1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm vú và viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại của công ty cổ phần thiên thuận tường quảng ninh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị

76 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- TRẦN VĂN HẢI Tên đề tài: “ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM VÚ VÀ VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI CỦA CÔNG TY CỔ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

TRẦN VĂN HẢI

Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM VÚ VÀ VIÊM TỬ CUNG

TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THIÊN THUẬN TƯỜNG - QUẢNG NINH VÀ THỬ NGHIỆM

MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2012 - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

TRẦN VĂN HẢI

Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM VÚ VÀ VIÊM TỬ

CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THIÊN THUẬN TƯỜNG - QUẢNG NINH VÀ

THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp : K44 Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2012 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Đặng Thị Mai Lan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình, qúy báu của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y cùng gia đình, bạn bè và người thân trong suốt thời gian thực tập

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú

y Đặc biệt là cô giáo hướng dẫn, Thạc sĩ Đặng Thị Mai Lan - giảng viên khoa Chăn nuôi Thú y đã chỉ bảo tôi tận tình trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, công nhân viên công ty Thiên Thuận Tường, đặc biệt là chú Đinh Văn Ảnh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong quá trình thực tập tại cơ sở

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân, những người luôn động viên giúp đỡ tôi về mọi mặt, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập chuyên đề tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 37

Bảng 4.1: Lịch tiêm phòng cho lợn của trại 43

Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 48

Bảng 4.3: Cơ cấu đàn lợn nái tại trại 49

Bảng 4.4: Tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú tại trại 50

Bảng 4.5: Tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú theo giống, dòng 51

Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú ở đàn lợn nái theo lứa đẻ 52

Bảng 4.7: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú ở đàn lợn nái theo tháng 54

Bảng 4.8: Triệu chứng chính của lợn mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú 55

Bảng 4.9: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, viêm vú tại trại 56

Bảng 4.10: Kết quả một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản 57

của đàn lợn nái sau khi điều trị 57

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Mục tiêu của đề tài 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty cổ phần Khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường 3

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 5

2.2.4 Đối tượng nuôi của trại 6

2.2 Cơ sở khoa học 7

2.2.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và chức năng sinh lý của cơ quan sinh dục lợn cái 7

2.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái 7

2.2.1.2 Đặc điểm cấu tạo tuyến vú lợn cái 11

2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn cái 12

2.2.2.1 Sự thành thục về tính 12

2.2.2.2 Tuổi phối giống lần đầu 14

2.2.2.3 Chu kỳ sinh dục và thời điểm phối giống thích hợp 14

2.2.2.4 Sinh lý mang thai và đẻ 16

2.2.3 Hiểu biết về bệnh viêm tử cung, viêm vú ở lợn nái sinh sản 18

Trang 7

2.2.3.1 Sơ lược về bệnh viêm tử cung (Metritis) 18

2.1.3.2 Sơ lược về bệnh viêm vú (Mastitis) 26

2.2.4 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 30

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 31

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 31

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 33

Phần 3 36

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 36

3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 36

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 36

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 36

3.4 Phương pháp nghiên cứu 36

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 36

3.4.2 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 37

3.4.2.1 Phương pháp điều tra 37

3.4.2.2 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 38

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 39

Phần 4 40

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 40

4.1.1 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 40

4.1.1.1 Công tác chọn giống 40

4.1.1.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 40

4.1.2 Công tác phòng và trị bệnh 42

4.1.2.1 Công tác phòng bệnh 42

4.1.2.2 Công tác trị bệnh 44

4.1.3 Công tác khác 46

Trang 8

4.2 Kết quả nghiên cứu 49

4.2.1 Cơ cấu đàn lợn nái tại trại trong 3 năm gần đây 49

4.2.2 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú ở lợn nái nuôi tại trại trong thời gian thực tập 49

4.2.3 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú ở lợn nái theo giống, dòng 50

4.2.4 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú ở đàn lợn nái theo lứa đẻ 52

4.2.5 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú theo tháng theo dõi 53

4.2.6 Triệu chứng chính của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú 55

4.2.7 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, viêm vú ở đàn lợn nái tại trại 56

4.2.8 Kết quả một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản ở đàn lợn nái sau khi điều trị 57 Phần 5 59

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu Tiếng Việt

II Tài liệu Tiếng Anh

III Tài liệu internet

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn hiện nay chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi bởi vì thịt lợn hiện là một trong những mặt hàng có giá trị dinh dưỡng cao, phẩm chất tốt, là nguồn Protein động vật có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người

Thịt lợn có thể chế biến thành nhiều món ăn phù hợp với khẩu vị của đại đa số người dân Khi chế biến, thịt lợn không giảm phẩm chất nên nó là nguồn nguyên liệu không thể thay thế được để sản xuất thành các loại thức ăn khác nhau Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và các sản phẩm khác cho ngành công nghiệp chế biến

Trong những năm gần đây nhờ áp dụng những thành tựu tiến bộ khoa học vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc như: Tổng đầu lợn tăng mạnh, cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất cao… Quy mô trang trại ngày càng được mở rộng, để tăng sản lượng cũng như chất lượng

Tuy nhiên, những hiểu biết của người dân, các chủ trang trại có quy mô nhỏ và vừa về phương pháp chăn nuôi cũng như phòng chống dịch bệnh cho lợn còn nhiều hạn chế, trong đó vấn đề gặp phải nhiều nhất trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái là tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sản khoa như: Viêm tử cung, viêm vú, sát nhau và đẻ khó… gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi, làm giảm năng suất sinh sản, mất khả năng sinh sản, chết thai, tiêu thai, tỷ lệ thụ thai thấp và là nguồn kế phát các bệnh truyền nhiễm khác nguy hiểm cho đàn lợn ở trại

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất trong chăn nuôi lợn nái sinh sản chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm vú và viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại của công ty cổ phần Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”

Trang 10

1.2 Mục đích của đề tài

- Nắm được tình hình mắc bệnh viêm vú và viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh

- Xác định được hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh viêm vú và viêm

tử cung, từ đó chọn ra được phác đồ điều trị bệnh có hiệu quả nhất

1.3 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được tỷ lệ mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn công ty cổ phần Thiên Thuận Tường

- Đưa ra được phác đồ điều trị tốt nhất để phòng và điều trị bệnh viêm

vú và viêm tử cung ở lợn nái sinh sản

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

- Từ kết quả của đề tài bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm vú

và viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu quả

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trong điều trị bệnh viêm vú

và viêm tử cung trên lợn nái sinh sản

- Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi lợn nái hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty cổ phần Khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường

Trang trại sản xuất lợn hướng nạc của ông Trần Hòa nằm trên địa phận phường Cửa Ông - thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh Trại được thành lập năm 2007 Là trại lợn tư nhân do ông Trần Hòa làm Giám đốc và phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật là ông Nguyễn Văn Ảnh

Trụ sở chính của công ty CP Thiên Thuận Tường ở khu 1 - phường Cửa Ông - Thành phố Cẩm Phả Trước kia, đây là vùng đầm lầy, nước lợ nhưng đã được công ty san gạt biến vùng này thành khu nuôi lợn hướng nạc công nghệ cao lớn nhất Quảng Ninh với tổng diện tích trên 40ha Giám đốc Trần Hòa đã xây dựng mô hình này và đích thân đi học hỏi kinh nghiệm từ một số nước như: Nhật Bản, Singapo, Thái Lan… Ông đã xây dựng trang trại theo mô hình ở Thái Lan do có nhiều điểm tương đồng để áp dụng ở Việt Nam Năm 2007, công ty bắt đầu xây dựng hệ thống chuồng trại quy mô hiện đại, mỗi chuồng có diện tích trên 1.000m2

để tiến hành nuôi lợn hướng nạc công nghệ cao

Cho đến nay, công ty đã xây dựng được 2 khu trại khác nhau: khu trại công ty và trại giống hạt nhân Cảng

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

* Điều kiện nhà sinh hoạt cho công nhân viên

- Khu trại giống hạt nhân Cảng có diện tích rộng để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

- Nhà sinh hoạt của công nhân viên tại trại được xây dựng ở khu vực cổng vào của trại, địa điểm cao ráo, đầu hướng gió, cách xa khu chăn nuôi và thuận tiện cho sinh hoạt của công nhân viên Nhà ở cho công nhân viên là nhà

Trang 12

2 tầng khang trang, sạch sẽ Ở tầng 1 được bố trí phòng ngủ, làm việc cho nhân viên quản lý trại, nhân viên nữ Tầng 2 được bố trí cho nhân viên nam Phòng chính giữa tầng 1 được bố trí là phòng khách, phòng họp cho toàn trại Tại phòng họp có đầy đủ trang thiết bị cho việc giải trí của công nhân như: ti

do trại nằm ở khu vực gần biền, không có nước ngọt

* Điều kiện cở sở, vật chất khu chăn nuôi

- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 700 nái bao gồm: hai chuồng đẻ mỗi chuồng có 50 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, hai chuồng bầu mỗi chuồng có 250 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, một chuồng đực giống + nái hậu bị có 20 ô kích thước 5m × 6m , sáu chuồng thương phẩm mỗi chuồng có 20 ô kích thước 5m × 6m, và một chuồng úm có 20 ô kích thước 5m × 6m Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc

- Khu vực nuôi lợn thương phẩm rộng khoảng 2.500m2, được chia nhỏ thành từng ô Trong mỗi ô chuồng có hệ thống máng nước cho lợn tắm, vòi nước tự động cho lợn uống Toàn bộ hệ thống mái của khu chăn nuôi được lợp tấm nhựa nhập khẩu từ Thái Lan Dưới sàn là hệ thống xử lý chất thải chảy xuống hố bioga Ô chuồng đảm bảo tốc độ gió ổn định, nhiệt độ duy trì ở

270C Hiện nay, khu trại Cảng có 2 khu chuồng nuôi lợn thương phẩm và lợn hậu bị với khoảng 2000 con

Trang 13

- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có ba quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; bốn quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị, đực giống và chuồng úm Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ

có diện tích 1,2m2

; cách nền 1,2m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8m Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng thép Ngoài ra, mỗi chuồng thương phẩm còn được trang bị hệ thống cho ăn tự động hiện đại nhất hiện nay với 100% thiết bị và dây chuyền nhập khẩu từ Đan Mạch

- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng mua

từ bên ngoài về (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nước ngọt được) Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ

ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:

01: Chủ trại là Giám đốc công ty - Trần Hòa

01: Trưởng trại - Đinh Văn Ảnh

02: Kỹ thuật trại - Nguyễn Văn Hiệp và Ngô Văn Trường

01: Kế toán - Trần Thị Phương Lê

03 Sinh viên thực tập và công nhân viên trong trại

02: Bảo vệ chịu trách nhệm bảo vệ tài sản chung của trại

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như: tổ chuồng đẻ, tổ chuồng phối và chửa giai đoạn 1, tổ chuồng cai sữa, tổ chuồng

Trang 14

lợn thịt thương phẩm và hậu bị chọn làm giống Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại

2.2.4 Đối tượng nuôi của trại

Trại giống hạt nhân Cảng thuộc công ty CP Khai Thác Khoáng Sản Thiên Thuận Tường là trại lợn nuôi hướng nạc tập trung, chuyên cung cấp con giống và lợn thương phẩm với các giống lợn được nhập từ nước ngoài như: Landrace (Pháp), Pi - Du (Tây Ban Nha), Yorkshire (Anh), Duroc (Đài Loan) Giống lợn nhập về thuộc đàn cụ, kỵ có nguồn gốc hồ sơ cụ thể, được nhân viên kỹ thuật chăm sóc theo dõi đặc tính từng con

Mỗi năm, trại giống hạt nhân Cảng cung cấp ra thị trường hàng ngàn con giống chất lượng tốt và lợn thương phẩm cho thị trường Cả con giống và lợn thương phẩm của công ty khi xuất ra thị trường đều có chất lượng tốt, được khách hàng rất ưa chuộng Tuy vậy, có lúc nguồn cung ứng của công ty cũng không thể đáp ứng hết được số lượng mà thị trường yêu cầu Chính vì thế công ty đang triển khai thêm các dự án khác với dự định mỗi huyện ở tỉnh Quảng Ninh sẽ có một trang trại lợn hướng nạc công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu của thị trường

Ngoài ra, công ty CP Khai Thác Khoáng Sản Thiên Thuận Tường còn nuôi cá sấu, ba ba, lợn rừng, nuôi cá, vịt nước lợ, trồng rau an toàn,… công ty đang phát triển chăn nuôi tập trung, khép kín công nghệ cao theo tiêu chuẩn quốc tế, xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, xây dựng cơ sở giết mổ, bảo quản và chế biến thực phẩm, tới đây có thể sản xuất cả phân bón

vi sinh vật

Trang 15

2.2 Cơ sở khoa học

2.2.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và chức năng sinh lý của cơ quan sinh dục lợn cái

2.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái

Cơ quan sinh dục của lợn cái cấu tạo gồm các bộ phận sau: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo (bộ phận sinh dục bên trong) và âm

môn, âm vật, tiền đình (bộ phận sinh dục bên ngoài)

* Bộ phận sinh dục bên trong

- Buồng trứng (Ovarium)

Buồng trứng của lợn nằm trong xoang chậu, gồm một cặp nằm ở trước dây chằng rộng có kích thước 1,5 - 2,5 cm; khối lượng khoảng 3 - 5 gram Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng (Đặng Quang Nam và cs., 2002) [13]

Bên ngoài buồng trứng là một màng liên kết sợi chắc như bao cà Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, được cấu tạo bởi

lớp mô liên kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm (Stromavovaris)

+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá

trình phát triển của trứng cho đến khi trứng chín và rụng

+ Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều mạch máu, dây thần kinh, mạch

bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo

vệ trứng

Buồng trứng có hai chức năng: Nội tiết (tiết ra hormone sinh dục cái

oestrogen) và ngoại tiết (bài noãn) Các hormone sinh dục cái: Estrogen, Progesteron và Inhibin tham gia vào việc điều khiển chu kì sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng tiết ra kích thích sự phân tiết của tử cung

để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa

của tuyến vú Oxytocin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và

cũng được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co

Trang 16

thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải

sữa Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ

tử cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi lợn sắp sinh Inhinbin có tác dụng

ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kì (Trần Thị Dân, 2004) [2]

- Ống dẫn trứng (Oviductus)

Còn gọi là vòi Fallop được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Có chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời Bộ phận giống như tua diềm vận chuyển trứng đã rụng từ bề mặt buồng trứng đến phễu Trứng được chuyển qua những lớp nhầy đi đến phồng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và được lưu lại trong ống dẫn trứng khoảng 3 ngày trước khi chúng được chuyển đến tử cung Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thuận lợi cho sự hợp nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi (Nguyễn Mạnh Hà và cs., 2012) [6]

- Tử cung (Uterus)

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu Tử cung được giữ lại tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng

Tử cung gồm các phần: sừng, thân và cổ tử cung

Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 40 - 65cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng Thân tử cung dài 3 - 5cm Cổ tử cung dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lược, thông với âm đạo Vì là loài đa thai nên sừng tử cung dài thích hợp cho việc mang nhiều thai trong một chu kỳ Cả hai mặt tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng Ở những con vật đã sinh đẻ nhiều lần, các dây chằng tử cung giãn ra làm cho tử cung thõng vào trong xoang chậu

Trang 17

Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống, chúng tiết chất dịch và đổ vào bề mặt nội mạc tử cung Chất dịch nội mạc tử cung chứa chủ yếu là các protein huyết thanh nhưng cũng có một ít protein đặc hiệu của tử cung Mức độ tiết và số lượng của những protein này biến động theo chu kì sinh sản, nó đạt đến mức tối đa vào thời điểm con vật động dục (hoặc ngay sau thời điểm động dục) Dịch của nội mạc tử cung cung cấp một môi trường tối ưu cho sự sống còn, sự “đủ năng lực” của tinh trùng và cho sự phân chia thời kì đầu của phôi trước khi làm tổ (Nguyễn Mạnh Hà và cs., 2012) [6] Nội mạc tử cung và dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản, cụ thể:

+ Điều hòa chức năng của thể vàng: Tử cung giữ một vài trò quan trọng trong việc điều khiển chức năng của thể vàng Nếu sau khi cắt còn sót lại một

ít mô tử cung, sự thoái hóa của thể vàng xảy ra và các chu kỳ bắt đầu trở lại sau một thời gian Sau khi cắt bỏ một bên sừng tử cung, thể vàng cùng với sừng tử cung này đồng thời được duy trì lâu hơn so với thể vàng cùng bên với sừng tử cung không bị cắt

+ Làm tổ, chửa và đẻ: Tử cung là một cơ quan chuyên môn hóa cao độ,

nó được thích nghi để chấp nhận và nuôi dưỡng các sản phẩm của quá trình thụ thai từ lúc làm tổ cho đến lúc đẻ

Sau khi làm tổ, sự phát triển của phôi phụ thuộc vào sự cung cấp máu trong nội mạc tử cung Trong suốt thời gian có chửa, các đặc điểm sinh lý, hóa học nội mạc tử cung và việc cung cấp máu của nó có ý nghĩa quyết định

sự sống còn và phát triển của thai

Khi đẻ tử cung co bóp để đẩy thai ra ngoài Sau khi đẻ, tử cung hầu như trở lại kích thước ban đầu bằng một quá trình gọi là co tử cung Ở lợn, tử cung nhỏ lại (cả về khối lượng lẫn chiều dài) suốt 28 ngày sau khi đẻ, sau đó giữ nguyên trạng thái trong suốt thời kỳ tiết sữa Ngay sau khi cai sữa cho con tử cung sẽ tăng lên về khối lượng và độ dài trong vòng 4 ngày

Trang 18

Trong khoảng thời gian sau khi đẻ diễn ra quá trình phá hoại mô nội mạc tử cung kèm theo sự có mặt rất nhiều của bạch cầu và sự co giảm lòng mạch nội mạc tử cung Các tế bào tử cung giảm về số lượng và kích thước Những biến đổi nhanh chóng và không cân đối này có thể là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ thụ thai ở thời kỳ động dục ngay sau khi đẻ bị giảm thấp

- Cổ tử cung

Cổ tử cung có đặc điểm là một thành cơ dày và một xoang chật hẹp, rãnh tử cung được cấu tạo bởi các mấu cơ lồi ra Các vòng sắp xếp theo hình xoắn giống như cái xoắn mở nút chai để phù hợp với quy đầu hình xoắn của lợn đực

Cổ tử cung có chức năng quan trọng trong quá trình sinh sản:

+ Tiếp nhận tinh trùng ngay lúc rụng trứng hoặc lúc sắp rụng trứng, làm cho sự chuyển vận tinh trùng đi qua cổ tử cung để vào xoang tử cung được dễ dàng hoặc không cho tinh trùng xâm nhập vào tử cung nếu là các pha khác của chu kỳ động dục

+ Hình thành các ổ chứa tinh trùng

+ Chọn lọc tinh trùng còn sống, ngăn cản sự chuyển vận của các tinh trùng chết hoặc tinh trùng có khuyết tật

+ Có thể tham gia vào quá trình kiện toàn năng lực thụ tinh của tinh trùng

- Âm đạo (Vigina)

Có cấu tạo như một ống cơ có thành dày, có chiều dài 10 - 12cm, âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh

Âm đạo không có các tuyến, vách của nó được làm ẩm bằng những chất thấm qua biểu mô âm đạo (thường gọi một cách không chính xác là chất nhầy âm đạo), dịch nhầy ở cổ tử cung và sự tiết của tuyến nội mạc tử cung Đây là cơ quan giao phối của gia súc cái

Sau khi xuất tinh, tinh thanh không được đến tử cung, phần lớn chúng được thải ra ngoài hoặc được hấp thu qua vách âm đạo Dịch tiết âm đạo có

Trang 19

pH không thích hợp cho tinh trùng Những điều kiện bệnh lý làm cho khả năng đệm của tinh thanh giảm sút (như lượng tinh xuất ít, thiếu lượng dịch nhầy của cổ tử cung) có thể làm cho tinh trùng nhanh chóng bất động

Âm đạo còn là ống thải của dịch tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng đồng thời cũng là đường dẫn cho thai ra ngoài khi gia súc cái đẻ

* Bộ phận sinh dục bên ngoài

- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis)

Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ, bao gồm: màng trinh và hành tiền đình Sau màng trinh là lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và

do hai lá niêm mạc gấp lại thành một nếp Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về phía âm vật, chúng có chức năng tiết ra dịch nhầy

- Âm môn (Vulva)

Âm môn hay còn gọi là âm hộ nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn

có hai môi (Labia Pudendi), hai môi được nối với nhau bởi hai mép (Rima Vulva) Trên hai môi của âm môn có sắc tố và có nhiều tuyến tiết chất nhờn

và tuyến mồ hôi

- Âm vật (Clitoris)

Nằm ở góc phía dưới mép của âm môn Âm vật giống như dương vật của con đực thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như dương vật con đực, phần trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Âm vật được phủ bởi một lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, do đó trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để

cổ tử cung co thắt và con vật trở lại trạng thái bình thường

2.2.1.2 Đặc điểm cấu tạo tuyến vú lợn cái

Theo Đặng Quang Nam và cs (2002) [13] cho biết: tuyến vú chỉ có ở động vật có vú Tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về

Trang 20

tính và nó phát triển to nhất ở thời kì chửa, đẻ Thời kì con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp cho con sơ sinh và lúc con còn non

Tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả động vật

có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú Song chỉ ở con cái cùng với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hòa của các hormone sinh sản mới phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên

+ Núm vú: ở lợn có nhiều đôi vú từ vùng ngực đến vùng bẹn (thường có

từ 5 đến 8 đôi) Mỗi núm vú có 2 tuyến sữa, đầu núm có 2 – 3 ống dẫn sữa thông với các ống dẫn sữa lớn Đầu núm vú là một thụ quan bên ngoài quan trọng góp phần điều hòa phản xạ tiết sữa Ở đầu núm vú có sợi cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa

+ Bao tuyến: do những tế bào biểu mô phân tiết tạo thành, là nơi sản

sinh ra sữa Các bao tuyến giống như những túi nhỏ và những ống dẫn nhỏ trực tiếp thông với xoang bao tuyến

+ Ống dẫn sữa: các ống dẫn sữa đầu tiên là các ống dẫn nhỏ, sau đó tập

trung thành các ống dẫn trung bình, ống dẫn lớn; ở lợn không có bể sữa

- Sinh trưởng và phát dục của tuyến vú

Động vật còn non, tuyến vú chưa phát dục Đến tuổi thành thục, hệ thống ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ phân nhánh phức tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến chưa có xoang tiết

Đến thời kỳ chửa, nuôi con, bao tuyến có xoang tiết, ống dẫn sữa tăng lên không ngừng, thể tích bầu vú lớn Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao

tuyến nhỏ dần, ống dẫn sữa teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại

2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn cái

2.2.2.1 Sự thành thục về tính

Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như:

Trang 21

buồng trứng, tử cung, âm đạo,… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ

về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục

Sự thành thục về tính dục ngoài việc phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch mà còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như: giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa vụ, sự tiếp xúc giữa lợn đực và lợn cái… Các giống lợn nội (Lợn Ỉ, Móng Cái) thành thục sớm hơn lợn ngoại, lợn lai

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [3] thì tuổi động dục lần đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25kg; ở lợn lai F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 60kg; lợn ngoại động dục muộn hơn 6 - 7 tháng tuổi khi đạt 65 - 80kg

Trần Văn Phùng và cs (2004) [18] cho biết: tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn

Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

Còn Nguyễn Văn Trí (2008) [24] thì cho biết: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 - 70kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng

165 ngày tuổi

Trang 22

2.2.2.2 Tuổi phối giống lần đầu

Một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tùy theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì sẽ ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một nái đồng thời cũng ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [3]; Lê Hồng Mận (2006) [12] và Đào Lệ Hằng và cs (2008) [7] cho rằng: không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì lợn nái động dục lần đầu cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích đủ chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần

bỏ qua 1 - 2 chu kỳ rồi mới cho phối giống Thường cho phối giống vào lần động dục thứ 2 - 3 trở đi

Đối với lợn nội (Ỉ, Móng Cái) thường phối giống lần đầu lúc 7 tháng tuổi, khi lợn đạt khối lượng 45 - 50kg Lợn lai phối giống lúc 8 tháng tuổi với khối lượng 65 - 70kg, nái ngoại cho phối giống lúc 9 tháng tuổi, khối lượng

cơ thể đạt 80 - 90kg

2.2.2.3 Chu kỳ sinh dục và thời điểm phối giống thích hợp

- Chu kỳ tính

Sau khi thành thục về tính dục, lợn bắt đầu có hoạt động sinh sản Dưới

sự điều hòa của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín)

và rụng Kèm theo quá trình này là hàng loạt biến đổi toàn thân và cơ quan sinh dục được biểu hiện bởi các triệu chứng đặc biệt, gọi là triệu chứng động dục Do trứng rụng có tính chất chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ Một chu kỳ của lợn dao động trong khoảng 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia ra làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn nghỉ ngơi

Trang 23

+ Giai đoạn trước động dục: thần kinh con vật bị kích thích, con vật có

biểu hiện ngơ ngác, đi lại không yên, đái dắt, kêu (hoặc không kêu), thích nhảy lên lưng con khác nhưng chưa cho con khác nhảy lên lưng mình, bỏ ăn hoặc ít ăn Âm hộ sưng, sung huyết, đỏ, bóng ướt, mép âm hộ hé mở

Buồng trứng có nang trứng phát triển Màng nhầy tử cung dày lên, tụ huyết Cổ tử cung hé mở, đỏ hồng, bóng ướt, niêm dịch nhiều, lỏng và trong suốt, dễ đứt, khó kéo dài Niêm mạc âm đạo đỏ hồng, ướt bóng

+ Giai đoạn động dục: đây là giai đoạn quan trọng nhưng ngắn, thường

kéo dài 2 - 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Con vật biểu hiện hưng phấn cao độ, đứng nằm không yên, phá chuồng, giảm ăn uống, kêu rống trong trạng thái ngơ ngẩn, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực

Buồng trứng có nang trứng nhô căng Màng nhầy tử cung đầy, trương lực tử cung đạt tối đa Cổ tử cung mở rộng, niêm dịch đặc và dính, có màu nửa đục nửa trong, có thể kéo dài được, niêm mạc âm đạo bớt đỏ Nếu ở giai đoạn này tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp

tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái bước vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong sau một thời gian nhất định tùy theo loài chu kỳ mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ sinh dục

+ Giai đoạn sau động dục: giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn

bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính

lên tới 7 - 8mm và bắt đầu tiết Progesteron Progesteron tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hòa ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm

tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, cảm

Trang 24

giác ăn uống được tăng cường trở lại, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

+ Giai đoạn nghỉ ngơi: giai đoạn này kéo dài 10 - 12 ngày, bắt đầu từ

ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà trứng không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

- Thời điểm phối giống thích hợp

Thời gian tinh trùng lợn đực sống trong tử cung lợn nái khoảng 45 đến

48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, do vậy phải tiến hành đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất

là vào giữa giai đoạn chịu đực

Đối với lợn nái ngoại, lợn nái lai thời điểm phối giống thích hợp nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày thứ tư kể từ khi bắt đầu động dục

Đối với lợn nái nội nên phối giống vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn

Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có biểu hiện chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau phối, thường cho phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng

2.2.2.4 Sinh lý mang thai và đẻ

- Quá trình mang thai

Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 - 116 ngày),

khi mang thai thì thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố Progesteron ức chế sự phát

triển của noãn bao Do đó con vật có chửa sẽ không động dục và không rụng

Trang 25

trứng Nguyễn Văn Trí (2008) [24] cho rằng: thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kì:

+ Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84 + Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày 85 đến khi đẻ

- Quá trình đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], gia súc mang thai một thời gian nhất định tùy theo loài gia súc, khi nào bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần nút niêm dịch cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh và dính chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời gian lợn đẻ:

+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa đầu

+ Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt ra sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt ra sữa đầu

- Cơ chế đẻ

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục

+ Về mặt cơ giới: thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển

một cách tối đa Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông - khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ Mặt khác, thai chèn ép, co đạp vào tử cung làm kích

Trang 26

thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số dẫn đến cổ tử cung mở và thai thoát ra ngoài

+ Nội tiết: trong thời gian mang thai thể vàng và nhau thai cùng tiết ra Progesteron, hàm lượng Progesteron trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến chửa kỳ cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng Progesteron giảm Đồng thời tuyến yên tiết ra Oxytocin, nhau thai tăng tiết Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocin trước khi đẻ

+ Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: khi bào thai đã thành

thục thì quan hệ sinh lý giữa cơ thể mẹ và bào thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành một ngoại vật trong tử cung nên được đẩy ra ngoài bằng động tác đẻ

Thời gian đẻ của lợn thường từ 2 - 6 giờ, được tính từ khi cổ tử cung

mở cho đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài

2.2.3 Hiểu biết về bệnh viêm tử cung, viêm vú ở lợn nái sinh sản

2.2.3.1 Sơ lược về bệnh viêm tử cung (Metritis)

* Đặc điểm: là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh

sản sau khi đẻ, quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng của thành tử cung gây rối loạn sinh sản, từ đó gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, thậm chí làm cho gia súc mất khả năng sinh sản

Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sinh sản sau khi sinh từ 2 - 3 ngày Trong quá trình đẻ dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung

mở, niêm mạc tử cung xây sát, vi khuẩn sẽ xâm nhập gây viêm tử cung

* Nguyên nhân: Bệnh viêm tử cung ở lợn nái xảy ra sau khi nái đẻ, có

thể xảy ra ở nái sau khi phối giống và ít xảy ra ở lợn nái hậu bị Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung:

- Do lợn là loài sinh sản đa thai, đẻ nhiều con, thời gian sinh sản kéo dài làm cho cơ quan sinh dục hoạt động liên tục tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh

Trang 27

- Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8], bệnh viêm tử cung do vi khuẩn

Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ

do đẻ khó, sát nhau, xảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

- Do lứa trước lợn bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung bị biến dạng nên nhau thai không ra ngoài hết hoàn toàn gây sót nhau, thối rữa và tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây viêm

Ngoài ra nái ngoại nhập nội cũng dễ mắc bệnh do chưa thích nghi với điều kiện môi trường của nước ta nên dễ mắc bệnh

- Đào Trọng Đạt và cs (2000) [5] cho biết: bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Công tác phối giống không đúng kĩ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung; dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống đã đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, theo đó vi khuẩn xâm nhập vào gây viêm tử cung kế phát

+ Khi phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những lợn nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khỏe

+ Lợn sau khi đẻ bị sót nhau xử lý không triệt để dẫn đến viêm tử cung + Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: xảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao, xoắn khuẩn,…

+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau khi đẻ không sạch; trong thời gian lợn đẻ cổ tử cung mở, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và gây viêm

+ Do nấm xâm nhập gây viêm

Ngoài ra, bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường niệu đạo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm

Trang 28

đạo và việc gây nhiễm ngược lại lên tử cung là rất dễ xảy ra Cũng có thể do

vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối giống những đã bị viêm tử cung

Còn Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [11] cho rằng: do trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động, hoặc bị

một số bệnh truyền nhiễm như: xảy thai truyền nhiễm (Brucellosis), xoắn khuẩn (Leptospirosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cho cơ thể lợn

nái yếu dần dẫn đến việc sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung

* Triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [20] thì lợn nái bị viêm tử cung có các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu

đỏ Khi lợn nái nằm lượng sản dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ, mép và đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vảy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại khó khăn

Viêm tử cung ở lợn có các thể sau:

+ Thể nhẹ gọi là viêm tử cung nhờn: Thân nhiệt bình thường, có khi hơi

cao 39 - 39,50C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ 12 - 72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ

+ Thể vừa thuộc dạng viêm mủ: Thân nhiệt 39,5 - 400C Lợn ít ăn hay

bỏ ăn, hay nằm lì Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xanh lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối

Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy ra từ cổ tử cung có mùi hôi thối

Trang 29

+ Thể nặng thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao 40 -

410C Lợn ủ rũ, hay nằm và bỏ ăn Dịch tiết ra từ âm hộ có màu xanh hay vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối

+ Trạng thái viêm có 3 thể:

Thể nhẹ (+): cổ tử cung có vẩy nhớt, mủ màu xám, thối, niêm

mạc lấm tấm sẫm thành vùng không đều

Thể vừa (++): có vẩy nhớt thấm mủ trắng, niêm mạc nhợt, đỏ

không đều, dịch mủ chảy ra từ cổ tử cung, mùi thối, âm đạo dính váng mủ đặc

Thể nặng (+++): niêm mạc nhợt nhạt, cổ tử cung mở, mủ trắng

đục thể bã đậu hoặc có mủ xanh đặc, chảy ra mùi thối khắm, vùng âm đạo, cổ

tử cung có mủ đọng lại

Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,

có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7 - 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng đến sản lượng sữa

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đằng Phong (2001) [16], dựa vào vị trí viêm tại tử cung chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung

+ Viêm nội mạc tử cung: Sau khi đẻ, nhất là khi đẻ khó mà phải can

thiệp hoặc bị sát nhau, niêm mạc tử cung bị xây sát dễ bị vi sinh vật xâm nhập, gây viêm nội mạc tử cung Bệnh lao, bệnh xảy thai truyền nhiễm và phó thương hàn cũng thường gây ra bệnh viêm tử cung hoặc viêm nội mạc tử cung

Thân nhiệt lợn nái hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm ít, có khi con vật cong lưng như rặn đái, âm hộ chảy ra niêm dịch lợn cợn đục hoặc có mủ Khi nằm, lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Xung quanh âm hộ và gốc đuôi thường dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô thành những đám vảy trắng

+ Viêm tương mạc tử cung: Thể này thường thể hiện cấp tính và cục

bộ, toàn thân xuất hiện triệu chứng điển hình và nặng Nếu bệnh do viêm nội mạc tử cung lan ra thì có thể thấy triệu chứng của viêm thể nội mạc tử cung

Ở âm hộ chảy ra nhiều chất dịch có lẫn mủ, lớp tương mạc có thể dính với các

Trang 30

tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung, thành tử cung dày lên có thể kế phát viêm phúc mạc

Lợn nái có biểu hiện toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật

ủ rũ, mệt mỏi, ể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện đau đớn khó chịu, lưng và đuôi cong rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ rệt, rặn nhanh hơn, từ âm hộ chảy ra nhiều dịch hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với

bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau gặp nhiều khó khăn,

có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kế phát viêm phúc mạc, bại huyết hay huyết nhiễm mủ

+ Viêm cơ tử cung: Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử

cung Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít tương mạc của tử cung

bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc bị hoại tử từng đám to

Lợn nái mắc bệnh thể này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ rệt: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng và có màu đỏ thẫm Gia súc luôn biểu hiện đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn chảy ra ngoài hỗn dịch màu nâu đỏ, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc

Trang 31

mạc Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh sản lần sau Có trường hợp điều trị không khỏi dẫn tới vô sinh

* Hậu quả của bệnh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kì quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của lợn mẹ và sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], Trần Thị Dân (2004) [2] khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới những hậu quả chính sau:

- Sẩy thai: Lớp cơ trơn thành tử cung có đặc tính co thắt Khi gia súc cái mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm dưới tác dụng của Progesteron,

nhờ vậy phôi thai mới bám chặt vào thành tử cung Khi tử cung bị viêm cấp

tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin gây

phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng, làm chết tế bào, gây co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đến thể vàng Thể vàng bị phá hủy dẫn đến giảm tiết

Progesteron vào máu, hàm lượng Progesteron trong máu giảm, làm tăng

trương lực cơ tử cung do đó gia súc chửa rất dễ sẩy thai

- Bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu: Lớp nội mạc tử cung có

nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để nuôi dưỡng phôi thai Khi lớp nội

mạc bị viêm, lượng Progesteron giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của

niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai được nhận ít, thậm chí không nhận được chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ: Khi

lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có vi khuẩn

E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm,

thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

Trang 32

- Ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại: Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết Prostaglandin (PGF2α) giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại;

thể vàng tiếp tục tiết Progesteron Progesteron ức chế thùy trước tuyến yên

tiết ra FSH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại và không thể rụng trứng

Biểu hiện rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sĩ thú y nhận thấy ở lợn nái viêm tử cung là lúc đẻ: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc đẻ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa

đẻ sau là một trong những nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Ngoài ra, viêm

tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng mất sữa, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con cai sữa thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng (Neva C và Madec F (1995) [14]

* Chẩn đoán viêm tử cung

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối đa hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm, từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhất, thời gian điều trị ngắn, chi phí điều trị thấp

nhất và đạt được hiệu quả điều trị cao nhất

Bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc sau đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Lượng dịch viêm không ổn định, có thể từ vài mililit đến vài trăm mililit (ml) Tính chất của dịch viêm cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng đặc như kem, có thể màu nâu đỏ Người ta thấy rằng thời kỳ sau đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, còn viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa

Trang 33

Để chẩn đoán, người ta dựa vào những triệu chứng điển hình cục bộ ở

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung đóng rất chặt, vì vậy nếu có mủ chảy ra có thể là

do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ra ở thời kỳ động dục thì có thể bị nhầm lẫn (Đặng Công Trung, 2007) [25]

Dựa vào triệu trứng lâm sàng như: con vật sốt cao (tăng 1,5 - 20C), ăn ít hay bỏ ăn, luôn ở tư thế như rặn đái Kiểm tra đường sinh dục lợn nái thấy cổ

tử cung mở, chảy ra nhiều dịch nhầy có lẫn mủ màu trắng đục mùi hôi khắm…

* Phòng và điều trị bệnh viêm tử cung

- Phòng bệnh viêm tử cung

Vệ sinh: thường xuyên dọn vệ sinh chuồng nuôi lợn nái, phân lợn thải

ra ngoài phải được thu gom hằng ngày, không để phân lưu trên nền chuồng quá lâu Chuồng đẻ phải được vệ sinh sạch sẽ, khi lợn đẻ có máu hoặc dịch ối trên nền chuồng phải lau sạch Lợn đẻ xong phải thu gom nhau thai, vệ sinh nền chuồng Trường hợp lợn đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản phải tuyệt đối tuân thủ các bước vệ sinh Vệ sinh chuồng đẻ 1 tuần trước khi đưa nái từ chuồng bầu sang chuồng đẻ, bằng cách rửa sạch sau đó phun các loại thuốc sát trùng Tắm chải sạch sẽ cho lợn trước khi lên chuồng đẻ, vệ sinh bầu vú và bộ phận sinh dục bên ngoài của lợn nái,…

Chăm sóc nuôi dưỡng: bổ sung đầy đủ và cân đối thành phần dinh

dưỡng trong khẩu phần ăn của lợn, đặc biệt là trong giai đoạn lợn nái mang thai, tránh tình trạng lợn quá béo hoặc quá gầy; cung cấp đủ nước sạch cho lợn

Dùng thuốc: khi lợn đẻ có dấu hiệu chậm ra con, tiêm một mũi Oxytocin để tăng cường co bóp tử cung để lợn đẻ dễ hơn, đồng thời giúp tống

sản dịch và các sản phẩm trung gian ra ngoài, kích thích thải sữa Ngoài ra còn có tác dụng tốt trong việc phòng bệnh mất sữa và viêm tử cung

Khi lợn đẻ xong nên dùng thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý rửa

bộ phận sinh dục của lợn Sau đó tiêm kháng sinh để chống viêm tử cung

Trang 34

Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tiêm và truyền các loại thuốc trợ sức, trợ lực cho con vật

Phối giống: đảm bảo phối giống đúng kĩ thuật, vô trùng

- Điều trị bệnh viêm tử cung

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [9] cho biết hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng phác đồ như sau:

+ Thụt rửa tử cung bằng các thuốc sát trùng như: Biocid - 30, Lugol 5%, Han - iodine 5%,…

+ Tiêm một trong các loại kháng sinh: Gentamicin, Oxytetracyclin, Penicillin,…

+ Tiêm Oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài + Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE B.complex, Calci - B12, Calci – fort,

Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [11], dùng Oxytocin với liều 20 - 40IU/con/ngày, để làm cho tử cung co bóp tống các chất, dịch viêm

ra ngoài Sau đó thụt rửa bằng Han - iodine 5%, tiêm kháng sinh như: Gentamicin 4% 1ml/6kg thể trọng hoặc Lincomycin 10% 1ml/10kg thể trọng liên tục trong 3 đến 5 ngày

2.1.3.2 Sơ lược về bệnh viêm vú (Mastitis)

* Đặc điểm: Viêm vú là một bệnh thường xảy ra đối với lợn nái, với

biểu hiện một hoặc nhiều bầu vú sưng, nóng, đau có khi thành u, cục làm lợn đau đớn, bệnh có thể gây chết lợn nái và làm chết lợn con do thiếu sữa

* Nguyên nhân: Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh

viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp, không giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ 1 tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày

đẻ, lợn con không bú hết, sữa lưu lại là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm

nhập, phát triển và gây viêm như: E.coli, Streptococcus, Staphylococcus, Klebsiella spp

Trang 35

Nguyễn Như Pho (2002) [17] cho biết nguyên nhân gây viêm vú thông thường nhất là trầy xước vú do sàn, nền chuồng nhám, vi trùng xâm nhập vào

tuyến sữa Hai loại vi trùng chính gây bệnh là Staphylococcus spp và Streptococcus agalactiae Các nguyên nhân khác gây viêm như lợn con quá ít

không bú hết lượng sữa sản xuất ra, kế phát từ viêm tử cung nặng, hoặc do kĩ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm Ngoài ra còn do một số nguyên nhân sau: Do vệ sinh không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh Do lợn con đẻ ra không được bấm nanh ngay

Do táo bón: khi lợn nái mang thai không được vận động thường xuyên đồng thời khối thai lớn chèn ép làm giảm nhu động ruột gây ra tình trạng táo bón Vi khuẩn trong phân có điều kiện phát triển nhiều, cùng với các độc tố gây viêm trong phân xuyên qua thành ruột vào máu, đến vú gây viêm

- Do stress: lợn nái mang thai sắp đến ngày sinh thường hay bị stress, làm giảm sức khỏe và sức đề kháng của lợn nái tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển và gây viêm

- Do chấn thương cơ học hoặc lợn con bú không hết sữa, bệnh viêm vú chỉ xuất hiện trên một vài vú Trường hợp kế phát viêm tử cung hoặc cạn sữa không hợp lý, nhiều vú hoặc có khi toàn bộ bầu vú bị viêm

Theo White (2013) [33], nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính là

do các loại vi khuẩn: E coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua núm

vú từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh

* Triệu chứng: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn,

không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 -

2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50

C Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn mẹ vẫn lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy Trường hợp

Trang 36

viêm tử cung có mủ dẫn đến nhiễm trùng máu, thì toàn bộ các bầu vú đều bị viêm Đây là thể bệnh điển hình của hội chứng mất sữa, trường hợp này cần ghép bầy con và loại thải đàn lợn

Đối với thể cấp tính, lợn nái có biểu hiện biếng ăn sau đẻ, mắt đỏ, da tai

và một hoặc toàn bộ núm vú nhợt nhạt, ở giai đoạn đầu có thể sờ thấy núm vú cứng, thân nhiệt lên tới 40 - 420C, nái thường nằm sấp không cho con bú Đối với thể mãn tính, xuất hiện các u, cục ở vú, nhiều nhất ở các vú sau, thể viêm này thường xảy ra ở những nái được nuôi ở chuồng nhỏ có nền đất hoặc được lót bằng rơm rạ… núm vú dễ bị trầy xước và nhiễm khuẩn

* Hậu quả: Nếu viêm vú ở thể nhẹ, điều trị kịp thời thì nái nuôi con

vẫn bị giảm lượng sữa, còn nếu nặng ở dạng viêm vú hoại tử thì phần lớn các

tổ chức ở tuyến vú bị hoại tử do các vi khuẩn gây hoại tử xâm nhập qua vết thương, nếu bị huyết nhiễm trùng hay huyết nhiễm mủ thì bệnh khó chữa, con vật có thể chết

Lợn nái mất sữa sau khi đẻ còn kế phát từ viêm vú, viêm tử cung do khi viêm cơ thể mẹ thường hay bị sốt 2 - 3 ngày liên tục, mất nước, nước trong tế bào và mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu dinh dưỡng ở đường tiêu hóa bị giảm, dẫn đến mất sữa Khả năng phục hồi chức năng tiết sữa bị hạn chế ảnh hưởng đến các lứa đẻ tiếp theo

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đằng Phong (2001) [16] thì khi con vật bị viêm vú sẽ dẫn đến các biến chứng sau:

- Teo đầu vú: trong các bệnh viêm vú, phần lớn tế bào tuyến vú bị tổn thương, cơ năng tiết sữa không thể hồi phục được Thể tích thùy vú bị bệnh nhỏ hơn vú bình thường Tuy các tuyến vú không nhất thiết phải có hiện tượng xơ cứng rõ rệt, nhưng khả năng tiết sữa của chúng đã giảm, thậm chí là mất hẳn Hiện tượng này chính là hiện tượng teo đầu vú Sau khi bị teo, các thùy vú lành phải tiết sữa bù cho thùy vú bệnh nên chúng phát triển nhiều hơn

- Bầu vú bị xơ cứng: đặc trưng của biến chứng này là tổ chức liên kết tăng sinh và trở thành rắn, còn tổ chức của bản thân tuyến vú lại teo đi

Trang 37

- Bầu vú bị hoại tử: đặc trưng của bệnh là các tổ chức của bầu vú bị thối loét và phân giải

ý nghĩa rất lớn trong điều trị (Anonymous, 2012) [30]

* Phòng và điều trị bệnh viêm vú

- Phòng bệnh: vệ sinh sát trùng chuồng đẻ, đảm bảo đủ diện tích và nền

chuồng khô ráo, bằng phẳng, mài răng nanh cho lợn con trong vòng 24 giờ sau đẻ; cung cấp nước uống sạch Có thể trộn một số loại kháng sinh khác nhau vào trong thức ăn để phòng bệnh

Ngoài ra, những biện pháp phòng bệnh viêm tử cung cũng có thể áp dụng cho phòng bệnh viêm vú Trong thực tế người ta thường làm công tác phòng bệnh cho cả hai bệnh trên khi có lợn nái sắp đẻ

- Trị bệnh

+ Điều trị cục bộ: phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá

lạnh để giảm sưng, giảm đau, hoặc phong bế bầu vú bằng Novocain 0,25 - 0,5% mỗi ngày vắt cạn sữa vú bị viêm 4 - 5 lần tránh lây lan sang các vú khác

+ Điều trị toàn thân: dùng một số loại kháng sinh như penicillin và

streptomycine, tremothoprime/sulfat, amoxicillin, enrofloxacin và ceftiofur, kết hợp với các thuốc kháng viêm và tiêm oxytocine để kích thích tiết sữa Ở những nơi tỷ lệ mắc cao, việc điều trị nên tiến hành sớm và dùng thuốc có tác dụng lâu dài cho kết quả tốt (Muirhead và Alexander, 2010) [31]

Trang 38

2.2.4 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài

* Các loại kháng sinh dùng trong đề tài

- Biogenta: trong 1ml chứa amoxicillin trihydrate 150mg, gentamicin

base 40mg

Công dụng: là kháng sinh phổ rộng đặc trị các bệnh ở heo như: nhiễm trùng đường hô hấp và đường tiêu hóa, tiết niệu do vi khuẩn mẫn cảm với

amoxicillin và gentamicin như: E coli, tiêu chảy do vi khuẩn và viêm vú,

viêm tử cung (hội chứng MMA),…

Cách dùng: liều chung 1ml/10kg thể trọng/3 ngày liên tục

- Hamcoli - S: Trong 1ml chứa: amoxicillin trihydrate 100mg, colistin

sulfate 250 000 IU

Công dụng: Là kháng sinh phổ rộng đặc trị cả vi khuẩn Gram âm và

Gram dương như: E coli, Salmonella, bệnh sưng phù mặt, bệnh đóng dấu, hội

chứng viêm dạ con mất sữa,…

Cách dùng: lắc kĩ trước khi sử dụng, liều trung bình 1ml/1kg TT/ngày Liên tục 3 - 5 ngày

- Dung dịch thụt rửa Gynapax: Trong 5g có chứa boric acid,

potassium, aluminum sulfate, berberine, menthol, thymol

Công dụng: dùng thụt rửa tử cung, chất lượng thuốc ổn định, có tác dụng kìm khuẩn và kìm nấm yếu, có hiệu lực và ít độc

Gynapax liều lượng sử dụng để thụt rửa tử cung là pha 5g/1lit nước Ngày thụt rửa 2 lần

Lưu ý: khi sử dụng gynapax thụt rửa phải pha liều 5g/lít không được

pha quá liều dẫn đến se, cháy niêm mạc tử cung, ảnh hưởng đến kết quả giao phối lần sau

- Hạ sốt, giảm đau Bio - Anazin.C: Trong 100ml chứa Analgin

(20g), vitamin C (5g)

Công dụng: hạ sốt trong các bệnh nhiễm trùng cấp, kháng viêm, chống stress, giảm đau

Ngày đăng: 06/07/2017, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2005), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con và lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con và lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
2. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
3. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
4. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
5. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
6. Nguyễn Mạnh Hà, Đào Đức Thà, Nguyễn Đức Hùng (2012), Giáo trình công nghệ sinh sản vật nuôi, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công nghệ sinh sản vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Đào Đức Thà, Nguyễn Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2012
7. Đào Lệ Hằng, Trần Văn Bình, Nguyễn Văn Trí (2008), Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ và phòng trị bệnh thường gặp, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ và phòng trị bệnh thường gặp
Tác giả: Đào Lệ Hằng, Trần Văn Bình, Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2008
8. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dũng (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Quán, Hoàng Văn Hoan, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Huy Đăng Và Đỗ Ngọc Thúy (2011), Bệnh sinh sản ở vật nuôi, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Quán, Hoàng Văn Hoan, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Huy Đăng Và Đỗ Ngọc Thúy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
10. Nguyễn Quang Linh (2005), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Quang Linh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
11. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2004
12. Lê Hồng Mận (2006), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
13. Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương (2002), Giáo trình giải phẫu vật nuôi, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giải phẫu vật nuôi
Tác giả: Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
14. Neva C. và Madec F. (1995), “Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Neva C. và Madec F
Năm: 1995
15. Lê Thị Kim Ngọc (2004), Khảo sát khả năng sinh trưởng, phát dục và khả năng sinh sản của lợn nái thuộc hai dòng ông bà C1230 và 1050 nuôi tại trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát khả năng sinh trưởng, phát dục và khả năng sinh sản của lợn nái thuộc hai dòng ông bà C1230 và 1050 nuôi tại trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
Tác giả: Lê Thị Kim Ngọc
Năm: 2004
16. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong (2001), Bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
30. Anonymous (2012), Mastitis - inflammation of the mamnary glands, http://www.thepisite.com Link
31. Muirhead M. và Alexander T. (2010), Reproductive system, managing Pig health and the treatment of disease, http://www.thepigsite.com Link
32. Shrestha A. (2012), Mastitis, Metritis and Agalactia in sows, http://.www.slideshare.net Link
33. White (2013), Pig health - sow mastitis, http://www.nadis.org.uk Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm