Điều tra tình hình chăn nuôi bò sữa và một số chỉ tiêu sinh sản của đàn bò tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì .... Điều tra bệnh viêm vú lâm sàng và các bệnh sản khoa trên đàn
Trang 1KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2012 – 2017
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp : K44 - TY Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2012 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Sửu
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian kết thúc học tập tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, Bộ Môn VSV – GP - BL, tôi được giới thiệu về thực tập tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì - Viện Chăn nuôi Tại đây, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi cũng đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của nhiều người để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, cùng toàn thể thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp Đặc biệt là sự hướng dẫn trực tiếp của TS Nguyễn Văn Sửu, bộ môn VSV – GP - BL
Tiếp đến tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì - Viện Chăn nuôi, cùng các anh chị phòng
kĩ thuật của trung tâm và ThS Đặng Thị Dương đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ, động viên cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Lương Thị Lý
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thống kê bò sữa của Trung tâm 2015 - 2016 6
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn bò theo độ tuổi của Trung tâm trong 2 năm gần nhất 2015 - 2016 38
Bảng 4.2 Cơ cấu đàn bò sữa theo giống 39
Bảng 4.3 Kết quả thống kê một số chỉ tiêu sinh sản của đàn bò tại
Trung Tâm 40
Bảng 4.4 Kết quả điều tra bệnh viêm vú lâm sàng và các bệnh sản khoa trên đàn bò tại Trung tâm 42
Bảng 4.5 Kết quả thử CMT trên đàn bò của Trung tâm 43
Bảng 4.6 Kết quả xác định vị trí núm vú của bò bị viêm bằng CMT 43
Bảng 4.7 Kết quả xác định số vú dương tính với CMT trên một bò 44
Bảng 4.8 Kết quả ảnh hưởng giữa lứa đẻ và bệnh viêm vú lâm sàng 46
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh viêm vú lâm sàng trên bò sữa 48
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Vệ sinh vú bò 36
Hình 3.2 Thử CMT tại trại 36
Hình 3.3 Lấy mẫu sữa 37
Hình 4.1 Cơ cấu đàn theo giống bò 39
Hình 4.2 Kết quả xác định vị trí núm vú của bò bị viêm bằng CMT 44
Hình 4.3 Tỷ lệ viêm vú cận lâm sàng giữa các núm vú 45
Hình 4.4 Tỷ lệ viêm vú ở các lứa đẻ 46
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích đề tài và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cở sở nơi thực tập 3
2.1.1 Vài nét cơ bản về Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội 3
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.3 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội 5
2.1.4 Tình hình sản xuất của cơ sở 6
2.1.5 Những thuận lợi khó khăn 7
2.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa trong nước 7
2.3 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Ba Vì – Hà Nội 9
2.4 Đặc điểm cấu tạo tuyến vú và chức năng sinh lý tiết sữa 10
2.4.1 Đặc điểm cấu tạo tuyến vú 10
2.4.2 Chức năng sinh lý tiết sữa 13
2.5 Bệnh viêm vú bò sữa 16
2.5.1 Khái niệm bệnh viêm vú bò sữa 16
2.5.2 Nguyên nhân 16
Trang 82.5.3 Phân loại viêm vú bò sữa 19
2.5.4 Biến chứng của bệnh viêm vú 23
2.5.5 Chẩn đoán bệnh viêm vú 24
2.6 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa 30
2.6.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa trên thế giới 30
2.6.2 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa ở Việt Nam 31
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
3.2 Nội dung nghiên cứu 33
3.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi bò sữa và một số chỉ tiêu sinh sản của đàn bò tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì 33
3.2.2 Điều tra bệnh viêm vú lâm sàng và các bệnh sản khoa trên đàn bò khoán của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì 33
3.2.3 Khảo sát viêm vú cận lâm sàng bằng phương pháp CMT trên đàn bò của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì 33
3.2.4 Xác định vị trí núm vú của bò bị viêm vú cận lâm sàng
bằng CMT 33
3.2.5 Xác định số vú bị viêm/bò 33
3.2.6 Xác định ảnh hưởng giữa lứa đẻ và bệnh viêm vú lâm sàng 33
3.3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.3.1 Phương pháp điều tra tình hình 33
3.3.2 Phương pháp tính tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lần đầu 34
3.3.3 Phương pháp tính thời gian động dục lại sau khi đẻ 34
3.3.4 Phương pháp tính khoảng cách giữa hai lứa đẻ 35
3.3.5 Phương pháp chia mùa vụ 35
3.3.6 Phương pháp xác định bò bị viêm vú lâm sàng 35
3.3.7 Phương pháp xác định viêm vú cận lâm sàng 35
3.3.8 Phương pháp xử lý số liệu 37
Trang 9Phần 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Cơ cấu đàn bò sữa theo độ tuổi của Trung tâm trong 2 năm
2015 - 2016 38
4.2 Cơ cấu giống bò sữa của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì năm 2015 – 2016 39
4.3 Kết quả thống kê một số chỉ tiêu sinh sản của đàn bò tại Trung Tâm 40
4.4 Kết quả điều tra bệnh viêm vú lâm sàng và các bệnh sản khoa trên đàn bò khoán của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì 42
4.5 Kết quả khảo sát viêm vú cận lâm sàng bằng phương pháp CMT trên đàn bò của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì 43
4.6 Kết quả xác định vị trí núm vú của bò bị viêm vú cận lâm sàng
bằng CMT 43
4.7 Kết quả số vú bị viêm/bò 44
4.8 Kết quả ảnh hưởng giữa lứa đẻ và bệnh viêm vú lâm sàng 45
4.9 Kết quả điều trị bệnh viêm vú 47
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển nhanh số lượng đàn bò trong nước, đàn bò sữa nước ta trong những năm gần đây tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Các đàn bò lai F1, F2 dần được thay thế bằng đàn bò lai F3 và bò cao sản được nhập khẩu từ Mỹ, Úc… và vì thế sản lượng sữa tuơi sản xuất trong nước cũng tăng, đáp ứng được một phần nhu cầu tiêu dùng sữa tươi trong nước
Theo Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp, tính đến hết năm 2014, số lượng bò sữa cả nước năm 2014 là 227.000 con (tăng 22,1% so với năm 2013) Sản lượng sữa trong nước sản xuất ước tính là 549.533 tấn Năm 2015
cả nước sản xuất 1,9 tỷ lít quy ra sữa tươi, tăng lên là 2,6 tỷ lít vào năm 2020
và 3,4 tỷ lít tới năm 2025
Tuy nhiên, song hành với ngành chăn nuôi luôn tồn tại các vấn đề như con giống, dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc, bệnh tật và rác thải chăn nuôi Trong đó bệnh tật là khâu khó giải quyết nhất, gây thiệt hại lớn nhất, và người chăn nuôi quan tâm nhiều nhất Đầu tiên và quan trọng nhất phải kể đến nhóm các bệnh truyền nhiễm, tiếp đến là nhóm bệnh ký sinh trùng, các bệnh sản khoa và bệnh viêm vú bò sữa Đối với, những bệnh lây lan nhanh, mạnh, khó kiểm soát như bệnh truyền nhiễm thì đã có vaccine can thiệp rất hiệu quả, hay khó điều trị như bệnh ký sinh trùng thì luôn được người chăn nuôi phòng và tẩy trừ từ rất sớm nên 2 nhóm bệnh này thường ít xảy ra trên bò sữa Duy chỉ
có các bệnh sản khoa, bệnh về chân móng và bệnh viêm vú thì rất hay xảy ra trên bò sữa, mà thường không dự báo trước được, gây nhiều khó khăn cho người chăn nuôi Trong đó, bệnh viêm vú là bệnh phổ biến nhất, gây tổn thất
và tốn kém nhất trong số các bệnh của bò sữa trên thế giới Ở Việt Nam, tỷ lệ
bò bị mắc viêm vú chiếm khoảng 40 – 50% tổng đàn bò, tổn thất do bệnh
Trang 11viêm vú lớn gấp 2 lần so với bệnh vô sinh và các bệnh sản khoa khác, chiếm tới khoảng 20% chi phí thú y trong quá trình sản xuất chăn nuôi Bệnh viêm
vú đã và đang gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi bò sữa
Tại nước ta, đã có nhiều đề tài nghiên cứu và nhiều tài liệu viết về bệnh viêm vú bò sữa Tuy nhiên, bệnh viêm vú trong những năm qua vẫn chưa được kiểm soát hiệu quả Xuất phát từ những yêu cầu trên, dưới sự hướng dẫn
của Thầy giáo TS Nguyễn Văn Sửu, tôi tiến hành đề tài:“Nghiên cứu bệnh
viêm vú ở bò sữa và phác đồ điều trị tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng
cỏ Ba Vì, Hà Nội”
1.2 Mục đích đề tài và yêu cầu của đề tài
Có được cái nhìn bao quát hơn về bệnh viêm vú bò sữa
Bổ sung thêm tài liệu về bệnh viêm vú bò sữa
Xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Từ tình hình mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh viêm vú bò sữa từ đó đưa ra
những phác đồ điều trị hiệu quả, kinh tế và là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trong điều trị bệnh viêm vú
bò sữa trên thực tiễn chăn nuôi
- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho bò sữa từ đó nâng cao và củng cố kiến thức của bản thân
- Từ kết quả của đề tài để đưa ra những khuyến cáo giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cở sở nơi thực tập
2.1.1 Vài nét cơ bản về Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, tiền thân là Nông trường Quốc doanh Ba vì được thành lập năm 1958, hiện đang quản lý 135 hộ gia đình Trung tâm có 43 cán bộ công nhân viên chức, biên chế thành 2 trại chăn nuôi Trung tâm quản lý 2 hợp tác xã chăn nuôi bò sữa (Hài Hòa 1, Hài Hòa 2 tại xã Vân Hòa - huyện Ba Vì), 1 xưởng chế biến nhỏ, 1 trạm nghiên cứu đồng cỏ, 1 trạm xá, 5 phòng ban chức năng phục vụ cho công tác nghiên cứu
và sản xuất Do công suất của xưởng chế biến quá nhỏ chỉ thực hiện hoạt động thu mua và sơ chế tiệt trùng ban đầu không có việc chế biến, đóng gói sản phẩm đa dạng nên đa số sản lượng sữa lại giao cho các nhà máy khác ngoài vùng Ba Vì
Ba Vì, với điều kiện tự nhiên và khí hậu thích hợp, đã được quy hoạch thành vùng chăn nuôi bò sữa từ thời Pháp thuộc và đã trở thành “cái nôi” của ngành chăn nuôi bò sữa ở miền Bắc Việt Nam Đặc biệt từ khi Quyết định 167/2001/QĐ-TT được bạn hành, chăn nuôi bò sữa ở Ba Vì đã phát triển rất nhanh ở quy mô hộ gia đình Trong nhiều năm qua, Trung tâm khuyến nông Quốc gia có sự hợp tác thường xuyên và chặt chẽ với Trung tâm nghiên cứu
Bò và Đồng cỏ Ba Vì trong việc tổ chức các lớp đào tạo tập huấn cho bà con nông dân, cán bộ khuyến nông các tỉnh; in ấn sách kỹ thuật, tờ rơi… Trong thời gian tới, Trung tâm tăng cường tổ chức các lớp đào tạo huấn luyện nhằm chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ đến bà con nông dân, cán bộ khuyến nông đạt hiệu quả cao
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã có chính sách đầu tư để thúc đẩy đàn bò sữa lên, vì vậy sản lượng sữa của cả nước cũng như trong
Trang 13vùng Ba Vì tăng lên đáng kể Bên cạnh đó Trung tâm với sự hợp tác Quốc tế
để phát triển bò sữa với các tổ chức: Thế giới trong Hài Hòa, JICA – Nhật Bản đội ngũ kỹ thuật trong Trung tâm được tham gia huấn luyện nâng cao tay nghề và cung cấp các thiết bị kỹ thuật để nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe cho đàn bò sữa thuộc Trung tâm Chính nhờ được đầu tư đầy đủ, quản lý chặt chẽ và sự chỉ đạo tốt của Trung tâm mà sức khỏe của bò được cải thiện nhiều, sản lượng sữa ngày càng được nâng cao cả về chất lượng và số lượng
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Phía Nam giáp xã Yên Bài
Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây
Phía Tây giáp vườn Quốc Gia Ba Vì
* Khí hậu thủy văn
Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa Các yếu tố khí tượng trung bình nhiều năm
ở trạm khí tượng Ba Vì cho thấy:
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 230C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,60C Tổng lượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm) Lượng mưa các tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất là tháng 8 (339,6mm)
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp
xỉ 200C , tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,80C; lượng mưa các tháng biến động từ 15,0 đến 64,4mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15mm
Trang 14* Địa hình đất đai
Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng
Đất đai được chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng và nhóm đất vùng đồi núi
2.1.3 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội
* Tình hình xã hội
Nhìn chung tình hình dân cư quanh trung tâm còn nghèo, chưa phát triển so với các xã khác của huyện, nhưng mấy năm trở lại đây với sự phát triển của nghề chăn nuôi bò sữa nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo và coi nghề chăn nuôi bò sữa là nghề làm giàu và họ quyết định chuyển diện tích trồng lúa, chè, sắn sang chuyên canh trồng cỏ Cũng nhờ nghề nuôi bò sữa mà bộ mặt vùng quê nghèo của Thủ đô đang từng ngày thay da đổi thịt
* Tình hình phát triển kinh tế
Quá trình hoạt động và nghiên cứu của Trung tâm dựa trên nguồn vốn của nhà nước cấp Mọi chính sách đối với người lao động đều được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật do vậy tạo được tâm lý thoải mái và tin tưởng cho người lao động
* Cơ cấu tổ chức quản lý của Trung tâm
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, tiền thân là Nông trường Quốc doanh Ba Vì được thành lập năm 1958, hiện đang quản lý 135 hộ gia đình Trung tâm có 43 cán bộ công nhân viên chức biên chế thành 2 trại chăn nuôi Trong đó:
+ Trình độ tiến sĩ: 01
+ Thạc sĩ: 06
+ Kĩ sư: 31
+ Công nhân: 05
Trang 15Trung tâm quản lý 2 hợp tác xã chăn nuôi bò sữa (Hài Hòa 1, Hài Hòa
2 tại xã Vân Hòa - huyện Ba Vì), 1 xưởng chế biến nhỏ, 1 trạm nghiên cứu đồng cỏ, 1 trạm xá, 5 phòng ban chức năng phục vụ cho công tác nghiên cứu
và sản xuất Do công suất của xưởng chế biến quá nhỏ chỉ thực hiện hoạt động thu mua và sơ chế tiệt trùng ban đầu không có việc chế biến, đóng gói sản phẩm đa dạng nên đa số sản lượng sữa lại giao cho các nhà máy khác ngoài vùng Ba Vì
2.1.4 Tình hình sản xuất của cơ sở
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã có chính sách đầu tư để thúc đẩy đàn bò sữa lên, vì vậy sản lượng sữa của cả nước cũng như trong vùng Ba Vì tăng lên đáng kể Bên cạnh đó Trung tâm với sự hợp tác Quốc tế
để phát triển bò sữa với các tổ chức: Thế giới trong Hài Hòa, JICA – Nhật Bản đội ngũ kỹ thuật trong Trung tâm được tham gia huấn luyện nâng cao tay nghề và cung cấp các thiết bị kỹ thuật để nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe cho đàn bò sữa thuộc Trung tâm Chính nhờ được đầu tư đầy đủ, quản lý chặt chẽ và sự chỉ đạo tốt của Trung tâm mà sức khỏe của bò được cải thiện nhiều, sản lượng sữa ngày càng được nâng cao cả về chất lượng và số lượng
Số bò sữa của Trung tâm hiện nay được xử lý theo các hình thức khoán cho các hộ tư nhân trên địa phương nuôi và được chia ra làm các khu vực quản lý như: Trại thực nghiệm, xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4…
Bảng 2.1 Thống kê bò sữa của Trung tâm 2015 - 2016
Số con
Tỷ lệ (%)
Số con
Tỷ lệ (%)
Số con
Tỷ lệ (%)
2015 217 55,22 64 16,28 71 18,07 41 10,43
2016 233 52,36 65 14,61 83 18,65 64 14,38
Trang 16Mỗi ngày ước tính sản lượng sữa thu được khoảng 4 tấn Sản phẩm sữa của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì đang được cung cấp chủ yếu cho Công ty sữa quốc tế IDP
Trung tâm có tổng diện tích trồng cỏ là 350 ha trong đó có 35 ha đất trồng cỏ dự trữ Đây là một điều kiện thuận lợi về thức ăn cho đàn bò Ngoài
ra chính sách thuận lợi của Trung tâm đối với hộ nhân dân nhận bò khoán giúp cho sự phát triển đàn bò sữa có hiệu quả
2.1.5 Những thuận lợi khó khăn
- Nuôi bò sữa đòi hỏi có vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn để mua bò
và xây dựng chuồng trại
- Nuôi bò sữa là một nghề mới ở nước ta, đa số người nuôi còn thiếu kinh nghiệm Trong khi đó nuôi bò sữa cần phải có kỹ thuật chuẩn xác trong tất cả các khâu
- Nuôi bò sữa cần có những dịch vụ chuyên ngành: phối tinh nhân tạo cho bò cái, khám và điều trị bệnh
- Sữa là một sản phẩm dễ hư hỏng, khó bảo quản, nhất là trong điều kiện nóng ẩm ở nước ta
2.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa trong nước
Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đã bắt đầu từ hơn nữa thế kỷ trước, vào năm 1962 nước ta nhập 30 con bò lang trắng đen từ Trung Quốc, nuôi tại Ba
Trang 17Vì, năng suất chưa tới 2000kg/chu kì, sau đó chuyển lên Mộc Châu, năng suất đạt trên 3000kg/chu kì Từ năm 1970 - 1978 nhập thêm khoảng 1900 con bò
HF từ Cuba, nuôi tại nông trường Mộc Châu tỉnh Sơn La (phía Bắc) và Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (phía Nam), năng suất đạt từ 3800 - 4200kg/chu kì (Nguyễn Văn Thưởng, 2006) Năm 1985 cả nước có 5,8 nghìn bò sữa nuôi tập trung trong các trại của nhà nước Năm 1990 hình thức chăn nuôi nông hộ bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam và chăn nuôi bò sữa lúc đó mới thực sự phát triển từ năm 2001 đến 2005, để đáp ứng nhu cầu con giống, Bộ NN - PTNT
đã nhập từ Mỹ 192 con HF và Jersey thuần, đực và cái, nuôi tại Mộc Châu để xây dựng đàn hạt nhân cái và sản xuất tinh bò đực Một số tỉnh và trại tư nhân cũng nhập 10.164 con HF thuần và con lai HF x Jersey từ Úc (8815con), New Zealand (1149 con) và cả Thailand (200 con) để khai thác sữa (Cục Chăn nuôi, 2006) Năm 2004 tổng đàn bò sữa gấp 2,73 lần so với năm 2000 Sau
2004 tốc độ tăng đàn chậm do ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi từ chăn nuôi nhỏ lẻ phân tán sang chăn nuôi quy mô lớn hơn và tập trung hơn, đồng thời với việc tăng cường chọn lọc, loại thải những bò chất lượng kém do tốc
độ phát triển quá nóng của giai đoạn trước Năng suất và chất lượng đàn bò sữa không ngừng được cải thiện Cuối 2006, tổng đàn bò sữa cả nước trên 113,2 nghìn con, bò thuần HF chiếm 15% tổng đàn, số còn lại là bò lai HF với
tỷ lệ máu khác nhau Tổng sản lượng sữa hàng hoá đạt gần 216 nghìn tấn Năm 2008, tổng đàn bò sữa giảm còn 107,98 nghìn con nhưng tổng sản lượng sữa hàng hoá 262,16 nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2008) Năng suất sữa (kg/chu kì 305 ngày) trung bình cả bò lai và bò thuần HF năm 2008 ước đạt trên dưới 4000kg/chu kì, cao gần gấp hai lần so với năm 1990 Năng suất này vẫn còn thấp hơn nhiều so với Đài Loan (7160kg) Cho tới gần đây chăn nuôi
bò sữa của nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc, theo ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, chăn nuôi bò sữa tuy mới phát triển gần đây nhưng đạt tốc độ nhanh cả về số lượng và chất lượng Năng suất và sản lượng
Trang 18sữa của bò Việt Nam hiện đạt 4.500 - 5.500 kg/chu kỳ, tương đương hoặc cao hơn một số nước trung khu vực như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Philippines Năm 2014, Việt Nam đã sản xuất được 549.500 tấn sữa, tăng
20,4% so với năm 2013 và đáp ứng 40% nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước
Đến 1/4/2015, tổng số lượng đàn bò sữa cả nước là 253.700 con, tăng 26,5% so với năm 2013 Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi vẫn nhỏ với chỉ 384 cơ
sở, quy mô đàn từ 20 con trở lên (chiếm 1,95%)
2.3 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Ba Vì – Hà Nội
Điển hình là vùng chăn nuôi bò sữa trọng điểm của Hà Nội và cả nước, năm 2010 đàn bò sữa của huyện 2.950 con, đến 6 tháng đầu năm 2015, đàn bò sữa của huyện Ba Vì tiếp tục được phát triển trên quy mô lớn Tính đến nay, đàn bò sữa toàn huyện đạt gần 9.000 con, tăng 15% so với cùng kỳ 2014 và chiếm 65% tổng đàn bò sữa toàn thành phố, sản lượng sữa đạt 26.500 tấn/năm Toàn huyện có 1.800 hộ chăn nuôi bò sữa, trung bình mỗi hộ nuôi 2
- 3 con, một số hộ chăn nuôi quy mô lớn 20 - 30 con Chăn nuôi bò sữa trở thành nghề cho thu nhập khá cho nông dân Ba Vì, không ít hộ gia đình có thu nhập từ 300 - 500 triệu đồng/năm Việc áp dụng cơ giới hóa trong chăn nuôi
bò sữa ngày càng được quan tâm, có khoảng 85% hộ gia đình chăn nuôi bò sữa trên địa bàn sử dụng máy thái cỏ, 65% hộ sử dụng máy vắt sữa và máng cho ăn tự động, 70% số hộ sử dụng hệ thống làm mát cho bò… Chăn nuôi bò sữa trở thành một nghề cho thu nhập khá, nhiều hộ thu nhập từ 300-500 triệu đồng/năm, góp phần phát triển kinh tế gia đình và đổi mới diện mạo nông thôn của huyện Tuy nhiên, việc chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện Ba Vì còn mang tính nhỏ lẻ thủ công theo quy mô hộ gia đình nên việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào chăn nuôi còn hạn chế Một phần là do nguồn vốn ít trong khi chăn nuôi bò sữa đòi hỏi vốn đầu tư lớn Trước thực tế đó, những năm qua, Trạm Khuyến nông Ba Vì đã tích cực hỗ trợ, tư vấn cho
Trang 19nhiều hộ gia đình, chủ trang trại chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện được tiếp cận với nguồn vốn quỹ khuyến nông của Thành phố, để các hộ có điều kiện tăng đàn bò và đầu tư trang thiết bị Từ nguồn quỹ này mà nhiều hộ chăn nuôi bò sữa huyện Ba Vì có thêm điều kiện mở rộng quy mô trang trại… Song song với phát triển đàn bò sữa, huyện chỉ đạo phát triển đàn bò thịt tập trung ở các xã Minh Châu, Tòng Bạt, Vật Lại, Thụy An… với 42.500 con Theo thống kê, đàn bò thịt trên địa bàn đã được lai hóa 100%, tạo điều kiện nâng cao chất lượng, phẩm chất, hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người chăn nuôi Được sự hỗ trợ của Sở NN&PTNT Hà Nội về tinh nhân tạo, Ba Vì có thêm giống bò thịt mới, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao như BBB, Angus, Brahman… Trong đó, dự án lai tạo giống bò BBB trên nền bò thịt laisind thành đàn bò lai F1 hướng thịt được đánh giá đột phá lớn về ứng dụng khoa học kỹ thuật trên lĩnh vực chăn nuôi Đến nay, trên địa bàn huyện có 4.200 con bê lai F1 BBB được sinh ra, bê tăng trọng nhanh, gấp 1,2 - 1,3 lần so với các loại bê khác Trung bình 1 con bê lai BBB 6 tháng tuổi cho hiệu quả kinh
tế cao hơn 5 - 7 triệu đồng so với giống bò khác…
2.4 Đặc điểm cấu tạo tuyến vú và chức năng sinh lý tiết sữa
2.4.1 Đặc điểm cấu tạo tuyến vú
Tuyến vú hay còn gọi là tuyến sữa là cơ quan sản xuất ra sữa Tuyến sữa bao gồm mô tuyến, mô liên kết, ngoài ra còn có hệ cơ, các mạch quản,
lâm ba và thần kinh
Mô tuyến: Là cơ quan tạo ra sữa, gồm 2 phần chính là hệ thống các
tuyến bào và ống dẫn
Tuyến bào (nang tuyến): Là đơn vị tiết sữa chủ yếu của tuyến sữa
Tuyến bào có số lượng rất lớn (trên 80.000 tuyến bào/cm3) Tuyến bào có dạng khối cầu, mặt trong là các tế bào biểu mô tuyến (tế bào tiết sữa) có nhiệm vụ phân tiết sữa Đó là tập hợp một tầng tế bào thượng bì đơn Hình
Trang 20dạng tế bào thay đổi theo chu kỳ phân tiết sữa Khi tiết mạnh, trong tế bào tích trữ nhiều dịch phân tiết Tế bào có hướng hình trụ, đầu nhỏ, hướng vào xoang tuyến bào Tế bào tuyến chứa nhiều hạt mỡ và protein có kích thước khác nhau Khi không phân tiết tế bào biểu mô tuyến thu hẹp lại Chính giữa mỗi tuyến bào có một xoang gọi là xoang tiết Xoang tiết ăn thông với ống dẫn sữa Trong bầu vú, tuyến bào hợp lại với nhau thành chùm gọi là chùm tuyến bào hoặc tiểu thuỳ
Hệ thống ống dẫn sữa: Là hệ thống ống phân nhánh, các ống dẫn sữa
nhỏ xuất phát từ xoang tiết (ống dẫn tuyến bào) rồi tập hợp vào ống dẫn trung bình và ống dẫn lớn Các ống dẫn lớn này đổ về bể sữa
Bể sữa phân làm 2 phần, phần trên là bể tuyến, phần dưới là bể bầu vú
Giữa hai bể có nếp nhăn niêm mạc vòng Cuối cùng là lỗ đầu vú, cuối núm vú
có hệ thống cơ thắt đầu núm vú ngăn không cho sữa tự chảy ra ngoài
Mô liên kết: Mô liên kết của tuyến sữa thực hiện chức năng định hình,
bảo vệ cơ học và sinh học Chúng bao gồm các tổ chức sau:
Da bao bọc bên ngoài và hỗ trợ sự định hình của tuyến
Hệ cơ: Xung quanh các nang tuyến có các cơ biểu mô giúp co bóp đẩy
sữa từ nang tuyến vào ống dẫn sữa Xung quanh các ống dẫn sữa và bể sữa có
hệ thống các cơ trơn Phía đầu núm vú có hệ cơ vòng gọi là cơ thắt bầu vú
Mạch máu: Hầu hết máu cung cấp cho bầu vú nhờ đôi động mạch âm
ngoài Hệ thống động mạch đi từ xoang bụng, thông qua rãnh bẹn, chui qua ống bẹn, quanh co uốn khúc để cho tốc độ dòng chảy của máu chậm lại Động
Trang 21mạch tuyến sữa là tiếp tục của động mạch âm ngoài, khi tới tuyến sữa phân thành 2 nhánh lớn là động mạch tuyến sữa trước và động mạch tuyến sữa sau, một phân nhánh nhỏ của động mạch dưới da bụng bắt nguồn từ động mạch tuyến sữa trước (trước khi động mạch này phân nhánh), cung cấp máu cho phần trước tuyến sữa Động mạch đáy chậu bắt đầu từ trong xương chậu, cung cấp máu cho phần rất nhỏ phía sau bầu vú Động mạch tuyến sữa trước, động mạch tuyến sữa sau, động mạch dưới da bụng, động mạch đáy chậu phân nhánh nhiều lần ngang dọc, cuối cùng tạo thành các vi huyết quản, bao bọc dày đặc quanh tuyến vú để cung cấp các chất cần thiết cho sự tạo sữa đi vào
bầu vú Hệ thống tĩnh mạch tuyến sữa từ hai nửa sau của bầu vú, thu thập máu
vào tĩnh mạch tuyến sữa Hai tĩnh mạch của tuyến sữa sau thông nhau trên bề mặt của tuyến thể Tĩnh mạch đáy chậu cũng thu thập máu từ phần sau tuyến sữa và phần sau cơ thể, sau đó đổ vào tĩnh mạch sữa sau Như vậy, máu của tĩnh mạch sau tuyến sữa đi ra không thể hiện đúng bản chất máu đi ra từ tuyến sữa Tĩnh mạch tuyến sữa trước hình thành bằng sự thu nhận máu của phần trước bầu vú Chúng nhập với tĩnh mạch dưới da bụng, sau đó đi vào thành bụng tạo thành tĩnh mạch sữa Các tĩnh mạch tuyến vú trước và tuyến vú sau nối với nhau bằng tĩnh mạch nối, có kết cấu van, những van này linh động nên có thể cho máu chảy theo cả 2 hướng, tùy thuộc vào tư thế của bò
Hệ thống lâm ba: Hệ thống lâm ba trong tuyến sữa có chức năng vận
chuyển dịch thể hoặc dịch lâm ba từ bề mặt tế bào đến hạch lâm ba và trả lại
dịch thể vào tuần hoàn tĩnh mạch Mỗi nửa bầu vú có một hạch lâm ba lớn
Bầu vú: Bò sữa bầu vú bò gồm có 4 vú phân biệt, 2 vú trước và 2 vú
sau Nửa vú sau thường lớn hơn nửa trước và chứa đến 60% tổng lượng sữa Giữa các vú có các vách ngăn bằng mô liên kết, chạy theo chiều ngang - dọc chia bầu vú thành các phần độc lập với nhau Núm vú dạng hình trụ tròn hoặc hình nón cụt, ngắn dài tuỳ giống, tùy cá thể
Trang 22Một bầu vú của bò sữa cao sản thường có những đặc điểm:
Bầu vú phát triển rộng và sâu, các vú tương đối đồng đều
Các núm vú to vừa phải, có chiều dài vừa phải (7 -10cm), thẳng đứng
và khoảng cách tương đối rộng và tương đồng
Các dây chằng bầu vú chắc chắn, vú không quá xệ (núm vú không quá khuỷu chân sau của bò)
Hệ thống tĩnh mạch phát triển, khoằn khoèo và nổi rõ
Bầu vú lớn vừa phải Bầu vú quá lớn thường làm yếu sự gắn kết với
cơ thể
Bầu vú chứa nhiều mô tuyến Vú thịt ít tế bào mô tuyến (tế bào tạo sữa) nhiều mô liên kết nên không cho nhiều sữa Vú da thì nhiều tế bào mô tuyến nên cho nhiều sữa Da vú sau khi vắt thì teo lại, nhiều nếp nhăn, kích thước bầu vú trước và sau khi vắt sữa thay đổi rõ rệt Khối lượng và thể tích bầu vú tăng dần qua các lứa đẻ cho đến khi trưởng thành
2.4.2 Chức năng sinh lý tiết sữa
Chu kỳ tiết sữa: Sau khi đẻ, tuyến sữa bắt đầu tiết sữa liên tục cho đến
khi cạn sữa, chuẩn bị cho kỳ đẻ kế tiếp Một giai đoạn như vậy gọi là chu kỳ tiết sữa Một chu kỳ tiết sữa của bò sữa thường kéo dài 10 tháng (305 ngày) Sau thời gian tiết sữa, các tuyến sữa ngừng hoạt động một thời gian ngắn để chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo Thời kỳ này gọi là giai đoạn cạn sữa, thường
kéo dài từ 45 -60 ngày
Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa thường đạt đến đỉnh cao (vào tháng thứ 2 - 3) rồi giảm dần trở lại (người ta ước lượng sữa tháng sau thường thấp hơn tháng trước khoảng 10% nếu nuôi dưỡng tốt và không có bất kỳ một biến động nào tác động đến khả năng cho sữa của bò) Khi bò có thai, lượng sữa cũng giảm nhanh chóng, nhất là từ tháng có thai thứ 5 trở đi Lượng sữa
Trang 23sáng chiều của một ngày cũng khác nhau, tuỳ theo giống và cá thể Thông thường sữa buổi sáng thường chiếm 60% lượng sữa trong ngày Trong một đời bò sữa, bò thường đạt năng suất cao nhất vào chu kỳ thứ 3 Ở chu kỳ 1, năng suất của bò chỉ chiếm 75% so với thời điểm đạt cao nhất Ở chu kỳ 2 là khoảng 85% năng suất sữa của chu kỳ 3
Có thể chia ra 4 loại bò sữa dựa vào đặc điểm của chu kỳ cho sữa:
Loại 1- Mạnh và vững: năng suất sữa cao và ổn định, Bò thuộc loại này cho nhiều sữa và đồng hóa thức ăn tốt
Loại 2 – Mạnh nhưng không vững: sữa giảm thấp sau khi đạt đỉnh cao
và một lần nữa lại tăng lên ở cuối chu kỳ phân tiết Bò thuộc loại này có thể trạng yếu
Loại 3 – Cao nhưng không vững: lượng sữa cao ngay sau khi đẻ, sau đó lượng sữa giảm đi nhanh chóng Bò thuộc loại này thường có tim yếu, hệ thống tim mạch không đáp ứng với sức tiết sữa cao, lâu dài
Loại 4 – Tiết sữa thấp: năng suất sữa đều trong cả chu kỳ Bò loại này thường có bầu vú kém phát triển, cơ thể béo phì và cho sản lượng sữa thấp
Phản xạ thải sữa: Sữa được tiết theo cơ chế phản xạ Phản xạ tiết sữa
liên quan đến thần kinh và thể dịch (các kích thích tố, hormone) Khi bò nhận được các tác nhân kích thích từ thụ quan của vú, kích thích theo dây thần kinh truyền vào đến rễ lưng và rễ bên tủy sống, lên đến hành não, theo đường truyền vào đến vùng nhân trên thị của vùng dưới đồi (hypothalamus) và tiếp tục lên trên vỏ đại não Sợi truyền ra bắt đầu từ vùng nhân trên thị, sợi này trong thành phần của bó trên thị tuyến yên, đến thùy thần kinh của tuyến yên Đáp ứng của thùy này đối với kích thích bú hoặc vắt sữa là thải oxytoxin vào máu Mặt khác, tủy sống thần kinh vùng hông truyền xung động theo đường truyền ra, thuộc thần kinh giao cảm tuyến vú Thần kinh truyền ra có ảnh hưởng trực tiếp đối với cơ trơn ống dẫn, bể sữa và bầu vú
Trang 24Oxytoxin được hình thành ở vùng dưới đồi và được tích trữ ở thùy sau tuyến yên, sau đó được phóng thích ra khi được kích thích vào thời gian vắt sữa Oxytoxin có tác dụng làm co bóp cơ biểu mô của tuyến bào, đẩy sữa vào
bể sữa Hoạt động của hormone này kéo dài khoảng 6 phút, mà từ khi tác động lên bầu vú tới khi hormone tới bầu vú mất khoảng 1 phút, như vậy thời gian vắt sữa chỉ được giới hạn khoảng 5 phút
Phản xạ thần kinh – hormone trong sự bài tiết sữa là có điều kiện Bởi vậy việc duy trì tín hiệu kích thích như người vắt sữa nơi vắt, máy vắt, âm thanh, v.v…, sẽ tác dụng tốt đối với việc gây phản xạ thải sữa Ngược lại, các tác nhân lạ sẽ ức chế quá trình thải sữa
Trong suốt thời gian thải sữa, 40% sữa còn nằm trong bể sữa và trong các hệ thống ống lớn, còn lại 40% được sản xuất và dự trữ trong các hệ thống ống dẫn nhỏ và những kênh nhỏ Sức ép và co thắt đẩy sữa tác động bởi oxytocin, nếu vắt không kịp và lượng oxytocin giảm hoặc hết thì những hệ thống ống chứa sữa nhỏ và những kênh nhỏ này sẽ đóng lại Và sữa sẽ tồn lại trong các hệ thống ống dẫn nhỏ Tuy nhiên, bầu vú được massage mạnh mẽ thì tỷ lệ vắt sữa tăng được 95% Muốn cho sự thải sữa hoàn toàn thì việc vắt sữa phải bắt đầu ngay tức thì khi xảy ra hiện tượng thải sữa Bởi vì, oxytocin
sẽ chấm dứt tiết ra, nếu thời gian vắt sữa chậm hơn hiện tượng thải sữa là 5 phút, có nghĩa là 25% sữa sẽ tồn lại bầu vú và sản lượng sữa sẽ giảm (theo thống kê các nước lượng giảm 2 kg/bò/ngày)
Tuy nhiên, trong điều kiện những hộ chăn nuôi nhỏ, không có nơi vắt sữa chuyên biệt, khi tiến hành vắt sữa một con thì những con khác cũng đã bắt đầu bị kích thích và khi con này được vắt xong thì mới đến lượt con khác thì cũng gây ảnh hưởng đến phản xạ tiết sữa Tốt nhất nên
có nơi vắt sữa riêng bệt
Trang 252.5 Bệnh viêm vú bò sữa
2.5.1 Khái niệm bệnh viêm vú bò sữa
Bệnh viêm vú bò sữa là một trong những bệnh phổ biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi bò sữa không những ở Việt Nam mà ngay
cả ở những nước chăn nuôi bò sữa phát triển, bệnh gây nên do nhiều yếu tố tùy thuộc nguyên nhân: vi khuẩn, thời tiết…
Có nhiều loại vi trùng gây bệnh viêm vú
Liên cầu khuẩn (Streptococcus): Trong các loại vi khuẩn gây bệnh
viêm vú, liên cầu khuẩn (Streptococcus) chiếm 86%, chủ yếu là S agalactiae,
S dysgalactiae và S uberis S agalactiae là vi khuẩn Gram + và chỉ phát
triển được trên mô tuyến vú nhưng dễ bị khống chế và tiêu diệt Trong khi đó
S dysgalactiae và S uberis có thể phát triển bên ngoài mô tuyến vú và khó
loại trừ Ba loại này chủ yếu phát triển trong sữa và tấn công lớp tế bào bề mặt của các ống dẫn sữa
Trang 26Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus): Chiếm 5,4% trường hợp, trong đó S aureus (vi khuẩn Gram +) là vi khuẩn gây bệnh mạnh và thường ở dạng cấp
tính Vi khuẩn này xâm nhập và tấn công vào các tế bào nang và có tính kháng penicilline (có những chủng vi khuẩn có khả năng hình thành penicillinaza phân huỷ penicilline), vì vậy nó rất khó xử lý Bên cạnh đó, nó còn sản sinh ra các độc tố (coagulaza, hemolysine) gây co thắt mạch máu và hoại tử mô tế bào
Trực khuẩn: Bao gồm các trực trùng sinh mủ 2,7%, E.coli 12%, các
loài vi trùng khác 3,75% Các vi khuẩn này sống chủ yếu trong môi trường (phân, chất độn, nguồn nước bị ô nhiễm…)
Gây viêm vú truyền nhiễm cho bò sữa có 80% gây viêm vú là do
Streptococcus agalactiae và Streptococcus dysagalactiae Bệnh biểu hiện
viêm vú, sưng tụ máu, sữa màu xanh lợn cợn máu, vú teo dần Hai nguyên nhân này quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng một loài vi trùng gây bệnh nhưng sức đề kháng của cơ thể và tuyến vú con vật khác nhau nên có thể gây ra bệnh viêm vú khác nhau Ngược lại, những vi trùng khác nhau khi tác động lên bầu
vú cũng có thể gây ra những triệu chứng giống nhau Ngoài những vi khuẩn
đặc trưng trên bệnh viêm vú cũng có thể xảy ra do Mycoplasma, virus FMD
Do môi trường
Các tác nhân của bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi bò sữa như nhiệt độ, ẩm
độ đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên tỷ lệ mắc bệnh viêm vú của
bò sữa Mặt khác nhiệt độ cao, ẩm độ cao cũng là điều kiện thuận lợi cho các
vi sinh vật gây bệnh, các côn trùng mang tác nhân gây bệnh phát triển và từ
đó gián tiếp gây bệnh Tại một số nước có khí hậu theo 4 mùa, thường có một dạng viêm vú gọi là “viêm vú mùa hè” gây ra bởi các côn trùng chích cắn
truyền vi khuẩn Corynebacterium pyogenes và một số vi khuẩn kỵ khí khác
Bệnh này thường xuất hiện ở vùng khí hậu có độ ẩm cao (thường ở các vùng
Trang 27thấp, các thung lũng) Nguyên nhân stress (tiếng ồn, thái độ chăm sóc bò, mật
độ nuôi quá cao…) làm suy giảm hệ thống miễn dịch của bò sữa, từ đó cũng làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh viêm vú Đặc biệt nhiệt độ, ẩm độ cao gây ra stress nhiệt trên bò sữa
Chuồng trại: Chăn nuôi với hình thức hiện nay chủ yếu là nuôi nhốt, bò
ít được vận động, nền chuồng thường xuyên ẩm ướt sẽ khiến cho bệnh chân móng của bò phát triển, cộng thêm khi bò nằm nghỉ, bầu vú bò sẽ tiếp súc với nền và chất lót (một ngày bò có thể nằm nghỉ tới 14 giờ) nên nguy cơ vi khuẩn xâm nhập vào bầu vú là rất cao Tuy nhiên, khi chăn thả ngoài đồng cỏ, không kiểm soát được hoàn toàn, thì cần phải chú ý đến các tổn thương trên bầu vú từ đó cũng dễ mắc bệnh Tóm lại, chuồng trại vệ sinh kém, không thông thoáng và ánh sáng thiếu, mật độ nuôi cao, chăm sóc quản lý không đúng kỹ thuật, dinh dưỡng không phù hợp là nguyên nhân làm tỷ lệ bệnh viêm vú tăng cao
Nguồn thức ăn, nước uống: Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất đối
với sự phát triển của bò Người ta nhận thấy cũng có mối liên hệ giữa khẩu phần ăn và bệnh viêm vú, trong đó chú ý đến mức cân bằng dưỡng chất trong khẩu phần và việc thay đổi khẩu phần ăn quá nhanh
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy khẩu phần ăn quá dư thừa nitơ đặc biệt là nitơ phi protein, là một trong những yếu tố gây ra bệnh viêm vú Việc
sử dụng quá nhiều nitơ phi protein trong khẩu phần sẽ tác động đến hệ thống miễn dịch của cơ thể bò sữa
Tại Đức, nghiên cứu cho thấy nếu sử dụng urê bổ sung vào khẩu phần
ăn của bò sữa quá cao thì tỷ lệ viêm vú tăng 16% Nếu cho lượng urê trong khẩu phần vượt quá 180g/con/ngày sẽ làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bò một cách rõ rệt Tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần quá cao cũng là nguyên nhân gây nên bệnh Cũng một thí nghiệm tại Đức, so sánh giữa bò sữa lứa thứ nhất cho ăn khẩu phần 25% và 40% thức ăn tinh, thì tỷ lệ bệnh viêm vú nhóm
Trang 28bò cho ăn thức ăn tinh 40% là 36% so với 7% ở nhóm bò cho ăn khẩu phần 25% Khẩu phần có năng lượng cao cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú Việc
bổ sung quá nhiều thức ăn thô xanh họ đậu, đặc biệt là cỏ Alfalfa, có chứa nhiều chất estrogen, cũng làm ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú Đối với bò tơ, khi cho ăn khẩu phần nhiều cỏ họ đậu, các chất estrogen ngoại lai này sẽ làm cho bầu vú bò tơ trưởng thành sớm từ đó làm tăng nguy cơ nhiễm các vi khuẩn cơ hội từ môi trường , bò dễ mắc bệnh viêm vú
Hàm lượng Vitamin E và Selenium cao trong khẩu phần thức ăn sẽ giúp cải thiện hệ thống miễn dịch của cơ thể bò sữa từ đó cũng làm giảm tỉ lệ viêm vú Đặc biệt, trong trường hợp bệnh viêm vú tiềm ẩn, việc bổ sung Selenium đã làm giảm rõ rệt tỷ lệ bò mắc bệnh Việc bổ sung Selenium cũng giúp cho bò đề kháng với các bệnh viêm vú gây ra do nhóm coliform (như E.coli) Tuy nhiên, không được bổ sung Selenium riêng lẻ mà phải bổ sung chung với Vitamin E
Thức ăn nhiều vi trùng, nấm mốc sẽ theo hệ thống tiêu hóa gây bệnh tiêu chảy, từ đó vi khuẩn và độc tố xâm nhập vào máu đến bầu vú Vi khuẩn, nấm mốc cũng tiết ra các độc tố làm ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch
Chăm sóc, vắt sữa: Phương pháp vắt sữa, kỹ thuật vắt sữa không đúng,
thời gian và số lần vắt, áp lực vắt không đảm bảo dễ gây ảnh hưởng đến bầu
vú Người vắt sữa có trách nhiệm, lau gia súc, dọn nơi vắt sữa, rửa dụng cụ vắt sữa và tay rửa trước khi bắt đầu vắt sữa Người vắt sữa phải khỏe mạnh không mang vi khuẩn hay bệnh tật có khả năng lây bệnh Nên có quy định người vắt sữa phải có giấy phép hành nghề, và kiểm tra sức khoẻ định kỳ Chú ý có ngăn sát trùng ở cửa chuồng vì người vắt sữa có thể đi từ chuồng này qua chuồng khác hoặc nhà này sang nhà khác
2.5.3 Phân loại viêm vú bò sữa
Viêm vú bò sữa có hai dạng là viêm vú lâm sàng và viêm vú cận lâm sàng
Trang 292.5.3.1 Viêm vú lâm sàng
Viêm vú lâm sàng là sự nhiễm trùng của bầu vú thể hiện rõ triệu chứng lâm sàng như sự thay đổi tính chất của sữa (sữa bị vón, loãng, màu sắc và mùi khác thường), hình dạng bầu vú (bầu vú sung huyết, sưng to…) và một số
trường hợp có triệu chứng toàn thân (sốt, kém hay bỏ ăn…)
Viêm vú lâm sàng được phân chia thành các loại sau:
Theo thời gian
Viêm vú quá cấp tính thường kèm theo triệu chứng toàn thân do nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc huyết bao gồm: rối loạn hô hấp, tuần hoàn, sốt, biếng ăn, suy nhược, giảm nhu động dạ cỏ, tiêu chảy, mất nước, trường hợp nặng có thể làm chết bò Triệu chứng toàn thân thường xảy ra trước những thay đổi ở bầu vú và sữa (Quinn, 1994)[17]
Viêm vú thể cấp tính
Viêm thể cấp tính cũng có đặc điểm là xảy ra đột ngột Bầu vú viêm có biểu hiện sưng, nóng, đau ở mức trung bình tới nặng, giảm sản lượng sữa; sữa có chứa sợi huyết, sữa vón cục và các chất tiết bất thường trong tuyến vú (Quinn, 1994)[17] Những dấu hiệu của rối loạn toàn thân (trở ngại cơ năng) như sốt, suy nhược, biếng ăn và suy yếu Tuy nhiên, những triệu chứng này không nghiêm trọng bằng thể quá cấp tính (Menzies, 2001)[15]
Viêm vú thể bán cấp tính
Đặc điểm của viêm vú lâm sàng bán cấp tính là viêm nhẹ Mặc dù có thể không có thay đổi nào ở bầu vú nhưng vẫn xuất hiện các chất tiết bất thường từ tuyến vú và sữa có màu khác thường Không có dấu hiệu rối loạn toàn thân
Trang 30Viêm vú thể mạn tính
Thường có những ổ mủ bên trong bầu vú, to nhỏ tùy mức độ Bầu vú
có thể mềm bình thường nhưng có thể sưng kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tháng thậm chí nhiều năm Bệnh có thể làm cho thùy vú bị xơ cứng hay teo lại Thể bệnh này là hậu quả của việc không phát hiện kịp thời hay điều trị không triệt để khi bò bị viêm vú (Quinn, 1994)[17]
vú thì toàn bộ tuyến vú sưng to Sờ nhẹ không đau nhưng ấn mạnh con vật đau và phản ứng Lượng sữa của thùy vú viêm giảm rõ, chất lượng sữa lúc đầu biến đổi không rõ, sau loãng, lợn cợn Ngoài các triệu chứng cục bộ, có thể bò còn có triệu chứng toàn thân như kém ăn, sốt cao, ủ rủ Bệnh nhẹ thì sau 7 - 9 ngày hiện tượng viêm giảm nhưng dễ trở thành mạn tính Khi tổ chức tuyến vú bị tổn thương nghiêm trọng thì bầu vú có thể bị xơ cứng
Viêm vú thể cata
Triệu chứng cục bộ không rõ, nhìn bên ngoài không thấy có thay đổi nơi bầu vú nhưng lượng sữa giảm Lúc đầu sữa loãng, khi bệnh tiến triển trong sữa thấy có lợn cợn hay cục vón Đôi khi cục sữa vón làm tắc đầu vú Con vật không có biểu hiện triệu chứng toàn thân
Viêm vú có mủ
Gồm 2 thể là viêm cata có mủ và viêm vú thể áp - xe
Thể viêm cata có mủ: Do vi khuẩn gây bệnh đa số là Staphylococcus,
ngoài ra còn có Streptococcus, e coli và các vi khuẩn gây mủ khác Ở bò
Trang 31bệnh, bể sữa, ống tiết sữa, tuyến vú bị viêm làm cho dịch thẩm xuất và mủ chảy vào bể sữa và các ống dẫn sữa Bệnh dễ lây sang bò khỏe
Viêm vú thể áp – xe: Một phần của thùy vú viêm sưng đỏ, da căng, nóng,
đau, đôi khi sờ có cảm giác lùng nhùng Nếu bọc mủ nông thì hiện tượng viêm rất rõ, nếu có nhiều bọc mủ làm bề mặt thùy vú viêm có nhiều chỗ phồng lên Nếu bọc mủ ở sâu bên trong thì khó nhận diện Lượng sữa giảm, khi tuyến sữa bị nhiễm mủ thì sữa tiết ra có lẫn mủ, có khi bầu vú vỡ mủ Khi bọc mủ to, con vật đi lại khó khăn và có triệu chứng toàn thân, hạch vú sưng to, có thể gây ra huyết nhiễm mủ hay lan sang các cơ quan nội tạng khác như phổi, thận