1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh

66 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 847,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách l

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGÔ XUÂN TÙNG Tên đề tài:

TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BÌNH MINH VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính Quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012- 2017

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính Quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K44 - TY Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Duy Hoan

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại chăn nuôi Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà nội cùng với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn trại chăn nuôi Bình Minh đã tiếp nhận và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại trại

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn GS.TS Nguyễn

Duy Hoan đã quan tâm giúp đỡ tôi nhiệt tình trong suốt quá trình thực tập

cũng như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân đã động viên tạo mọi điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian tôi học tập và thời gian thực tập vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Ngô Xuân Tùng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Sơ đồ thực nghiệm 29

Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 33

Bảng 4.2 Quy trình vắc xin tại trại 36

Bảng 4.3 Kết quả của công tác phục vụ sản xuất 43

Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại trại chăn nuôi Bình Minh 44

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 45

Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo tháng 47

Bảng 4.7 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 48

Bảng 4.8 Hiệu lực điều trị bệnh phân trắng trắng lợn con của 2 phác đồ điều trị 50 Bảng 4.9 Chi phí thuốc thú y điều trị 1 con lợn khỏi phân trắng 50

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CP: Charoen Pokphand Cs: Cộng sự

ĐVT: Đơn vị tính Nxb: Nhà xuất bản SS: Sơ sinh Tr: Trang TT: Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 1

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh 3

2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 6

2.2 Cơ sở khoa học 7

2.2.1 Đặc điểm của lợn con 7

2.2.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con 12

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28

3.1 Đối tượng nghiên cứu 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung và phương pháp tiến hành 28

3.3.1 Nội dung 28

3.3.2 Phương pháp tiến hành 28

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 32

Trang 7

4.1.1 Về chăm sóc nuôi dưỡng 32

4.1.2 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nuôi tại trại chăn nuôi Bình Minh 37 4.1.3 Công tác khác 43

4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề 44

4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi Bình Minh 44

4.2.2 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 45

4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng 47

4.2.4 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 48

4.2.5 Hiệu quả phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con 49

4.2.6 Chi phí thuốc thú y điều trị 1 lợn con khỏi bệnh phân trắng 50

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC

Trang 8

Chính vì thế Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm về công tác giống, thức ăn và công tác thú y cho ngành chăn nuôi không ngừng được nâng cao, chất lượng đàn lợn được cải thiện với mục đích đưa ngành chăn nuôi trở thành một nghành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi

Nước ta là một nước thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên rất thích hợp cho dịch bệnh phát triển mạnh và lây lan nhanh, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt, lợn con từ sơ sinh đến cai sữa là đối tượng cần được đặc biệt quan tâm Trong các bệnh

thường xảy ra ở lợn con có bệnh “Phân trắng lợn con” là bệnh khá phổ biến,

làm cho lợn còi cọc, chậm lớn, tăng chi phí chăn nuôi,…dẫn đến số lượng và chất lượng giảm

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và được sự phân công của khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy

giáo GS.TS Nguyễn Duy Hoan, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi Bình Minh và biện pháp phòng trị bệnh’’

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại trại chăn nuôi

Bình Minh

- Biện pháp phòng trị bệnh

Trang 9

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Đánh giá đươc tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con và phòng trị bệnh

- Xác định được nguyên nhân gây bệnh

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Có cơ sở khuyến cáo người chăn nuôi sử dụng phác đồ điều trị bệnh phân trắng cho lợn con có hiệu quả cao

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh

2.1.1.1 Qúa trình thành lập

Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của ông Nguyễn Sỹ Bình nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công

ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức

ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại

2.1.1.2.Cơ sở vật chất của trang trại

- Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m

× 1,6m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có

Trang 11

diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật đọ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng bầu

2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc

và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

01 chủ trại

01 quản lý trại

03 quản lý kỹ thuật

01 kế toán

01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

7 công nhân và 20 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như

tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Trang 12

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến

bộ khoa học kỹ thuật

Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,5 lứa/năm

Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của công ty Trong trại có 23 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái

và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ hai giống lợn Landrace và Yorshire Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác thú y:

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam

- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi

Trang 13

bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn

Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được

kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không

gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn

2.1.2 Thuận lợi và khó khăn

và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất

Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại

Trang 14

2.2.1 Đặc điểm của lợn con

* Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp

4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh

Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể

Trang 15

Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa

là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ

* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh

Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức

ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất

Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa

Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu

Trang 16

Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [21] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân trắng lợn con Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do

có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym,

sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn

Trang 17

con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh

* Đặc điểm của cơ năng điều tiết của lợn con

Theo nhóm tác giả Hội chăn nuôi Việt Nam (2000) [10] ở lợn con sơ sinh,

tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82% Vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm nhanh, 30 phút sau khi sinh lượng nước giảm 1,5 - 2 % kèm theo giảm thân nhiệt 5 - 100C, lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến dễ

bị chết non

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng

lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)

Theo Từ Quang Hiển và cs (1995) [8] ở lợn con, khả năng sinh trưởng

và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần

cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con

và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm

để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Trang 18

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá

* Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ

là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai

đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hoá và gây bệnh

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần văn Phùng và cs (2004) [16] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa

Trang 19

chiếm 18 - 19%, trong đó lượng  - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử  - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu - globulin kém hơn, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

2.2.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con

Bệnh lợn ỉa phân trắng có tên khoa học là: “Neonatal di ar hoea” Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [13] bệnh này là bệnh đặc trưng đối với lợn

con ở giai đoạn từ 1 - 3 tuần tuổi Bệnh phát triển mạnh mẽ và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất khi lợn con ở độ tuổi 10 - 20 ngày tuổi Bệnh này xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới Đối với Việt Nam từ những năm trước cho tới nay bệnh phân trắng lợn con vẫn phổ biến và xảy ra nhiều

Là đất nước có khí hậu nhiệt đới cận nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ chệnh lệch giữa các thời gian trong năm là cao…) Đây là điều kiện lý tưởng cho các nguyên nhân gây bệnh phát triển làm bùng phát dịch và

sự kiểm soát bệnh này theo đó cũng khó khăn hơn

Trang 20

Đặc điểm dễ nhận thấy khi lợn con mắc bệnh này là lợn đi ỉa phân có màu đặc trưng: Trắng đục, xám, vàng lẫn bọt khí, phân rơi vãi khắp chuồng, phân dính ở hậu môn, chân sau lợn bệnh Lợn bệnh biểu hiện giảm bú, còi cọc, lông xù, thể nặng dẫn đến tử vong Nếu qua khỏi thì cũng để lại hậu quả thiệt hại về kinh tế, sức khỏe, ảnh hưởng đến năng suất chất lượng đàn lợn sau này

* Nguyên nhân gây bệnh

Do bộ máy tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện nên ở giai đoạn sau thời

kỳ bú sữa đầu, lợn con có thể mắc nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh phân trắng - một bệnh khá phổ biết thường gặp ở lợn con theo mẹ

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] bệnh lợn con ỉa phân trắng do

trực khuẩn E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng

huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ vài giờ Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là

do E.coli gây ra

E.coli là loại phổ biến nhất trong đường ruột, nó xuất hiện và sống trong

đường ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh Khi điều kiện chăm sóc,

nuôi dưỡng kém sức đề kháng của con vật giảm thì E.coli cường độc và có khả năng gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức

thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy

Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh

chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không

hợp vệ sinh, E.coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể Ngoài ra, trong

dịch vị thiếu HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa

Trang 21

Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng

Theo Sử An Ninh (1981) [14] cho biết: Nguồn gốc sinh bệnh lợn con phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: Đường huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri

Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ thuật: Thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh dưỡng, thiếu các yếu tố đa lượng, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc, thiếu sắt, Vitamin B12 khiến cơ thể lợn suy yếu do thiếu máu, khả năng chống đỡ với môi trường kém nên dễ mắc bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [23] sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và khả năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt cho cơ thể nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở myoglobin và một số enzym Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, dẫn đến cơ thể suy nhược, không hấp thu được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh

Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần và đến ngày thứ 20 giảm đột ngột, trong khi đó nhu cầu về dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng cao Đến ngày thứ 20 nếu dinh dưỡng của lợn mẹ không đảm bảo, lợn con càng thiếu sữa, chúng gặm, liếm nền chuồng và thành chuồng nên dễ phát sinh bệnh đường tiêu hóa

* Những hiểu biết về trực khuẩn Escherichia coli

Trực khuẩn ruột già Escherichia coli (E.coli) còn có tên khác là

Bacterium coli commune, Bacillus communis, do Escherich phân lập năm

Trang 22

1885 từ phân trẻ em E.coli thường sinh sống ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ

dày hay phần trước ruột của các loài gia súc, gia cầm và cả người

- Đặc điểm hình thái

E.coli là một trực khuẩn hình gậy kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, trong cơ

thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Trong canh trùng gà, vi khuẩn dài 4 - 8 µm

Phần lớn E.coli di động tự do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số

không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô

- Đặc tính nuôi cấy

E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở nhiệt

độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2 - 7,4, vi khuẩn phát triển được ở pH 5,5 - 8

E.coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:

- Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển thấp, môi trường rất đục có máu tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trường, môi trường có mùi phân thối

- Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy hình thành nên khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi,

có đường kính 2 - 3 mm Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt

và mọc rộng ra Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và khuẩn lạc dạng M

- Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi

- Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng

- Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh

- Môi trường EMB (Eosin - Methylen - Blue): Khuẩn lạc có màu đen tím

Trang 23

- Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc

- Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E.coli có khuẩn lạc màu đỏ

- Môi trường Endo: E.coli có khuẩn lạc màu đỏ

- Đặc tính sinh hóa: E.coli lên men sinh hơi từ các loại đường fructoze,

glucoze, galactoze, lactoze, mannit, dextroze Lên men không chắc chắn các loại đường dulcitol, saccharose

Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: Âm tính

MR, Indol: Dương tính

Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 370

C

Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông

E.coli có khả năng khử Nitrat thành Nitrit, khử Cacbocyl trong môi

bị phá huỷ bởi formol 0,5%

+ Kháng nguyên H:

Trang 24

Kháng nguyên được cấu tạo bởi thành phần lông của vi khuẩn, có bản chất là protein giống như chất myosin trong cơ, nó có đặc tính sau: Bị phá huỷ ở 600

C trong 1 giờ, bị cồn 500

và các enzym phân giải protein phá huỷ, bền vững với formol 0,5%

+ Kháng nguyên K:

Kháng nguyên K hay còn gọi là kháng nguyên bề mặt Chúng bao quanh

tế bào vi khuẩn có bản chất là polysaccharide Có ý kiến cho rằng kháng nguyên K có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước các yếu

tố phòng bệnh của vi khuẩn

- Độc tố: Vi khuẩn E.coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại độc tố

+ Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt dễ bị phá huỷ ở 560

C trong vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] hiện nay việc chiết xuất ngoại độc

tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới phân lập được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng

+ Nội độc tố: Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột

E.coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc

tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc chiết suất bằng phenol dưới tác dụng của enzym

* Sức đề kháng của mầm bệnh

Trực khuẩn đường ruột không chịu được nhiệt độ cao bị tiêu diệt ở nhiệt

độ 600C trong vòng 15 phút và bị tiêu diệt ở 1000C Trong đất và nước E.coli

sống được khoảng vài tháng, các chất sát trùng thông thường như axit Phenic,

Formol… có thể diệt E.coli trong 5 phút E.coli đề kháng với sự sấy khô

chúng có độ nhạy cảm cao với nhiều loại kháng sinh

Trang 25

Theo Bùi Thị Tho và cs (1995) [24] khi nghiên cứu về tính mẫn cảm và

tính kháng thuốc của E.coli được phân lập từ các ổ lợn con bị bệnh phân trắng

ở nước ta đã cho biết, hiện nay những thuốc có tác dụng tốt trong điều trị

bệnh phân trắng lợn con do E.coli gây ra gồm Norfloxacin, Furazolidon,

Trimetho Brom và Colistin, còn các thuốc Streptomycin, Sunphonamid ít có

tác dụng với E.coli vì tỷ lệ E.coli kháng lại chúng cao từ 70 - 80% Theo các

tác giả, những thuốc này đã dùng để điều trị thường xuyên, đôi khi dùng sai nguyên tắc

* Đường nhiễm bệnh

Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống Khi bị nhiễm E.coli phát

triển nhanh chóng trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng Limpho do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết Từ khi mới sinh ra hệ sinh vật phát triển trong đường tiêu hoá rất

đa dạng, tỷ lệ số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau

* Qúa trình sinh bệnh

Theo Nguyễn Hữu Vũ (2000) [28] đối với lợn con khoẻ mạnh vi khuẩn

E.coli và vi khuẩn khác chỉ cư trú ở đoạn ruột già và phần cuối của ruột non,

phần đầu, phần giữa hầu như không có Chỉ có rất ít liên cầu khuẩn, tụ cầu

khuẩn, Lactobacilus

Quá trình sinh bệnh liên quan đến nhiều đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn con, hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành thục Việc điều khiển thần kinh hầu như bằng phản xạ không điều kiện Ngoài ra có những đặc điểm đáng chú ý như: Độ toan của dịch vị dạ dày thấp, độ thẩm thấu của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém, chức năng thu nhận của tế bào nội võng quá dễ dàng Sự thu nhận quá dễ dàng qua hàng

rào bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập của vi khuẩn E.coli và độc tố của

chúng sinh ra vào các cơ quan như mô chính, đó là điều kiện gây nên bệnh

Trang 26

Việc bú sữa đầu không kịp thời, chất lượng sữa đầu kém, thiếu chất và

Globulin miễn dịch cũng là điều kiện để phát bệnh Như vậy để gây ra Coli

Bacilosis rõ ràng phải có chủng E.coli cường độc và đều sản sinh ra một hoặc

một số yếu tố bám dính lên tế bào biểu bì của màng niêm mạc và vào lớp

niêm mạc kế tiếp Những lợn con mắc bệnh phân trắng do E.coli thường sốt,

lông xù, biếng ăn, kém bú, thường nằm một chỗ ở góc chuồng

* Triệu chứng lâm sàng

Lứa tuổi mà bệnh thường gặp: Ở lợn con theo mẹ dưới 2 tháng tuổi, và nhất là ở giai đoạn lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi, mắc một vài con hoặc cả đàn, thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến một ngày

Lợn con bị nhiễm E.coli yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít khi tăng

cao Cá biệt có trường hợp nhiệt độ tăng 40,50

C - 410C, nhưng sau 1 ngày lại

hạ xuống ngay, lợn ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân có mùi tanh đặc biệt, bụng tóp lại da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại

Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào Đông Xuân, khi độ ẩm môi trường cao Bệnh thường gặp ở lợn con 1 - 21 ngày tuổi Mắc một vài con hoặc cả đàn có khi khỏi bệnh lại tái nhiễm

Thể bệnh gây chết nhanh: Những lợn từ 4 - 15 ngày tuổi thường mắc thể này, sau 1 - 2 ngày đi ỉa phân trắng lợn gầy sút nhanh, lợn bú kém rồi bỏ bú hẳn, đi đứng xiêu vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh có con hay đứng riêng một chỗ, thở nhanh Tiêu hoá kém, số lần ỉa chảy tăng từ 1 - 2 lần,

có khi 4 - 5 lần trong ngày, phân lỏng màu trắng đục, trắng hơi vàng, mùi tanh khắm, phân dính vào hậu môn và đuôi Bệnh thể kéo dài 2 - 4 ngày trước lúc chết cơ thể suy nhược co giật hoặc run rẩy, tỷ lệ chết 50 - 80% số con ốm

Trang 27

Thể bệnh kéo dài: Lợn 20 ngày tuổi bệnh kéo dài 7 - 10 ngày, lợn vẫn bú nhưng bú kém dần đi, phân màu trắng đục, trắng hơi vàng Những lợn đã được

40 - 50 ngày tuổi thì khi ỉa phân trắng hoạt động vẫn bình thường, ăn bú đi lại nhanh nhẹn, phân hơi nhão với màu trắng xám, nếu bệnh kéo dài lợn còi cọc chậm lớn

* Bệnh tích

Lợn chết do hiện tượng mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát thấy xác con vật gầy còm, da khô thô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con lợn khoẻ mạnh, khi mổ khám thấy gan màu nâu đen và sưng túi mật, trong chứa nhiều dịch mật loãng, lá lách không sưng, bóc lớp vỏ thấy xuất huyết, rạch dạ dày thấy trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu Quan sát niêm mạc thành dạ dày thấy những nốt đen trên thành do những đám nhồi máu gây nên Ruột non thì trương nhão giãn to và xuất huyết niêm mạc, ruột bị hoại tử từng đám Trong ruột già có thể thấy từng đám máu, viêm ruột là hiện tượng phổ biến, viêm thành ruột, xuất huyết ở màng treo, dạ dày chứa một ít sữa bị đông đặc, vón, cá biệt có máu, mùi tanh, ruột có chứa phân màu vàng hay xám, hạch màng treo ruột sưng

* Chẩn đoán bệnh

Bệnh lợn con ỉa phân trắng là căn bệnh phổ biến trong chăn nuôi lợn tập trung hay chăn nuôi nông hộ Bệnh xảy ra giai đoạn lợn con theo mẹ do rất

nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do virus như Coronavirus, Rostavirus hoặc

do vi khuẩn như E coli, Salmonella, Clostridium, hoặc cũng có thể do nguyên

sinh động vật Như vậy đứng trước một căn bệnh để công việc có hiệu quả thì điều đầu tiên người cán bộ thú y phải làm là đưa ra một chẩn đoán chính xác

về nguyên nhân gây bệnh dựa vào đặc điểm triệu chứng lâm sàng hoặc những xét nghiệm sinh hoá, có thể mổ khám bệnh tích những bệnh đã chết trong đàn

Trang 28

Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm phân thải ra của con bệnh, một phỏng đoán được thực hiện để xác định pH của phân nghiên cứu cho thấy nếu lợn con mắc bệnh phân trắng thì dịch tiêu chảy có pH hoàn toàn kiềm, do trong dạ dày lợn con sự phân tiết ra HCl là rất ít hoặc không có ở những ngày đầu tiên, thêm vào đó là sự đào thải các chất điện giải từ ống ruột có tính kiềm chiếm

đa số

Ngược lại bệnh do Rostavirus gây nên thì xét nghiệm phân thấy phân

mang tính axit nhiều hơn

Chẩn đoán bệnh do nhiễm E coli đường ruột dựa trên các triệu chứng

lâm sàng, các tổn thương tế bào mô, và sự hiện diện của những vi khuẩn nhuộm màu Gr (-) thường bám sát vào niêm mạc ruột

Ngoài ra còn có thể dựa vào những triệu chứng và bệnh tích điển hình để

kết luận bệnh Bệnh phân trắng lợn con do Rostavirus gây ra đặc trưng bởi

hiện tượng nôn mửa, đi phân lỏng màu vàng hoặc vàng kem, có lẫn bọt khí và chất nhầy, mổ khám thấy phần đỉnh nhung mao ruột bị bào mòn không gây xuất huyết hoặc loét ở ruột

Lợn con có thể bị nhiễm một loại mầm bệnh nhưng có thể bị nhiễm nhiều loại mầm bệnh khác nhau Cùng một lúc nhiều nghiên cứu cho thấy

việc nhiễm E coli và Rostavirus thường xảy ra cùng một lúc, tạo điều kiện

cho sự phát triển và phân tiết ra độc tố của mầm bệnh làm vật bị bệnh trở nên trầm trọng Vì vậy, khi điều trị cần có phương pháp phối hợp thuốc có khoa học để công tác điều trị bệnh đạt hiệu quả cao

Trang 29

ở giai đoạn theo mẹ, chúng ta có thể thực hiện một số biện pháp sau:

- Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng:

Theo Sử An Ninh (1993) [15], biện pháp phòng tiêu chảy trước hết là hạn chế, loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực Khắc phục những bất lợi về thời tiết, khí hậu, giữ vệ sinh chuồng nuôi

Để cho đàn gia súc non khỏe mạnh, điều cần thiết trước tiên là nuôi dưỡng, chăm sóc thật tốt lợn nái giống khi chưa đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng

bổ sung đầy đủ các loại vitamin, nguyên tố vi lượng cần thiết

Trong mọi trường hợp tiêu chảy, cần tiến hành ngay các biện pháp cách ly lợn bệnh với những con còn lại trong đàn đồng thời điều trị kịp thời những con

bị bệnh, tiêm kháng sinh liều phòng cho những con chưa nhiễm bệnh trên đàn

- Phòng bệnh bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học:

Một số tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu chế tạo và sử dụng chế phẩm sinh học

để phòng bệnh Đây là biện pháp miễn dịch thụ động để phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con tức là đưa thêm một lượng kháng thể thụ động vào cơ thể của chúng

Theo Trịnh Thị Vinh (1996) [27] đã công bố kết quả chiết tách thành công chế phẩm γ - globulin từ huyết thanh ngựa để phòng bệnh lợn con tiêu chảy

Nghiên cứu Trần Thị Hạnh và cs (2002) [7] đã nghiên cứu chế phẩm

sinh học: E.coli sữa, Clpepsingen toxid dùng cho nái chửa và Baderin EBC (E.coli Baclerin và C pefringen toxid ) dùng cho lợn con để phòng và trị bệnh

tiêu chảy phân trắng lợn con

- Phòng bệnh bằng vắc xin:

Ngoài việc sử dụng chế phẩm sinh học, một số tác giả đã nghiên cứu chế tạo các loại vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh

Trang 30

Theo Lê Văn Tạo (1993) [19] sử dụng vắc xin cho lợn nái mang thai bằng cách tiêm hoặc cho uống trước khi đẻ 4 - 6 tuần để kích thích lợn mẹ đáp ứng miễn dịch, sản sinh kháng thể đặc hiệu trong máu, truyền qua sữa đầu, cung cấp cho lợn con khi bú sữa

Theo Đặng Xuân Bình (2008) [1] đã thử nghiệm và công bố kết quả của vắc xin chuồng (Autovaccine) trong phòng bệnh lợn phân trắng trên thực địa

ở Hà Tây, Cao Bằng, Thái Nguyên

* Điều trị

- Điều trị bằng kháng sinh, hóa dược

Hiện nay các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả điều trị bênh Nhiều nhà nghiên cứu đã kết luận: Cần điều trị sớm, kết hợp với nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế, khắc phục rối loạn tiêu hóa và hấp thu, chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điều trị triệu chứng

Để điều trị có hiệu quả phải đảm bảo toàn diện các hướng sau:

+ Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hóa

Trang 31

đồng thời nên trợ tim cho lợn con bằng cafein 20%, bổ sung đường glucose, tăng cường các vitamin đặc biệt là các vitamin nhóm B

- Khôi phục hệ vi sinh vật đường ruột

Khôi phục và ổn định trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột

sẽ có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả điều trị, sử dụng chế phẩm Biosubtyl để điều trị tiêu chảy cho lợn con trước và sau khi cai sữa cho tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiều chảy giảm, khả năng tăng trọng tốt

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Được sự quan tâm của Nhà nước đến sự phát triển của ngành Chăn nuôi nói chung và ngành Thú y nói riêng, đã có rất nhiều nhà khoa học đã xây dựng được những công trình khoa học đóng góp cho sự phát triển của ngành Chăn nuôi Thú

y Trong đó bệnh phân trắng lợn con được nhiều tác giả nghiên cứu đề cập tới việc tìm hiểu nguyên nhân cũng như phương pháp phòng trị

Khi nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [11], cho rằng đây là một loại hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày - ruột, ỉa chảy, gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu của

lợn con là E coli và một số loài Salmonella (Sal.cholerasuis, Sal Typhisuis), đóng vai trò phụ là Proteus, Streptococcus Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi

sinh và trong suốt thời kỳ bú mẹ Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo sự biến đổi hàng tháng của nhiệt độ, độ ẩm trung bình, cụ thể là có sự tương quan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó, để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y cần đảm bảo khí hậu chuồng nuôi thích hợp

Theo Nguyễn Quang Tuyên và cs (1993) [26] cho biết bộ máy tiêu hóa ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật của đường ruột và

Trang 32

dạ dày rất yếu Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và

áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh đường tiêu hóa cho lợn Theo Phan Đình Thắm (1995) [20] thì nhất thiết lợn con sơ sinh phải được bú sữa đầu để giúp lợn con có sức đề kháng chống đỡ bệnh tật trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn bình thường Đây là chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng vì thế cần chú ý cho lợn con bú sữa trong 3 ngày đầu sau khi sinh

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2000) [12] cho rằng: Bổ sung Fe-Dextran cho lợn con có tác dụng làm tăng lượng huyết sắc tố (Hemoglobin), số lượng hồng cầu, giúp gia súc non, đặc biệt là gia súc sơ sinh khỏe mạnh, phát triển tốt, lớn nhanh và tăng sức đề kháng với bệnh truyền nhiễm, nhất là với bệnh phân trắng lợn con

Theo Lê Thị Tài và cs (2000) [18] đã viết: Để điều trị hội chứng tiêu chảy ở

lợn con, ngoài kháng sinh đặc hiệu với vi khuẩn đường ruột (Trimazon,

Chloramphenicol, Becberin) có hiệu quả điều trị 75 - 80% Chúng ta nên phối

hợp với các chế phẩm sinh học sẽ tăng hiệu quả lên 95 - 98% và bổ sung thêm điện giải (Ozesol) vừa tăng hiệu quả điều trị vừa tăng tỷ lệ khỏi bệnh từ 89,5 - 90%, con vật mau hồi phục, đảm bảo chất lượng và số lượng con giống

Theo Lê Văn Phước (1997) [17] cho rằng, tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng

ở lợn con thay đổi theo sự biến đổi của nhiệt độ, độ ẩm trung bình thay đổi hàng tháng, có tương quan thuận với ẩm độ và tương quan nghịch với nhiệt

độ không khí Do đó, để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, cần đảm bảo chế độ tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp

Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng

đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày, viêm ruột và gầy sút nhanh Tác nhân gây

Trang 33

bệnh chủ yếu là E coli, nhiều loại Salmonella và đóng vai trò phụ là Proteus

Streptococus Bệnh xuất hiện nhiều vào những ngày đầu sau khi mới sinh và

sống suốt trong thời gian bú sữa (Theo Trịnh Văn Thịnh ,1985) [23]

Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [9] khi nghiên cứu tác dụng của một

số Phytonciden và thuốc hoá học trị liệu với E coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng cho biết tỏi và hẹ là 2 dược liệu có tác dụng tốt với E coli còn

nghệ và cây vàng đắng là 2 dược liệu có tác dụng trung bình

Theo Đặng Xuân Bình (2010) [2] ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường là O, K và H còn có thêm kháng nguyên bám dính F, yếu tố gây bệnh

không phải là độc tố của E Coli

Theo Lê Văn Dương (2010) [4] kết luận: Các chủng vi khuẩn E coli

phân lập được mẫn cảm với một số loại kháng sinh: cefiofur, amikacin và kháng mạnh với tetracyclin, ampicillin…

Theo Nguyễn Anh Tuấn và cs (2013) [25] nghiên cứu cho thấy vi

khuẩn E coli và Salmonella là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong hội

chứng tiêu chảy ở lợn con trong chăn nuôi công nghiệp Tuy nhiên, trong điều

kiện nuôi công nghiệp như nghiên cứu này, E coli có khả năng đóng vai trò

“trội” so với Salmonella

Theo Nguyễn Chí Dũng (2013) [3] kết luận: Lợn con bị tiêu chảy có bệnh tích điển hình như ruột bị viêm, xuất huyết (95,45 % ở ruột non; 100

% ở ruột già) Dạ dày chứa đầy sữa không tiêu, niêm mạc phủ đầy dịch nhờn, xung huyết (68,18 %) Hạch lâm ba màng treo ruột bị sưng, tụ huyết (63,63 %)

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Bệnh phân trắng lợn con là hội chứng nhiễm khuẩn đường ruột ở giai đoạn bú sữa Bệnh xảy ra ở các nước trên thế giới, bệnh thường phát và nhiễm

Ngày đăng: 06/07/2017, 09:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Xuân Bình (2008), “Hiệu quả của vắc xin tại chỗ trong thử nghiệm phòng bệnh lợn con phân trắng trên thực địa ở một số trung tâm chăn nuôi lợn sinh sản miền núi phía bắc”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, 99(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của vắc xin tại chỗ trong thử nghiệm phòng bệnh lợn con phân trắng trên thực địa ở một số trung tâm chăn nuôi lợn sinh sản miền núi phía bắc”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Đặng Xuân Bình
Năm: 2008
2. Đặng Xuân Bình (2010), Giáo trình vi sinh vật học thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật học thú y
Tác giả: Đặng Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2010
3.Nguyễn Chí Dũng (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2013
4. Lê Văn Dương (2010), Phân lập xác định vai trò của escherichia coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập xác định vai trò của escherichia coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị
Tác giả: Lê Văn Dương
Năm: 2010
5. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
6. Văn Lệ Hằng, Đào Đức Thà, Chu Đình Tới (2008), Sinh sản vật nuôi, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản vật nuôi
Tác giả: Văn Lệ Hằng, Đào Đức Thà, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
7. Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình (2002) “Chế tạo thử nghiệm chế phẩm sinh học phòng trị bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con do E.coli và Cl.perferingens”, Tạp chí KHKT Thú y, 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tạo thử nghiệm chế phẩm sinh học phòng trị bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con do E.coli và Cl.perferingens”, "Tạp chí KHKT Thú y
8. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng học gia súc - gia cầm, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng học gia súc - gia cầm
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Năm: 1995
9. Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc (1998), Stress trong đời sống người và vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress trong đời sống người và vật nuôi
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
10. Hội chăn nuôi Việt Nam (2000), Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm. tập I, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
11. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Tâm, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Tâm, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2000), Thuốc thú y và cách sử dụng, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2000
13. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
14. Sử An Ninh (1981), Kết quả tìm hiểu bước đầu nhiệt độ và đọ ẩm thích hợp trong phòng bệnh lợn con phân trắng, Kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tìm hiểu bước đầu nhiệt độ và đọ ẩm thích hợp trong phòng bệnh lợn con phân trắng
Tác giả: Sử An Ninh
Năm: 1981
15. Sử An Ninh (1993), Các chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa máu, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn mắc bệnh phân trắng, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa máu, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn mắc bệnh phân trắng
Tác giả: Sử An Ninh
Năm: 1993
16. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
17. Lê Văn Phước (1997), Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm đến tỷ lệ lơn con phân trắng, Kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y, Trường Đại Học Nông Nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm đến tỷ lệ lơn con phân trắng
Tác giả: Lê Văn Phước
Năm: 1997
18. Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lệ Hoa (2000), Chế phẩm sinh học điều trị hội chứng tiêu chảy của lợn con ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, Kết quả nghiên cứu khoa học Chăn nuôi thú y, Trường Đại Học Nông Nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế phẩm sinh học điều trị hội chứng tiêu chảy của lợn con ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lệ Hoa
Năm: 2000
19. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm (1993), “ Nghiên cứu chế tạo vắc xin E. coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp thực phẩm, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vắc xin "E. coli" uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, "Tạp chí Nông nghiệp thực phẩm
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm
Năm: 1993
20. Phan Đình Thắm, Cao Văn (1995), Giáo trình chăn nuôi lợn ( dành cho cao học), Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Phan Đình Thắm, Cao Văn
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.3.2.2. Sơ đồ theo dõi - Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh
3.3.2.2. Sơ đồ theo dõi (Trang 36)
Bảng 4.1. Lịch sát trùng trại lợn nái - Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh
Bảng 4.1. Lịch sát trùng trại lợn nái (Trang 40)
Bảng 4.2. Quy trình vắc xin tại trại - Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh
Bảng 4.2. Quy trình vắc xin tại trại (Trang 43)
Bảng 4.3. Kết quả của công tác phục vụ sản xuất - Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh
Bảng 4.3. Kết quả của công tác phục vụ sản xuất (Trang 50)
Bảng 4.5. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi - Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh
Bảng 4.5. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi (Trang 52)
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo tháng - Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo tháng (Trang 54)
Bảng 4.8. Hiệu lực điều trị bệnh phân trắng lợn con của 2 phác đồ điều trị - Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh
Bảng 4.8. Hiệu lực điều trị bệnh phân trắng lợn con của 2 phác đồ điều trị (Trang 57)
Bảng 4.9. Chi phí thuốc thú y điều trị 1 lợn con khỏi bệnh phân trắng - Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại trại chăn nuôi bình minh và biện pháp phòng trị bệnh
Bảng 4.9. Chi phí thuốc thú y điều trị 1 lợn con khỏi bệnh phân trắng (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w