1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Hiệu quả sử dụng vắc xin phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con

60 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 847,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lợn rừng mặc dù có sức chống chịu dịch bệnh khá tốt, nhưng vẫn hay mắc một số bệnh, trong đó có những bệnh về đường tiêu hóa, đặc biệt bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con… làm tỷ lệ nuôi số

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2012 – 2016

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường, nghiên cứu khoa học là khoảng thời gian rất cần thiết với mỗi sinh viên Đây là khoảng thời gian để cho tất cả sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, nâng cao tay nghề cho mỗi sinh viên theo phương châm “học đi đối với hành” Sau thời gian tiến hành nghiên cứu khoa học , để hoàn thành được bản báo cáo này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu , sự chỉ bảo tận tình của các thầy

cô trong khoa cũng như các t hầy cô trong Ban giám hiê ̣u nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, tập thể các thầy cô giáo trong khoa cùng các bác, anh, chị công nhân viên trong trại chăn nuôi thuộc Chi nhánh Nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa tại xã Tức Tranh – huyện Phú Lương

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướ ng dẫn PGS.TS Trần Văn Phùng

đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành báo cáo đề tài

Cuối cùng tôi xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành tích trong công tác có nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 14 tháng 11 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Xuân Luân

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1: Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái 29

Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33

Bảng 4.3 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ mắc một số bệnh của lợn rừng con theo mẹ 34

Bảng 4.4 Triệu chứng, bệnh tích của lợn con mắc bệnh viêm ruột hoại tử 36

Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm ruột hoại tử trên đàn lợn rừng lai giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa trong thời gian thực tập 38

Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm ruột hoại tử ở đàn lợn rừng lai theo theo lứa tuổi 39

Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh viêm ruột hoại tử của lợn thí nghiệm 41

Bảng 4.8 Tỷ lệ nuôi sống lợn thí nghiệm 42

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3.Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1.Ý nghĩa trong khoa học 2

1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1.Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 3

2.1.1.Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn rừng con 3

2.1.2 Khái quát về bệnh viêm ruột hoại tử 3

2.1.3.Thiệt hại về kinh tế do bệnh viêm ruột hoại tử gây ra 3

2.1.4.Nguyên nhân gây bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn 4

2.1.5 Khái quát về vi khuẩn Clostridium perfringens type A, Clostridium perfringens type C và cơ chế gây bệnh viêm ruột hoại tử 4

2.1.6 Triệu trứng và bệnh tích của bệnh viêm ruột hoại tử 12

2.1.7 Chẩn đoán bệnh tiêu chảy do Clostridiumperfringens type A, Clostridium perfringens type C, gây ra 12

2.1.8 Vắc xin phòng trị bệnh viêm ruột hoại tử 13

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 13

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15

Trang 7

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

3.2.Địa điểm và thời gian tiến hành 17

3.3.Nội dung nghiên cứu 17

3.3.1.Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm ruột hoại tử của lợn rừng lai giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa: 17

3.3.2.Thử nghiệm vắc xin Litter guard để phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa: 17

3.4 Phương pháp nghiên cứu 18

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình mắc bệnh 18

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu sử dụng vắc xin Litter guard để phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con 18

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 18

3.5.1 Chỉ tiêu theo dõi về tình hình mắc bệnh 18

3.5.2 Chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm về hiệu quả sử dụng vắc xin 18

3.6.Công thức tính một số chỉ tiêu 19

3.7.Phương pháp sử lý số liệu 19

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21

4.1.Công tác phục vụ sản xuất 21

4.1.1.Công tác giống 21

4.1.2.Công tác chăm, sóc nuôi dưỡng đàn lợn 21

4.1.3.Công tác phòng và trị bệnh 27

4.2.Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học 34

4.2.1 Kết quả nghiên cứu về bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con 34

Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 44

5.1.Kết luận 44

5.2.Tồn tại 44

5.3 Kiến nghị 45

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

I.Tiếng việt 46

II.Tiếng anh 48

III Tài liệu trích dẫn từ INTERNET 49

PHỤ LỤC

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề

Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế của cả nước nói chung Chăn nuôi, với nhiều phương thức phong phú và đa dạng đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo ra các nguồn thực phẩm cho người tiêu dùng

Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và các hiệp định tự do thương mại khác thì sản phẩm chăn nuôi thuộc ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và sản phẩm thịt lợn nói riêng, khi làm ra phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, không ảnh hưởng tới sức khỏe con người, mới xuất khẩu ra thị trường thế giới và thu ngoại tệ về cho đất nước

Để đáp ứng yêu cầu trên, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều

dự án, chương trình như cải tạo giống lợn, xây dựng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình phòng dịch bệnh phù hợp để tạo ra sản phẩm “sạch”,

có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng tiêu chuẩn của người tiêu dùng trong nước cũng như hướng tới thị trường quốc tế Hiện nay, các giống lợn địa phương, lợn rừng đang thu hút sự quan tâm nhiều do phương thức chăn thả tự

do, nhiều nạc, ngon thịt, phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam, đang rất được ưa chuộng và trở thành “đặc sản” có giá trị trên thị trường

Lợn rừng mặc dù có sức chống chịu dịch bệnh khá tốt, nhưng vẫn hay mắc một số bệnh, trong đó có những bệnh về đường tiêu hóa, đặc biệt bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con… làm tỷ lệ nuôi sống lợn con khá thấp Lợn rừng con khi mắc các bệnh này thường khó điều trị do bản năng sinh sống của

Trang 10

chúng khá hoang dã, lợn mẹ và lợn con hay sợ hãi khi tiếp xúc với con người làm cho bệnh thường trầm trọng, tỷ lệ sống thấp, ảnh hưởng lớn đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi

Bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu, đề cập tới ở nhiều khía cạnh khác nhau Bệnh do vi

khuẩn Clostridium gây ra, gồm các loài như: Clostridium perfringens type A (Viêm ruột hoại tử do sinh ngoại độc tố), Clostridium perfringens type C

(Viêm ruột hoại tử xuất huyết) Để phòng bệnh này cho lợn con, hiện nay đã

có vắc xin Litterguard của hãng Frizer Vắc xin này đã được sử dụng khá rộng rãi trên lợn nhà, tuy nhiên việc sử dụng trên lợn rừng chưa được nghiên

cứu Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu

quả sử dụng vắc xin phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con”

1.2.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng và nguyên nhân gây nên bệnh viêm ruột

hoại tử ở lợn con

- Thử nghiệm vắc xin phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn rừng giai đoạn theo mẹ

1.3.Ý nghĩa của đề tài

1.3.1.Ý nghĩa trong khoa học

- Đề tài xác định được hiệu quả của việc sử dụng vắc xin trong phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn rừng con nuôi tại cơ sở chăn nuôi lợn rừng thuộc Chi nhánh công ty NC & PT động thực vật bản địa

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo của Chi nhánh công ty NC & PT động thực vật bản địa

1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đưa ra các khuyến cáo về sử dụng vắc xin phòng bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn rừng con, góp phần giảm thiệt hại và tăng thu nhập cho người chăn nuôi

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1.Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài

2.1.1.Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn rừng con

Trong cuộc sống hoang dã, lợn con từ 8-12 tuần tuổi mới độc lập với nguồn dinh dưỡng từ mẹ nên sự thay đổi cần thời gian rất dài Khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng của lợn rừng con giai đoạn đầu còn rất yếu Lợn rừng con trong 3 tuần tuổi đầu chỉ có khả năng tiêu hóa cazein, các đường, lipid của sữa, còn các chất khác từ các thức ăn nhân tạo thì chưa có

Khả năng tiêu hóa của lợn con rất hạn chế Vì lượng axít HCl lúc này tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết với các niêm dịch Ngoài sự thiếu HCl tự

do còn có sự giảm axít trong dịch vị thức ăn liền với HCl làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vì thiếu HCl tự do trong dạ dày nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng

ỉa chảy ở lợn con

Để nuôi lợn con thành công trong giai đoạn cai sữa là cần thiết phải

cho lợn con ăn những thức ăn dễ tiêu hóa và chia thành nhiều bữa trong ngày

2.1.2 Khái quát về bệnh viêm ruột hoại tử

Bệnh viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens type C, hoặc type

A gây ra Bình thường Clostridium perfringens hiện diện ở các cơ quan tiêu

hóa của tất cả các lợn con trước khi cai sữa Nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, yếu tố ngoại cảnh xấu, sức đề kháng yếu thì lợn con dễ phát bệnh

Gây bệnh trên lợn con còn bú, làm lợn con viêm ruột tiêu chảy nặng và

chết Bệnh thường xuất hiện ở lợn con từ 5 ngày tuổi đến khi cai sữa

2.1.3.Thiệt hại về kinh tế do bệnh viêm ruột hoại tử gây ra

Ở Việt Nam, bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn do C perfringens gây ra từ

lâu đã gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi và cho sức khỏe cộng đồng Các

Trang 12

thông báo về bệnh trên người lần đầu tiên đã được công bố vào những năm

70 của thế kỷ XX

Ở gia súc, năm 1994, bệnh viêm ruột hoại tử đã gây chết rất nhiều hươu nai Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (1996)[14] đã nghiên cứu và xác định

được nguyên nhân gây bệnh này là do vi khuẩn C perfringens Kết quả cho

thấy, C perfringens không chỉ gây viêm ruột hoại tử cho lợn con, gây nhiễm

độc ruột huyết cho ngựa con mà còn gây viêm ruột hoại tử cho hươu, nai ở mọi lứa tuổi Tuy nhiên, vào thời điểm này các nhà khoa học vẫn chưa xác

định được bệnh do C perfringens thuộc type nào gây ra

Nghiên cứu của Phan Thanh Phượng và cs (1996)[20] về bệnh viêm

ruột tiêu chảy ở lợn cũng đã thấy số lượng C perfringens tăng tới hàng triệu

vi khuẩn trong 1 gam phân so với lợn khỏe mạnh

Năm 1997, tại nhiều địa phương trong nước đã xuất hiện hiện tượng bê, nghé, trâu, bò chết đột ngột với số lượng lớn Ban đầu, bệnh này đã nhầm với bệnh tụ huyết trùng bởi cả hai bệnh này đều gây chết đột ngột Tuy nhiên, khi

áp dụng các biện pháp phòng trị tụ huyết trùng đối với các gia súc có triệu

chứng của bệnh thì không thấy có hiệu quả

2.1.4.Nguyên nhân gây bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn

Do vi khuẩn Clostridium perfringens type C, A bệnh chủ yếu lây qua

đường tiêu hoá như: thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn, sữa mẹ Bình

thường Clostridium perfringens hiện diện ở các cơ quan tiêu hoá của tất cả

các lợn con trước khi cai sữa Nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, yếu tố ngoại cảnh xấu, sức đề kháng của lợn con yếu vì thể lợn con dễ phát bệnh

2.1.5 Khái quát về vi khuẩn Clostridium perfringens type A, Clostridium perfringens type C và cơ chế gây bệnh viêm ruột hoại tử

- Hiểu biết về Clostridium perfringens type A

Vi khuẩn C perfringens type A là vi khuẩn thường xuyên có sẵn trong

Trang 13

đường ruột của lợn, có thể là nguyên nhân gây bệnh viêm ruột ở lợn con lợn

mẹ và lợn sau cai sữa Mầm bệnh có mặt ở trong đất, phân, chất chứa đường tiêu hóa nên bệnh có thể xảy ra bất kỳ lúc nào; cùng một trang trại có thể thấy

nhiều con trong đàn bị mắc bệnh (Taylor, 2006)[32] Bệnh viêm ruột do C

perfringens type A chủ yếu là gây hiện tượng tiêu chảy do tiết dịch còn hiện

tượng hoại tử tế bào biểu mô ruột thì không rõ ràng

C perfringens type A cũng giống như C perfringens type C, nhưng

khuẩn lạc của type A trên môi trường thạch máu tạo thành 2 vòng dung huyết đặc trưng Vòng dung huyết ngoài tạo ra do a-toxin, còn vòng trong do y-toxin

Một số C perfringens type A sản sinh ra độc tố ruột khi tạo nha bào (dạng nha bào), có một số khác (C perfringens type A dạng dinh dưỡng) sinh

ra độc tố ruột và thường tạo ra nhiều độc tố a Vì thế đã làm xuất hiện hai hội

chứng có liên quan đến C perfringens type A Cả hai nhóm tạo nha bào sản

sinh độc tố ruột và nhóm tạo độc tố ruột sản sinh a - toxin khi ở dạng dinh dưỡng đều đã được xác minh ở trên lợn (Taylor D.J, 1986; Bergeland M.E, 1986)[33]

Vi khuẩn thường tồn tại ở chất chứa trong đường ruột và đất Nha bào

có thể sống sót trong đá lạnh 00C và nước sôi 1000C trong 10 phút, nhưng các

tế bào dinh dưỡng lại rất dễ bị tác động bởi nhiệt Trong thực tế, đặc điểm

dịch tễ của bệnh do C perfringens type A gây ra ở lợn đến giờ vẫn chưa được

nghiên cứu nhiều, vì thế còn nhiều điểm chưa được làm sáng tỏ

Bệnh xảy ra ở các trang trại chăn nuôi và trong một ổ lợn là sự kết hợp

của các nhóm C perfringens type A với các đặc tính sinh vật giống nhau Tuy

nhiên cho đến nay người ta vẫn chưa có thể xác định một cách chắc chắn chúng

thuộc nhóm vi khuẩn C perfringens type A nào (dạng nha bào hay dinh dưỡng)

Trang 14

Taylor D.J (1986), Bergeland M.E (1986)[33] cho biết: Một số nhóm

C perfringens type A có gen sản sinh độc tố ruột (Entertoxin) có khả năng

gây ra ngộ độc thực phẩm cho người, thường xảy ra với đồ ăn nguội là thịt lợn và cho đến bây giờ người ta vẫn chưa biết một cách chính xác mối liên quan giữa các nhóm vi khuẩn gây ngộ độc cho người này với khả năng gây bệnh cho vật nuôi

Bệnh nhiễm khuẩn C perfringens type A thường xảy ra ở lợn con

sau khi đẻ khoảng vài giờ, vi khuẩn có thể được tìm thấy ở ngay phân sữa Trong chất chứa ruột (đoạn ruột chay, ruột hồi) có thể phát hiện được 108 -

109 CFU/g, tương đương với số lượng vi khuẩn có trong ruột già và trong phân Vi khuẩn dạng dinh dưỡng (Vegetative forms) sản sinh độc tố a và

có thể một số độc tố khác gây hoại tử ở tế bào biểu mô ruột của lợn trong gây bệnh thực nghiệm

Dạng hình thành nha bào sản sinh độc tố ruột, gây hoại tử lông nhung khá nặng và hút nước vào trong lòng ruột, độc tố cố định vào tế bào biểu mô của ruột kết, làm mất khả năng tái hấp thu nước Kháng thể của cả hai loại độc tố ruột này có trong sữa đầu, bệnh thường quan sát được khi lợn con đã cai sữa lúc 5 - 7 tuần tuổi (Taylor D.J, 1986; Bergeland M.E, 1986)[33]

C perfringens type A thường gây bệnh cho lợn khoảng một tuần tuổi,

nguồn bệnh chủ yếu là do nhiễm từ mẹ Lợn con có thể chết đột ngột trong vòng 48 giờ sau khi nhiễm bệnh Triệu chứng của lợn bệnh chủ yếu là ỉa chảy, phân nát màu vàng có lẫn màng nhày niêm mạc ruột và có các vệt máu tươi Con vật chậm chạp, bụng thóp, hậu môn dính bết, con vật không sốt, có thể chết sau khi sinh 36 - 48 giờ với tỉ lệ chết thấp

Trường hợp bệnh gây ra bởi C perfringens dạng nha bào, lợn bệnh

Trang 15

tháo chảy ra nước, kéo dài 24 - 48h Đối với lợn cai sữa từ 5 - 7 tuần tuổi, thường thấy ỉa chảy hoặc phân nhão khi nhiễm bệnh kéo dài 4 - 7 ngày Dạng

ỉa chảy này lợn thường ít chết nhưng sau đó rất chậm hồi phục Lợn mắc

bệnh thường do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm nha bào Clostridia

- Bệnh tích

Biến đổi bệnh lý đại thể quan sát được đó là: lợn bị bệnh thường biểu hiện mất nước, thành ruột non dày, trong đó chất chứa tựa như bột nhão, rất hiếm trường hợp thấy có máu, niêm mạc viêm nhẹ và có dính chút ít chất hoại tử Trong ruột già cũng đầy chất chứa nhão, niêm mạc thường là bình thường hoặc thỉnh thoảng thấy có mảnh vụn hoại tử Bệnh xảy ra trên lợn sau cai sữa rất ít thấy biến đổi bệnh lý trên niêm mạc ruột, nhưng có thể thấy bọt

và các chất nhầy chứa trong ruột

Ruột non ở những lợn chết thường xung huyết, chất chứa có nhiều dịch

và nước, nhưng không có máu Trên bề mặt niêm mạc không tràng và hồi tràng quan sát thấy các đám hoại tử Những quan sát sau khi mổ khám không

thể chứng minh được là trường hợp bệnh do viêm ruột C perfringens type A Tuy nhiên, điều này giúp phân biệt bệnh do C perfringens type B và C, vì

những con bị bệnh không có hiện tượng ruột non có màu đỏ đậm Ngoài hiện tượng xung huyết bên ngoài ruột và xác chết màu thẫm, các biến đổi khác không rõ Trong thể bệnh mãn tính, cũng có thể quan sát thấy một số biến

đổi tương tự C perfingens type A C perfingens type A có thể phân lập được

từ môi trường nuôi cấy ruột non của những động vật bị bệnh viêm ruột do một số nguyên nhân khác như bệnh viêm dạ dày ruột, rotavirus, cầu trùng và nhiễm crystosporidia Bệnh tích quan sát được cũng như phần triệu chứng đã

mô tả, tuy nhiên C perfringens type A có thể gây teo lông nhung và có chứa

nhiều chất nhày niêm mạc

Trang 16

- Khái quát về Clostridium perfringens type C

Bệnh viêm ruột hoại tử ác tính ở lợn gây ra bởi C perfringens type C

thường gặp nhất ở giai đoạn lợn con theo mẹ từ 1 - 14 ngày tuổi và đặc biệt xảy ra trầm trọng lúc sơ sinh, dưới 1 tuần tuổi Bệnh có biểu hiện lâm sàng tiêu chảy xuất huyết nặng và có tỷ lệ tử vong cao trong trường hợp thể bệnh

là cấp tính, ở thể á cấp tính mức độ hoại tử thường nhẹ hơn

Bệnh được mô tả lần đầu tiên vào năm 1955 ở Anh và Hungari, sau đó

Mỹ, Đan Mạch, Đức, Newzealand, Canada, Nhật cũng đều có thông báo phát hiện bệnh Đến nay, bệnh đã được phát hiện hầu hết ở các vùng chăn nuôi lợn trên thế giới (Taylor D.J, 1986; Bergeland M.E, 1986)[33]

- Mầm gây bệnh

C perfringens là vi khuẩn Gram (+), không di động, kích thước từ 1 -

1,5 µm x 4 – 8 µm, tạo nha bào to hơn thân vi khuẩn, có hình trứng cân xứng

hay lệch tâm Trong thực tế rất ít khi có thể quan sát được nha bào (Taylor D.J, 1986; Bergeland M.E, 1986)[33]

Trên môi trường thạch máu cừu hay bò 7%, sau 24h nuôi cấy vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc rõ ràng, có đường kính 3 - 5mm màu xám,

tròn, dung khuyết kiểu beta C perfringens type C sản sinh độc tố phần lớn là a

và p, nhưng chủ yếu là độc tố p gây hoại tử xuất huyết Đây cũng chính là nhân

tố quan trọng nhất trong sinh bệnh học của bệnh này

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu về bệnh viêm ruột hoại tử do C

perfringens type C gây ra trên lợn sơ sinh, Harbola P.C, Khera S.S

(1990)[25] cũng thông báo phát hiện thấy độc tố này ở C perfringens type D

Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây của Radostits O.M (1994)[31] đã khẳng định: theo như hầu hết các đặc điểm mô tả lại thì đều thuộc vai trò gây

bệnh của C perfringens type C

Trang 17

- Cơ chế sinh bệnh

Vi khuẩn C perfringens có trong hệ vi sinh vật đường ruột bình thường

của động vật và con người Vì vây, thường có 2 yếu tố gây nên bệnh: do vi

khuẩn có sẵn trong đường ruột và do thức ăn bị nhiễm C perfringens, cùng

với một số thay đổi về môi trường, khẩu phần thức ăn, thức ăn chứa nhiều protein dẫn tới cơ thể bị giảm nhu động ruột, giữ lại vi khuẩn trong cơ thể

và cuối cùng, cơ thể hấp thu các độc tố gây bệnh Cacbonhydrat không tiêu

hóa được là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn C perfringens sinh trưởng và

phát triển nhanh chóng Bình thường, vi khuẩn này có nhiều ở ruột già nhưng khi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩn lại xâm nhập lên ruột non và sản sinh ra một lượng lớn độc tố gây nhiễm độc đường ruột Trong đường tiêu

hóa, với sự bội nhiễm về số lượng, vi khuẩn C perfringens tấn công vào lớp

màng nhày rồi vào lớp biểu mô ruột, dưới tác dụng của độc tố gây xuất huyết, hoại tử tổ chức nhung mao ruột, từ đó lan dần vào sâu tới các lớp niêm mạc ruột Trong nhiều trường hợp, vi khuẩn xâm nhập vào thành ruột tạo thành những ổ viêm nhiễm, gây khí thũng dưới lớp niêm mạc hoặc lớp cơ hay đi sâu vào trong các tổ chức hay các hạch lympho lân cận

- Dịch tễ

Vi khuẩn C perfringens type C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn con

dưới 7 ngày tuổi (thường lợn 3 ngày tuổi có tỉ lệ mắc bệnh rất cao), có thể gây bệnh mãn tính ở lợn lớn hơn từ 2 - 4 tuần tuổi và cả khi đã cai sữa (Maeckinnon, 1989)[29]

Bệnh xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới Mầm bệnh thường được thải qua phân tồn tại lâu ở ngoài môi trường dưới dạng nha bào, có sức đề kháng với nhiệt độ, chất sát trùng, tia tử ngoại chính là nguồn lây lan bệnh cho lợn Taylor D.J, Bergeland M.E, (1992)[23] cho biết lợn con bị viêm ruột hoại tử có tỷ lệ chết khá cao, nhiều khi lên tới 100% Đối với những

Trang 18

chuồng nuôi không đảm bảo điều kiện vệ sinh, chính phân và da của lợn mẹ

bị ô nhiễm bởi vi khuẩn yếm khí này là vật mang trùng, nguồn reo rắc mầm

bệnh cho lợn sơ sinh Trong phân lợn nái chứa một số lượng ít vi khuẩn C

perfringens type C nhưng vi khuẩn sẽ tăng lên rất nhiều, chiếm ưu thế trong

đường tiêu hóa của lợn con (có thể lên tới 108

- 109 CFU/g chất chứa trong vòng một vài giờ sau khi nhiễm), lấn át các vi khuẩn khác thuộc hệ vi sinh vật đường ruột và gây bệnh (Ohnuna và cs., 1992)[30] Mầm bệnh thường được thải ra ngoài theo phân, tồn tại lâu trong môi trường chăn nuôi dưới dạng nha bào, có sức đề kháng cao với nhiệt độ, tia tử ngoại, chất sát trùng chính là nguồn gây bệnh cho lợn

Ở Việt Nam, bệnh thường xảy ra vào mùa mưa, nóng ẩm từ mùa hè đến mùa thu Thông thường 3 - 4 đàn hoặc một số con trong đàn bị bệnh, nhưng cũng có những thông báo về dịch xảy ra trên 50 đàn (Taylor, 2006)[32] Bệnh làm lợn chết với tỷ lệ cao 50 - 100%

Hogh (1967)[27] Đã theo dõi ở 24 đàn lợn bị bệnh ở Đan Mạch thấy tỉ

lệ chết là 54% Ở Việt Nam, các đàn lợn con theo mẹ ở lứa tuổi 2 - 3 tuần tuổi thuộc nông trường Toàn Thắng (1982) có tỷ lệ chết từ 60 - 80% (Bộ môn

Vi trùng, Viện Thú Y, 1985)[1]

Lợn có thời gian ủ bệnh từ 1 - 2 ngày, sau đó thể hiện các thể bệnh sau: + Thể quá cấp tính: lợn con bị nhiễm trực khuẩn ngay sau khi sinh, rất yếu và chết ngay trong ngày thứ nhất hoặc ngày thứ hai Chúng thường thể hiện sự nhiễm khuẩn ngay sau 10 giờ đầu sau sinh, thể hiện ỉa chảy và xuất huyết rất nặng, yếu ớt, không đi lại được, không bú được và chết nhanh

+ Thể cấp tính: bệnh đột ngột xuất hiện trong khoảng 2 ngày và lợn thường chết vào ngày thứ 3 Lợn bệnh có biểu hiện và triệu chứng như: phân lỏng có màu đỏ nâu, hoại tử niêm mạc ruột, yếu ớt không đi lại được và chết

Trang 19

thường vào ngày thứ 3 sau khi sinh

+ Thể thứ cấp tính: thường gặp ở lợn 5 - 7 ngày tuổi, lợn con không xuất hiện ỉa chảy xuất huyết mà phân của lợn bệnh đầu tiên sệt màu vàng, sau

là chất dịch nhày màu xám có nhiều niêm mạc ruột bị hoại tử bong ra, giống như nước gạo đặc Con vật vẫn hoạt động, ăn uống bình thường nhưng ngày càng gầy còm và chết do mất nước

+ Thể mãn tính: lợn bệnh ỉa chảy nhưng gián đoạn kéo dài từ 1 tuần đến nhiềutuần, phân màu vàng xám và có các mảng niêm mạc bị hoại tử, vùng đuôi

và khoeo chân thường dính đầy phân Lợn bệnh có thể hồi phục sau 10 ngày hoặc hơn nhưng sau đó còi cọc, chậm lớn với tỷ lệ cao Phần lớn lợn bệnh bị chết sau 5

- 6 tuần do kiệt sức

- Bệnh tích

Lợn mắc viêm ruột hoại tử do C perfringens type C bị chết đột ngột

thường thể trạng bình thường và có thể không quan sát thấy phân ở vùng mông Khi dùng tăm bông ấn vào hậu môn hoặc kích thích nhẹ nhàng sẽ khiến cho phân có thể thải ra ngoài Phân thường nhão và có màu đỏ, vùng bụng biến màu chuyển sang màu xanh

Mổ khám lợn chết thấy:

+ Thể quá cấp tính: ruột non đỏ sẫm do xuất huyết Xuất huyết ở cả dạ dày, phần ruột non nối với ruột già và cả ruột già Các hạch ruột cũng sưng và xuất huyết đỏ Kiểm tra kính hiển vi có thể thấy lớp nhung mao ruột bị phá hủy, tróc ra từng mảng và xuất huyết sâu cả trong từng cơ vòng của ruột

+ Thể cấp tính: thấy hiện tượng hoại tử ruột rõ ràng hơn thể quá cấp tính nhưng xuất huyết thì ít hơn thể quá cấp tính Ruột có thể tổn thương từng đoạn dài tới 40 cm (Bergeland, 1992)[23] Khổng tràng bị viêm, xuất huyết

có màng giả, thường căng phồng, có màu đỏ tím đậm, bên trong đầy chất chứa sền sệt có lẫn máu

+ Thể mãn tính: màng ruột có thể nhạt màu và sưng dày lên, trên niêm mạc ruột hình thành một lớp bựa hoặc nhiều dịch nhày, có nhiều đám hoại tử,

Trang 20

mỗi đám kéo dài từ 1 - 2 cm, kiểm tra kính hiển vi ở những đám hoại tử thấy

có nhiều trực khuẩn C perfringens và tổ chức viêm tiến triển

2.1.6 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh viêm ruột hoại tử

2.1.6.1.Triệu chứng của bệnh viêm ruột hoại tử

Thường xảy ra chủ yếu ở lợn sơ sinh, có biểu hiện viêm ruột chảy máu

Xảy ra với thể quá cấp hoặc cấp tính Lợn bệnh dễ bị chết rất nhanh và tỷ lệ chết cao Tuy nhiên tỷ lệ lợn bệnh lại không cao

- Ở thể quá cấp tính: xảy ra rất nhanh trong vòng 8 giờ đầu tiên sau khi

sinh, lợn con trở nên yếu ớt dần dần rồi chết Thường không biểu hiện triệu chứng gì bên ngoài, có khi thấy tiêu chảy ra máu

- Ở thể cấp tính: thường thấy trên lợn con khoảng 2-5 ngày tuổi Dấu

hiệu đầu tiên là chết bất thình lình và kèm theo ỉa chảy ra máu, bệnh xảy ra rất nhanh lợn chết sau khi tiêu chảy ra máu

- Ở thể bán cấp tính: lợn con đi phân thường có màu nâu đỏ có chứa

những mảng hoại tử, lợn trở nên yếu dần rồi chết sau 2-3 ngày mắc bệnh

2.1.6.2.Bệnh tích của bệnh viêm ruột hoại tử

- Cả hệ thống tiêu hóa ở lợn con xung huyết và xuất huyết

- Lợn con gầy còm, yếu ớt rõ rệt trước khi chết

- Ở thể cấp tính nhẹ và á cấp tính thường ruột viêm xuất huyết, sưng

to và trở nên dày trong ruột có khô, làm ruột căng phồng

- Khi đã xuất hiện triệu chứng lâm sàng, khó có thể chữa khỏi, do đó cần có biện pháp phòng bệnh là tốt nhất

2.1.7 Chẩn đoán bệnh tiêu chảy do Clostridium perfringens type A, Clostridium perfringens type C, gây ra

Chẩn đoán lâm sàng: Dựa vào triệu chứng lâm sàng, các đặc điểm dịch

tễ học và bệnh tích đặc trưng (bệnh thường chỉ xảy ra ở lợn con từ 1 - 30 ngày tuổi, nặng nhất là lứa tuổi từ 1 - 7 ngày với các hội chứng điển hình: ỉa chảy

ra máu, xuất huyết, lợn chết đột ngột và hoại tử ruột)

Trang 21

Lợn có bệnh tích ở đoạn giữa ruột non có màu đỏ của rượu vang và

trên manh tràng có xuất huyết Một đặc điểm đặc trưng là gan chứa đầy hơi và chuyển sang màu sô cô la rất nhanh Có thể nhìn thấy viêm màng bụng,

nhưng lợn con thường chết trước khi có bệnh tích này

2.1.8 Vắc xin phòng trị bệnh viêm ruột hoại tử

Litter Guard là vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn, lợn nái mang

thai do vi khuẩn yếm khí Clostridium perfrigens type C, A gây ra do hãng

Frizer cung cấp

Cách dùng: Lắc đều, tiêm bắp hoặc tiêm dưới da với liều 2 ml/con Bảo quản: 2 – 7 0

C, không để trong ngăn đông đá

Không sử dụng vắc xin trước khi giết mổ 21 ngày

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò gây

bệnh của Clostridium nói chung và vi khuẩn C perfringens nói riêng Các tác giả đã khẳng định được C perfringens đóng vai trò quan trọng trong việc gây

bệnh (đặc biệt là các bệnh đường tiêu hóa) ở người và các loài gia súc Hiện

nay các nghiên cứu thường tập trung vào cấu trúc phân tử các độc tố của C

perfringens, phương pháp xác định độc tố và vai trò gây bệnh của chúng

Năm 1865, nhà vi trùng học Feser đã phát hiện ra vi khuẩn C

perfringens đầu tiên trên mô bào của một số bò bị mắc bệnh tiêu chảy Vi

khuẩn C perfringens được phân lập đầu tiên vào năm 1892 bởi Welch và

Nuttall trong tổ chức có hơi của xác người chết

Năm 1931, bằng phương pháp trung hòa kháng độc tố với độc tố thu

Trang 22

được từ môi trường nuôi cấy vi khuẩn, Wilsdon đã phân lập được 4 type C

Perfringens gây bệnh là A, B, C, D Năm 1943, cũng bằng phương pháp trên

Bosworth đã phát hiện thêm type E (Hatheway, 1990)[26]

Fairbrother J.M (2006)[24] cho biết, tiêu chảy là một bệnh gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn trên thế giới Bệnh xuất hiện ở cả ba lứa tuổi: lợn sơ sinh, lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa

Theo Khooteng Huat (1995)[28], ở lợn có tới 11 loài virus và 16 loài vi

khuẩn gây ra hội chứng tiêu chảy, trong đó có C perfringens gây ra bệnh

viêm ruột hoại tử ở lợn con

Trong các type vi khuẩn C perfringens gây bệnh, type C có sự phân bố

rộng và khả năng gây bệnh cho người cũng như động vật cao hơn cả so với

những type khác Viêm ruột hoại tử ở những động vật non do vi khuẩn C

Perfringens bởi type C được tìm ra ở Anh và Hungari từ năm 1955, sau đó vi

khuẩn này được nghiên cứu và tìm ra ở nhiều quốc gia khác trên thế giới như:

Mỹ, Liên Xô, Hà Lan, Canada, Nhật Bản cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Taylor và cs (1986)[33]

Đặc biệt, trong thời gian từ 1/10/2001 đến 31/12/2004, EU đã có

chương trình QLK2-2001-01267 “Nghiên cứu bệnh lý học và mối quan hệ

của giống Clostridium ở người, động vật và thực phẩm – nguyên nhân gây bệnh, dịch tễ học và cách phòng bệnh” Mục đích của chương trình giúp các

nhà khoa học Châu Âu có thể trao đổi những nghiên cứu và hiểu biết về

giống Clostridium Kết quả đã nêu rõ những đặc điểm dịch tễ bệnh do

Clostridium gây ra, xác định các đặc tính của vi khuẩn gây bệnh và đề xuất

biện pháp phòng chống có hiệu quả Chương trình cũng đem lại một sự hợp

tác nghiên cứu toàn diện về Clostridium trong nhân y, thú y và vệ sinh an

toàn thực phẩm

Trang 23

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn do C perfringens gây ra từ

lâu đã gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi và cho sức khỏe cộng đồng Các thông báo về bệnh trên người lần đầu tiên đã được công bố vào những năm

70 của thế kỷ XX

Trần Thị Hạnh và cs (2000)[4] đã nghiên cứu vai trò của vi khuẩn E

Coli và C perfringens trong bệnh tiêu chảy ở lợn con và đã kết luận ngoài vi

khuẩn E.coli là nguyên nhân gây bệnh chính, một tác nhân gây bệnh cũng

quan trọng khác là C perfringens type C Vi khuẩn này gây viêm ruột hoại

tử, xuất huyết ở lợn sơ sinh và gây ra tỷ lệ chết cao từ 50 – 100%

Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2002)[5] Khi nghiên cứu nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con cũng khẳng định một trong những nguyên nhân

gây bệnh quan trọng là C perfringens type C Từ các kết quả thu được, các tác giả đã nghiên cứu và chế tạo thử nghiệm thành công chế phẩm sinh học C

Perfringens – toxoid, EBC để phòng và trị bệnh Các chế phẩm này đưa vào

sử dụng thử nghiệm không những cho kết quả tốt trong phòng và trị bệnh cho lợn mà còn có tác dụng kích thích tăng trọng và giảm tiêu tốn thức ăn

Theo thông báo của Nguyễn Thị Nội và cs (1989)[13]; Lê Minh Chí (1995)[2] trong một vài thập kỷ qua hội chứng tiêu chảy ở Việt Nam là một vấn đề thời sự, lợn ở rất nhiều địa phương bị bệnh và gây thiệt hại khá nghiêm trọng

Theo các kết quả nghiên cứu của Hồ Văn Nam và cs (1997)[12], Hoàng Văn Tuấn và Lê Văn Tạo (1998)[16] cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa ở lợn rất cao, nhất là viêm ruột ỉa chảy

Các tác giả Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng và cs (1996)[3], Hồ Văn Nam và cs (1995)[15] cho biết, dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy, thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là quá trình nhiễm trùng

Trang 24

Hồ Văn Nam và cs (1997)[12] nhấn mạnh rằng vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy Nguyễn Thị Nội và cs (1989)[13] cho biết, sau khi điều tra tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn đã có kết luận nguyên nhân gây tiêu chảy chủ yếu

ở một số cơ sở chăn nuôi lợn là do E.coli, Salmonella, Streptococus, C

perfingens bên cạnh đó còn thường xuyên phân lập được Klebsiella, Proteus

và Pseudomonas

Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng và cs (1996)[3] cho biết đứng

đầu trong số các mầm bệnh vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E.coli Cũng

theo tác giả này, vi khuẩn yếm khí C perfringens gây bệnh khi có điều kiện

thuận lợi sẽ trở thành vai trò chính gây tiêu chảy

Kết quả nghiên cứu trong nước của các tác giả Nguyễn Văn Sửu và

cs (2008)[19] về tình hình mắc bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con tại một số

huyện của tỉnh Thái Nguyên cho thấy, C perfringens là một trong các

nguyên nhân gây bệnh quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn lứa tuổi

1 - 60 ngày

Nguyễn Quang Tính (2008)[18] đã thông báo kết quả nghiên cứu xác

định một số đặc tính và định typ của C perfringens phân lập từ dê bị tiêu

chảy ở tỉnh Thái Nguyên và sử dụng autovacxin phòng bệnh

Tiến sĩ Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs.(2010)[10] đã có báo cáo “Nghiên cứu

tình hình nhiễm, vai trò của vi khuẩn C perfringens trong hội chứng tiêu chảy ở bò, lợn nuôi tại Hà Nội và các tỉnh phụ cận” Nghiên cứu đã khẳng

định vai trò của vi khuẩn C perfringens trong hội chứng tiêu chảy ở lợn và bò; chỉ ra được khả năng sản sinh độc tố ruột và độc tố ß-2 của các chủng C

perfringens phân lập từ bò và lợn tại Việt Nam; đã giải trình tự gen một số

chủng của vi khuẩn C perfringens, đem lại hiểu biết về dịch tễ học phân tử của vi khuẩn C perfringens tại Việt Nam

Trang 25

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đàn lợn rừng lai F2 {♂ rừng x ♀ F1 (♂ rừng x ♀ địa phương)} giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa

- Phạm vi nghiên cứu: Vắc xin phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn rừng con

3.2.Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm nghiên cứu: Cơ sở trại chăn nuôi động vật bán hoang dã – Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa

Địa chỉ: Xã Tức Tranh - huyện - Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2015 đến tháng 05 năm 2016

3.3.Nội dung nghiên cứu

3.3.1.Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm ruột hoại tử của lợn rừng lai giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa:

- Tình hình cảm nhiễm bệnh của lợn rừng lai giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa nuôi tại trại chăn nuôi bán hoang dã

- Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm ruột hoại tử trên đàn lợn rừng giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa trong thời gian theo dõi

- Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm ruột hoại tử trên đàn lợn rừng theo tuổi của lợn con

3.3.2.Thử nghiệm vắc xin Litter guard để phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa:

Khảo nghiệm hiệu lực phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa

Trang 26

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình mắc bệnh

- Lập sổ sách theo dõi đàn lợn cần kiểm tra bằng cách theo dõi, ghi chép những lợn có biểu hiện lâm sàng, triệu chứng lâm sàng có thể quan sát được hàng ngày vào sáng sớm và chiều tối

- Hàng ngày theo dõi sức khỏe đàn lợn rừng con, phát hiện những lợn

có biểu hiện về bệnh viêm ruột hoại tử

- Từ kết quả tổng hợp được tính toán tỉ lệ mắc bệnh viêm ruột hoại tử

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu sử dụng vắc xin Litter guard để phòng bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con

Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo đồng đều các yếu tố về giống, tuổi, lứa đẻ và chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ Lợn con sau khi đẻ được hộ lý và chăm sóc, nuôi dưỡng như nhau

Thí nghiệm gồm hai lô:

Lô TN: Tiêm vắc xin Litter Guard cho lợn mẹ ở thời điểm 2 tuần trước khi đẻ Liều lượng 2m/con

Lô ĐC: Không tiêm vắc xin Litter Guard

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi

3.5.1 Chỉ tiêu theo dõi về tình hình mắc bệnh

- Tỷ lệ mắc bệnh chung của lợn rừng lai giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa nuôi tại trại

- Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn rừng lai theo lứa tuổi

- Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm ruột hoại tử theo thời gian (tháng) trong thời gian thực tập

3.5.2 Chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm về hiệu quả sử dụng vắc xin

- Số lợn con mắc bệnh tiêu chảy

- Số lợn con mắc bệnh viêm ruột hoại tử

Trang 27

- Tình trạng mắc bệnh tiêu chảy

- Tình trạng mắc bệnh viêm ruột hoại tử

- Tỷ lệ lợn con chết do mắc bệnh viêm ruột hoại tử

- Tỷ lệ khỏi bệnh:

Tỷ lệ khỏi bệnh (%) =

Tổng số lợn khỏi bệnh

x 100 Tổng số lợn điều trị

- Tỷ lệ chết:

Tỷ lệ chết (%) =

Số lợn chết

x 100 Tổng số lợn mắc bệnh

- Tỷ lệ viêm ruột hoại tử theo lứa tuổi:

Tỷ lệ viêm ruột hoại tử

theo lứa tuổi (%) =

Số lợn tiêu chảy theo từng lứa tuổi

x 100 Tổng số lợn điều tra lứa

Trang 29

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1.Công tác phục vụ sản xuất

4.1.1.Công tác giống

Công tác giống tại trại rất được chú ý, giúp cho đàn lợn phát triển nhanh về số lượng và chất lượng Lợn nái được đánh số thẻ và có sổ theo dõi sát sao về thời gian động dục , ngày động dục , ngày phối giống , giờ phối giống, kiểm tra và cho phối la ̣i những nái không thụ thai

Tại trại, lợn nái được phối giống theo phương pháp nhảy trực tiếp, khi lợn động dục cuối ngày thứ 2, cho lợn nái vào ô chuồng lợn đực để phối trực tiếp Thực hiện chế độ phối lặp vào buổi sáng hôm sau Ghi chép đầy đủ sổ sách các thông số như thời gian động dục, thời điểm phối giống, lợn đực, số lần phối giống… Trong quá trình thực tập tại cơ sở, em đã tiến hành ghép đôi giao phối cho 15 con lợn nái, số nái phối đạt là 14, tỷ lệ phối đạt là 100%

Công tác chọn lợn giống được tiến hành trên những cá thể khỏe mạnh cân đối, lợn cái chân đi móng, vai nở, mông nở, phàm ăn, da lông bóng mượt,

2 hàng vú đều , khoảng cách rộng , âm hộ to vừ a phải Lợn đực khỏe mạnh, phàm ăn, tính hăng cao, cà đều, to, mắt sáng, chân khỏe

Trong quá trình thực tập, em đã tham gia tuyển chọn được 14 lợn đực giống và 20 lợn nái hậu bị cung cấp cho các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc

4.1.2.Công tác chăm, sóc nuôi dưỡng đàn lợn

Nhằm nâng cao trình độ và tay nghề với mỗi sinh viên trong quá trình học tập tại giảng đường, sinh viên cần vận dụng các kiến thức đã học, không ngừng học hỏi, chăm chỉ thực hành tại nơi thực tập Em đã tiến hành tham gia các công việc chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn thịt, lợn đực và lợn nái của cơ sở

Kết quả công tác chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn tại trại như sau:

Trang 30

Trong quá trình làm việc hàng ngày, luôn tuân thủ đúng các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng các loại lợn tại trại, bao gồm: Sáng sớm kiểm tra đàn lợn, kiểm tra tình hình bệnh tật, sức khỏe của đàn lợn, sau đó tiến hành chế biến thức ăn, vệ sinh chuồng trại, nuôi dưỡng chăm sóc và điều trị bệnh cho đàn lợn nếu có

 Chăm sóc, nuôi dƣỡng lợn nái chửa

Trong thời gian có chửa lợn nái có nhiều đặc điểm thay đổi, hợp tử bám

và làm tổ ở tử cung và bắt đầu phát triển bình thường, các cơ quan bộ phận liên quan (nhau thai, bọc ối, niệu, tử cung và bầu vú) đều được phát triển trong thời gian 114 ngày Do vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng chúng phải phù hợp và đảm bảo để có số con sơ sinh cao; khối lượng cai sữa cao; lợn con sinh

ra khỏe mạnh và có sức đề kháng tốt Lợn mẹ phát triển bình thường, dự trữ

đủ chất dinh dưỡng để tiết sữa nuôi con sau này, không bị hao mòn lớn

Lợn nái sau khi phối giống đã chắc chắn có chửa được nhốt vào chuồng hạn chế thả ra sân để dễ chăm sóc và quản lý

Chế độ ăn cho lợn như sau: Trong giai đoạn chửa kỳ I bào thai chưa phát triển mạnh vì vậy khẩu phần ăn là 0,5 kg tinh/con; 0,05 kg đậm đặc/con, 1- 2,0 kg thức ăn thô xanh/con Giai đoạn chửa kỳ II tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh vì vậy cần cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai phát triển ở giai đoạn cuối để lợn con sinh ra đạt được khối lượng sơ sinh cao Giai đoạn này cho ăn tăng 20% khẩu phần so với lợn nái chửa kỳ I như vậy giai đoạn này khẩu phần ăn là 0,6 kg thức ăn tinh/con; 0,06 kg đậm đặc/con và 1-1,5 kg thức ăn thô xanh

Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa trong một ngày chúng ta cần chú ý đến yếu tố khối lượng của cơ thể, thể trạng của lợn nái, tình trạng sức khỏe, nhiệt độ môi trường Lợn gầy cho ăn thêm 20% thức ăn tinh so với lợn bình thường, mùa đông khi nhiệt độ dưới 150C cho ăn thêm 20% thức ăn tinh

Ngày đăng: 06/07/2017, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Minh Chí (1995), “Bệnh tiêu chảy ở gia súc”, Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Hà Nội, tr 20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh tiêu chảy ở gia súc
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1995
3. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng và cs. (1996), “Viêm ruột hoại tử ở lợn con”, Báo cáo khoa học thú y - 1/1996, Viện Thú y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm ruột hoại tử ở lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng và cs
Năm: 1996
4. Trần Thị Hạnh, Kiều Thị Dung, Lưu Quỳnh Hương, Đặng Xuân Bình (2000), “Xác định vai trò của vi khuẩn E. coli và C. perfringens trong bệnh tiêu chảy ở lợn con giai đoạn theo mẹ, chế tạo các chế phẩm phòng bệnh”, Tạp chí KHKT thú y tập IV, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định vai trò của vi khuẩn E. coli và C. perfringens trong bệnh tiêu chảy ở lợn con giai đoạn theo mẹ, chế tạo các chế phẩm phòng bệnh
Tác giả: Trần Thị Hạnh, Kiều Thị Dung, Lưu Quỳnh Hương, Đặng Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
5. Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình (2002), “Xác định vai trò của E. coli và C.perfringens đối với bệnh ỉa chảy ở lợn con”, Tạp chí KHKT Thú y số 1/2002 Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định vai trò của E. coli và C.perfringens đối với bệnh ỉa chảy ở lợn con
Tác giả: Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2004), “Phân lập, định typ, lựa chọn chủng vi khuẩn E.coli và C. perfringens để chế tạo sinh phẩm phòng bệnh cho lợn con giai đoạn theo mẹ", Báo cáo chăn nuôi thú y, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr.306-314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập, định typ, lựa chọn chủng vi khuẩn E.coli và C. perfringens để chế tạo sinh phẩm phòng bệnh cho lợn con giai đoạn theo mẹ
Tác giả: Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
7. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Minh, Lê Thị Ngân (2006b), “Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XIII, số 4/2006, tr 92-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên
8. Phạm Sỹ Lăng (2009), “Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng trị”, Tạp chí KHKT thú y tập XVI, số 6, tr 80 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2009
9. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung (1997), “Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
10. Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Bá Hiên (2010), Một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Clostridium perfringens phân lập từ bò và lợn mắc hội chứng tiêu chảy tại Hà Nội và vùng phụ cân, Tạp chí khoa học thú y, tập XVI, số 4, trang 58 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clostridium perfringens
Tác giả: Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2010
11. Hồ Văn Nam, Nguyễn Bá Hiên (1995), “Một số vi khuẩn thường gặp ở đường ruột trâu bò khỏe mạnh và ỉa chảy do viêm ruột tại vùng ngoại thành Hà Nội ”, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y (1991-1995), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr.140-145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vi khuẩn thường gặp ở đường ruột trâu bò khỏe mạnh và ỉa chảy do viêm ruột tại vùng ngoại thành Hà Nội ”
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Bá Hiên
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1995
12. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch (1997), “Hệ vi khuẩn gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn”, Tạp chí KHKT Thú y tập IV, số 1, Năm 1997, trang 15 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ vi khuẩn gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch
Năm: 1997
13. Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thị Sở, Trần Thị Hà (1989), “Kết quả điều tra tình hình nhiễm khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi (1985 - 1989)”, kết quả nghiên cứu KHKT Thú y - Viện thú y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả điều tra tình hình nhiễm khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi (1985 - 1989)”
Tác giả: Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thị Sở, Trần Thị Hà
Năm: 1989
14. Nguyễn Ngọc Nhiên, Trần Thị Hạnh, Phạm Bảo Ngọc, Vũ Đình Hưng, Ngô Thị Nhu (1996), “Viêm ruột hoại tử ở hươu nai do vi khuẩn C.perfringens và kết quả phòng bệnh bằng giải độc tố”, Tạp chí KHKT Thú y, tập 3, tr.47-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Viêm ruột hoại tử ở hươu nai do vi khuẩn C. "perfringens và kết quả phòng bệnh bằng giải độc tố”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nhiên, Trần Thị Hạnh, Phạm Bảo Ngọc, Vũ Đình Hưng, Ngô Thị Nhu
Năm: 1996
15. Đoàn Thị Băng Tâm (1987), “Bệnh ở động vật nuôi”, tập I, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr. 119-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh ở động vật nuôi”
Tác giả: Đoàn Thị Băng Tâm
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1987
16. Hoàng Văn Tuấn, Lê Văn Tạo, Trần Thị Hạnh (1998), “Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy ở lợn trong một trại giống hướng nạc”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú Y , Tập V, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy ở lợn trong một trại giống hướng nạc
Tác giả: Hoàng Văn Tuấn, Lê Văn Tạo, Trần Thị Hạnh
Năm: 1998
17. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (1997), “Vi sinh vật thú y”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi "sinh vật thú" y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
18. Nguyễn Quang Tính (2008), “Xác định một số đặc tính của Clostridium perfringens phân lập từ dê bị tiêu chảy ở tỉnh Thái Nguyên và sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: 18. Nguyễn Quang Tính (2008), “Xác định một số đặc tính của Clostridium perfringens phân lập từ dê bị tiêu chảy ở tỉnh Thái Nguyên và sử
Tác giả: Nguyễn Quang Tính
Năm: 2008
19. Nguyễn Văn Sửu, Nguyễn Quang Tuyên, Trần Thị Hạnh (2008), “Xác định tỷ lệ lợn con tiêu chảy do Viêm ruột hoại tử tại một số địa phương tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí KHKT thú y, 15 (5), tr. 49 - 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ lợn con tiêu chảy do Viêm ruột hoại tử tại một số địa phương tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Văn Sửu, Nguyễn Quang Tuyên, Trần Thị Hạnh
Năm: 2008
34. Võ Văn Ngầu, Bệnh viêm ruột hoại tử trên heo http://mekovet.com.vn/vi/dieu-tri-benh.nd44/benh-viem-ruot-hoai-tu-tren-heo-swine-hemorrhagic-necrotic-enteritis.i215.html [Ngày truy cập 10 tháng 12 năm 2016] Link
35. Chẩn đoán phân biệt và thuốc điều trị gây tiêu chảy ở lợn, http://www.vinavetco.com/a13_benh-gia-suc/20_benh-gay-tieu-chay-lon.html [Ngày truy cập 10 tháng 11 năm 2016] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w