1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận cuối kỳ Xã hội học sức khỏe: ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH VÀ SỨC KHỎE, BỆNH TẬT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI CƯ ĐẾN HÀ NỘI

23 348 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 591,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi sinh viên (hoặc nhóm 2 sinh viên) thực hiện một phỏng vấn người dân Hà Nội (có thể gia đình mình, hoặc người di cư về Hà Nội) về đời sống gia đình và sức khỏe, bệnh tật. 1. Có địa chỉ, điện thoại, hình ảnh của người được phỏng vấn 2. Nội dung: – Tìm hiểu về loại hình gia đình, quy mô gia đình – Điều kiện nhà ở: loại nhà, diện tích, môi trường xung quanh – Về mức sống: Thu nhập, chi tiêu (chi tiêu cho ăn uống, khám chữa bệnh) – Về giáo dục: trình độ học vấn, Chuyên môn kỹ thuật của các thành viên trong gia đình – Đời sống văn hóa tinh thần: nhu cầu, thói quen xem TV, phim ảnh,..v.v – Tình hình sức khỏe, bệnh tật: lịch sử sức khỏe, bệnh tật của các thành viên gia đình. – Chăm sóc sức khỏe: khi có người đau ốm, ai là người chăm sóc? Khi khám chữa bệnh thì đến đâu? (Trạm xá, bệnh viện huyện, Bệnh viện Trung ương, phòng khám tư nhân, bệnh viện tư…). Lý do lựa chọn nơi Khám chữa bệnh? 3. Sản phẩm: bài viết như một tiểu luận, cùng với Phụ lục (biên bản phỏng vấn, hình ảnh), Tài liệu tham khảo có liên quan.

Trang 1

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA XÃ HỘI HỌC

-   -

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE GIẢNG VIÊN: PGS TS HOÀNG BÁ THỊNH

ĐỀ TÀI: ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH VÀ SỨC KHỎE, BỆNH TẬT

CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI CƯ ĐẾN HÀ NỘI

Họ và tên: Nguyễn Việt Anh

Mã sinh viên: 12031110

Lớp: K5 7 Xã hội học

Hà Nội, tháng 12/2014

Trang 2

YÊU CẦU

Mỗi sinh viên (hoặc nhóm 2 sinh viên) thực hiện một phỏng vấn người dân Hà Nội (có thể gia đình mình, hoặc người di cư về Hà Nội) về đời sống gia đình và sức khỏe, bệnh tật

1 Có địa chỉ, điện thoại, hình ảnh của người được phỏng vấn

2 Nội dung:

– Tìm hiểu về loại hình gia đình, quy mô gia đình

– Điều kiện nhà ở: loại nhà, diện tích, môi trường xung quanh

– Về mức sống: Thu nhập, chi tiêu (chi tiêu cho ăn uống, khám chữa bệnh)

– Về giáo dục: trình độ học vấn, Chuyên môn kỹ thuật của các thành viên trong gia đình

– Đời sống văn hóa tinh thần: nhu cầu, thói quen xem TV, phim ảnh, v.v

– Tình hình sức khỏe, bệnh tật: lịch sử sức khỏe, bệnh tật của các thành viên gia đình

– Chăm sóc sức khỏe: khi có người đau ốm, ai là người chăm sóc? Khi khám chữa bệnh thì đến đâu? (Trạm xá, bệnh viện huyện, Bệnh viện Trung ương, phòng khám tư nhân, bệnh viện tư…) Lý do lựa chọn nơi Khám chữa bệnh?

3 Sản phẩm: bài viết như một tiểu luận, cùng với Phụ lục (biên bản phỏng vấn, hình ảnh), Tài liệu tham khảo có liên quan

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Cơ sở lý luận 5

3.1 Thao tác hóa các khái niệm 5

3.2 Các lý thuyết sử dụng 6

4 Phương pháp thu thập thông tin 7

PHẦN II: NHỮNG PHÁT HIỆN VÀ BÀN LUẬN 9

1 Về nhà ở và định cư 9

2 Về việc làm và thu nhập 10

3 Về tình hình sức khỏe và tiếp cận các dịch vụ công 11

4 Về đời sống văn hóa tinh thần – hòa nhập xã hội 12

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 13

PHẦN IV: PHỤ LỤC 15

1 Biên bản phỏng vấn sâu 15

2 Hình ảnh liên quan 23

3 Danh mục tài liệu tham khảo 23

Trang 4

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, số lao động di cư từ nông thôn ra thành phố ngày càng tăng Ngày càng có nhiều người nhập cư vào các đô thị, nhất là các đô thị lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh , làm cho các đô thị trở nên quá tải Thủ đô Hà Nội với tốc độ đô thị hóa nhanh và thị trường lao động đa dạng đã trở thành nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố thu hút người di cư đến với mục đích tìm kiếm việc làm, thu nhập cao, có cơ hội học tập để nâng cao trình độ, cùng với những điệu kiện sinh hoạt và các dịch vụ xã hội tốt hơn Theo số liệu thống kê dân số Hà Nội qua các năm thì năm

2001 tỷ lệ tăng dân số cơ học là 0.59% (tương đương 16985 người), đến năm 2010, tỷ

lệ tăng dân số cơ học đã tăng lên 1.55% (tương đương 52588 người) Như vậy, xu thế chung trong những năm tới là số lượng người lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội vẫn tăng lên một cách nhanh chóng

Thế nhưng, vấn đề người lao động ngoại tỉnh di cư ồ ạt vào Hà Nội đang phải đối mặt với những thách thức hết sức to lớn Một trong những vấn đề nhận được nhiều

sự quan tâm hiện nay chính là đời sống gia đình và tìn hình sức khỏe - bệnh tật của người di cư Với số vốn ít ỏi, không được đào tạo bài bản dẫn đến việc người lao động

di cư gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm và có thu nhập thấp Họ là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, luôn phải đối mặt với các nguy cơ như điều kiện sinh hoạt không đảm bảo, thu nhập bấp bênh, sức khỏe bị suy giảm, khả năng tiếp cận với các dịch vụ giáo dục – y tế – văn hóa hạn chế… Mặc dù Đảng và Nhà nước đã dành nhiều

sự quan tâm hơn cho nhóm đối tượng này nhưng trên thực tế, những khó khăn mà người di cư gặp phải vẫn còn rất lớn Chính vì những lẽ đó mà tôi lựa chọn đề tài:

“Đời sống gia đình và sức khỏe – bệnh tật của người lao động di cư đến Hà Nội”, dựa trên cách tiếp cận của Xã hội học sức khỏe, với mong muốn tìm hiểu thực trạng đời sống của người lao động di cư ở Hà Nội, qua đó đề xuất những khuyến nghị nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống nói chung và chăm sóc sức khỏe nói riêng của những người lao động di cư

2 Mục tiêu nghiên cứu

1 Tìm hiểu thực trạng về điều kiện sống, tình hình sức khỏe – bệnh tật của người lao động nhập cư tại Hà Nội

Trang 5

2 Tìm hiểu khả năng tiếp cận cơ hội việc làm, các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa – giải trí, khả năng hòa nhập xã hội cùng các chính sách hỗ trợ đối với người lao động nhập cư tại Hà Nội

3 Đưa ra những khuyến nghị nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động nhập cư tốt hơn và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho những người lao động nhập cư tại Hà Nội nói riêng

Cách tiếp cận thứ ba thuộc về xu hướng Phân tâm và Nhân văn, cho rằng sức khỏe là trạng thái lý tưởng, chuẩn sức khỏe là trạng thái lý tưởng của các chức năng

“Cái Tôi” (Phân tâm học) hoặc trạng thái hiện thực hóa bản thân hoàn toàn của nhân cách (Tâm lý học nhân văn)

Cách tiếp cận thứ tư là xem xét sức khỏe thông qua mức độ tích cực của cá nhân và tăng cường sức khỏe có nghĩa là tăng tính tích cực hoạt động của cá nhân

Theo Gundarov, “Sức khỏe là một trạng thái sống tích cực, yêu đời nhằm đảm bảo chất lượng sống và kéo dài cuộc sống”

Theo E Durkheim, “Sức khỏe là trạng thái một cơ thể mà các cơ may đã đạt tới mức tối đa của chúng, còn bệnh tật, ngược lại, là tất cả những gì có hiệu quả làm giảm các cơ may đó” (Cơ may sống sót của chúng ta)

1 Nguyễn Thị Minh Hằng, 2014, Tập bài giảng Tâm lý học sức khỏe, Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQGHN

Trang 6

Còn theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “Sức khỏe là trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh tật hay đau yếu.”

3.1.2 Di cư

Hiện nay có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về di cư

Theo Báo cáo “Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam – Thực trạng xu hướng và những khác biệt” của Tổng cục thống kê (2011), thì người di cư được định nghĩa là những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại Người không di cư là những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra cũng là nơi thường trú hiện tại

Theo tổ chức di cư quốc tế IMO thì: “Di cư là sự chuyển dịch dân số bao gồm bất kỳ sự dịch chuyển nào của một người hay một nhóm người kể cả qua biên giới quốc gia hay trong một quốc gia Là một sự di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và người di chuyển vì mục đích khác (trong đó có đoàn tụ gia đình) Định nghĩa này đã chỉ ra phạm vi cần thiết để xác định các loại hình di cư, nguyên nhân di cư Đồng thời định nghĩa trên đưa ra loại hình di cư bao quát nhất về loại hình di cư tại Việt Nam

3.2 Các lý thuyết sử dụng

Nghiên cứu sử dụng quan điểm xung đột trong tiếp cận vấn đề sức khỏe:

Sự bất bình đẳng xảy ra trong việc tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc, vì lợi nhuận kinh tế Bất bình đẳng là do sự phân tầng xã hội, phân biệt chủng tộc và giai cấp Quan điểm này cho rằng sức khỏe tốt là một giá trị gắn liền với quyền lực và sự giàu

có Chính tính thương mại trong hệ thống y tế đang tạo ra sự bất bình đẳng

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), có khoảng 1 tỉ người có tình trạng sức khỏe kém vì nghèo đói Vệ sinh kém, điều kiện sống thiếu thốn là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sức khỏe Người nghèo thường sinh nhiều con, chính vì vậy cuộc sống của

họ nằm trong vòng luẩn quẩn khi những đứa trẻ họ sinh ra lại phải tiếp tục chịu cuộc sống nghèo đói Theo thống kê có tới 10% trẻ em sinh ra trong các gia đình nghèo tử vong khi chưa đầy 1 tuổi

Trang 7

Người nghèo ít có cơ hội chăm sóc sức khỏe (chăm sóc sinh khỏe sinh sản cho

bà mẹ - em bé, tới các cơ sở chữa bệnh uy tín để thăm khám,…) Những nhóm có hoàn cảnh kinh tế kém hơn thì sức khỏe cũng kém hơn Khả năng tiếp cận với giáo dục và các dịch vụ y tế của họ cũng hạn chế hơn rất nhiều Chính vì vậy, những nhóm nghèo cần sự chăm sóc sức khỏe nhiều hơn

Người nghèo thiếu nguồn lực nên bắt buộc phải sử dụng hàng rẻ, kém chất lượng Người nghèo không quan tâm đến dinh dưỡng vì thiếu tiền, thiếu kiến thức và thông tin Sự lựa chọn hợp lý trong bối cảnh bất hợp lý: Mua những thức ăn mà con mình thích nhưng thức ăn này có khi lại có hại cho sức khỏe

Áp dụng quan điểm này vào vấn đề nghiên cứu, có thể thấy được rằng: Những lao động di cư từ vùng nông thôn lên đô thị để kiếm việc làm thường là những người

có mức sống thấp, bản thân không có điều kiện kinh tế và không thể tiếp cận được với các dịch vụ y tế có chất lượng cao, những công nghệ y học hiện đại Họ là nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị thương tổn Điều kiện sống ảnh hưởng rất nhiều đến việc chăm sóc sức khỏe của họ, đây là vấn đề cần được quan tâm xem xét

4 Phương pháp thu thập thông tin

4.1 Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích sử dụng của phương pháp này là thu thập những thông tin có chiều sâu từ phía khách thể nghiên cứu Câu hỏi sử dụng trong phỏng vấn sâu chủ yếu là những câu hỏi mở có tính chất gợi mở vấn đề cho người trả lời chia sẻ không chỉ những thông tin cần thiết mà cả những đánh giá, thái độ của họ về những vấn đề cần nghiên cứu Thông tin này được sử dụng trong phần nội dung chính và có vai trò làm

rõ hơn, sâu hơn những nội dung phân tích Quá trình thực hiện các phỏng vấn sâu gồm

có hai giai đoạn:

– Phỏng vấn sâu có tính chất thăm dò, thu thập những thông tin để từ đó có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu Sau đó, chúng tôi sử dụng những thông tin

đó để chỉnh sửa lại nội dung bảng hỏi cho phù hợp với mục đích của nghiên cứu

– Phỏng vấn sâu cung cấp những thông tin có chiều sâu được sử dụng để phân tích trong phần nội dung chính

Xây dựng đề cương phỏng vấn sâu

Trang 8

– Mục tiêu phỏng vấn: Tìm hiểu về thực trạng về điều kiện sống, tình hình sức

khỏe – bệnh tật của người lao động nhập cư tại Hà Nội ; khả năng tiếp cận cơ hội việc làm, các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa – giải trí, khả năng hòa nhập xã hội cùng các chính sách hỗ trợ đối với người lao động nhập cư tại Hà Nội

– Chọn mẫu: Thực hiện phỏng vấn sâu đối với một người lao động di cư vào Hà Nội

– Nội dung phỏng vấn sâu:

1 Thông tin cá nhân (đặc điểm nhân khẩu xã hội) của người được phỏng vấn:

– (Ghi nhận giới tính), họ tên, tuổi, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, tình trạng

hôn nhân, số con, nghề nghiệp,…

– Đặt một vài câu hỏi chung nhất để người được phỏng vấn kể một số thông tin

về bản thân cũng như gia đình, qua đó tiếp tục tìm hiểu các nội dung sau đây:

2 Về việc làm và thu nhập

– Những khó khăn trong tìm kiếm việc làm, trong thích ứng với công việc ở thành

phố? Nguyên nhân từ đâu?

– Hỏi về nhu cầu đào tạo nghề? Lý do tại sao?

– Đánh giá mức thu nhập hiện tại so với công sức bỏ ra?

– Đánh giá sự đắt đỏ trong chi tiêu ở thành phố? Những khoản phải chi nhiều hơn

so với dân bản địa?

3 Nhà ở và định cư

– Những khó khăn gặp phải trong việc tìm nhà ở, trong đăng ký hộ khẩu?

– Ý kiến về sự hài lòng với nhà ở, tiện nghi sinh hoạt? Những bất tiện về sinh

hoạt, nơi ở?

– Hỏi ý kiến đánh giá về tình hình an ninh trật tự nơi sinh sống? Vấn đề người lao

động di cư sa ngã vào các tệ nạn xã hội?

4 Tình hình sức khỏe và việc tiếp cận các dịch vụ công

– Lịch sử sức khỏe, bệnh tật của các thành viên trong gia đình?

– Khi có người đau ốm ai là người chịu trách nhiệm chăm sóc trong gia đình? – Cách thức chữa bệnh phổ biến nhất được áp dụng khi bị ốm đau? Tại sao?

– Cách thức giữ gìn sức khỏe trong điều kiện lao động ở thành phố?

5 Đời sống văn hóa tinh thần và hòa nhập xã hội

– Nhu cầu tham gia các hoạt động văn hóa – giải trí? Sự tham gia các hoạt động

văn hóa ở địa phương? Tại sao?

– Cảm nhận khi tiếp xúc với người dân bản địa, với chính quyền?

Trang 9

– Có tự tin khi giải quyết các khó khăn gặp phải trong cuộc sống ở thành phố

không? Tại sao?

4.2 Phương pháp quan sát

Nội dung quan sát: Điều kiện sinh hoạt của người được phỏng vấn (Loại hình nhà ở, diện tích, các tiện nghi trong nhà, môi trường xung quanh nhà,…)

4.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu, dựa trên việc phân tích nguồn tài liệu liên quan đến xã hội học sức khỏe nói chung và vấn đề sức khỏe của người lao động nhập cư tại các thành phố lớn hiện nay nói riêng

PHẦN 2: NHỮNG PHÁT HIỆN VÀ BÀN LUẬN

Người được phỏng vấn là cô Vũ Thị D., 32 tuổi, quê ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, trình độ học vấn hết lớp 8, nghề nghiệp là bán bánh mì dạo Gia đình cô gồm có năm thành viên: bà Phùng Thị T (62 tuổi, mẹ chồng cô D), chú Nguyễn Đức

H (33 tuổi, nghề tự do, chồng cô D), hai em Nguyễn Đức A (6 tuổi, học sinh) và Nguyễn Lâm A (4 tuổi) – 2 con của cô D và cô D Cô D đã di cư lên Hà Nội vào khoảng đầu năm 2011 và một thời gian sau đó thì cả gia đình cô cùng chuyển lên Hà Nội

1 Về nhà ở và định cư

Một trong những khó khăn đầu tiên mà gia đình cô D gặp phải chính là khó khăn về nơi cư trú Quan sát tại địa điểm phỏng vấn sâu kết hợp với những thông tin thu được từ phỏng vấn cho thấy nhà trọ của người được phỏng vấn là loại nhà cấp 4, khá nhỏ và ẩm thấp, diện tích khoảng gần 14m2

Phòng trọ đơn giản, không có tiện nghi gì đáng giá Cả khu sử dụng chung một bể nước và có ba nhà vệ sinh, cống rãnh

lộ thiên rất mất vệ sinh Các điều kiện sinh hoạt như điện, nước, vệ sinh tại nơi ở hiện tại của người được phỏng vấn không được đảm bảo chất lượng Người phỏng vấn cho biết ở nhà trọ nhiều lần mất nước đến 4 – 5 ngày và nguồn nước nhiều khi có cặn, phải dùng vải bịt vào đầu máy nước để lọc lấy nước sạch dùng

Việc tìm nhà trọ là rất khó khăn bởi những nhà trọ tốt thì rất đắt tiền và người lao động không có điều kiện chi trả Những nhà trọ rẻ hơn thì các điều kiện tiện nghi

Trang 10

sinh hoạt lại không tốt Người được phỏng vấn đã phải đổi chỗ trọ một lần do chủ nhà trọ tăng giá thuê nhà.Tình hình an ninh trật tự tại khu trọ cũng không đảm bảo khi xóm trọ có nhiều thành phần người đến thuê nhà, trong đó có cả những người hành nghề mại dâm, những người nghiện hút,… Tình hình trộm cắp cũng rất đáng lo ngại Về hộ khẩu và đăng ký tạm trú: Nhìn chung, người được phỏng vấn không gặp quá nhiều khó khăn trong việc đăng ký tạm trú

Như vậy, là một người nhập cư, cô D phải thuê chỗ ở trong khi vấn đề nhà ở tại

Hà Nội đa phần lại trong tình trạng thả nổi, không có đơn vị nào chỉ đạo, quản lý Điều

đó dẫn đến việc cô phải trả các khoản phí phát sinh khi thuê nhà, tình trạng mất trật tự, thiếu an toàn và ô nhiễm môi trường ở những khu nhà trọ thường xuyên xảy ra Sự sắp xếp nơi ăn chốn ở của người lao động di cư có thể dẫn đến những nguy cơ tổn thương khác nhau Điều kiện sống tạm bợ trong một thời gian dài là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lây nhiễm cho người di cư

2 Về việc làm và thu nhập

Người phỏng vấn cho biết rất khó để có thể xin được việc làm ổn định như đi làm công nhân vì các nhà máy đều đòi hỏi người có tay nghề và có thâm niên Người được phỏng vấn cũng cho biết thêm rằng cô muốn được đào tạo nghề nhưng gặp khó khăn do thiếu thông tin về các lớp đào tạo nghề cho người lao động Trung bình một ngày thu nhập của người được phỏng vấn là khoảng 50 – 70 nghìn đồng Cô cho biết mức thu nhập này tuy không cao bằng đi làm phụ hồ nhưng đỡ vất vả hơn và cũng tạm

đủ sống Với thu nhập bình quân của gia đình là khoảng sáu triệu/ tháng thì theo cô D,

sự chi tiêu ở thành phố là khá đắt đỏ Khoản tiền phải chi nhiều hơn người dân bản địa theo người được phỏng vấn đó là tiền học phí của các con, tiền thức ăn, tiền sinh hoạt điện, nước, khi giá nước ở khu nhà trọ đắt hơn giá nước trung bình rất nhiều Những khoản tiền này đã chiếm phần lớn trong chi tiêu của gia đình nên những chi tiêu dành cho sức khỏe hầu như là không có hoặc rất ít

Như vậy, nếu không có tay nghề, không thể vào làm công nhân ở các nhà máy thì công việc của nhóm di cư lao động tự do là khá bấp bênh Cô D đi bán bánh mì còn chồng cô đi làm phụ hồ/xe ôm – tự dựa trên sức lao động của bản thân, không trực thuộc cơ quan, đoàn thể nào Thu nhập của cô phụ thuộc nhiều vào việc cô có bán được hàng hay không, có nhiều khách hay không, có cạnh tranh được với những người

Trang 11

bán hàng khác hay không… Công việc vất vả, thu nhập thấp, nhiều khi còn phải nhịn

ăn nhịn mặc để lo cho gia đình gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của cô

3 Về tình hình sức khỏe và việc tiếp cận các dịch vụ y tế - chăm sóc sức khỏe, giáo dục

Vấn đề sức khỏe là nỗi lo thứ ba của người lao động nhập cư tại Hà Nội Mặc

dù biết rõ sức khỏe bị giảm sút và lo cho sức khỏe của mình nhưng vì mưu sinh nên người được phỏng vấn vẫn cố gắng đi bán hàng ngay cả khi bị ốm Cô hầu như không đến bệnh viện thăm khám vì sợ ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và không có bảo hiểm y tế Sức ép phải tăng thêm thu nhập được đặt lên trên sức khỏe của bản thân Phương thức chữa bệnh phổ biến nhất khi bị ốm đau là tự mua thuốc về uống Vấn đề sức khoẻ khiến cô D lo lắng: lo sao không bị bệnh tật, lo sao không bị tốn tiền vì bệnh tật và lo sao không phải nghỉ làm vì bệnh tật

Có thể thấy rằng, sự hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, điều kiện sống ở các khu nhà trọ chật chội, tồi tàn, tình trạng dinh dưỡng kém có tác động không nhỏ đến tình trạng sức khoẻ của người lao động nhập cư Ngoài ra người lao động còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nguy cơ - tác hại nghề nghiệp tại nơi làm việc, đặc biệt đối với những người bán hàng rong, thường xuyên phải đi bán hàng ở ngoài trời, trong điều kiện môi trường đô thị hết sức ô nhiễm Họ không có phương thức bảo vệ sức khỏe của mình mà thường chỉ là mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang, đội nón, để tránh nắng tránh mưa Sự dè xẻn trong các chi phí sinh hoạt, chăm sóc sức khoẻ, là nguy cơ tiềm tàng làm suy giảm, thậm chí huỷ hoại sức khoẻ đối với họ

Qua phỏng vấn, thu được kết quả về tình hình sức khỏe cũng như lịch sử bệnh tật của các thành viên khác trong gia đình cô D Nhìn chung, các thành viên trong gia đình cô tương đối mạnh khỏe Mẹ chồng cô D, bà Phùng Thị T, từng bị bệnh rối loạn tiền đình và cũng từng đi điều trị khi gia đình cô còn ở dưới quê Sức khỏe của chồng

cô và hai con nhỏ khá tốt, hai em nhỏ chỉ thỉnh thoảng bị ốm nhẹ Cũng theo cô D thì khi gia đình có người đau ốm, người chịu trách nhiệm chính trong chăm sóc sức khỏe cho người ốm là cô và mẹ chồng cô Như vậy, bên cạnh việc là người lao động sản xuất chính, cô còn phải đảm nhận lao động nuôi dưỡng – chăm sóc các thành viên trong gia đình khi ốm đau mà ít nhận được sự giúp đỡ của những thành viên khác

Bên cạnh đó, kết quả phỏng vấn sâu còn cho thấy: Người được phỏng vấn và gia đình không bị tiêm nhiễm các tệ nạn xã hội tại thành phố nhưng cô biết có nhiều trường hợp người nhập cư bị tiêm nhiễm các tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm, lô

Ngày đăng: 06/07/2017, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w