1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng

120 494 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

RIÊU VĂN TOÀN NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÔNG NÔNG, TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÁI NGUY

Trang 1

RIÊU VĂN TOÀN

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÔNG NÔNG, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

RIÊU VĂN TOÀN

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÔNG NÔNG, TỈNH CAO BẰNG

Chuyên ngành: Phát triển Nông thôn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc

xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng”,,

chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn là công trình nghiên cứu của riêng tôi luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái nguyên, ngày 19 tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Riêu Văn Toàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

với đề tài “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng

nông thôn mới trên địa bàn huyện Thông Nông - tỉnh Cao Bằng”,

Có được kết quả này lời đầu tiên tôi xin gửi lời cám ơn đến các thầy cô

đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho tôi những kiến thức lý thuyết, thực tế cũng như các kỹ năng trong viết bài, đồng thời cũng chỉ rõ những thiếu sót

và hạn chế để tôi hoàn thành bài báo cáo với kết quả tốt nhất Đặc biệt tôi

xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Bùi Đình Hòa người

hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tôi từ khi hình thành phát triển

ý tưởng đến xây dựng đề cương, phương pháp luận, tìm tài liệu và có những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu

và hoàn thành đề tài

Cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các phòng, ban của UBND huyện Thông Nông, UBND các xã Cần Yên, Thanh Long và Lương Can đã nhiệt tình giúp đỡ tôi, cung cấp cho tôi các thông tin, số liệu để phục vụ cho bài báo cáo Đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn

Em xin chân thành biết ơn sự tận tình dạy dỗ của các thầy cô trong Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, phòng quản lí Đào tạo

Tôi cảm ơn chân thành và sâu sắc, tôi xin gửi đến gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh và động viên tôi trong những giai đoạn khó khăn nhất

Thái nguyên, ngày 19 tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Riêu Văn Toàn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

3 Ý nghĩa của đề tài 3

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.1.1 Khái niệm Nông thôn và đặc điểm của nông thôn 5

1.1.2 Nông thôn mới 6

1.1.3 Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng 6

1.1.4 Khái niệm cộng đồng và mức độ tham gia của cộng đồng 7

1.1.5 Khái niệm về nội lực, nội lực của cộng đồng 8

1.1.6 Các yếu tố xác định sự tham gia trong PTNT 9

1.1.7 Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong PTNT 10

1.1.8 Các chỉ tiêu để xác định sự tham gia 11

1.1.9 Căn cứ pháp lý để xây dựng nông thôn mới 11

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 12

1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 12

1.2.2 Những kết quả bước đầu về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 15

Trang 6

1.2.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Cao Bằng 23

1.3 Đánh giá chung 24

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Nội dung nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 25

2.2.2 Phương pháp phân tích 27

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thông Nông 29

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên thiên 29

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 32

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với quá trình tham gia của cộng đồng 41

3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng 42

3.2.1 Những kết quả nổi bật đã đạt được khi triển khai Chương trình NTM tại huyện 42

3.2.2 Những hạn chế, tồn tại chủ yếu và nguyên nhân 43

3.2.3 Bài học kinh nghiệm 44

3.3 Tình hình tham gia của cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM tại 3 xã nghiên cứu 45

3.3.1 Kết quả thực hiện chương trình xây dựng NTM của 3 xã nghiên cứu 48 3.3.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 49

3.3.3 Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng CSHT nông thôn 53

3.3.4 Đóng góp của người dân cho xây dựng CSHT nông thôn 58

3.4 Sự tham gia của cộng đồng trong việc phát triển sản xuất 64

3.5 Đánh giá chung về sự tham gia của cộng đồng tại 3 xã điểm 68

3.5.1 Kinh nghiệm huy động cộng đồng tham gia đóng góp 71

Trang 7

3.5.2 Kinh nghiệm huy động cộng đồng theo nội dung xây dựng NTM 74

3.6 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) cho thấy sự tham gia cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới huyện Thông Nông 76

3.6.1 Điểm mạnh 76

3.6.2 Điểm yếu 78

3.6.3 Cơ hội 78

3.6.4 Thách thức 79

3.7 Những giải pháp huy đông sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Thông Nông 80

3.7.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 80

3.7.2 Giải pháp về nâng cao nhận thức cho người dân, đẩy mạnh tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới 82

3.7.3 Thường xuyên nâng cao năng lực cán bộ cơ sở 85

3.7.4 Giải pháp về tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới 85

3.7.5 Giải pháp về thực hiện tốt công tác quy hoạch 86

3.7.6 Một số giải pháp hỗ trợ 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Kiến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 96

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCĐ : Ban chỉ đạo BQL : Ban quản lí

GO : Giá trị sản xuất GPMB : Giải phóng mặt bằng GTNT : Giao thông nông thôn GTVT : Giao thông vận tải HĐND : Hội đồng nhân dân HTX : Hợp tác xã

LĐ, TB&XH : Lao động, Thương binh và Xã hội MTQG : Mục tiêu quốc gia

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn NQ/TW : Nghị quyết Trung ương

NQ-CP : Nghị quyết Chính phủ NTM : Nông thôn mới NVL : Nguyên vật liệu PTNT : Phát triển nông thôn

QĐ - TTg : Quyết định thủ tướng SX-KD : Sản xuất - Kinh doanh THCS : Trung học cơ sở

TTCN - XDCB: Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng cơ bản UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Thông Nông năm 2015 31 Bảng 3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Thông Nông giai đoạn

(2013 - 2015) 34 Bảng 3.3 Dân số trung bình các xã huyện Thông Nông phân theo dân số và

thành phần dân tộc tính đến năm 2015 37 Bảng 3.4 Một số thông tin 3 xã điểm đến cuối năm 2015 47 Bảng 3.5: Mức độ đạt các tiêu chí của 3 xã theo 19 tiêu chí của QĐ 491 48 Bảng 3.6: Kết quả tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại 3 xã

điều tra 49 Bảng 3.7: Sự tham gia của dân vào việc ra quyết định trong chương trình

NTM 51 Bảng 3.8: Đánh giá của người dân về sự tham gia xây dựng CSHT trong mỗi

dự án 56 Bảng 3.9: Các hình thức và giá trị đóng góp bình quân hộ cho xây dựng các

công trình hạ tầng tại 3 xã điều tra 58 Bảng 3.10 Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động đóng góp

bằng tiền mặt 60 Bảng 3.11: Khả năng đóng góp bình quân hộ cho xây dựng CSHT theo năm 62 Bảng 3.12: Hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vậttrong các dự án phát triển sản xuất 65 Bảng 3.13: Tổng hợp giá trị đóng góp của cộng đồng cho xây dựng NTM ở 3

xã điểm (tính đến năm 2015) 68 Bảng 3.14: Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham giacủa cộng đồng

trong xây dựng NTM 69 Bảng: 3.15: Ý kiến của hộ về các khoản đóng góp 70

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, là nhiệm vụ của cả

hệ thống chính trị và toàn xã hội, được thực hiện trên phạm vi cả nước

Trước giai đoạn 10 năm thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đã có 10 năm triển khai các hoạt động thử nghiệm thông qua các chương trình thí điểm xây dựng NTM ở nhiều địa phương Giai đoạn 2001 -

2005 là chương trình thí điểm NTM cấp xã của Ban Kinh tế Trung ương; giai đoạn 2007 - 2009 là chương trình thí điểm NTM cấp thôn bản của Bộ NN&PTNT; giai đoạn 2009 - 2011 là chương trình thí điểm NTM thời kỳ đẩy nhanh CNH-HĐH do Ban Bí thư Trương ương Đảng chỉ đạo Song song với các chương trình này, nhiều địa phương cũng triển khai các hoạt động xây dựng NTM theo những chương trình riêng của tỉnh, thành phố

Các chương trình thí điểm và chương trình MTQG xây dựng NTM đều thực hiện nguyên tác chủ đạo trong triển khai các nội dung xây dựng NTM là phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng dân cư thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ

Trang 11

chức thực hiện Nguyên tắc này đã xác định xây dựng NTM là một hoạt động

"dựa vào cộng đồng", phát huy sự tham gia và đóng góp của cộng đồng là nguồn lực chính để thực hiện các nội dung xây dựng NTM

Tuy nhiên, theo đánh giá chung từ các chương trình thí điểm, quá trình thử nghiệm vẫn chưa khơi dậy hiệu quả nguồn lực từ cộng đồng, người dân chưa tích cực tham gia đóng góp vào các hoạt động xây dựng NTM Nhiều nơi người dân có tâm lý ỷ lại, chỉ dựa vào sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước Nguồn vốn cho xây dựng NTM, chủ yếu từ ngân sách nhà nước và tập trung cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, thiếu sự tham gia ý kiến của cộng đồng, thiếu các hoạt động phát huy vai trò cộng đồng trong tổ chức, bảo vệ môi trường, duy trì và phát triển các truyền thống văn hóa tốt đẹp Ngay trong báo cáo của BCĐ Trung ương về kết quả giai đoạn đầu triển khai chương trình MTQG xây dựng NTM, vấn đề tồn tại vẫn là nhận thức của một

số cán bộ các cấp và người dân về xây dựng NTM còn chưa đúng và chưa đủ, mạng nặng tâm lý thụ động, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa pháp huy được vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư Chính vì lý do đó, xây dựng NTM đã trở thành nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, là cuộc vận động toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, là cơ sở đến năm

2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Do đó việc nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng là quan trọng và cần thiết làm cơ sở lý luận cũng như thực tiến Xuất phát từ lý do trên tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: " Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc

xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng'',

từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích, đánh giá nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng NTM trên huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng Từ đó, đề xuất các giải pháp cho sự tham gia cộng đồng cho xây dựng NTM trên địa bàn huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

- Đề xuất một số giải pháp có hiệu quả trong việc đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng NTM trên huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Thông qua quá trình thực hiện đề tài giúp cho tôi có điều kiện củng cố

và áp dụng những kiến thức lư thuyết vào trong thực tiễn đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu cho bản thân

- Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình rất lớn

đã và đang được triển khai trên khắp các tỉnh thành trong cả nước Do vậy, những nghiên cứu của tôi trong đề tài này sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Nghiên cứu được mức độ tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới sẽ cung cấp thông tin gốc từ thực địa cho quá trình xây

Trang 13

dựng NTM ở huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng và Trung ương, để chỉ đạo xây dựng NTM sẽ sát thực tiễn nhu cầu người dân

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở, căn cứ để đề xuất một số giải pháp thực tiễn nhằm xây dựng nông thôn mới thành công và đạt hiệu quả cao tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

- Kết quả nghiên cứu giúp cho huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng làm

cơ sở để nghiên cứu, đề xuất chính sách cho những năm tiếp theo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là:

- Người dân trên địa bàn huyện Thông Nông

- Chương trình phát triển nông thôn mới tại huyện Thông Nông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn

huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

- Phạm vi về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 8 năm 2015 đến

tháng 8 năm 2016, các số liệu thu thập từ năm 2013 -2015

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá,

xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác

Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo

ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển” [4]

Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau Đây là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất nước [10]

Trang 15

1.1.2 Nông thôn mới

Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW [21] đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông

thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”

Trong quyết định Số 800/QĐ-TTg [22] đưa ra mục tiêu trung về xây

dựng mô hình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng

kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Như vậy nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay,

có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: (1) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (2) sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh

tế hàng hóa; (3) đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; (5) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về phát triển (nông thôn) theo định hướng cộng đồng, và có một số cách dùng từ khác nhau như phát triển theo định hướng cộng đồng, phát triển dựa vào cộng đồng, phát triển do cộng đồng làm chủ, và phát triển lấy người dân làm trung tâm Phát triển theo các tên gọi khác nhau này đều có chung bản chất là phát triển theo định hướng cộng đồng [19]

Trang 16

Phát triển theo định hướng cộng đồng cho rằng các cộng đồng địa phương khi có được quyền ra các quyết định và quản lý các nguồn lực trong tay sẽ thực hiện việc phát triển tốt hơn

Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới, phát triển do cộng đồng làm chủ phụ thuộc vào việc xây dựng mối quan hệ đối tác giữa các tổ chức cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ với các đơn vị cung cấp các dịch vụ tư nhân hay công cộng (như dịch vụ khuyến nông) Trong điều kiện của Việt Nam, có thể hiểu trong điều kiện khi chính quyền xã, các thôn và các tổ chức cộng đồng đang giữ vai trò chủ đạo trong việc lựa chọn, lập kế hoạch và quản lý các chương trình, các hoạt động phát triển địa phương Điều đó còn bao gồm cả việc chuyển quyền chủ đầu tư và sử dụng tài chính cho cấp địa phương [19]

Có nhiều khái niệm về cộng đồng, trong đó nổi bật hai khái niệm: theo

Marcia L.Conner “cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung

lợi ích và mối quan tâm” Khái niệm này đã phản ánh được những đặc trưng

mang tính bản chất của cộng đồng T.Schouten và P Moriarty lại cho rằng:

“cộng đồng sinh ra và tồn tại do một nhóm những người đồng sở thích, nhưng cộng đồng không chỉ có nghĩa chỉ là một nhóm gồm những cá nhân đó

mà còn bao hàm cả mối quan hệ, hành vi, ứng xử và sự tương tác giữa các thành viên” Trên thực tế, không có một cộng đồng thuần chất Trong một

cộng đồng có thể bao gồm cả những người giàu, người nghèo từ các giai tầng

xã hội khác nhau, có trình độ kiến thức và nhu cầu cụ thể khác nhau, nhưng

có cùng mối quan tâm và lợi ích chung Cộng đồng nông thôn gắn kết với nhau trên cơ sở tình làng nghĩa xóm truyền thống và quan hệ trong nội bộ dòng tộc [16]

Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng” Từ

điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, 1992 giải thích: “cộng đồng là toàn

thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống

Trang 17

nhau, gắn bó thành một khối” Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản văn

hóa thông tin, 1999 giải thích: “cộng đồng là tập hợp những người có

những điểm giống nhau làm thành một khối như một xã hội” Cộng đồng là

một nhóm người có cùng những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung, Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung [16]

Cộng đồng dân cư làng xã truyền thống: Cộng đồng nông thôn

truyền thống ở Việt Nam là làng xã xuất hiện từ khi tổ tiên biết làm nông nghiệp, đặc biệt là từ khi biết trồng lúa nước Cộng đồng dân cư làng xã, những nhóm người dân tự quản gắn bó với nhau trên cơ sở tự nguyện vì những mối quan tâm chung Các mối quan tâm này khá phong phú và đa dạng Để có thể thực hiện mục tiêu chung, cộng đồng đã tự lập ra những hình thức tổ chức tự quản hết sức phong phú của mình Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần có loại hình hát bội, hội làng Gióng, được lập ra để gìn giữ các di sản văn hóa giá trị Nhiều tổ chức cộng đồng được lập ra để bảo vệ

an ninh trật tự công cộng trong làng xã Nhiều nơi, các dòng họ cũng đặt ra các quy ước nghiêm ngặt buộc các thành viên tuân theo nhằm duy trì và phát huy truyền thống của dòng họ [16]

Trong cuốn “sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới cấp xã” của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2009) [3] có giải thích “nội lực của cộng đồng” bao gồm:

(i) Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp

vệ sinh theo tiêu chuẩn nông thôn mới; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang,

Trang 18

(ii) Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao

(iii) Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của làng, xã như: đường giao thông thôn, xóm; kiên cố hóa kênh mương; vệ sinh công cộng,

Theo giải thích trong cuốn sổ tay này thì “nội lực của cộng đồng”

chính là những đóng góp bằng tiền và công sức của người dân và cộng đồng Cách hiểu này chưa thật đầy đủ vì ngoài đóng góp bằng tiền và công sức, người dân và cộng đồng còn có thể đóng góp cho xây dựng nông thôn bằng các nguồn nội lực khác như: đất đai và các tài sản khác (nguyên vật liệu của

hộ và của cộng đồng: tre, luồng, cát, sỏi ở địa phương); trí tuệ và năng lực của người dân; hoặc bằng các mối quan hệ xã hội, quyền được ra quyết định [15]

Trong nghiên cứu này, nội lực từ người dân được hiểu là những nguồn lực sẵn có của người dân có thể đóng góp cho phát triển nông thôn, các công việc làm tham gia của người dân cũng chính là nội lực Cụ thể nội lực của người dân bao gồm:

- Tiền (vốn tài chính);

- Sức lao động;

- Tài sản sở hữu (đất đai và các tài sản khác);

- Trí tuệ và năng lực (trình độ, kỹ năng);

- Quan hệ xã hội (quyền ra quyết định, mối quan hệ)

Trong phát triển nông thôn có sự tham gia của nhiều tác nhân khác nhau Những năm gần đây khái niệm phát triển nông thôn có sự tham gia được sử dụng phổ biến trên thế giới Hai tác giả Cohen và Uphoff (1979) cho rằng: “liên quan đến phát triển nông thôn, sự tham gia bao gồm sự liên quan của người dân vào quá trình ra quyết định, vào việc thực hiện các chương trình, sự chia sẻ lợi ích có được từ chương trình phát triển; và/hoặc các cố gắng để đánh giá những chương trình như vậy” [1]

Trang 19

Các lĩnh vực tham gia thay đổi tùy theo mục tiêu của người nghiên cứu Tuy nhiên, việc ra quyết định luôn được xem là lĩnh vực quyết định nhất cho bất kì mục tiêu nào và không được bỏ qua Cohen và Uphoff (1979) đã đưa ra khung phân tích để giám sát vai trò của tham gia trong các dự án và chương trình phát triển Họ thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) ra quyết định, (2) thực hiện, (3) hưởng lợi, (4) đánh giá [1]

Trong khi đó, Finsterbusch và Wiclin(1987) nhận thấy dự án có 3 pha

và 5 hình thức tham gia là: (1) Lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế), (2) Thực hiện (thực hiện và thiết kế lại), và (3) bảo dưỡng Khung phân tích Cohen và Uphoff có mục tiêu tham gia và khung phân tích Finsterbusch và Wiclin có mục tiêu dự án, nhưng chúng tương hợp để phù hợp với thực tế Trong nghiên cứu sự tham gia của địa phương về các hoạt động phát triển ở nông thôn Thái Lan, Pong Quan (1992) quan sát thấy tham gia bao gồm: đóng góp, hưởng lợi, liên quan đến ra quyết định và đánh giá Tham gia hưởng lợi trong đánh giá dự án là không đáng kể nên điều này có thể bỏ qua trong nghiên cứu của chúng ta, điều này cũng thấy trong nghiên cứu của Finsterbusch và Wiclin [1]

Khi áp dụng vào thực tế, sự tham gia dường như thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Sự tham gia là một khái niệm khó nắm bắt mà sự phân biệt giữa các dạng khác nhau là không dễ dàng Tuy nhiên, trong bản tóm tắt của các

dự án phát triển của các quốc gia và các tổ chức phi Chính phủ, Oakley (1987) có gợi ý rằng ba dạng khác nhau của sự tham gia trong thực tế là: đóng góp, tổ chức và trao quyền [1]

trong PTNT

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong

Trang 20

- Điều kiện hộ gia đình;

- Điều kiện môi trường cộng đồng;

- Tính cộng đồng;

- Tổ chức cộng đồng;

- Đặc điểm của dự án

1.1.8 Các chỉ tiêu để xác định sự tham gia

Trong nghiên cứu phát triển tham gia ở vùng nông thôn Nigeria, Okarfor(1997) nhận thấy 4 lĩnh vực tham gia, và do đó 4 yếu tố để đo phạm vi tham gia là [1]:

(1) tham giam vào cuộc họp của dự án;

(2) tham gia vào việc ra quyết định;

(3) tham gia vào giám sát các dự án phát triển;

(4) tham gia đóng góp vốn

1.1.9 Căn cứ pháp lý để xây dựng nông thôn mới

Nghị quyết số 26NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung Ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

-Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn [18]

Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bô tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

Quyết định số 22/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 05 tháng 01 năm 2010 Phê duyệt đề án "Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020

Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

Các tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật về nông thôn mới của các Bô, Ngành

có liên quan;

Trang 21

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc

Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới, mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một Quốc gia ngày một giàu mạnh hơn"

Theo đó, Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn Điều đáng chú ý của phong trào nông thôn mới ở Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng NTM với việc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ các đại diện này Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một Quốc gia giàu

có, hiện đại bậc nhất châu Á hiện nay

1.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng phát

Trang 22

được của những công xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý để phát triển mô hình “công nghiệp hưng trấn” Các lĩnh vực như chế biến nông lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp đang ngày càng được đẩy mạnh [25]

Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích họp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường Chính phủ

hỗ trợ, nông dân xây dựng Với mục tiêu “ly nông bất ly hương” [25]

Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội,

để đưa ra chính sách, biện pháp thích họp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lọi , một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách” [25]

Tuy vậy, dù với rất nhiều cố gắng, xây dựng NTM tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn Mô hình NTM của Trung Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra Còn tồn tại nhiều vấn đề trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc [19]

1.2.1.3 Xây dựng NTM từ phong trào “Mỗi làng một sản phẩm ”của Nhật Bản

Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong

trào 'Mỗi làng, một sản phẩm' (OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông

thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Người khởi xướng phong trào OVOP của thế giới, Tiến sĩ Mo-ri- hi-kô Hi-ra-mát-su nhấn mạnh ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào OVOP Đó là, địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực

Trang 23

sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Câu chuyện từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa mạch, chanh Kabosu cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công mà cả sự thất bại Người dân sản xuất rồi tự chế biến,

tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào OVOP 'Mỗi làng, một sản phẩm' của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre được sản xuất với chất lượng và giá bán rất cao [27]

Theo Tiến sĩ Hi-ra-mát-su, gần 30 năm hình thành và phát triển, sự thành công của phong trào OVOP đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, đáng chú ý là các quốc gia ở châu Á và châu Phi tìm hiểu và áp dụng Một số quốc gia trong khu vực Đông-Nam Á như Thái- lan, Phi-li-pin tận dụng được nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm của phong trào OVOP của Nhật Bản [27]

1.2.1.4 Xây dựng NTM ở Thái Lan

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách

mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo

Trang 24

Kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn của Thái Lan cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tắnh tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân

để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.2 Những kết quả bước đầu về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

1.2.2.1 Phát triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1954 đến nay

- Từ năm 1954 - 1959, ruộng đất được giao cho người dân với mục tiêu Ộngười cày có ruộngỢ Giai đoạn này quan hệ sản xuất chuyển từ địa chủ phong kiến sang quan hệ sản xuất mới: nông dân làm chủ ruộng đất và sản xuất độc lập trên ruộng đất của mình [19]

- Từ 1960 - 1985: chia làm 2 giai đoạn nhỏ: Mô hình tổ chức sản xuất dưới dạng hợp tác xã nông nghiệp

- Từ 1960 - 1975: mô hình hợp tác xã hóa nông nghiệp được triển khai trên toàn miền Bắc Trong thời kỳ này Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho nông thôn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu để phát triển HTX: phát triển các công trình kỹ thuật (nhà kho, sân phơi, các trại giống, ) đẩy mạnh việc chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi đã có những tác động tắch cực đến sản xuất nông nghiệp

- Từ 1976 - 1980: mô hình tổ chức hợp tác xã nông nghiệp được triển khai trên phạm vi cả nước Trong đó vai trò của cấp huyện được coi trọng, là cấp quản lý kinh tế chủ yếu đối với việc thực hiện các chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn Hình ảnh của người nông dân lúc này là hình ảnh của người xã viên HTX [1]

Trang 25

Giai đoạn này người dân tham HTX với vai trò là “xã viên“ tham gia lao động phát triển sản xuất để lấy điểm, sản phẩm cuối năm sẽ được chia đều Tất cả các phương án, kế hoạch sản xuất, tiêu thu sản phẩm đều do HTX quyết định, người dân không được tham gia Điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của đất nước

Mô hình khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (1981 - 1985): Chỉ thị 100 CT-TW (13/01/1981) về “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động”, cho phép người lao động được HTX giao đất và thu hồi một phần sản phẩm theo một mức “khoán” nhất định

Chỉ thị chỉ nói đến việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động chứ chưa nhắc đến khoán hộ; gia đình mới chỉ được làm 3 khâu là cấy, chăm sóc và thu hoạch còn tập thể đảm nhiệm 5 khâu trong quá trình sản xuất cây lúa Chỉ thị đã tạo ra một không khí mới trong nông thôn: nông dân đã phấn khởi sản xuất, năng suất tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, người dân vẫn còn nhiều băn khoăn, không chịu bó buộc ở “5 khâu” do tập thể đảm nhiệm [19]

Giai đoạn này, mục tiêu sản xuất vẫn bị áp đặt bởi kế hoạch từ trên xuống, nông dân vẫn chưa có quyền làm chủ thực sự

Từ 1986 - 1991: cơ chế khoán cho nhóm và người lao động:

Nghị quyết 10 (Bộ chính trị ngày 05/08/1988) trong nông nghiệp đã khắc phục được những tồn tại của chỉ thị 100

Nét đổi mới của Nghị quyết 10 so với chỉ thị 100 là “một chủ, bốn tự”

“Một chủ” là xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ Đó chính là sự đột phá rất quan trọng của Nghị quyết 10

“Bốn tự”, nghĩa là hợp tác xã tự xác định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; tự xác định hình thức, quy mô sản xuất; tự xác định hình thức phân phối, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm để xã viên tự vào ra hợp tác xã

Điều đáng nói ở đây là: Đảm bảo tự xác định hình thức, quy mô sản xuất có nghĩa là xóa bỏ việc chỉ đạo nhất loạt lên hợp tác xã cấp cao, lên quy

Trang 26

mô xã to Đảm bảo tự xác định hình thức quản lý nghĩa là không nhất thiết

“năm khâu, ba khâu” như Chỉ thị 100 mà khoán theo mức, đơn giá, gia đình làm được khâu nào thì cứ tính theo đơn giá mà hưởng Trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm, tư tưởng chính sách “thuận mua vừa bán” trong nghị quyết là xóa cách bắt buộc bán theo nghĩa vụ đang thực hiện Chính sách này chỉ có thể thực hiện được khi đổi mới đồng bộ khâu lưu thông, phân phối mà trong Chỉ thị 100 đã chưa đề cập đến

- Mô hình sản xuất nông nghiệp bằng việc giao đất cho nông hộ:

Từ 1991 đến nay, đất đai được giao toàn quyền sử dụng cho các nông hộ, người nông dân được hoàn toàn chủ động sản xuất trên mảnh đất được giao

Giai đoạn này, mỗi hộ dân là một đơn vị sản xuất cơ bản Người nông dân đã chủ động chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển sản xuất và đóng góp nhiều cho phát triển cơ sở hạ tầng, làm cho bộ mặt nông thôn có những thay đổi đáng kể

Mô hình này có tác dụng làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch mạnh theo hướng tích cực Đời sống của người dân nông thôn đã ngày càng nâng cao, đẩy mạnh tiến trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [19]

1.2.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới

Thực hiện Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia NTM tại Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009; Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 54/2009/BNN & PTNT ngày 21 tháng 8 năm

2009, về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM Trên

cơ sở các văn bản của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp & PTNT Các địa phương đã tích cực triển khai thực hiện với sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự hưởng ứng

Trang 27

tham gia tích cực của người dân đã đạt được kết quả bước đầu khả quan

* Về công tác thành lập Bộ máy chỉ đạo chương trình:

Bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình từ Trung ương đến cơ sở được hình thành khá đồng bộ; nhiều cơ chế chính sách được ban hành có tác dụng thiết thực và trở thành động lực thúc đẩy tiến độ triển khai

Ngày 01 tháng 7 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1013/QĐ-TTg, về thành lập Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình MTQG xây dựng NTM, giai đoạn 2010 - 2020 Ban Chỉ đạo Trung ương có 24 thành viên,

do đồng chí Phó Thủ tướng Thường trực Chính Phủ làm Trưởng ban, Bộ trưởng

Bộ nông nghiệp và PTNT làm Phó trưởng ban thường trực

Ban chỉ đạo Trung ương đã ban hành Quy chế hoạt động (tại Quyết định 437/QĐ-BCĐXDNTM, ngày 20/9/2010) và Kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 (tại quyết định 435/QĐ-BCĐXDNTM, ngày 20/9/2010) Để giúp việc cho Ban chỉ đạo, Bộ Nông nghiệp

và PTNT đã thành lập Văn phòng điều phối Chương trình xây dựng NTM với 24 cán bộ chuyên trách [3]

Trong năm 2010, các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện đã thành lập Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 -2020 do đồng chí Chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban, đồng chí Phó chủ tịch phụ trách kinh tế và đồng chí Trưởng phòng nông nghiệp & PTNT huyện làm Phó ban, đại diện các phòng ban liên quan, các tổ chức đoàn thể quần chúng làm thành viên và thành lập Văn phòng điều phối Chương trình xây dựng NTM từ tỉnh đến huyện, đồng thời bố trí cán bộ chuyên trách NTM ở các cấp [3]

Ở cấp xã, thành lập BCĐ, BQL Chương trình xây dựng NTM (do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, cán bộ phụ trách nông, lâm nghiệp, đại diện Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể quần chúng làm thành viên) và Ban giám sát cộng đồng (gồm đại diện Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị

xã hội và đại diện của cộng đồng dân cư) [3]

Cấp thôn bản, thành lập Ban phát triển thôn làm nòng cốt trong quá trình

Trang 28

thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn

* Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình:

Theo sự chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn quản lý, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Tập trung chỉ đạo các địa phương huy động nguồn lực, vốn, đẩy mạnh công tác dạy nghề nông thôn… đồng thời có các giải pháp triển khai thực hiện chương trình có hiệu quả

* Tổ chức quán triệt, thông tin tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia chương trình xây dựng NTM:

Sau khi thành lập BCĐ Trung ương về nông thôn mới, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực tuyến với lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo các địa phương để triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 Nhiều hoạt động tuyên truyền như: họp báo, tổ chức Hội nghị với các tổ chức quốc tế cũng đã được tiến hành Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành kế hoạch tuyên truyền và tổ chức họp báo định kỳ để định hướng công tác tuyền truyền; tổ chức 12 hội nghị chuyên đề về xây dựng nông thôn mới với các Bộ, ngành liên quan; phối hợp với Bộ Thông tin và truyền thông để nâng cao chất lượng thông tin về nông dân, nông thôn

Theo thống kê chưa đầy đủ, đến nay có 40/63 tỉnh, thành đã xây

dựng website; tổ chức được hơn 70 ngàn hội nghị, dựng gần 800 ngàn pano, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu và hàng chục ngàn tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng

Hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn

mới” do Thủ tướng chính phủ phát động đã tác động đến sự quan tâm, hỗ trợ

nguồn lực cao và động viên tinh thần của toàn xã hội đối với nông dân, nông thôn Hệ thống thông tin tuyên truyền về nông thôn mới hoạt động phong phú, liên tục đã động viên rất tích cực, kịp thời đến phong trào xây dựng NTM Qua

đó, giúp người dân hiểu được chủ trương của Đảng, nhà nước về xây dựng NTM

Trang 29

nên người dân đã tích cực tham gia chương trình, hiến hàng trăm ngàn m2 đất, cây cối, hoa màu… tham gia công sức để xây dựng các công trình công cộng; nâng cấp đường giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi; chỉnh trang nơi ở, làng bản xanh sạch đẹp; tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ ở thôn, bản… với kinh phí ước tính hàng trăm tỷ đồng

Nhìn chung, công tác tuyên truyền, tập huấn trong thời gian qua đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp, các ngành trong toàn

hệ thống chính trị, đã thực sự nắm rõ được nội dung, ý nghĩa của chương trình xây dựng NTM Từ đó đã có những phương pháp, cách làm hiệu quả, thu hút được sự quan tâm, đồng tình hưởng ứng, tự giác tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân trong cả nước

Ban chỉ đạo Trung ương đã chọn 5 tỉnh gồm: Phú Thọ, Thái Bình, Hà Tĩnh, Bình Phước, An Giang và 05 huyện là Nam Đàn (Nghệ An), Hải Hậu (Nam Định), Phước Long (Bạc Liêu), Phú Ninh (Quảng Nam), K’Bang (Gia Lai) làm điểm chỉ đạo [3]

Theo Cục kinh tế hợp tác Phát triển nông thôn (công bố tại hội nghị ngày 15/02/2011), năm 2011, có 60 tỉnh chọn xã làm điểm chỉ đạo trước khi nhân ra diện rộng (766 xã/119 huyện), trong đó đa số lựa chọn 4-10 xã (chiếm 3-4%) Một số tỉnh chọn số xã làm điểm lớn như: Phú Yên 22%, Đồng Tháp 25%, Hà Giang 23%, Lào Cai 31% Có tỉnh đề ra kế hoạch hoàn thành xây dựng nông thôn mới sớm hơn kế hoạch của Trung ương như; Quảng Ninh phấn đầu 70% số xã đạt NTM vào năm 2016

* Những hạn chế và bất cập

Xây dựng mô hình nông thôn mới là việc làm khó khăn, tốn kém, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp nên quá trình tổ chức thực hiện thí điểm đã xuất hiện nhiều vấn đề mới, những hạn chế và bất cập thể hiện trên một số mặt sau [28]:

Thứ nhất, nội dung của chương trình vẫn còn chưa được đề ra rõ ràng,

tính khả thi không cao Nếu mục tiêu chỉ để thí điểm thì chương trình này có

Trang 30

cả các xã trong cả nước thi 19 tiêu chí đề ra lại không có giá trị thực tế Các mục tiêu đề ra đến năm 2015 và năm 2020 là quá cao nên không có tính khả thi Điều này thể hiện qua kết quả 2 năm thí điểm tại các xã của Trung ương cũng như các địa phương

Thực tế, những kết quả đạt được tại các xã thí điểm ở các tỉnh, thành còn thấp so với mục tiêu và yêu cầu của chương trình, cũng như đầu tư của Nhà nước Trong 11 xã thí điểm của Trung ương, sau 2 năm triển khai thực hiện không có xã nào đạt được tiêu chí đề ra số xã đạt trên 10 tiêu chí cũng chỉ có 7 xã, trong đó có 3 xã đạt 14 tiêu chí số còn lại có 4 xã đạt từ 10 tiêu chí trở xuống, trong đó có xã Thanh Chăn (Điện Biên) đạt 7 tiêu chí Điều đáng lưu ý là kết quả đó chủ yếu do địa phương thu thập, tính toán và công

bố, chưa có sự tham gia kiểm tra, giám sát công nhận của các ngành chức năng (như ngành Thống kê, Tài chính, Lao động Thương binh và Xă hội) Do

đó, tính pháp lý của các kết quả đó chưa cao, chưa thuyết phục Tình hình tương tự cũng đã diễn ra ở các xã điểm của địa phương [28]

Thứ hai, bất cập về vốn Chương trình xây dựng nông thôn mới cần

nguồn vốn rất lớn, bình quân 150 tỷ - 200 tỷ đồng/1 xã, trong khi nguồn lực của Nhà nước và các doanh nghiệp, nhân dân có hạn nên tiến độ triển khai các

dự án rất chậm, một số nội dung không có kinh phí riêng như phát triển sản xuất Điều đó thể hiện ngay tại 11 xã thí điểm của Trung ương, tổng số vốn đến tháng 12-2010 lũy kế là 940,1 tỷ đồng, bình quân 1 xã chỉ là 85,4 tỷ đồng Các công trình xây dựng nông thôn mới điểm phần lớn nhờ nguồn lực của Trung ương hỗ trợ (40%), ngân sách địa phương và của dân cư không đáng kể (12,4%), vốn doanh nghiệp còn quá ít (8,9%) Ở những xã thuần nông, phần vốn của dân cư rất thấp, như: Tân Hội - Lâm Đồng là 1,22%; Tân Lập - Bình Phước là 2,5%; Hải Đường - Nam Định là 4,50% Nếu tình hình này không được khắc phục sẽ phát sinh tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước, đó là sự không lành mạnh, không công bằng với các xã ngoài thí điểm Ngoài ra, tại các xã điểm do địa phương chỉ đạo, tỷ trọng vốn do doanh nghiệp hỗ trợ và

Trang 31

vốn dân đóng góp cũng rất thấp nên tốc độ triển khai các công trình xây dựng nông thôn mới của các xã rất chậm và không đều, chủ yếu chỉ tập trung vào xây dựng mới, ít quan tâm đến tu sửa, nâng cấp, quản lý và vận hành những công trình đã có và các công trình văn hóa [28]

Thứ ba, đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã còn nặng về phát triển kết cấu hạ tầng, chưa chú trọng đến phát triển sản xuất tăng thu nhập, nâng

cao đời sống văn hoá tinh thần và bảo vệ môi trường Chương trình nông thôn mới chú trọng nhiều đến xây dựng những công trình cấp xã mà chưa quan tâm thích đáng tới các công trình ở các thôn hoặc ở hộ nông dân [28]

Thứ tư, về công tác phát triển sản xuất, nhìn chung các địa phương chỉ

tập trung cho xây dựng quy hoạch và lập đề án, việc sản xuất vẫn theo kế hoạch hằng năm, chưa có chuyển biến rõ rệt Trên thực tế, đây là công việc rất khó vì liên quan đến chính sách đất đai, đặc biệt tại các tỉnh miền Bắc ruộng đất còn manh mún nhưng Chương trình xây dựng nông thôn mới không có nội dung dồn điền đổi thửa, nên chưa thu hút được doanh nghiệp đầu tư tại địa bàn nông thôn, chưa tạo ra các mô hình tổ chức sản xuất mới gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm [28]

Thứ năm, về công tác đào tạo nghề cho nông dân chưa gắn với các dự

án, chương trình và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp Trong dạy nghề cho nông dân, các xã nông thôn mới chưa xây dựng được bộ giáo trình chuẩn phù họp với thời gian đào tạo Nhiều cơ sở dạy nghề phi nông nghiệp

để chuyển nghề cho nông dân vẫn trong tình trạng dạy “chay”, thiếu giáo viên

có chất lượng, thiếu thiết bị phục vụ thực hành

Thứ sáu, nhận thức của các ngành các cấp về Chương trình xây dựng nông thôn mới chưa đúng, chưa đầy đủ Một số bộ, ngành chưa có kế hoạch

triển khai các nhiệm vụ được giao, chưa bố trí đủ cán bộ có năng lực phụ trách các xã điểm Trong chỉ đạo chưa quan tâm đầy đủ đến việc huy động cả

hệ thống chính trị vào cuộc, chưa lồng ghép các chương trình, dự án hiện có

để tăng năng lực cho các xã thí điểm Vì vậy, hiệu quả của một số mô hình xã

Trang 32

điểm còn chưa cao, chưa đồng bộ và chưa vững [28]

1.2.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Cao Bằng

Trong 5 năm qua tỉnh Cao Bằng triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM: cơ sở hạ tầng đươ ̣c đầu tư xây dư ̣ng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được nâng lên, bộ mặt nông thôn có nhiều khở i sắc

Công tác tuyên truyền, giáo dục được thực hiện thường xuyên, liên tục,

đa dạng, hiệu quả đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc đã làm thay đổi

rõ rệt nhận thức trong đội ngũ cán bộ, công chức các cấp và nhân dân về Chương trình xây dựng NTM, nhiều cán bộ thực sự tâm huyết, trách nhiệm cao với phong trào, cấp uỷ, chính quyền và các tổ chức đoàn thể nhận thức được trách nhiệm trong thực hiện Chương trình, vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới ngày càng được xác định rõ ràng hơn Nhiều tổ chức, cá nhân đã nhiệt tình đóng góp sức lao động, vật liệu, hiến đất làm các công trình giao thông, thủy lợi, trường học Việc ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện cơ chế, chính sách đồng bộ và kịp thời đã trao quyền chủ động cho các cấp cơ sở, phát huy cao vai trò chủ thể của người dân, của cộng đồng

Thông qua việc tiếp xúc trực tiếp của lãnh đạo các cấp với cơ sở, và ý kiến về tâm tư, nguyện vọng của người dân được tiếp thu, đã làm cho những vấn đề khó khăn, bức xúc được kịp thời tháo gỡ

Công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn được thực hiện thường xuyên, liên tục; việc sơ kết, tổng kết, khen thưởng, vinh danh các tập thể, cá nhân điển hình được quan tâm đúng mức, đã tạo nên phong trào thi đua mạnh mẽ, rộng khắp trong toàn tỉnh

Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới

- Số xã đạt 1 - 4 tiêu chí: 40 xã;

Trang 33

- Số xã đạt 5 - 9 tiêu chí: 118 xã;

- Số xã đạt 10 - 14 tiêu chí: 14 xã, gồm các xã Lê Lai, Đức Long, huyện Thạch An; các xã Đình Minh, Lăng Hiếu, Chí Viễn, huyện Trùng Khánh; xã Cao Chương, huyện Trà Lĩnh; xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình; các xã Đào Ngạn, Sóc Hà, huyện Hà Quảng; xã Triệu Ẩu, huyện Phục Hoà; các xã nam Tuấn, Bế Triều, Hoàng Tung, Hồng Việt huyện Hòa An

- Số xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí: 03 xã, gồm xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên; Phong Châu, huyện Trùng Khánh; xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng;

- Số xã đạt 19 tiêu chí: Đến nay có 02 xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình và xã Trường Hà, huyện Hà Quảng đã được UBND tỉnh Quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới

1.3 Đánh giá chung

Nhìn chung từ những bài học của các nước và chương trình thí điểm xây dựng NTM đã đạt được những kết quả đúng với mục tiêu thử nghiệm nhằm rút ra kinh nhiệm, đề xuất cơ chế chính sách xây dựng NTM Sự tham gia còn hạn chế của cộng đồng cúng chính là bài học kinh nghiệm để tìm ra các phương thức huy động cộng đồng tham gia có hiệu quả hơn Rút kinh nhiệm từ các chương trình này, chương trình thí điểm xây dựng NTM do ban

Bí thư chỉ đạo đã đưa ra những cơ chế cụ thể hơn về phát huy sự tham gia của cộng đồng Những bài học kinh nhiệm huy động cộng đồng rút ra từ chương trình thí điểm NTM của ban Bí thư được đưa ra trong luận văn này sẽ là cơ sở

để đề xuất những cơ chế chính sách phù hợp hơn

Trang 34

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

- Đánh giá tình hình xây dựng nông thôn mới huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

- Nghiên cứu các chính sách văn bản pháp quy của nhà nước của tỉnh, huyện về vấn đề xây dựng nông thôn mới

- Đánh giá tình hình tham gia của cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới tại 3 xã nghiên cứu

- Xác định được mức tham gia của cộng đồng trong việc triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới

- Đưa ra một số nguyên nhân, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội

và thách thức cho việc tham gia cộng đồng cho chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Thông Nông

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đầy sự tham gia của công đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

Thu thập các số liệu đã được công bố liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

+ Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

+ Báo cáo các giai đoạn thực hiện và báo cáo tổng kết hàng năm của UBND huyện Thông Nông

Trang 35

+ Các báo cáo liên quan đến việc thực hiện xây dựng nông thôn mới của các phòng, ban trên địa bàn huyện như phòng NN và PTNT, Chi cục Thống kê, phòng văn hóa, phòng y tế, phòng TNMT huyện

+ Báo cáo của 10 xã về kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia

Tổ chức họp dân, đưa ra những câu hỏi xung quanh vấn đề nghiên cứu của đề tài nhằm thu thập những thông tin cần thiết

Phỏng vấn những người cung cấp thông tin cần thiết: tiến hành phỏng vấn thành viên trong Ban chỉ đạo, tổ chỉ đạo các cấp huyện, xã, tổ giúp việc Ban chỉ đạo, người dân để thu thập những thông tin chuyên sâu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

+ Phương pháp điều tra phỏng vấn hộ gia đình bằng bộ câu hỏi đã định sẵn: Phiếu điều tra có đầy đủ thông tin, có cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở, từ

đó thống nhất số liệu đã thu thập được

- Phương pháp điều tra chọn mẫu

Đề tài lựa chọn 3 xã là 3 xã đại diện cho toàn huyện trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Thông Nông là xă Lương Can, Cần Yên, Thanh Long Các xã này có đặc điểm khác nhau như:

+ Xã Thanh Long: Đại diện cho vùng phía Tây của huyện có địa hình đồi núi cao, núi đá vôi xen kẽ vùng đất hẹp

+ Xã Lương Can: Là xã gần trung tâm huyện nên có nhiều hoạt động phi nông nghiệp

+ Xã Cần Yên: Là xã Biên giới có nhiều cánh đồng mẫu lớn

Cả ba xã này đều được quy hoạch nằm trong vùng trung huyện của huyện Thông Nông trong quy hoạch phát triển huyện Xã Lương Can đăng ký

lộ trình về đích nông thôn mới vào năm 2018, xã Cần Yên và Thanh Long đăng ký về đích vào năm 2019 và 2020 trong quy hoạch phát triển nông thôn

Trang 36

mới của huyện Có thể thấy sự tương đồng và khác biệt của ba xã địa bàn nghiên cứu có thể có những tác động khác nhau đến nhận thức cũng như sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới Chính vì vậy, tôi chọn

ba xã Lương Can, Cần Yên, Thanh Long làm địa điểm nghiên cứu đề tài này

Nội dung của phiếu điều tra gồm: Các thông tin chung về hộ; nhận thức của các hộ về xây dựng nông thôn mới; sự tham gia, mức độ tham gia của hộ trong xây dựng mô hình nông thôn mới; đánh giá của các hộ về sự tham gia; các ý kiến, nguyện vọng đóng góp để tăng cường sự tham gia Những thông tin này được thể hiện qua các câu hỏi cụ thể để người dân hiểu và trả lời đầy đủ

Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp người dân tại các hộ đã được chọn theo các câu hỏi có sẵn của phiếu điều tra, các thông tin này được kiểm chứng thông qua tìm hiểu và quan sát trực tiếp tình hình địa phương

2.2.2 Phương pháp phân tích

2.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả

Sử dụng phương pháp này để hệ thống hoá và phân tích các số liệu thu thập được từ điều tra Từ phương pháp này có thể tìm ra các mối quan hệ lẫn nhau của các nhân tố riêng biệt như tình hình kinh tế, trình độ văn hoá, mức thu nhập của các hộ qua đó đánh giá được sự huy động nguồn lực của cộng

đồng vào xây dựng NTM

2.2.2.2 Phương pháp so sánh

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê so sánh để tiến hành phân tích

thực trạng việc tham gia của cộng đồng vào xây dựng nông thôn mới của huyện Thông Nông, sự đóng góp của người dân và các doanh nghiệp, HTX

vào chương trình xây dựng NTM của huyện Từ đó xác định hiệu quả của

việc tham gia của cộng đồng vào chương trình xây dựng NTM

Trang 37

2.2.2.3 Phương pháp phân tích SWOT

Sử dụng phương pháp SWOT để xác định những điểm mạnh và điểm yếu trong việc tham gia cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu, đồng thời cũng thấy được cơ hội và thách thức từ bên ngoài có ảnh hưởng đến việc tham gia cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Thông Nông

- Xử lý thông tin định lượng: Các số liệu thu thập được xử lý trên excel

và thể hiện qua các bảng biểu

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thông Nông

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên thiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thông Nông là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Cao

Bằng, cách trung tâm tỉnh lị 50 km

- Phía bắc giáp huyện Nà Po (Quảng Tây - Trung Quốc)

- Phía Đông giáp huyện Hà Quảng và huyện Hòa An

- Phía Tây giáp huyện Bảo Lạc và huyện Nguyên Bình

- Phía Nam giáp huyện Hòa An và huyện Nguyên Bình

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu

b) Địa hình

Nằm hoàn toàn trên dãy đá vôi, huyện Thông Nông có đặc điểm đặc trưng của vùng núi cao, độ cao trung bình 300 - 800m so với mực nước biển, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Đông Nam và được chia làm 3 loại hình:

- Thứ nhất: Dạng địa hình lòng máng, được phân bố tập trung trên địa bàn các xã Cần Yên, Lương Thông, Đa Thông, Thị Trấn và Lương Can dọc theo sông Dẻ Rào Đây là vùng địa hình tương đối bằng phẳng, được hình thành chủ yếu do sự bồi đắp phù sa từ con sông Dẻ Rào Vùng này chủ yếu trồng lúa nước, cung cấp 70% lương thực cho toàn huyện

- Thứ hai: Dạng địa hình lưng chừng, phân bố tập trung trên địa bàn các

xã Thanh Long, Bình Lãng, Vị Quang, có xen kẽ các bãi bằng thung lũng hẹp

và trên các sườn núi dốc thoải Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ là loại đất màu vàng trên đá vôi, rất thích hợp trồng cây lâu năm, cây công nghiệp Vùng địa hình này chiếm 15% tổng diện tích tự nhiên của huyện

Trang 39

- Thứ ba: Dạng địa hình núi cao, được phân bố tập trung ở các xã Yên Sơn, Thanh Long, Bình Lãng, Ngọc Động, Lương Can, chiếm 65% diện tích

tự nhiên Đất này chỉ thích hợp trồng các loại cây lâu năm và cây lâm nghiệp

Sự đa dạng về địa hình là điều kiện thuận lợi để phát triển một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng và phong phú Tuy nhiên do địa hình bị chia cắt mạnh, vùng núi đá vôi có nhiều hang động, có hiện tượng castơ nên thường thiếu nước về mùa khô và ngập úng về mùa mưa

c) Thời tiết, khí hậu, thủy văn

*Thời tiết, khí hậu: Thuộc miền núi cao, huyện Thông Nông mang đặc

điểm khí hậu gió mùa Nhiệt độ trung bình 20,20C; đối với vùng rẻo cao khi nhiệt độ xuống thấp gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và đời sống Lượng mưa trung bình năm từ 1.736,9 mm, năm cao nhất có thể lên tới 2.000mm Do địa hình núi cao lại dốc nên đôi khi xảy sảy lũ vào tháng 7, tháng 8 trong năm Gió mùa Đông bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau gây ra lạnh giá Gió mùa Đông nam bắt đầu từ tháng 4 kết thúc vào tháng 11, đôi khi gây ra gió lốc Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, cao nhất vào mùa hè (90%) và thấp nhất vào mùa đông (55%) Trong năm, vào mùa đông giá có xảy ra

sương muối ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi

* Thủy văn: Thông Nông có con sông Dẻ Rào, bắt nguồn từ biên giới

Việt - Trung, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam chảy qua các xã Cần Yên, Lương Thông, Đa Thông, Lương Can với chiều dài 36km Con sông này

là nguồn cung cấp nước chính cho sinh hoạt và sản xuất, có nhiều tiềm năng

để phát triển thuỷ điện Ngoài ra, hai khe suối Ngọc Động và Thanh Long cũng góp phần cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Do đặc điểm nằm trên núi đá vôi nhiều hang động và rừng bị tàn phá nên các tháng

mùa khô thường thiếu nước, mùa mưa xảy ra lũ lụt, sụt lở đất

Trang 40

3.1.1.3 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

* Tài nguyên đất:

Toàn huyên Thông Nông có tổng diện tích đất tự nhiên là 35.879,9 ha, đây là tiềm năng cần được quy hoạch, khai thác hợp lí, phát huy thế mạnh, góp phần phát triển kinh tế trên địa bàn

Qua số liệu thống kê đất đai toàn huyện cho thấy, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn với 33.985,3ha, chiếm 94,72% tổng diện tích tự nhiên, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 5.713,4 ha Đất trồng cây hàng trong đó đất trồng lúa 1.436,9 ha, chiếm 4% tổng diện tích tự nhiên Cơ cấu

sử dụng các loại đất thể hiện trong Bảng 3.1

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Thông Nông năm 2015

Ngày đăng: 06/07/2017, 10:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Trọng Bình (2012), “Kinh nghiệm quốc tế về sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn”, Tạp chi Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn”, "Tạp chi Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Vũ Trọng Bình
Năm: 2012
4. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. Dương Ngọc: Kinh tế Việt Nam: 67 năm qua các con số, VnEconomy 12. Võ Hồng Phúc (2006), Những thành tựu về kinh tế - xã hội qua 20 nămđổi mới (1986 - 2005), trong Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam: 67 năm qua các con số", VnEconomy 12. Võ Hồng Phúc (2006), "Những thành tựu về kinh tế - xã hội qua 20 năm "đổi mới (1986 - 2005)
Tác giả: Dương Ngọc: Kinh tế Việt Nam: 67 năm qua các con số, VnEconomy 12. Võ Hồng Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Nguyễn Duy Quý, Công cuộc đổi mới: những thành tựu và bài học kinh nghiệm, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cuộc đổi mới: những thành tựu và bài học kinh nghiệm
2. Bộ NN&PTNT (2005), Báo cáo sơ kết 3 năm triển khai thực hiện chương trình NTM cấp xã giai đoạn 2001- 2004 Khác
3. Bộ NN&PTNT, tháng 8/2009: Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới (cấp xã) Khác
5. Cục Thống kê tỉnh Cao Bằng (2015), Niên giám thống kê huyện Thông Nông Khác
6. Đề án xây dựng nông thôn mới xã Cần Yên - huyện Thông Nông - tỉnh Cao Bằng (giai đoạn 2012 - 2020) Khác
8. Đề án xây dựng nông thôn mới xã Lương Can - huyện Thông Nông - tỉnh Cao Bằng (giai đoạn 2012 - 2020) Khác
9. Đề án xây dựng nông thôn mới xã Thanh Long - huyện Thông Nông - tỉnh Cao Bằng (giai đoạn 2012 - 2020) Khác
10. Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung (1997), Kinh tế nông nghiệp Nxb nông nghiệp, Hà Nội Khác
13. Đặng Kim Sơn (2008), Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, Nxb chính trị quốc gia, Hà nội Khác
14. UBND tỉnh Cao Bằng (2015), Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện chương trình xây dựng NTM tỉnh Cao BằngBáo cáo khoa học, bài báo Khác
20. Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ Khác
21. Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05 tháng 08 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn Khác
22. Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010: Phê duyệt chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Khác
23. Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTMTài liệu trang Web Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:  Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Thông Nông năm 2015 - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Thông Nông năm 2015 (Trang 40)
Bảng 3.4. Một số thông tin 3 xã điểm đến cuối năm 2015 - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.4. Một số thông tin 3 xã điểm đến cuối năm 2015 (Trang 56)
Bảng 3.5: Mức độ đạt các tiêu chí của 3 xã theo 19 tiêu chí của QĐ 491 - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.5 Mức độ đạt các tiêu chí của 3 xã theo 19 tiêu chí của QĐ 491 (Trang 57)
Bảng 3.6: Kết quả tham gia của người dân trong xây dựng NTM - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.6 Kết quả tham gia của người dân trong xây dựng NTM (Trang 58)
Bảng 3.10. Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.10. Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động (Trang 69)
Bảng 3.12: Hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật   trong các dự án phát triển sản xuất - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.12 Hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật trong các dự án phát triển sản xuất (Trang 74)
Bảng 3.14: Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.14 Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia (Trang 78)
Bảng 3.4. Một số thông tin 3 xã điểm đến cuối năm 2015 - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.4. Một số thông tin 3 xã điểm đến cuối năm 2015 (Trang 111)
13  Hình thức tổ - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
13 Hình thức tổ (Trang 113)
Bảng 3.6: Kết quả tham gia của người dân trong xây dựng NTM - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.6 Kết quả tham gia của người dân trong xây dựng NTM (Trang 115)
Bảng 3.7: Sự tham gia của dân vào việc ra quyết định - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.7 Sự tham gia của dân vào việc ra quyết định (Trang 115)
Bảng 3.8: Đánh giá của người dân về sự tham gia xây dựng CSHT - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.8 Đánh giá của người dân về sự tham gia xây dựng CSHT (Trang 116)
Bảng 3.9:  Các hình thức và giá trị đóng góp bình quân hộ - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.9 Các hình thức và giá trị đóng góp bình quân hộ (Trang 116)
Bảng 3.10. Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.10. Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động (Trang 117)
Bảng 3.13: Tổng hợp giá trị đóng góp của cộng đồng cho xây dựng NTM - Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện thông nông, tỉnh cao bằng
Bảng 3.13 Tổng hợp giá trị đóng góp của cộng đồng cho xây dựng NTM (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w