1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Theo dõi tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, huyện tứ kỳ hải dương và biện pháp phòng trị

62 267 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại hoc Nông Lâm Thái Nguyên và thầy giáo hướng dẫn cùng sự đồng ý tiếp nhận của cơ s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Minh Toàn

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: Thú Y – K44 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Minh Toàn

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em

đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện ngoài sự cố gắng của bản thân, sự động viên từ gia đình ,em còn được sự dạy dỗ, chỉ bảo từ các thầy,cô giáo trường Đại học Nông Lâm, để ngày hôm nay em có thể hoàn thành con đường học tập của riêng mình

Trước hết em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và dìu dắt em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn ThS Lê Minh Toàn đã quan tâm giúp đỡ em nhiệt tình trong suốt quá trình thực tập

cũng như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân đã động viên tạo mọi điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian em học tập và thực tập vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 27 tháng 12 năm 2016

Sinh viên

Trần Quốc Huy

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương trâm "học đi đôi với hành", "lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất", thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm nói riêng Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình có tác phong làm việc đứng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một người cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của xã hội, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển của đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại hoc Nông Lâm Thái Nguyên và thầy giáo hướng dẫn cùng sự đồng ý tiếp nhận của cơ sở, em tiến hành thực

hiện đề tài :“Theo dõi tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng giai đoạn từ

sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ

Kỳ, Hải Dương và biện pháp phòng trị”

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26

Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 30

Bảng 4.2 Quy trình vắc xin lợn con tại trại 31

Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 37

Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong thời gian

thực tập 38

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 39

Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo dãy chuồng 41

Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng 42

Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn con chết do nhiễm bệnh phân trắng qua

các tháng 44

Bảng 4.9 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 45

Bảng 4.10 Hiệu lực điều trị của 2 phác đồ 46

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 0

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 : MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng thực tập 3

2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở 4

2.2 Cơ sở khoa học 4

2.2.1 Đặc điểm của lợn con 4

2.2.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con 9

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 22

Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

3.1.1 Đối tượng 24

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24

Trang 8

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24

3.3 Nội dung nghiên cứu 24

3.3.1 Nội dung 24

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24

3.4.1.Các chỉ tiêu theo dõi 24

3.4.2 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 25

3.4.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25

3.4.4 Phương pháp bố trí dùng thuốc điều trị bệnh phân trắng lợn con 26

3.4.5 Công thức tính toán các chỉ tiêu 26

3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 27

Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 28

4.1.1 Công tác chăn nuôi 28

4.1.2 Công tác thú y 29

4.2 Kết quả nghiên cứu 38

4.2.1 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong thời gian thực tập 38

4.2.2 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 39

4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo dãy chuồng 41

4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng 41

4.2.5 Tỷ lệ lợn con chết do nhiễm bệnh phân trắng 44

4.2.6 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 45

4.2.7 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc 46

Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Viê ̣t Nam là mô ̣t nước thuô ̣c khu vực Đông Nam của Châu Á Đất nước

có điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiều sự biến đổi, nhưng nơi đây có những con người chăm chỉ, cần cù và sáng ta ̣o trong lao đô ̣ng , họ đang từng ngày tạo ra cho nền nông ngh iê ̣p Viê ̣t Nam mô ̣t diê ̣n ma ̣o mới với những bước nhảy vo ̣t đáng khâm phu ̣c Nền nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam đang vững bước đi trên đôi chân của chính mình

Hòa theo sự phát triển của các ngành kinh tế thì hiện nay chăn nuôi cũng là một trong các ngành đang có xu hướng phát triển đi lên Mô ̣t trong số đó là ngành chăn nuôi lợn Tuy nhiên ngành chăn nuôi lợn cũng gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là vấn đề dịch bệnh Đó là nguyên nhân chủ yếu gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi nói riêng cũng như gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp nói chung

Đối với các trang trại nuôi lợn, vấn đề cấp thiết hiện nay vẫn là bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tùy thuộc vào các yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng và sự thay đổi của thời tiết khí hậu Khi lợn con mắc bệnh thì hiệu quả chăn nuôi sẽ giảm, chi phí thú y cao

Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh lợn con phân trắng và đưa ra các biện pháp phòng và trị bệnh góp phần không nhỏ trong việc hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra.Tuy nhiên sự phức tạp của

cơ chế gây bệnh, những tác động phối hợp của các nguyên nhân, đặc điểm cơ thể gia súc non đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng của các kết quả nghiên cứu.Vì thế các phương pháp đưa ra vẫn chưa thực sự đem lại kết quả như mong muốn

Trang 10

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, tôi tiến hành thực

hiện đề tài: “Theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh

đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương và biện pháp phòng trị ”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu

- Nắm bắt được tình hình phát triển chăn nuôi ở cơ sở, phương pháp

chăn nuôi đúng, cách phòng chống dịch bệnh tại cơ sở chăn nuôi

- Biết được nguyên nhân và biện pháp điều trị bệnh phân trắng lợn con

1.2.2 Yêu cầu

- Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh tại trại chăn nuôi

Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương

- Theo dõi tình hình lợn con bị mắc bệnh lợn con phân trắng giai đoạn

theo mẹ tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương

- Xác định được nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con nuôi tại trại

và đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả cao

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Các kết quả nghiên dịch tễ học bệnh phân trắng lợn con là những tư liệu khoa học, phục vụ cho việc nghiên cứu tiếp theo tại trại chăn nuôi tập chung lợn nái ngoại Bùi Huy Hạnh

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu về biện pháp phòng trị bệnh, đánh giá hiệu quả điều trị bằng 2 loại thuốc góp phần phục vụ sản xuất ở trại để kiểm soát và khống chế bệnh phân trắng lợn con nuôi tại cơ sở

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng thực tập

Trang trại chăn nuôi lợn giống của ông Bùi Huy Hạnh được thành lập

và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp từ năm 2007 địa điểm xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương.Với quy mô 3 ha, đầu tư khoảng 20 tỷ đồng, thiết kế xây dựng được 6 dãy chuồng nuôi lợn, với tổng diện tích xây dựng 10.000 m2 và 20.000 m2 để xây dựng các công trình phụ trợ như khu xử lý nước thải, chất thải (ao sinh học, hầm biôga), nhà kho, nhà quản lý, điều hành, sân, đường nội bộ Các thiết bị của trang trại được chú ý lựa chọn theo quy trình công nghệ hoàn chỉnh, khép kín phù hợp với quy mô sản xuất và môi trường, khí hậu tại địa phương

Máy móc thiết bị gồm: Sàn lồng lợn chửa, đẻ; xi lô chứa thức ăn; hệ thống cấp, dẫn nước và núm tự động; hệ thống làm mát; hệ thống phun sương; hộp định lượng thức ăn Thiết bị gieo tinh nhân tạo gồm giá nhẩy, tủ hấp 30 lít, tủ trữ tinh, máy trữ tinh; ống nghiệm các loại Trang trại đã thực hiện kỹ khâu phòng dịch, công tác thú y trong chăn nuôi Ở trang trại nếu muốn trực tiếp vào tham quan chuồng trại, chụp ảnh, người vào bắt buộc phải

đi qua 2 khu vực có sát trùng

Trang trại chia ra làm nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Thức ăn cho lợn ở mỗi giai đoạn cũng phải có chế độ dinh dưỡng khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ Đối với lợn

bố mẹ nhiệt độ trong chuồng luôn đảm bảo từ 20 đến 25o C, với lợn con là 32 đến 35o

C Trang trại chỉ có hơn 30 lao động, 2 quản lý và 1 kỹ sư giám sát cả chuồng bầu và chuồng đẻ

Trang 12

Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng nên việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, đều chính xác đến từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trang trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dùng và phải đi qua hệ thống sát trùng Trong các chuồng lợn, ngày hai lần, công nhân phải làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền nhà Xung quanh trang trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt Nguồn nước thải rửa chuồng trại được gom xử lý bằng hệ thống biogas

2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở

Trang trại Bùi Huy Hạnh chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 2 giống lợn LANDRAT - YORSHIRE và PIETRAIN – DUROC Hiện trang trại nuôi 1.200 con lợn nái ngoại, 30 con lợn đực, 120 con lợn hậu bị cùng 2500 con lợn đã tách mẹ Lợn con sau khi sinh từ 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng, trung bình 10 con/lợn mẹ được nuôi sống

Hiện nay, trung bình một năm, trang trại thu lãi được hơn 3,36 tỷ đồng; giải quyết việc làm cho 30 công nhân Ngoài ra, trang trại còn trồng cây

và nuôi thả cá trên diện tích 10.000 m2, thu lãi 250 triệu đồng/năm

2.2 Cơ sở khoa học

2.2.1 Đặc điểm của lợn con

* Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp

Trang 13

4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh

Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể

Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa

là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ

* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày

Trang 14

tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh

Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức

ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất

Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa

Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu

Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)

Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005) [17] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein

Trang 15

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12] vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân trắng lợn con Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do

có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym,

sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh

* Đặc điểm của cơ năng điều tiết của lợn con

Theo nhóm tác giả Hội Chăn nuôi Việt Nam (2000) [6] ở lợn con sơ sinh,

tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82% Vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm nhanh, 30 phút sau khi sinh lượng nước giảm 1,5 - 2 % kèm theo giảm thân nhiệt 5 - 100C, lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến dễ

Trang 16

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa được cân bằng

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá

* Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ

là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai

đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hoá và gây bệnh

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa

Trang 17

chiếm 18 - 19%, trong đó lượng  - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng  - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử  - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu  - globulin kém hơn, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

2.2.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con

Bệnh phân trắng lợn con có tên khoa học là: “Neonatal di ar hoea”

Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [9] bệnh này là bệnh đặc trưng đối với lợn con ở giai đoạn từ 1 - 3 tuần tuổi Bệnh phát triển mạnh mẽ

và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất khi lợn con ở độ tuổi 10 - 20 ngày tuổi, xảy

ra ở hầu hết các nước trên thế giới Đối với Việt Nam từ những năm trước cho tới nay bệnh phân trắng lợn con vẫn phổ biến và xảy ra nhiều

Là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt

độ chệnh lệch giữa các thời gian trong năm là cao…) Đây là điều kiện lý tưởng cho các nguyên nhân gây bệnh phát triển làm bùng phát dịch và sự kiểm soát bệnh này theo đó cũng khó khăn hơn

Trang 18

Đặc điểm dễ nhận thấy khi lợn con mắc bệnh này là lợn đi ỉa phân có màu đặc trưng: Trắng đục, xám, vàng lẫn bọt khí, phân rơi vãi khắp chuồng, phân dính ở hậu môn, chân sau lợn bệnh Lợn bệnh biểu hiện giảm bú, còi cọc, lông xù, thể nặng dẫn đến tử vong Nếu qua khỏi thì cũng để lại hậu quả thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến năng suất chất lượng đàn lợn sau này

* Nguyên nhân gây bệnh

Do bộ máy tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện nên ở giai đoạn sau thời kỳ bú sữa đầu, lợn con có thể mắc nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh phân trắng - một bệnh khá phổ biết thường gặp ở lợn con theo mẹ

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [2] bệnh lợn con ỉa phân trắng do

trực khuẩn E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng

huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ vài giờ Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do

E.coli gây ra

E.coli là loại phổ biến nhất trong đường ruột, nó xuất hiện và sống

trong đường ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh Khi điều kiện chăm

sóc, nuôi dưỡng kém sức đề kháng của con vật giảm thì E.coli cường độc và

có khả năng gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức

thành ruột làm thay đổi quá trình cân bằng nước, điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy

Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh

chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không

hợp vệ sinh, E.coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể Ngoài ra, trong

dịch vị thiếu HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa

Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng

Trang 19

Theo Sử An Ninh (1981) [10] cho biết: Nguồn gốc sinh bệnh lợn con phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: Đường huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri

Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ thuật: Thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh dưỡng, thiếu các yếu tố đa lượng, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc, thiếu sắt, Vitamin B12 khiến cơ thể lợn suy yếu do thiếu máu, khả năng chống đỡ với môi trường kém nên dễ mắc bệnh

Nghiên cứu của Trịnh Văn Thịnh (1985) [19] nhận định sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và khả năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt cho cơ thể nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở myoglobin

và một số enzym Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, dẫn đến cơ thể suy nhược, không hấp thu được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh

Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần trong quá trình nuôi con, trong khi

đó nhu cầu về dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng cao Đến ngày thứ

20 nếu dinh dưỡng của lợn mẹ không đảm bảo, lợn con càng thiếu sữa, chúng gặm, liếm nền chuồng và thành chuồng nên dễ phát sinh bệnh đường tiêu hóa

* Những hiểu biết về trực khuẩn Escherichia coli

Trực khuẩn ruột già Escherichia coli (E.coli) còn có tên khác là

Bacterium coli commune, Bacillus communis, do Escherich phân lập năm

1885 từ phân trẻ em E.coli thường sinh sống ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ

dày hay phần trước ruột của các loài gia súc, gia cầm và cả người

- Đặc điểm hình thái

E.coli là một trực khuẩn hình gậy kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, trong cơ

thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Trong canh trùng gà, vi khuẩn dài 4 - 8 µm

Trang 20

Phần lớn E.coli di động tự do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số

không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô

- Đặc tính nuôi cấy

E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở

nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2 - 7,4, vi khuẩn phát triển được ở pH 5,5 - 8

E.coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:

+ Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển thấp, môi trường rất đục có máu tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trường, môi trường có mùi phân thối

+ Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy hình thành nên khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, có đường kính 2 - 3 mm Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt và mọc rộng ra

Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và khuẩn lạc dạng M

Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi

Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng

Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh Môi trường EMB (Eosin - Methylen - Blue): Khuẩn lạc có màu đen tím Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc

Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E.coli có khuẩn lạc màu đỏ Môi trường Endo: E.coli có khuẩn lạc màu đỏ

- Đặc tính sinh hóa: E.coli lên men sinh hơi từ các loại đường fructoze,

glucoze, galactoze, lactoze, mannit, dextroze Lên men không chắc chắn các loại đường dulcitol, saccharose

Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: Âm tính

MR, Indol: Dương tính

Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 370

C

Trang 21

Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông

E.coli có khả năng khử nitrat thành nitrit, khử cacbocyl trong môi

bị phá huỷ bởi formol 0,5%

+ Kháng nguyên H:

Kháng nguyên được cấu tạo bởi thành phần lông của vi khuẩn, có bản chất

là protein giống như chất myosin trong cơ, nó có đặc tính sau: Bị phá huỷ ở 600

C trong 1 giờ, bị cồn 500

và các enzym phân giải protein phá huỷ, bền vững với formol 0,5%

+ Kháng nguyên K:

Kháng nguyên K hay còn gọi là kháng nguyên bề mặt Chúng bao quanh tế bào vi khuẩn có bản chất là polysaccharide Có ý kiến cho rằng kháng nguyên K có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước các yếu tố phòng bệnh của vi khuẩn

Độc tố: Vi khuẩn E.coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại

độc tố

Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt dễ bị phá huỷ ở 560C trong vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử

Trang 22

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [2] hiện nay việc chiết xuất ngoại độc tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới phân lập được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng

+ Nội độc tố: Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột

E.coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc

tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc chiết xuất bằng phenol dưới tác dụng của enzym

* Sức đề kháng của mầm bệnh

Trực khuẩn đường ruột không chịu được nhiệt độ cao bị tiêu diệt ở nhiệt độ 600C trong vòng 15 phút và bị tiêu diệt ở 1000C Trong đất và nước

E.coli sống được khoảng vài tháng, các chất sát trùng thông thường như axit

phenic, formol… có thể diệt E.coli trong 5 phút E.coli đề kháng với sự sấy

khô, chúng có độ nhạy cảm cao với nhiều loại kháng sinh

Theo Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1995) [20] khi nghiên cứu về

tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli được phân lập từ các ổ lợn con

bị bệnh phân trắng ở nước ta đã cho biết, hiện nay những thuốc có tác dụng

tốt trong điều trị bệnh phân trắng lợn con do E.coli gây ra gồm Norfloxacin,

Furazolidon, Trimetho Brom và Colistin, còn các thuốc Streptomycin,

Sunphonamid ít có tác dụng với E.coli vì tỷ lệ E.coli kháng lại chúng cao từ

70 - 80% Theo các tác giả, những thuốc này đã dùng để điều trị thường xuyên, đôi khi dùng sai nguyên tắc

* Đường nhiễm bệnh

Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống Khi bị nhiễm E.coli phát

triển nhanh chóng trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng limpho do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết Từ khi mới sinh ra hệ sinh vật phát triển trong đường tiêu hoá rất đa dạng, tỷ lệ số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau

Trang 23

* Qúa trình sinh bệnh

Theo Nguyễn Hữu Vũ (2000) [23] đối với lợn con khoẻ mạnh vi khuẩn

E.coli và vi khuẩn khác chỉ cư trú ở đoạn ruột già và phần cuối của ruột non,

phần đầu, phần giữa hầu như không có Chỉ có rất ít liên cầu khuẩn, tụ cầu

khuẩn, Lactobacilus

Quá trình sinh bệnh liên quan đến đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn con,

hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành thục Việc điều khiển thần kinh hầu như bằng phản xạ không điều kiện Ngoài ra có những đặc điểm đáng chú ý như: Độ toan của dịch vị dạ dày thấp, độ thẩm thấu của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém, chức năng thu nhận của tế bào nội võng quá dễ dàng Sự thu nhận quá dễ dàng qua hàng

rào bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập của vi khuẩn E.coli và độc tố của

chúng sinh ra vào các cơ quan như mô chính, đó là điều kiện gây nên bệnh

Việc bú sữa đầu không kịp thời, chất lượng sữa đầu kém, thiếu chất và

Globulin miễn dịch cũng là điều kiện để phát bệnh Như vậy để gây ra Coli

Bacilosis rõ ràng phải có chủng E.coli cường độc và đều sản sinh ra một hoặc

một số yếu tố bám dính lên tế bào biểu bì của màng niêm mạc và vào lớp

niêm mạc kế tiếp Những lợn con mắc bệnh phân trắng do E.coli thường sốt,

lông xù, biếng ăn, kém bú, thường nằm một chỗ ở góc chuồng

* Triệu chứng lâm sàng

Lứa tuổi mà bệnh thường gặp: Ở lợn con theo mẹ dưới 2 tháng tuổi, và nhất là ở giai đoạn lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi, mắc một vài con hoặc cả đàn, thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến một ngày

Lợn con bị nhiễm E.coli yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít khi tăng

cao Cá biệt có trường hợp nhiệt độ tăng 40,50

C - 410C, nhưng sau 1 ngày lại

hạ xuống ngay, lợn ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân có mùi tanh đặc biệt, bụng tóp lại da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại

Trang 24

Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào đông, xuân, khi độ ẩm môi trường cao Bệnh thường gặp ở lợn con 1 - 21 ngày tuổi Mắc một vài con hoặc cả đàn có khi khỏi bệnh lại tái nhiễm

Thể bệnh gây chết nhanh: Những lợn từ 4 - 15 ngày tuổi thường mắc thể này, sau 1 - 2 ngày đi ỉa phân trắng lợn gầy sút nhanh, lợn bú kém rồi bỏ

bú hẳn, đi đứng xiêu vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh có con hay đứng riêng một chỗ, thở nhanh Tiêu hoá kém, số lần ỉa chảy tăng từ 1 - 2 lần,

có khi 4 - 5 lần trong ngày, phân lỏng màu trắng đục, trắng hơi vàng, mùi tanh khắm, phân dính vào hậu môn và đuôi Bệnh có thể kéo dài 2 - 4 ngày trước lúc chết cơ thể suy nhược co giật hoặc run rẩy, tỷ lệ chết 50 - 80% số con ốm

Thể bệnh kéo dài: Lợn 20 ngày tuổi bệnh kéo dài 7 - 10 ngày, lợn vẫn bú nhưng bú kém dần đi, phân màu trắng đục, trắng hơi vàng Những lợn đã được

40 - 50 ngày tuổi thì khi ỉa phân trắng hoạt động vẫn bình thường, ăn bú đi lại nhanh nhẹn, phân hơi nhão với màu trắng xám, nếu bệnh kéo dài lợn còi cọc chậm lớn

* Bệnh tích

Lợn chết do hiện tượng mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát thấy xác con vật gầy còm, da khô thô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con lợn khoẻ mạnh, khi mổ khám thấy gan màu nâu đen và sưng túi mật, trong chứa nhiều dịch mật loãng, lá lách không sưng, bóc lớp vỏ thấy xuất huyết, rạch dạ dày thấy trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu Quan sát niêm mạc thành dạ dày thấy những nốt đen trên thành do những đám nhồi máu gây nên Ruột non thì trương nhão giãn to và xuất huyết niêm mạc, ruột bị hoại tử từng đám Trong ruột già có thể thấy từng đám máu, viêm ruột là hiện tượng phổ biến, viêm thành ruột, xuất huyết ở màng treo, dạ dày chứa một ít sữa bị đông đặc, vón, cá biệt có máu, mùi tanh, ruột có chứa phân màu vàng hay xám, hạch màng treo ruột sưng

Trang 25

Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm phân thải ra của con bệnh, một phỏng đoán được thực hiện để xác định pH của phân nghiên cứu cho thấy nếu lợn con mắc bệnh phân trắng thì dịch tiêu chảy có pH hoàn toàn kiềm, do trong dạ dày lợn con sự phân tiết ra HCl là rất ít hoặc không có ở những ngày đầu tiên, thêm vào đó là sự đào thải các chất điện giải từ ống ruột có tính kiềm chiếm

đa số

Ngược lại bệnh do Rostavirus gây nên thì xét nghiệm phân thấy phân

mang tính axit nhiều hơn

Chẩn đoán bệnh do nhiễm E.coli đường ruột dựa trên các triệu chứng

lâm sàng, các tổn thương tế bào mô, và sự hiện diện của những vi khuẩn nhuộm màu Gram (-) thường bám sát vào niêm mạc ruột

Ngoài ra còn có thể dựa vào những triệu chứng và bệnh tích điển hình

để kết luận bệnh Bệnh phân trắng lợn còn do Rostavirus gây ra đặc trưng bởi

hiện tượng nôn mửa, đi phân lỏng màu vàng hoặc vàng kem, có lẫn bọt khí và chất nhầy, mổ khám thấy phần đỉnh nhung mao ruột bị bào mòn không gây xuất huyết hoặc loét ở ruột

Trang 26

Lợn con có thể bị nhiễm một loại mầm bệnh nhưng có thể bị nhiễm

nhiều loại mầm bệnh khác nhau Nhiều nghiên cứu cho thấy việc nhiễm E.coli

và Rostavirus thường xảy ra cùng một lúc, tạo điều kiện cho sự phát triển và

phân tiết ra độc tố của mầm bệnh làm vật bị bệnh trở nên trầm trọng Vì vậy, khi điều trị cần có phương pháp phối hợp thuốc khoa học để công tác điều trị bệnh đạt hiệu quả cao

* Phòng bệnh

Phòng bệnh là một công tác hết sức qua trọng trong chăn nuôi nhằm ngăn chặn dịch bệnh sảy ra Các biện pháp phòng bệnh đều xoay quanh vấn

đề môi trường, vật chủ gặp mầm bệnh Để đề phòng bệnh phân trắng lợn con

ở giai đoạn theo mẹ, chúng ta có thể thực hiện một số biện pháp sau:

- Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dƣỡng:

Theo Sử An Ninh (1993) [11] biện pháp phòng tiêu chảy trước hết là hạn chế, loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực Khắc phục những bất lợi về thời tiết, khí hậu, giữ vệ sinh chuồng nuôi

Để cho đàn gia súc non khỏe mạnh, điều cần thiết trước tiên là nuôi dưỡng, chăm sóc thật tốt lợn nái giống khi chưa đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng

Khâu nuôi dưỡng cũng có vai trò rất quan trọng, đảm bảo ăn uống tốt cho lợn con Đặc biệt là chăm sóc sức khỏe cho lợn mẹ, nhất là lưu ý đến vấn

đề dinh dưỡng trong khẩu phần ăn như: Khoáng, vitamin… có thể tập cho lợn con ăn sớm

Vệ sinh chuồng trại, máng ăn,máng uống, dụng cụ chăn nuôi… là một khâu hết sức quan trọng để phòng trị bệnh tiêu chảy, hạn chế mầm bệnh trong môi trường, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Việc vệ sinh được tiến hành hàng ngày đảm bảo chuồng trại luôn sạch sẽ, chuồng nuôi được thiết kế sao cho luôn thoáng mát về mùa hè ấm áp về mùa đông Đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt lịch khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi theo định kỳ Xử lý phân, chất thải, xác chết… đúng quy định

Trang 27

Trong mọi trường hợp tiêu chảy, cần tiến hành ngay các biện pháp cách ly lợn bệnh với những con còn lại trong đàn đồng thời điều trị kịp thời những con

bị bệnh, tiêm kháng sinh liều phòng cho những con chưa nhiễm bệnh trên đàn

- Phòng bệnh bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học:

Một số tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu chế tạo và sử dụng chế phẩm sinh học để phòng bệnh Đây là biện pháp miễn dịch thụ động để phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con tức là đưa thêm một lượng kháng thể thụ động vào cơ thể của chúng

Theo Trịnh Thị Vinh (1996) [22] đã công bố kết quả chiết tách thành công chế phẩm γ - globulin từ huyết thanh ngựa để phòng bệnh lợn con tiêu chảy

Nghiên cứu Trần Thị Hạnh và cs (2002) [4] đã nghiên cứu chế phẩm sinh học: E.coli sữa, Clpepsingen toxid dùng cho nái chửa và Baderin EBC (E.coli Baclerin và C Pefringen toxid ) dùng cho lợn con để phòng và trị bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con

- Phòng bệnh bằng vắc xin:

Ngoài việc sử dụng chế phẩm sinh học, một số tác giả đã nghiên cứu chế tạo các loại vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh

Theo Lê Văn Tạo (1993) [15] sử dụng vắc xin cho lợn nái mang thai bằng cách tiêm hoặc cho uống trước khi đẻ 4 - 6 tuần để kích thích lợn mẹ đáp ứng miễn dịch, sản sinh kháng thể đặc hiệu trong máu, truyền qua sữa đầu, cung cấp cho lợn con khi bú sữa

Theo Đặng Xuân Bình (2008) [1] đã thử nghiệm và công bố kết quả của vắc xin chuồng (Autovaccine) trong phòng bệnh lợn phân trắng trên thực địa ở Hà Tây, Cao Bằng, Thái Nguyên

Trang 28

* Điều trị

- Điều trị bằng kháng sinh, hóa dược:

Hiện nay các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả điều trị bênh Nhiều nhà nghiên cứu đã kết luận: cần điều trị sớm, kết hợp với nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế, khắc phục rối loạn tiêu hóa và hấp thu, chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điều trị triệu chứng

Để điều trị có hiệu quả phải đảm bảo toàn diện các hướng sau:

+ Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hóa

- Khôi phục hệ vi sinh vật đường ruột:

Khôi phục và ổn định trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột

sẽ có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả điều trị, sử dụng chế phẩm Biosubtyl để điều trị tiêu chảy cho lợn con trước và sau khi cai sữa cho tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiều chảy giảm, khả năng tăng trọng tốt

Trang 29

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Khi nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [7] cho rằng đây là một loại hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày - ruột, ỉa chảy, gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu của

lợn con là E coli và một số loài Salmonella (Sal.cholerasuis, Sal Typhisuis), đóng vai trò phụ là Proteus, Streptococcus Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác

như chuồng trại bẩn, sữa đầu ít, chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa không đúng kỹ thuật và bất lợi về thời tiết Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh và trong suốt thời kỳ bú mẹ Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng thay đổi theo sự biến đổi hàng tháng của nhiệt độ, độ ẩm trung bình, cụ thể là có sự tương quan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó,

để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con, thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp

Theo Nguyễn Quang Tuyên và cs (1993) [21] cho biết bộ máy tiêu hóa

ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật của đường ruột

và dạ dày rất yếu Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống

và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh đường tiêu hóa cho lợn

Theo Phan Đình Thắm (1995) [16] thì nhất thiết lợn con sơ sinh phải được bú sữa đầu để giúp lợn con có sức đề kháng chống đỡ bệnh tật trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn bình thường Đây là chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng vì thế cần chú ý cho lợn con bú sữa trong 3 ngày đầu sau khi sinh

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2000) [8] cho rằng: Bổ sung Fe-Dextran cho lợn con có tác dụng làm tăng lượng huyết sắc tố (Hemoglobin), số lượng hồng cầu, giúp gia súc non, đặc biệt là gia súc sơ sinh khỏe mạnh, phát triển tốt, lớn nhanh và tăng sức đề kháng với bệnh truyền nhiễm, nhất là với bệnh phân trắng lợn con

Trang 30

Theo Lê Thị Tài và cs (2000) [14] để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con, ngoài kháng sinh đặc hiệu với vi khuẩn đường ruột (Trimazon, Chloramphenicol, Becberin) có hiệu quả điều trị 75 - 80% Chúng ta nên phối hợp với các chế phẩm sinh học sẽ tăng hiệu quả lên 95 - 98% và bổ sung thêm điện giải (Ozesol) vừa tăng hiệu quả điều trị vừa tăng tỷ lệ khỏi bệnh từ 89,5 - 90%, con vật mau hồi phục, đảm bảo chất lượng và số lượng con giống

Theo Lê Văn Phước (1997) [13] trong “ Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ

ẩm không khí đến tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng”, tác giả nêu tỷ lệ nhiễm

bệnh phân trắng ở lợn con thay đổi theo sự biến đổi của nhiệt độ, độ ẩm trung bình thay đổi hàng tháng, có tương quan thuận với ẩm độ và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó, để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, cần đảm bảo chế độ tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp

Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng

đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày, viêm ruột và gầy sút nhanh Tác nhân gây

bệnh chủ yếu là E coli, nhiều loại Salmonella và đóng vai trò phụ là Proteus

Streptococus Bệnh xuất hiện nhiều vào những ngày đầu sau khi mới sinh và

sống suốt trong thời gian bú sữa (Trịnh Văn Thịnh, 1985) [19]

Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [5] khi nghiên cứu tác dụng của

một số Phytonciden và thuốc hoá học trị liệu với E coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng cho biết tỏi và hẹ là 2 dược liệu có tác dụng tốt với E coli còn

nghệ và cây vàng đắng là 2 dược liệu có tác dụng trung bình

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Glawisschning.E và cs (1992) [27] nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt

Trang 31

Theo Erwin M Kohrler (1996) [25] thành phần protein huyết thanh ở lợn

2 - 3 tuần tuổi và 7 tuần tuổi là khác nhau Lợn con 7 tuần tuổi đã ăn thức ăn thực vật nên thành phần protein tăng hơn so với lợn 2 - 3 tuần tuổi Lợn con bị tiêu chảy do các loại vi khuẩn thường được gọi là rối loạn đường ruột

Theo Jones (1976) [28] khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện bước đầu của quá trình gây bệnh Trong quá trình liên kết đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động

Theo Fairbrother J.M và cs (1992) [26] cho biết độc tố Enterotoxin do

E coli sinh ra Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm

trọng cho lợn con sơ sinh từ 1 – 4 ngày tuổi

Nghiên cứu của Smith.R.A và cs (1996) [29] cho thấy: sản xuất vắc

xin E coli phòng bệnh phân trắng cho lợn tốt nhất được phân lập từ bệnh

phẩm của lợn bệnh ở tuổi dưới 14 ngày

Theo Akita E M và cs (1993) [24] đã nghiên cứu và sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy

ở lợn con

Ngày đăng: 06/07/2017, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Xuân Bình (2008),“Hiệu quả của vắc xin tại chỗ trong thử nghiệm phòng bệnh lợn con phân trắng trên thực địa ở một số trung tâm chăn nuôi lợn sinh sản miền núi phía Bắc”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, 99(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của vắc xin tại chỗ trong thử nghiệm phòng bệnh lợn con phân trắng trên thực địa ở một số trung tâm chăn nuôi lợn sinh sản miền núi phía Bắc"”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Đặng Xuân Bình
Năm: 2008
2. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Văn Lệ Hằng, Đào Đức Thà, Chu Đình Tới (2009), Sinh sản vật nuôi, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản vật nuôi
Tác giả: Văn Lệ Hằng, Đào Đức Thà, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
4. Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình (2002) “Chế tạo thử nghiệm chế phẩm sinh học phòng trị bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con do E.coli và Cl.perferingens”, Tạp chí KHKT thú y, 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tạo thử nghiệm chế phẩm sinh học phòng trị bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con do E.coli và Cl.perferingens"”, "Tạp chí KHKT thú y
5. Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc (1998), Stress trong đời sống người và vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress trong đời sống người và vật nuôi
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
6. Hội Chăn nuôi Việt Nam (2000), Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm, tập I, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Hội Chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
7. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
8. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2000), Thuốc Thú y và cách sử dụng. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc Thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
9. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
10. Sử An Ninh (1981), Kết quả tìm hiểu bước đầu nhiệt độ và độ ẩm thích hợp trong phòng bệnh lợn con phân trắng, Kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tìm hiểu bước đầu nhiệt độ và độ ẩm thích hợp trong phòng bệnh lợn con phân trắng
Tác giả: Sử An Ninh
Năm: 1981
11. Sử An Ninh (1993), Các chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa máu, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn mắc bệnh phân trắng, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa máu, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn mắc bệnh phân trắng
Tác giả: Sử An Ninh
Năm: 1993
12. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
13. Lê Văn Phước (1997), Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm đến tỷ lệ lợn con phân trắng, Kết quả nghiên cứu khoa học Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm đến tỷ lệ lợn con phân trắng
Tác giả: Lê Văn Phước
Năm: 1997
14. Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lệ Hoa (2000), Chế phẩm sinh học điều trị hội chứng tiêu chảy của lợn con ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, Kết quả nghiên cứu khoa học Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế phẩm sinh học điều trị hội chứng tiêu chảy của lợn con ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lệ Hoa
Năm: 2000
15. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Thị Băng Tâm (1993), “Nghiên cứu chế tạo vắc xin E.coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vắc xin "E.coli" uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, "Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Thị Băng Tâm
Năm: 1993
16. Phan Đình Thắm (1995), Giáo trình chăn nuôi lợn (dành cho cao học), Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn (dành cho cao học)
Tác giả: Phan Đình Thắm
Năm: 1995
17. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005), Giáo trình sinh lý học động vật, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học động vật
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
18. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội 19. Trịnh Văn Thịnh (1985), Bệnh lợn ở Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi," Nxb Nông nghiệp Hà Nội 19. Trịnh Văn Thịnh (1985), "Bệnh lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội 19. Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội 19. Trịnh Văn Thịnh (1985)
Năm: 1985
20. Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1995), “Kiểm tra một số yếu tố ảnh hưởng đến tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra một số yếu tố ảnh hưởng đến tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của "E coli" phân lập từ bệnh lợn con phân trắng”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu
Năm: 1995
21. Nguyễn Quang Tuyên (1993), Giáo trình vi sinh vật thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w