khai thác tại Hà Nội tăng từ khoảng 20.000m3/ngày đến 400.000m3/ngày và mới đáp ứng khoảng 60% nhu cầu sử dụng nước và dự đoán lượng nước bơm hút sẽ được tăng lên trong tương lai Song song với quá trình bơm hút nước, mức thủy áp trong các giếng ban đầu từ 2 đến 5 m dưới mặt đất, đến năm 1993 đã giảm xuống từ 37 m đến 40 m Trong khi đó, mực nước trong các tầng nước dưới đất tuổi Q2 đã giảm 2-6 m

Theo số liệu thống kê, đo đạc của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho thấy Hiện nay trên địa bàn thành phố có bốn hệ thống cấp nước đô thị do bốn công ty cấp nước quản lý với tổng công suất các nhà máy nước (NMN) là 954.500m3/ngày và tổng công suất phát ra mạng lưới là 683.000m3/ngày Trong đó, Hà Nội cũ 561.500m3/ngày (gồm10 NMN chính và 8 trạm cấp nước nhỏ) do công ty nước sạch Hà Nội quản lý; Quận Hà Đông là 36.000m3/ngày (gồm 2 NMN) do công ty cấp nước Hà Đông quản lý; thị xã Sơn Tây là 20.000 m3/ngày (gồm 2 NMN) do công ty nước sạch Tây Sơn quản lý và hệ thống cấp nước mặt sông Đà với công suất đợt I là 300.000m3/ngày do công ty VIWACO quản lý cấp cho phía Tây Nam Hà Nội khoảng 90.000m3/ngày Ngoài những hệ thống cấp nước tập trung trên, Hà Nội còn có rất nhiều các công trình khai thác nước không tập trung, những hệ thống cấp nước của các khu công nghiệp tập trung,…

Theo Trung tâm Điều tra quy hoạch tài nguyên nước, do sự khai thác nước dưới đất quá nhiều ở Hà Nội hình thành phễu hạ thấp mực nước biểu hiện khá rõ theo diện

và theo chiều sâu Kết quả phân tích thành phần hóa học nước dưới đất cho thấy nước dưới đất ở khu vực Hà Nội, một số chỉ tiêu có giá trị cao hơn giới hạn cho phép, trong

đó chủ yếu là hàm lượng amoni, asen và hàm lượng hữu cơ Các yếu tố này đang có xu thế tăng theo thời gian cả về hàm lượng và diện tích phân bố, tập trung chủ yếu tại những khu vực có các nguồn có khả năng gây ô nhiễm cao như các bãi rác thải, khu công nghiệp Lượng nước mặt bình quân đầu người hiện nay ở nước ta đạt khoảng 3.840m3/người/năm Theo tiêu chí đánh giá của Hội Tài nguyên nước quốc tế (IWRA),

Trang 12

ở thời điểm hiện nay Việt Nam đã thuộc số các quốc gia thiếu nước và sẽ gặp phải rất nhiều thách thức về tài nguyên nước trong tương lai gần Suy thoái tài nguyên nước sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người và kinh tế xã hội Những bộ phận dân cư sống bằng nước giếng khoan và những thành phố sử dụng nước ngầm như Hà Nội, TP

Hồ Chí Minh sẽ phải đối mặt nguy cơ thiếu nước sinh hoạt trầm trọng Tài nguyên nước ở nước ta phân bố không đều và biến đổi mạnh theo thời gian Vì vậy, những kết quả của công tác quan trắc tài nguyên nước dưới đất là cơ sở để các nhà quản lý lên phương án quy hoạch cũng như xây dựng cơ sở dữ liệu quan trọng đối với nguồn tài nguyên đang ngày càng trở nên quý giá này

Quá trình đô thị hóa ở thành phố Hà Nội đã tác động mạnh và làm thay đổi chính môi trường địa chất và tính bền vững Điều đó trước tiên được thể hiện qua sự suy giảm về chất lượng và cạn kiệt về trữ lượng tài nguyên nước dưới đất Theo các tài liệu thu thập được thì cách đây 15 - 20 năm về trước mực nước dưới đất của tầng Qp (tầng nước đang được khai thác để sử dụng) còn nằm sát mặt đất, đặc biệt ở vùng ngoại thành Hiện tại mực nước của tầng Qp đã hạ thấp một cách mạnh mẽ và rõ nét,

ví dụ mực nước dưới đất ở vùng Mai Dịch (phía Bắc thành phố) ngày 28/1/1997 là 21,50 m cách mặt đất thì ngày 16/5/2004 đã tụt xuống 27,30 m cách mặt đất; còn ở vùng Hạ Đình, ngày 11/9/1997 mực nước dưới đất ở độ sâu 24,14 m cách mặt đất thì ngày 9/6/2004 mực nước dưới đất ở đó đã tụt xuống 34,49 m cách mặt đất Còn ở Pháp Vân (phía Nam thành phố) ngày 10/1/1997 mực nước dưới đất ở độ sâu là 18,15

m cách mặt đất thì ngày 8/6/2004 mực nước dưới đất đã tụt xuống 22,30 m cách mặt đất Ở vùng Lương Yên (gần Sông Hồng), ngày 27/5/1997 mực nước dưới đất ở độ sâu

là 17,50 m cách mặt đất, đến ngày 8/6/2004 mực nước dưới đất đã tụt xuống 19,23 m cách mặt đất Ở vùng Thành Công (trung tâm thành phố), ngày 18/2/1996 mực nước dưới đất ở độ sâu là 14,12 m cách mặt đất, đến ngày 9/6/2004 mực nước dưới đất đã tụt xuống 19,45 m cách mặt đất

Những quan trắc liên tục và có hệ thống ở các vùng Gia Lâm và Đông Anh trong

6 tháng đầu năm 2003 cũng cho thấy những biểu hiện hạ thấp mực nước dưới đất ở hai vùng đó Hiện tại trên toàn thành phố Hà Nội đã hình thành phễu hạ thấp mực nước dưới đất mà tâm phễu ở phía Nam là các nhà máy nước Hạ Đình, Pháp Vân và Tương Mai, còn tâm phễu ở phía Bắc là các nhà máy nước Ngô Sĩ Liên, Ngọc Hà và Mai

Trang 13

Dịch Và hiện tượng đó đã gây không ít khó khăn cho việc cung cấp nước ở khu vực

Hà Nội

Quá trình đô thị hóa và sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu dùng nước của nhân dân tăng nhanh đã dẫn đến lượng khai thác nước dưới đất tăng mạnh làm cho mực nước ở một số bãi giếng ngày càng hạ thấp Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường), được tiến hành liên tục từ năm 1990 đến nay tại 9 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên và Hải Dương, mực nước dưới đất tại các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ đang có xu hướng giảm mạnh Điển hình là khu vực phía Nam TP Hà Nội, nơi có những nhà máy khai thác nước dưới đất đã hình thành phễu đang làm hạ thấp mực nước dưới đất

Việc khai thác nước dưới đất là cần thiết nhưng việc khai thác đó phải bảo đảm thời gian để lượng nước bù đắp lại Chính vì không bảo đảm được những yêu cầu trên nên mực nước ngầm ngày càng hạ thấp kéo theo hiện tượng lún mặt đất Cách đây khoảng 30 - 40 năm, mực nước dưới đât dưới lòng đất thủ đô chỉ cách mặt đất khoảng 3-4 m và cách đây 15-20 năm, khoảng cách này là 10 m Tuy nhiên, do lượng nước khai thác cung cấp cho sinh hoạt mỗi năm rất lớn đã làm mực nước dưới đât ngày càng tụt sâu hơn vào lòng đất Kết quả khảo sát cho thấy mực nước dưới đất tại khu vực Mai Dịch hiện đã tụt sâu cách mặt đất 27,30 m, khu vực Hạ Đình 34,49 m, Pháp Vân 22,30 m, Lương Yên 19,23 m, Thành Công 19,45 m

Sự khai thác mạnh mẽ tài nguyên nước đã khiến nước dưới đất ở thành phố Hà Nội bao gồm các quận nội thành và vùng lân cận đã có một số biểu hiện suy thoái Sự suy thoái về lượng biểu hiện rõ nhất ở sự suy giảm công suất khai thác ở các bãi giếng khu vực nội thành thành phố Lưu lượng khai thác ở tất cả các bãi giếng ở đây đều giảm hơn so với thiết kế Theo đó, các bãi giếng vùng ven sông Hồng như Yên Phụ, Lương Yên không bị giảm, thậm chí còn tăng công suất khai thác Tất cả các bãi giếng còn lại của bảng trên nằm xa sông Hồng trong khu vực nội thành của thành phố đều bị giảm công suất khai thác so với thiết kế Việc giảm này thể hiện ở việc giảm dần công suất khai thác ở các giếng khoan, có nơi thậm chí phải dừng khai thác ở một số giếng Đến nay công suất khai thác các bãi giếng chỉ đạt từ 69 đến 78% công suất thiết kế Sự suy thoái về lượng còn biểu hiện ở sự giảm mực nước dưới đất theo thời gian, sự mở rộng phễu hạ thấp mực nước dưới đất Theo tài liệu quan trắc mực nước dưới đất liên

Trang 14

tục ở mạng cố định của Trung tâm Quan trắc thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc từ những năm 90 của thế kỉ trước đến nay cho thấy, mực nước ở các lỗ khoan quan trắc trong lòng thành phố bị giảm trong thời kì 1990-2005 với tốc độ trung bình từ 0,3-0,5 đến 0,6-0,8m/năm, làm cho mực nước dưới đất hạ xuống rất sâu như ở Mai Dịch đến 26 m, Hạ đình đến 34 m cách mặt đất Từ năm 2005 đến nay do giảm công suất khai thác nên mực nước dưới đất không giảm nữa Việc hạ thấp mực nước dẫn đến hình thành phễu

hạ thấp bao trùm lên các công trình khai thác Cùng với sự giảm dần mực nước theo thời gian, phễu hạ thấp mực nước cũng được mở rộng dần Nếu lấy giới hạn vùng có

độ cao mực nước thấp hơn 0 m so với mực nước biển là vùng bị ảnh hưởng do khai thác thì diện tích vùng này vào đầu những năm 90 của thế kỉ trước chỉ khoảng 200 km2

nay đã tăng lên đến trên 250 km2 cũng là những biểu hiện của sự suy thoái về lượng Nguyên nhân của sự suy thoái nguồn nước dưới đất chính là do quá trình đô thị hóa Việc bê tông và aphan hóa bề mặt đã làm giảm hoặc triệt tiêu nguồn cung cấp cho nước dưới đất Các công trình xây dựng lớn, nhà cao tầng với các móng sâu làm cản trở dòng chảy cũng ảnh hưởng rất lớn đến nguồn cung cấp và cũng là nhân tố đáng kể làm suy thoái tài nguyên nước dưới đất về lượng Tài nguyên nước bị nhiễm bẩn chủ yếu do chất thải tăng lên quá nhiều Việc khai thác nước quá mức, làm cho mực nước

hạ xuống sâu, tốc độ thấm tăng lên đồng nghĩa với việc các chất bẩn được chuyển tải một cách nhanh lên Việc khai thác ở trong lòng thành phố, ở các vùng có nhiều nguồn gây bẩn ở trên mặt thì càng nhiễm bẩn nhanh hơn

Hậu quả của hạ thấp mực nước là sụt lún bề mặt đất, làm hư hỏng, phá hủy cơ sở

hạ tầng và nhiều vấn đề khác liên quan đến môi trường địa chất cũng như đời sống xã hội vv… Bởi vậy, việc nghiên cứu nguyên nhân, hiện trạng gây hạ thấp mực nước, từ

đó đề ra giải pháp thích hợp để hạn chế hoặc loại trừ những tác động bất lợi của hiện tượng này là hết sức cần thiết và cấp bách

1.2 Tình hình nghiên cứu địa chất, địa chất thủy văn

Trong vài chục năm trở lại đây, vấn đề liên quan đến nước sạch trở lên rất cấp thiết Do đó, có nhiều công trình nghiên cứu nước dưới đất với quy mô đa dạng, nội dung phong phú đã và đang được các nhà nghiên cứu tiến hành

Từ năm 1983 đến năm 1988, Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Bắc đã hoàn thành

đo vẽ bản đồ địa chất nhóm tờ Hà Nội, Hà Đông - Hoà Bình và nhóm tờ Thành phố Hà

Trang 15

Nội (1994) tỷ lệ 1:50.000 đã phân chia và mô tả khá chi tiết các phân vị địa tầng Trong đó các thành tạo trầm tích Đệ Tứ ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội bao gồm các hệ tầng Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Hưng và Thái Bình Trong công trình này đã phân chia và đánh giá sơ bộ các tầng chứa nước Ngoài ra trong phạm vi khu vực nghiên cứu có các Liên đoàn, Đoàn địa chất số 6, 29, 79, 51, 54 và 64 đã tiến hành nhiều công tác thăm dò mỏ, điểm khoáng sản, thăm dò, quan trắc và khai thác nước dưới đất

Từ năm 1993, Trần Minh[7] đã đưa ra kịch bản khi thành phố Hà Nội khai thác nước dưới đất với lưu lượng 796.038m3/ngày.đêm thì sau 0.5 năm khu vực Hoài Đức

sẽ lún khoảng 4-5cm, cá biệt khu Chợ Canh lún 7.268cm, sau 2 năm khu vực Hoài Đức lún hơn 6cm và sau 5 năm lún 13,530cm Mặc dù chưa có tính toán cho khu khu vực huyện Quốc Oai song nó khá gần với khu vực Hoài Đức và có đặc điểm cấu trúc địa chất tương đồng với nhau nên thì có thể dự đoán rằng khu vực trung tâm huyện Quốc Oai cũng có mức độ lún tương tự

Sau khi xảy ra hiện tượng sụt lún tại huyện Quốc Oai (2008), Viện Địa chất và Khoáng sản - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tai biến địa chất sụt lún mặt đất và đề xuất giải pháp xử lý tại Km16, Tỉnh lộ 419 thuộc thị trấn Quốc Oai”, đã tiến hành khoan thăm dò, điều tra các các công trình khai thác nước dưới đất trong khu vực lân cận Kết qủa cho thấy tại thị trấn Quốc Oai số lượng giếng khoan tay (giếng Unicep) là 35 giếng với độ sâu <40 m và số lượng giếng khoan máy

là 24 giếng với độ sâu từ 40-70 m và một số giếng cấp nước tập trung khác Số lượng các giếng khoan <40 m (khai thác nước trong tầng chứa nước lỗ hổng) trước đây vẫn khai thác nước bình thường thì hiện nay lưu lượng nước giảm đi đáng kể, ít nước một số giếng đã bỏ không dùng được, nhiều hộ dân đã phải khoan thêm các giếng khoan sâu hơn vào tầng đá vôi để khai thác nước Các giếng khoan khai thác nước có độ sâu

>45 m đều là các lỗ khoan khai thác nước trong tầng chứa nước khe nứt và hang hốc karst trong đá vôi của hệ tầng Đồng Giao, bề dày khoan vào trong đá vôi của các giếng

ở đây thay đổi từ 4-30 m, lưu lượng nước trong tầng này khá phong phú Tại khu vực này mật độ khoan khai thác nước trong cả tầng chứa nước lỗ hổng và tầng chứa nước đá gốc đều rất cao Việc khoan và khai thác nước ở đây đều là tự phát và xuất phát từ nhu cầu sử dụng nước và không được kiểm soát [6] Lưu lượng khai thác nước trung

Trang 16

bình 1m3/giếng.ngày, cá biệt có gia đình lên tới 3-5m3/giếng.ngày Theo số liệu thống

kê chưa đầy đủ thì trên địa bàn huyện Quốc Oai có hàng trăm giếng khoan

Gần đây, tác giả Nguyễn Văn Bình và nnk đã nghiên cứu đặc điểm địa chất, địa chất công trình - địa chất thủy văn và các tai biến địa chất tiềm ẩn liên quan trong quá trình đô thị hóa tại khu phía Tây thành phố Hà Nội, phân tích ảnh hưởng của tầng đất yếu và mức độ khai thác nước ngầm trong khu vực và mối liên quan của chúng với hiện tượng lún mặt đất và phân tích ảnh hưởng của lún mặt đất đến các công trình xây dựng.[9]

Các nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ đặc điểm địa chất thủy văn của khu vực Tuy nhiên trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa tăng nhanh thì việc đánh giá chi tiết nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất để từ đo đưa ra các giải pháp quản lý, quy hoạch khai thác hợp lý là cần thiết và cấp bách

1.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội khu vực Quốc Oai

1.3.1 Vị trí khu vực nghiên cứu

Huyện Quốc Oai nằm ở phía Tây Hà Nội, có tọa độ địa lý như sau: Vĩ độ Bắc: từ

20054’ đến 21004’ ; Kinh độ Đông: từ 105030’ đến 105043’50’’ (hình1)

Hình 1.1 Sơ đồ khu vực huyện Quốc Oai

(Nguồn trường đại học khoa học tự nhiên)

Trang 17

Quốc Oai cách Thủ đô Hà Nội 30 km về phía Tây, cách quận Hà Đông 18 km và thị xã Sơn Tây 24km Diện tích tự nhiên của Quốc Oai vào khoảng 147 km2 bao gồm Thị trấn Quốc Oai và 20 xã Ranh giới địa lý cụ thể như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ và huyện Thạch Thất

- Phía Nam giáp huyện Chương Mỹ

- Phía Đông giáp huyện Hoài Đức

- Phía Tây giáp huyện Lương Sơn

1.3.2 Khí hậu, thời tiết

Khí hậu vùng nghiên cứu có 2 mùa rõ rệt: mùa đông khô, lạnh và mùa hè nóng

ẩm Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 240C, lượng mưa trung bình là 1650 - 1800mm Do đặc điểm của địa hình, địa mạo, Quốc Oai có 2 tiểu vùng khí hậu khác

nhau, gồm:

Vùng đồng bằng: nằm phía Đông sông Tích, độ cao chủ yếu dưới 10m, mang đặc điểm khí hậu đồng bằng Nhiệt độ trung bình năm 23,80C, cao nhất (tháng 6) là 37,50C; thấp nhất (tháng 1) là 140C Trong năm có khoảng 1600 - 1700 giờ nắng, độ

ẩm trung bình là 82 - 86%

Vùng đồi gò: nằm phía Tây sông Tích, độ cao trung bình 15 - 50mm, thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả trong điều kiện tưới ở vùng gò đồi khá khó khăn

Nhìn chung, Quốc Oai có điều kiện khí hậu thuận lợi, đa dạng hóa ngành nông nghiệp và phát triển các sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao phục vụ nhân dân, cung cấp cho thị trường Hà Nội và các vùng lân cận

1.3.3 Đặc điểm địa hình

Huyện Quốc Oai nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miềm núi và đồng bằng, bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi nên địa hình khá phức tạp Địa hình thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 m so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, phần diện tích tự nhiên của Quốc Oai chủ yếu

là đồng bằng, còn lại là một phần nhỏ diện tích đồi núi Địa hình khu vực huyện Quốc Oai được chia thành 3 vùng chính:

- Vùng đồi thấp: gồm 4 xã: Phú Cát, Phú Mãn, Hòa Thạch,Đông Yên là vùng bán sơn địa, đất gò đồi có độ cao phổ biến từ 20-25 m, cốt đất dưới ruộng từ 7-10 m

Trang 18

- Vùng nội đồng gồm 7 xã: Ngọc Mỹ, Thạch Thán, Nghĩa Hương, Cấn Hữu, Ngọc Liệp, Tuyết Nghĩa, Liệp Tuyết có độ cao từ 5-7 m, có xu hướng giảm dần về phía Tây Nam

- Vùng ven sông Đáy: gồm thị trấn Quốc Oai và 8 xã: Yên Sơn, Cộng Hòa, Đại Thành, Đồng Quang, Tân Hòa, Tân Phú, Phượng Cách, Sài Sơn có độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Ngoài ra tại đây cũng tồn tại dạng địa hình karst với diện tích rất nhỏ, phát triển trên các đá cacbonat hệ tầng Đồng Giao tại Núi Trầm và núi Hoàng Xá Địa hình karst ở đây có độ cao 50-100 m, tạo các vách dựng đứng, các hệ thống hang hốc karst, các phễu và hố sụt karst

1.3.4 Mạng lưới thủy văn

Trên địa bàn huyện có các sông chảy qua là sông Đáy và sông Tích, chế độ thủy văn của huyện phụ thuộc vào sông Hồng, sông Đáy, sông Tích và nhiều ao hồ khác Sông Hồng tuy không chảy qua địa phận Quốc Oai nhưng mực nước sông Hồng ảnh hưởng trực tiếp đến việc tưới tiêu cho hơn 1000ha ở vùng ven sông Đáy Nếu nước sông Hồng lên cao phân lũ qua sông Đáy thì vùng ven Đáy khó khăn trong việc tiêu nước

+ Sông Đáy là phân lưu phía hữu ngạn của sông Hồng, chảy qua địa phận huyện Quốc Oai 15 km, độ uốn khúc của sông lớn, bị bồi lấp mạnh Hiện tại sông Đáy là nguồn cung cấp nước tưới tiêu quan trọng cho đồng ruộng của huyện

+ Sông Tích (còn gọi là sông Tích Giang) - phụ lưu cấp I của sông Đáy, chảy qua địa phận Quốc Oai 18 km Sông Tích có độ dốc lưu vực và độ dốc khá lớn, có thể gây hiện tượng lũ lụt, ảnh hướng đến tiêu úng của huyện

1.3.5 Điều kiện kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu

1.3.5.1 Kinh tế

Huyện Quốc Oai có tuyến giao thông trọng yếu chạy qua là Đại lộ Thăng Long nên có nhiều lợi thế phát triển các khu đô thị và công nghiệp Khai thác lợi thế trên địa bàn huyện, những năm gần đây, cơ cấu kinh tế huyện Quốc Oai đang chuyển dịch theo hướng tích cực, dần dần hòa vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra sôi động trên khắp đất nước

Những năm qua, huyện chủ trương chú trọng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiệu quả bền vững, phá bỏ thế độc canh cây lúa, tiến tới đa canh để thích ứng với địa hình đa dạng của địa phương nhằm phát triển những mô hình nông nghiệp

Trang 19

khác nhau, gắn với thế mạnh của từng vùng, tạo hiệu quả kinh tế cao nhất Trong đó vùng chủ yếu phát triển cây ăn quả, rau màu, chăn nuôi bò, trồng lúa

Bên cạnh đó, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp cũng được chú trọng hơn, song

đa số vẫn sản xuất theo quy mô nhỏ Tuy nhiên, đây sẽ là ngành kinh tế phát triển rất mạnh trong tương lai gần khi một loạt các dự án xây dựng cụm công nghiệp, khu công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp được triển khai và đi vào hoạt động

Định hướng phát triển của Quốc Oai trong những năm tới là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước xây dựng nền kinh tế địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở giữ vững tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp địa phương và lĩnh vực dịch vụ - du lịch

1.3.5.2 Dân số

Quốc Oai có tổng dân số là 163.714 người (2008), mật độ dân số là 1.114người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2005 là 1,28% đến năm 2007 giảm xuống còn 1,15% Tuy nhiên, đến năm 2008 do tỷ lệ sinh con thứ 3 có xu hướng tăng hơn, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tăng lên đến 1,26% ( bảng 1.1)

Dân cư trong vùng chủ yếu là người Kinh, sống tập trung tại các xã và thị trấn dọc theo đường quốc lộ, tỉnh lộ Gần đây, trong khu vực đã tiếp nhận một lực lượng khá đông đảo lao động nhập cư đến sinh sống và làm việc tại các khu công nghiệp Ở thị trấn Quốc Oai, mật độ dân cư tăng đột biến với khoảng hơn 2000 người/km2 đến

(Nguồn: Niên giám thống kê 2007 - 2008 huyện Quốc Oai)

1.3.5.3 Quy hoạch không gian ở khu vực lân cận của huyện Quốc Oai

Theo quy hoạch Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, khu vực nội thành Hà Nội là đô thị hạt nhân - đa chức năng Các đô thị vệ tinh có chức năng riêng

Trang 20

biệt hỗ trợ đô thị hạt nhân phát triển tạo thành chùm đô thị vệ tinh xung quanh đô thị hạt nhân ( Hình 1.2)

Hình 1.2 Quốc Oai trong Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội

(Nguồn trường đại học khoa học tự nhiên)

Phía Tây thành phố Hà Nội, dọc theo đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 21, có rừng Quốc gia Ba Vì, Hương Tích sẽ phát triển đô thị vệ tinh và các khu du lịch nghỉ dưỡng, khu công nghệ cao, một số công trình đầu mối hạ tầng kĩ thuật lớn Tại đây sẽ

có 2 đô thị vệ tinh là: Hòa Lạc và Xuân Mai có dân số từ xấp xỉ từ 21vạn đến 75 vạn người/đô thị Trong đó, Hòa Lạc là đô thị khoa học, Xuân Mai là đô thị đại học và dịch

vụ cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội

Trong tương lai, xây dựng đường cảnh quan Bắc - Nam và 3 đô thị sinh thái mật

độ thấp là Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn (khoảng 5 vạn người/đô thị) tại giao cắt của

3 tuyến Quốc lộ 6, Đại lộ Thăng Long và Quốc lộ 32 Duy trì các thị trấn hiện hữu như Vân Đình, Đại Nghĩa và hình thành một số thị tứ mới

Thành phố Hà Nội đã định hướng nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới là hoàn chỉnh qui hoạch chung xây dựng các quận, huyện, thị xã (trọng tâm là khu vực phía Tây, Tây Nam của thành phố); tuyến vành đai 4 - trục đường quan trọng nối trung tâm thủ đô với các đô thị vệ tinh và các tuyến đường sắt đô thị cũng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị theo định hướng về phía Tây, Tây Nam của thành phố Hà Nội

Trang 21

Đánh giá:

- Thuận lợi:

Nằm trên trục không gian và cảnh quan phát triển của thủ đô Hà Nội và chuỗi đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hòa Lạc - Sơn Tây, có đường cao tốc Láng - Hòa Lạc chạy qua Do đó, Quốc Oai có những điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển công nghiệp và đô thị kéo theo những tiềm năng cho đầu tư xây dựng, phát triển các công trình

Với những điều kiện thuận lợi về đất đai, địa hình, khí hậu cho phép Quốc Oai phát triển nền nông nghiệp, cung cấp các sản phẩm mà thị trường đô thị cần như lương thực, thực phẩm, hoa quả, rau sạch, cây cảnh tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Các cảnh quan, di tích lịch sử văn hóa cũng

là điều kiện thuận lợi cho phát triển hoạt động du lịch

- Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi do quá trình phát triển đô thị mang lại, nó còn gây ra không ít khó khăn Quá trình sản xuất công nghiệp cùng với đời sống sinh hoạt làm cho nhu cầu sử dụng nước tăng cao dẫn tới việc khai thác quá mức Hơn nữa chất thải chưa được xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước Ngoài ra, huyện còn gặp không ít trở ngại cho đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi để chủ động tưới tiêu, phục vụ đời sống sản xuất trên địa bàn Tài nguyên rừng đang có nguy cơ suy giảm, đất đai dần bị thoái hóa do xói mòn, rửa trôi gây trở ngại cho sản xuất nông, lâm nghiệp

1.4 Cấu trúc địa chất

Về phương diện địa chất vùng này nằm ở rìa trũng Sông Hồng, có cấu tạo hai tầng: Tầng móng gồm các thành tạo phun trào thuộc hệ tầng Viên Nam (T1vn), hệ tầng

Tân Lạc (T1o lt) và thành tạo cacbonat hệ tầng Đồng Giao (T2a đg) Tầng móng bị các

đứt gãy phân cắt ra các khối tảng và sụt lún yếu trong tân kiến tạo Tầng phủ chủ yếu cấu tạo từ các trầm tích Đệ tứ thuộc các hệ tầng Vĩnh Phúc, Thái Bình với bề dày không lớn (từ 38 đến 65 m) gắn kết yếu

Các hệ tầng phân chia từ cổ đến trẻ như sau: Hệ tầng Viên Nam, Tân Lạc, Đồng Giao, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Hưng và Thái Bình được thể hiện qua hình

Trang 22

Hình 1.3 Cột địa tầng địa chất của vùng

1.4.1 Các thành tạo địa chất trước Đệ tứ

1.4.1.1 Hệ tầng Viên Nam (T 1 vn):

Diện lộ khoảng 110 km2, phân bố chủ yếu ở phía Tây của huyện Thành phần thạch học chủ yếu bao gồm các đá phun trào bazan, spilit có lẫn tù, đá phiến sét, đá vôi phân lớp Mặt cắt chuẩn của hệ tầng được chỉ định là mặt cắt từ núi Viên Nam đến làng Cổ Đông do Hồ Trọng Tý mô tả gồm 4 tập:

1 Basal, basalt porphyr màu xám lục sẫm và tuf của chúng: dày 250 m Basalt thường có cấu tạo hạnh nhân lấp đầy chlorit, calcit và thạch anh

2 Basalt porphyr, tuf aglomerat màu xám lục nhạt; dày 170 – 200 m

Mảnh tuf trong aglomerat có kích thước khác nhau gắn kết lại bằng tuf hạt mịn

3 Basal olivin, basal porphyrxen với tuf màu lục, xám lục có cấu trúc hạnh nhân không đều; dày 150 m

4 Basalt porphyr xám lục sẫm xen cát kết chứa tuf phân lớp dày, màu xám sáng; dày 200 m Tập này có dấu hiệu chuyển tiếp lên các lớp chứa hóa thạch Olenec của hệ

Ngày đăng: 06/07/2017, 21:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Ngô Quang Toàn (1995), "Đặc điểm trầm tích và lịch sử phát triển các thành tạo Đệ tứ ở phần Đông Bắc đồng bằng sông Hồng", Luận án PTS, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội, 165 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm trầm tích và lịch sử phát triển các thành tạo Đệ tứ ở phần Đông Bắc đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Ngô Quang Toàn
Năm: 1995
1. Ngô Quang Toàn (1989), "Báo cáo địa chất và khoáng sản thành phố Hà Nội tỷ lệ 1:50.000&#34 Khác
2. Ngô Quang Toàn (1991), "Đặc điểm địa chất Đệ tứ vùng Hà Nội và các khoáng sản liên quan&#34 Khác
3. Ngô Quang Toàn (1994), "Báo cáo địa chất và khoáng sản nhóm tờ phụ cận Hà Nội&#34 Khác
5. Nguyễn Văn Dũng (1999), "Báo cáo kết quả nghiên cứu tai biến địa chất sụt lún mặt đất và đề xuất giải pháp xử lý tại KM16, TL419 thuộc thị trấn Quốc Oai thành phố Hà Nội&#34 Khác
6. Trần Đăng Tuyết và nnk (1988), "Báo cáo địa chất nhóm tờ Hà Đông- Hòa Bình, tỷ lệ 1:50.000&#34 Khác
7. Trần Minh (1993), "Báo cáo kết quả thăm dò tỉ mỉ của nước ngầm trong khu vực Hà Nội mở rộng&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w