Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo giống .... Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả n
Trang 1PHẠM VĂN DŨNG
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ
PHÁC ĐỒ ĐIỆU TRỊ TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI
TẠI TRẠI ĐẶNG ĐÌNH DŨNG HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2012 - 2017
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2PHẠM VĂN DŨNG
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ
PHÁC ĐỒ ĐIỆU TRỊ TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI
TẠI TRẠI ĐẶNG ĐÌNH DŨNG HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2012 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Thị Hồng Duyên
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là nội dung cuối cùng trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian quan trọng đối với mỗi sinh viên, là cơ hội để
áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời đây cũng là khoảng thời gian quý báu để mỗi sinh viên học hỏi, thu thập mọi kiến thức, là hành trang bước vào cuộc sống mới với công việc của mình
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, yêu cầu của cơ sở, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn TS Dương Thị
Hồng Duyên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Tình hình mắc bệnh viêm tử
cung và thử nghiệm một số phác đồ điều trị trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình” Do thời gian thực
tập và trình độ còn hạn chế, bước đầu còn bỡ ngỡ với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý của Quý thầy cô và các bạn để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2016
Sinh viên
Phạm Văn Dũng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 13
Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 23
Bảng 4.2 Lịch phòng bệnh bằng vaccine cho đàn lợn 25
Bảng 4.3 Lịch phòng bệnh bằng thuốc cho đàn lợn 26
Bảng 4.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 30
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng trong năm 31
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo giống 32
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn qua các lứa đẻ 33
Bảng 4.8 Tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con sinh ra từ lợn nái bình thường và lợn nái bị viêm tử cung sau khi sinh 34
Bảng 4.9 Triệu chứng lâm sàng của lợn bị viêm tử cung 36
Bảng 4.10 Hiệu quả điều trị viêm tử cung của 3 phác đồ 37
Trang 5
MMA : Mastitis Metritis Agalactia
(Hội chứng viêm vú, viêm tử cung và mất sữa)
FSH : Folliculo Stimulin hormone
S choleraesuis : Shalmonella enteria choleraesuis
S typhysuis : Salmonella typhysuis
PGF2α : Prostaglandin F2α
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cở sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 4
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất 4
2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây 4
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài 5
2.2.1 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái 5
2.2.1.1 Nguyên nhân của bệnh 5
2.2.1.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung 7
2.2.1.3 Các thể viêm tử cung 9
2.2.1.4 Chẩn đoán viêm tử cung ở lợn nái 12
2.2.1.5 Một số hiểu biết về phác đồ điều trị 13
2.2.2 Những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến đề tài 14
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở ngoài nước 14
Trang 72.2.2.2.Tình hình nghiên cứu ở trong nước 15
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 18
3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
3.2 Nội dung nghiên cứu 18
3.2.1 Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn Đặng Đình Dũng tỉnh Hòa Bình 18
3.2.2 Thử nghiệm biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
cho lợn 18
3.3 Phương pháp tiến hành 18
3.4 Phương pháp tiến hành 19
3.4.1 Phương pháp xác định tỷ lệ viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại 19
3.4.2 Quy định một số yếu tố dịch tễ 19
3.4.3 Phương pháp xác định mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ với hội chứng tiêu chảy ở lợn con 19
3.4.4 Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng của lợn bị viêm tử cung 20
3.4.5 Phương pháp xác định hiệu quả của 3 phác đồ 20
3.4.6 Một số công thức tính toán các chỉ tiêu 21
Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 22
4.1.1 Công tác vệ sinh, chăm sóc, phòng bệnh cho đàn lợn 22
4.1.2 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 27
4.1.3 Công tác khác 29
4.2 Kết quả của đề tài 31
Trang 84.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng 31
4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo giống 32
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo lứa đẻ 33
4.2.4 Mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ với hội chứng tiêu chảy ở lợn con 34
4.2.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn bị viêm tử cung 35
4.2.6 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản 37
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 9ưu tiên phát triển hơn nữa để đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của người tiêu dùng Chăn nuôi lợn không những chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nước mà còn phải tham gia xuất khẩu Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn tận dụng được sức lao động nhàn rỗi, tận dụng phế phụ phẩm dư thừa của nông nghiệp, góp phần làm tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi
Chăn nuôi lợn ngoại đang được đẩy mạnh trong chăn nuôi nông hộ cũng như ở các gia trại, trang trại quy mô công nghiệp Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại có năng suất cao, tăng trọng nhanh, phẩm chất thịt tốt (tỷ lệ nạc cao,
độ dày mỡ lưng thấp), đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng đang đòi hỏi, nhất là ở khu vực thành phố và các khu công nghiệp Cho đến nay, lợn Landrace và Yorkshire là hai giống lợn đóng vai trò chủ yếu trong khâu sản xuất lợn giống và lợn lai nuôi thịt, hai giống lợn này đã và đang góp phần quan trọng vào các chương trình “nạc hóa” đàn lợn ở nước ta
Để đáp ứng nhu cầu trên, ông Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã đầu từ xây dựng cơ sở vật chất để nuôi lợn gia công cho Công ty
cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với quy mô trên 1.200 lợn nái sinh sản, trong
đó dòng CP90 chiếm tỷ lệ chính chiếm trên 30% tổng đàn Đàn lợn nái ngoại này đang phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng đàn con tốt Tuy nhiên,
để thu được hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn nái sinh sản ngoài phụ thuộc vào sức sản xuất của lợn nái còn phụ thuộc vào tình hình dịch bệnh,
Trang 10điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chất lượng sản phẩm Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản Không những thế lợn nái bị bệnh viêm tử cung là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung và thử nghiệm một số phác đồ điều trị trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình”
1.2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại tại trại Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Đưa ra một số phác đồ điều trị có hiệu quả bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại
1.3 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh viêm tử cung ở lợn Là cơ sở khoa học cho công tác phòng và điều trị bệnh, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn nói chung
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cở sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng nằm độc lập trên một quả đồi, nằm các xa khu dân cư, thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Đây
là một trong những trang trại có quy mô lớn Trang trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 ha, trong đó diện tích hơn 1ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và gần 1 ha trồng cây xanh và ao hồ xung quanh
Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2005, với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 2 giống lợn Landrace và Yorkshire Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ
và 2 dãy chuồng bầu, 2 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái, 30 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng khoảng 2500 lợn con đã tách mẹ Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 25.000 con lợn giống
Trang trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn và loại lợn Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế độ dinh dưỡng khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đảm bảo yêu cầu về nhiệt độ Quá trình cho lợn ăn, uống nước được điều khiển theo hệ thống hoàn toàn tự động bằng dây chuyền được nhập từ nước ngoài
do công ty hỗ trợ cung cấp
Trang 12Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 2 kỹ sư chính, 2 tổ trưởng và 15 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này
Đối với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, thì các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại đã được thực hiện chủ động
và tích cực Trang trại đã chủ động liên hệ với thú y cơ sở, tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh,
đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng Trong các dãy chuồng lợn, ngày 2 lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải
ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất
Trang trại chuyên nuôi lợn nái sinh sản và cung cấp 2 giống lợn là Landrace và Yorkshire Lợn khi được từ 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng
2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một trong những trang trại có quy mô lớn, với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất vì vậy trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây là một
số kết quả mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:
Trang 13Chỉ tiêu
Số lợn qua các năm Năm
2014
Năm
2015
Năm 2016 (5 tháng đầu năm)
Tổng số lợn con sinh ra (con) 22.725 23.615 12.324
Tổng số lợn con sinh sống (con) 21.958 22.886 11.944
Số lợn con chết, loại sau sinh (con) 767 729 380
Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 21.151 22.096 11.489
Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: số heo nái hậu bị từ năm 2014 là 120 nái, tới năm 2015 tăng lên
130 nái, tăng 108% Tỷ lệ phối đậu thai từ 91,85% (năm 2014) tăng lên 93,25% (năm 2016) Số heo con sinh ra, sống tới lúc cai sữa tăng lên, từ năm
2014 là 21.151 con tới năm 2015 là 22.096 con
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một gương sáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài
2.2.1 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái
2.2.1.1 Nguyên nhân của bệnh
Theo Đặng Thanh Tùng (2006) [20] viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương cơ quan sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của lợn, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ
Trang 14còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản của lợn nái Tác giả cho rằng bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Thiếu sót về dinh dưỡng quản lý
+ Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước hoặc trong thời kỳ mang thai đều dẫn đến viêm tử cung
+ Lợn nái ăn quá nhiều tinh bột, lợn quá béo, gây đẻ khó, phải can thiệp bằng tay gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng viêm tử cung kế phát
+ Ngược lại thiếu dinh dưỡng, lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại được sự xâm nhập của vi trùng cũng gây viêm tử cung
- Tiểu khí hậu chuồng nuôi không đảm bảo, quá nóng hay quá lạnh đều
có thể dẫn đến khả năng bị bệnh tăng lên
Theo các tác giả Đào Trọng Đạt và cs (2000) [6], bệnh viêm tử cung xảy ra do các nguyên nhân sau:
- Thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian mang thai và đẻ cũng
dễ dẫn đến viêm tử cung
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho con khoẻ
- Lợn nái sau đẻ bị xót nhau, xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ bệnh thương hàn gây viêm
Trang 15- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước, trong và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện xâm nhập vào gây viêm
Theo Lê Văn Năm (1997) [13] và Phạm Sỹ Lăng và cs (2000) [9] viêm
tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung Theo F Madec và C Neva (1995) [7], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây viêm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra…
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy cùng có một số trường hợp lợn hậu bị chưa phối đã bị viêm tử cung
2.2.1.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến thai và khả năng sinh sản của lợn nái Hậu quả của viêm tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát
ra được Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5]; Lê Xuân Cương (1986) [2], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn đến một số hậu quả sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai: lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi gia súc cái mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chặt vào tử cung Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc
tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
Trang 16co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá hủy không tiết progesterone nữa, hàm lượng Progesterone trong máu giảm làm cho tính trương lực cơ của cơ tử cung tăng lên, do đó gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesteron giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc thai chết lưu
- Sau khi sinh lợn con giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng: khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi
khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích
thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con của những lợn mẹ
bị viêm tử cung thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại: nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
Theo F Madec và C Neva (1995) [7], ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng
mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn bị viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh
đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng xuất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Ngoài ra, viêm tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con cai sữa thấp
Trang 17Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp để phòng và điều trị hiệu quả
2.2.1.3 Các thể viêm tử cung
Các tác giả A Bane (1986) [21], Đặng Đình Tín (1985) [18], Yao- Ac (1989) [28] đều cho rằng: các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinh dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng suất của gia súc cái
Theo Đặng Đình Tín (1986) [19], bệnh viêm tử cung thường được chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
* Viêm nội mạc tử cung(Endomestritis)
Theo W G Black (1983) [26], C H W Debois (1989) [22], Nguyễn Văn Thanh (1999) [15], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các thể bệnh viêm tử cung
Theo G H Arthur (1964) [23], I Sttergren (1986) [24], viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp, làm niêm mạc tử cung bị tổn thương tạo điều kiện thuận lợi cho
vài vi khuẩn như Streptococcus, E coli, Staphylococcus, Salmonella, C pyogenes,
Brucella, Trichomonas proteus xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc
gây viêm
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [14], bệnh viêm nội mạc tử cung có thể chia làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính
có mủ, viêm nội mạc tử cung thể màng giả
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis
puerperalis): chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung Lợn bị bệnh ở thể này thân
Trang 18nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm, con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch gồm niêm dịch lẫn với dịch rỉ viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết… Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi khô lại thành từng đám vảy màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều, cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung ra ngoài, niêm mạc âm đạo bình thường
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả: ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn nái mắc bệnh thể này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra hỗn dịch gồm: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
* Viêm cơ tử cung (Myomestritis puerperalis)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], viêm cơ tử cung thường kế phát
từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp niêm mạc tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng mà can thiệp chậm có thể dẫn tới hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám to
Ở thể viêm này, lợn nái bị bệnh biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hay mất hẳn Con vật kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra
Trang 19ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên
có mùi hôi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng, kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng
thải ra nhiều Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ
lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh
* Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis puerperali)
Theo Đặng Đình Tín (1985) [18], viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất
là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây ra tình trạng viêm mô tử cung (thể parametritis), thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc
Lợn có biểu hiện triệu chứng toàn thân: thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn
Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ Nếu điều trị kịp thời thì bệnh thường chuyển thành thể viêm mãn tính
Trang 202.2.1.4 Chẩn đoán viêm tử cung ở lợn nái
Theo F Madec và C Neva (1995) [7]; Hồ Văn Nam và cs (1997) [12], xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200
ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động dục thì
có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng 2.1
Trang 21Bảng 2.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung
STT Các chỉ tiêu để
phân biệt Viêm nội mạc Viêm cơ
Viêm tương mạc
1 Dịch
viêm
Màu Trắng xám,
trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
hoặc hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
2.2.1.5 Một số hiểu biết về phác đồ điều trị
* Thuốc Nor 100: Dung dịch tiêm
- Tác dụng: điều trị ho, co giật, viêm rốn, viêm khớp, viêm tử cung
- Liều dùng: 20ml/con, tiêm bắp
* Hamogen (Havet): Hỗn dịch tiêm
- Thành phần: trong 1ml chứa Amoxycillin 150mg
Gentamycin 40mg
Dexamethason acetate 0,25mg
- Công dụng: hỗn hợp 2 kháng sinh amoxycilin và gentamycin tạo cho chế phẩm có tác dụng diệt khuẩn mạnh, phổ rộng Đặc trị viêm đường niệu dục, viêm dạ con tích mủ, viêm vú, viêm tử cung, mất sữa
Trang 22* Oxytocin: Dung dịch tiêm
- Thành phần: trong 1ml chứa 10UI oxytocin
- Tác dụng: kích thích hệ cơ trơn tử cung, đường tiết niệu, đường tiết sữa, từ đó gây tiết sữa
- Liều dùng: 2ml/ con/ ngày, tiêm bắp
* Lutalyse: Dung dịch tiêm
- Thành phần: có chứa prostaglandin F2α
- Tác dụng: kích đẻ, tăng cường co bóp tử cung, tống sạch nhau thai và sản dịch sau khi sinh, ngăn ngừa viêm tử cung, làm tiêu thể vàng và phá huỷ các u nang trên buồng trứng là nguyên nhân làm lợn nái chậm lên giống sau cai sữa hoặc không lên giống sau cai sữa, nâng cao tỉ lệ thụ thai và số con đẻ
ra chọn nuôi nhiều hơn, kích thích tiết prolactin tăng sản lượng sữa
- Liều dùng: 2ml lutalyse/con (25 mg), tiêm bắp
2.2.2 Những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến đề tài
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở ngoài nước
Chăn nuôi lợn là một nghề chiếm tỷ lệ khá cao trong ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới Để khai thác hiệu quả hơn giá trị dinh dưỡng và sinh khối của loài, các nước phát triển trên thế giới không ngừng đầu tư cải tạo đàn lợn giống và áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của chúng Trong lĩnh vực thú y, người ta đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về bệnh sinh sản
Theo A I Sobko và N I Gia Denko (1978) [1], nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, sót nhau Bệnh phát triển do chăm sóc nuôi dưỡng lợn không tốt, không cung cấp đủ chất dinh dưỡng, đưa vào đường sinh dục của lợn những chất kích thích đẻ khác nhau, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa các chất nhầy ở bộ máy sinh dục
Trang 23Trong chăn nuôi lợn sinh sản, năng suất chăn nuôi phụ thuộc phần lớn vào khả năng sinh sản, trong đó hai yếu tố chính là số con trên một lứa đẻ và
số lứa đẻ của một nái trên một năm Do vậy, ưu tiên hàng đầu và liên tục trong chăn nuôi lợn sinh sản là tạo ra nhiều lợn con sinh ra và sống sót sau cai sữa và đồng thời giảm chí phí trong sản xuất nhất là do không thụ thai Mục tiêu trên, đòi hỏi sự làm việc cường độ cao của lợn nái và nhất là cơ quan sinh sản Do vậy các cơ quan sinh sản đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, quyết định đến năng suất chăn nuôi Theo F Madec và C Neva (1995) [7], những bất thường trong cơ quan sinh sản, nói rõ hơn là các kiểu rối loạn như viêm tử cung, làm năng suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng
Winson khi mổ khám những lợn vô sinh đã xác định trong cơ quan sinh sản của 52,5 % lợn nái đẻ lứa đầu, 32,1 % lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý như viêm vòi tử cung có mủ,
Theo F Madec và C Neva (1995) [7]; W M Mekay (1975) [27], viêm
tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài giờ khi đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài 48 đến 72 giờ
Trong bệnh viêm tử cung thì viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao Kaminski kiểm tra 1.000 lợn nái ở Liên Bang Đức thấy có 16 % lợn bị viêm nội mạc tử cung
Theo F Madec và C Neva (1995) [7]; Paul Hughes, James Tilton (1996) [25], tỷ lệ bệnh tích đường tiết niệu, đường sinh dục ở đàn nái loại thải tăng theo số lứa đẻ
2.2.2.2.Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, một số nhà khoa học đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh viêm tử cung Nhưng những tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở lợn nái cũng còn hạn chế
Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Trang 24Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] cho biết: viêm tử cung là một quá bệnh
lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [11]; Phạm Hữu Doanh (1995) [4], trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn
(Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh
truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung
Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi không đảm bảo, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh
Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung
Do nhiễm vi khuẩn Staphylococcus, Streptococcus vì các nguyên nhân
như lợn con có răng nanh làm xây xát vú mẹ tạo điều kiện vi trùng xâm nhập Lợn nái nhiều sữa con bú không hết làm sữa ứ đọng nhiều tạo môi trường cho
vi trùng sinh sản gây viêm vú Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm
Các báo Khuyến Nông cũng có nhiều nghiên cứu về tình hình mắc các bệnh sinh sản của lợn như sau:
Nguyên nhân lợn bị bệnh bại liệt sau khi đẻ là do chăm sóc nuôi dưỡng không đúng quy trình kỹ thuật Trong thức ăn thiếu lượng canxi, phospho Chuồng trại thiếu ánh sáng, nhất là ánh sáng vào buổi sáng, lợn không được tắm nắng nên cơ thể thiếu vitamin D, khả năng hấp thụ canxi kém, xương xốp mềm
Hội chứng MMA là một phức hợp bệnh do nhiều loại vi khuẩn gây ra
như: E coli, Pseudomonas, Proteus, Staphylococcus, Streptococcus Đây là
những vi khuẩn cơ hội, có sẵn trong môi trường, khi chuồng trại dơ bẩn sẽ tạo điều kiện gây bệnh Thai lớn, chèn ép làm giảm nhu động ruột gây táo bón và
Trang 25gây ứ đọng nước tiểu trong bàng quang, cổ tử cung mở làm mầm bệnh dễ tấn công Cung cấp thức ăn không cân đối và không đủ nước uống, cho nái ăn nhiều chất đạm và khoáng nhưng ít chất xơ trong giai đoạn cuối thai kỳ hoặc nái quá mập cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh MMA
+ Điều kiện nuôi dưỡng : do khẩu phần thức ăn không cân đối (quá thiếu hoă ̣c quá thừa ), không đáp ứng theo nhu cầu phát triển của gia súc theo từng giai đoa ̣n , đă ̣c biê ̣t là trong giai đoa ̣n hâ ̣u bi ̣ làm ảnh hưởng đến viê ̣c hoàn thiện chức năng sinh lý sinh sản của lợn nái
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đàn lợn nái ngoại đang trong giai đoạn sinh sản nuôi tại trại lợn Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Bệnh viêm tử cung ở lợn
- Đàn lợn con được sinh ra từ những lợn mẹ khỏe mạnh và từ những lợn mẹ bị viêm tử cung
3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ ngày 18/11/2015 đến ngày 18/05/2016
- Địa điểm: Trại lợn Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn Đặng Đình Dũng tỉnh Hòa Bình
+ Xác định tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung qua từng lứa đẻ
+ Xác định tỷ lệ viêm tử cung qua các tháng trong năm
+ Xác định tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn
+ Mối quan hệ giữa lợn mẹ bị viêm tử cung với tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con
+ Xác định các triệu chứng lâm sàng của lợn nái bị viêm tử cung
3.2.2 Thử nghiệm biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung cho lợn
+ Xác định hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị viêm tử cung cho lợn
3.3 Phương pháp tiến hành
+ Công tác vệ sinh
+ Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng
Trang 27+ Công tác phòng bệnh
+ Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
+ Công tác khác
3.4 Phương pháp tiến hành
3.4.1 Phương pháp xác định tỷ lệ viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại
- Trực tiếp theo dõi 360 nái trong thời gian thực tập
- Theo dõi biểu hiện lâm sàng của lợn nái, ghi chép số liệu cẩn thận theo dõi từng chỉ tiêu theo dõi, dùng thuốc điều trị, theo dõi quá trình điều trị
và kết quả điều trị, từ đó tính tỷ lệ mắc bệnh theo các công thức tính
- Theo dõi tỷ lệ viêm tử cung của lợn theo các giống, thống kê trong 76 nái bị viêm tử cung đã được theo dõi từ thí nghiệm trước những con bị viêm
tử cung thuộc các giống khác nhau
- Theo dõi những nái bị viêm tử cung và đàn con của chúng để xác định mối quan hệ giữa lợn mẹ bị viêm tử cung và tiêu chảy ở đàn lợn con
- Lứa đẻ: Theo dõi tỷ lệ bị viêm tử cung của 360 lợn nái ở 6 lứa đẻ như sau: lợn đẻ lứa 1, lợn đẻ lứa 2, lợn đẻ lứa 3, lợn đẻ lứa 4, lợn đẻ lứa 5, lợn đẻ lứa 6
3.4.3 Phương pháp xác định mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ với hội chứng tiêu chảy ở lợn con
- Theo dõi 2 lô, lô 1 gồm những lợn nái không bị viêm tử cung và đàn con của chúng, lô 2 gồm những lợn nái bị viêm tử cung và đàn con của chúng
- Trực tiếp theo dõi đàn lợn con xem có những lợn nào trong đàn bị tiêu
Trang 28chảy và những lợn con đó là của mẹ nào Từ đó đánh giá được lợn mẹ bị và không bị viêm tử cung có ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở những lợn con do chúng sinh ra
3.4.4 Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng của lợn bị viêm tử cung
Tiến hành theo dõi triệu chứng của 76 lợn bị viêm tử cung
Xác định các triệu chứng lâm sàng của lợn bị viêm tử cung theo phương pháp trực tiếp quan sát và kiểm tra
3.4.5 Phương pháp xác định hiệu quả của 3 phác đồ
- Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo
độ đồng đều về chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, chỉ khác nhau ở phác đồ điều trị
Sơ đồ bố trí thí nghiệm nhƣ sau:
* Thí nghiệm: Thử nghiệm điều trị viêm tử cung theo 3 phác đồ
- Hamogen:
20 ml/con/ngày, tiêm bắp
- Vetrimoxin LA:
20 ml/con/lần, tiêm bắp
1 lần
- Cephachlor: pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung, ngày 1 lần
- Oxytocin:
2ml/con/ngày, tiêm vào hoa
- Lugol: thụt vào tử cung 500ml dung
dịch
- Cephachlor: pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung, ngày 1 lần
- Lutalyse: 2ml/con, 1 liều duy nhất
- Lugol: thụt vào tử cung 500ml dung dịch
- Cephachlor: pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung, ngày 1
lần