Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh... Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, dưới sự h
Trang 1NGUYỄN NHƢ QUỲNH
Tên đề tài :
“ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN
NÁI NGOẠI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, TP HÀ NỘI ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 - 2016
Thái Nguyên – 2016
Trang 2NGUYỄN NHƯ QUỲNH
Tên đề tài :
“ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN
NÁI NGOẠI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, TP HÀ NỘI ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Lớp: K44 – Thú y Khóa học: 2012 - 2016 Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Minh
Thái Nguyên – 2016
Trang 3Qua 6 tháng thực tập tại cơ sở cũng như trong suốt thời gian học tập tại ghế nhà trường, nhờ sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn, bạn bè và sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, tới các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, em xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo TS Lê Minh,
người đã tận tình dìu dắt em trong suốt quá trình thực tập và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên em động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Cũng qua đây, cho phép em được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bác Nguyễn Sỹ Bình - chủ trại Công ty cổ phần Bình Minh – Mỹ Đức – Hà Nội, cùng toàn thể gia đình và ban lãnh đạo cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ để em thực hiện nội dung nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh Viên Nguyễn Nhƣ Quỳnh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu phân biệt các thể viêm tử cung 18
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 35
Bảng 4.1 Lịch phòng bệnh trại lợn nái 40
Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng vắc xin trong trại 42
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 49
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 50
Bảng 4.5 Tỷ lệ và các thể nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 51
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các tháng (từ tháng 6 đến tháng 10/2016) 53
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn 54
Bảng 4.8: Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh viêm tử cung 55
Bảng 4.9: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung cho lợn 58
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CP : Cổ phần
Cs : Cộng sự Nxb : Nhà xuất bản
P : Trọng lượng STT : Số thứ tự
TT : Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa đề tài 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty CP Bình Minh 3
2.1.1.1 Quá trình thành lập 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 6
2.2 Cơ sở khoa học 6
2.2.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục nái 6
2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 9
2.2.3 Quá trình viêm tử cung 11
2.2.4 Các bệnh thường gặp về viêm tử cung 13
2.2.5 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung 19
2.2.6 Một số bệnh khác ở đường sinh dục của lợn nái 20
2.2.7 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung 23
2.3 Một số loại thuốc kháng sinh và hóa dược sử dụng điều trị bệnh viêm tử cung 25
2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 28
Trang 72.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đối tượng nghiên cứu 33
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 33
3.4 Phương pháp nghiên cứu 33
3.4.1 Xác định một số chỉ tiêu lâm sàng của nái khỏe và nái viêm tử cung 33
3.4.2 Phương pháp theo dõi thu thập thông tin 34
3.4.3 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng 34
3.4.4 Phương pháp điều trị 34
3.4.4 Phương pháp xác định chỉ tiêu theo dõi 36
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 36
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 37
4.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 37
4.1.2 Công tác vệ sinh thú y 39
4.1.3 Công tác thú y 41
4.1.4 Các công tác khác 48
4.2 Kết quả nghiên cứu của đề tài 50
4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 50
4.2.2 Tỷ lệ và cá thể nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 50
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các tháng ( từ tháng 12/2015 đến tháng 4/2016 ) 52
4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn 54
4.2.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh viêm tử cung 55
Trang 84.2.6 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung của 2 phác đồ điều trị 57
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 9
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước đi lên từ nền sản xuất nông nghiệp và đây là một trong những lĩnh vực chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nông nghiệp nước
ta đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ, trong đó ngành chăn nuôi cũng có những bước phát triển không ngừng và đang trở thành ngành sản xuất hàng hóa quan trọng Chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho con người
Chăn nuôi lợn ngoại đang được đẩy mạnh trong chăn nuôi nông hộ cũng như ở các trại quốc doanh Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại có năng suất cao, tăng trọng nhanh, phẩm chất thịt tốt (tỷ lệ nạc cao, độ dày mỡ lưng thấp) đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng đang đòi hỏi, nhất là khu thành phố và khu công nghiệp Cho đến nay, Landrace và Yorkshire là hai giống lợn đóng vai trò chủ yếu trong khâu sản xuất lợn giống và lợn lai nuôi thịt, trong tương lai nó sẽ góp phần quan trọng vào các chương trình “nạc hóa” đàn lợn ở nước ta
Thực hiện chương trình “nạc hóa” đàn lợn của thành phố Hà Nội trại lợn công ty CP Bình Minh thuộc được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất có trên
1200 lợn nái sinh sản, trong đó có giống Landrace và Yorkshire Đàn lợn nái ngoại này đang được phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng đàn con tốt Tuy nhiên, để thu được hiệu quả kinh tế cao phụ thuộc vào sức sản xuất, bên cạnh đó dịch bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chất lượng sản phẩm Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh
Trang 10sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, dưới sự hướng
dẫn của cô giáo T.S Lê Minh giúp tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại và một số biện pháp phòng trị tại công ty cổ phần Bình Minh – huyện Mỹ Đức – TP Hà Nội”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định được tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại trại công ty cổ phần Bình Minh – Mỹ Đức – Hà Nội
- Đánh giá được hiệu lực của một số loại thuốc kháng sinh và hóa dược
1.3 Ý nghĩa đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Cung cấp thêm tư liệu về tình hình mắc bệnh viêm tử cung tại trại
công ty CP Bình Minh – Mỹ Đức – Hà Nội
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sỡ khoa học góp phần phục
vụ cho các nghiên cứu tiếp theo của trại và làm tư liệu nghiên cứu về bệnh
viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản tại trại
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Qua điều tra tình hình bệnh viêm tử cung trên lợn nái của trại và đánh giá được hiệu lực của thuốc sử dụng, góp phần kiểm soát và khống chế tình trạng viêm tử cung trên lợn nái
Trang 11
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty CP Bình Minh
2.1.1.1 Quá trình thành lập
Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của ông Nguyễn Sỹ Bình nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
2.1.1.2.Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện
Trang 12tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng bầu
2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc
và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại
01 quản lý trại
03 quản lý kỹ thuật
01 kế toán
01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
07 công nhân và 20 sinh viên thực tập Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật
Trang 13Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,50 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của công ty
Trong trại có 23 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái
và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ hai giống lợn Landrace và Yorkshire Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
* Công tác thú y:
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và
Trang 14các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh
nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn
2.1.2.1 Thuận lợi
Được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã tạo điều kiện cho sự phát triển của trại Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục nái
- Bộ phận sinh dục bên ngoài: Là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ
thấy và quan sát được Bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
Trang 15* Âm môn (vulva)
Còn gọi là âm hộ nằm ở dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi
(Labia Pdendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (Rima vulvace)
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết
* Âm vật (clitoris)
Nằm ở dưới hai mép âm môn Âm vật giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật
có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới
* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)
- Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật
- Bộ phận sinh dục bên trong:
* Âm đạo (vagina)
Cấu tạo như một ống cơ có thành dày Âm đạo lợn từ 10 - 12cm
Ở lợn, tiểu mô âm đạo phát triển lên về độ cao tối đa vào lúc động dục
và giảm xuống điểm thấp nhất vào ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô
âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý tình dục và cho sự vận động của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo, trong quá trình kích thích lúc giao phối
Dịch âm đạo chủ yếu là thấm qua màng âm đạo, hỗn hợp với các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi làm lẫn với các dịch nhày của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và các tế bào bong ra từ biểu mô âm đạo
Trang 16* Tử cung (uterus)
Tử cung gồm hai sừng tử cung, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có
độ dài đến hơn 1m trong khi thang tử cung lại ngắn Độ dày thích hợp cho việc mang nhiều thai
Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng, ở động vật đẻ nhiều các dây chằng tử cung giãn ra làm cho tử cung thông vào xương chậu
Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống, chúng tiết ra dịch đổ vào bề mặt nội mạc tử cung
Cổ tử cung là một tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với
sự có mặt của một ít cơ trơn có thành dày và một thành xoang chậu hẹp
Theo Trần Thị Dân (2004) [4], trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng) khi có nhiều Estrogen trong máu và trương lực cơ co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều Progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng
* Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng ruột Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn:
+ Tua điểm: Có hình như tua liềm
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
+ Ống dẫn trứng: Đoạn ống dẫn rộng, xa tâm
+ Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với khoang tử cung
* Buồng trứng
Buồng trứng của lợn nái nằm trong xoang bụng và phát triển thành từng cặp
Nó thực hiện cả hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) Buồng trứng là cơ quan được hình thành trong giai đoạn
Trang 17phôi thai và lúc con vật mới được sinh ra Hình dạng và kích thước của buồng trứng biến đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục Tuổi, đặc tính cá thể, chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng nhất định đến hình dáng đến kích thước của buồng trứng
Theo Trần Thị Dân (2004) [4], buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết hocmon: Estrogen, progesterone, oxytocin, relaxin và inhibrin Các hocmon này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn nái
2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
- Tuổi đầu tiên của nái hậu bị trung bình là 4- 5 tháng tuổi nhưng tuổi phối giống lần đầu thích hợp là 7 - 8 tháng tuổi và tuổi đẻ lứa đầu là 11 - 12 tháng tuổi
Trang 18buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ
- Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm vi từ 18 - 25 ngày Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn không động dục lại Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ
- Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi
- Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con Hiện nay các
cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái mẹ được phối giống lại Như vậy khoảng cách các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất được 2,5 lứa
Trang 19con đực Trong một ngày đêm, thân nhiệt thấp nhất lúc sáng sớm (1 - 5 h sáng), cáo nhất vào buổi chiều từ 16h - 18h
Theo Nguyễn Thị Ngân và cs (2016) [12] thân nhiệt của lợn trong điều
kiện sinh lý bình thường dao động trong khoảng 38,5 - 39,5°C
Sốt:
Sốt là phản ứng toàn thân đối với các tác nhân gây bệnh mà đặc điểm chủ yếu là thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường Quá trình chủ yểu là do tác động của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được hình thành trong quá trình sinh bệnh Những chất đó chủ yếu là protein hay sản phẩm của nó Một số kích tố như adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu chương đều có thể gây sốt
2.2.3 Quá trình viêm tử cung
- Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường biểu hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có những biểu hiện khác nhau Tại ổ viêm thường xảy ra các biểu hiện
Trang 20- Viêm gây tổn thương các mạch quản, tổ chức liên kết và hệ thần kinh đối với tính phản ứng của cơ thể
- Viêm là một phản ứng của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào Phản ứng này hình thành và phát triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật
- Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào (Nguyễn Hữu Nam 2005) [10]
* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
- Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối loạn chủ yếu sau:
+ Rối loạn chuyển hóa
- Tại ổ viêm quá trình ôxy hóa tăng mạnh, nhu cầu ôxy tăng nhưng vì
có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp ôxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton, lipit, polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm
+ Tổn thương ở mô bào
- Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại ổ viêm
+ Tăng sinh ở mô bào
- Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra Trong quá trình viêm giai
Trang 21đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp 1997) [7]
+ Các tế bào viêm
- Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn
2.2.4 Các bệnh thường gặp về viêm tử cung
2.2.4.1 Viêm cổ tử cung (Cervitis)
- Nguyên nhân: Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của
những sai sót về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm
âm đạo, viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs, 2006) [6]
- Triệu chứng: Bệnh ở dạng điển hình, lợn có biểu hiện mệt mỏi hay nằm
úp bầu vú, bỏ ăn, ăn kém, âm hộ sưng đỏ, từ âm đạo chảy ra dịch màu trắng đục nếu nặng dịch có lẫn máu Lợn mẹ đứng nằm bứt rứt không yên, lợn con thường thiếu sữa kêu nhiều
Trong trường hợp bệnh nhẹ, lợn không sốt, âm hộ không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy chảy không liên tục
mà chỉ chảy ra từng đợt từ một vài ngày đến một tuần (Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994) [11]
- Bệnh tích: Phần cổ tử cung nhô ra âm đạo sung huyết và sưng, các vòng
nhẫn bên trong của cổ tử cung sung huyết Lối vào của lỗ cổ tử cung biến dạng và niêm mạc trở nên đỏ hoặc đỏ tía Mủ chảy ra từ miệng cổ tử cung
Trang 22- Điều trị: Tiêm Vetrimoxin LA 1ml/10 kg TT/2 ngày/lần, tiêm bắp,
điều trị trong 6 ngày liên tục
Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch nước sinh lý ngày một lần trong 2 - 3 ngày
Chú ý: Trong trường hợp bị viêm nặng, dịch chảy ra có máu , không được thụt rửa, tránh trường hợp viêm ngược và tắc ống dẫn trứng Trong trường hợp này có thể dùng oxytocin hoặc PG – F2α, giúp đẩy dịch viêm ra ngoài
2.2.4.2 Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2003) [15]
Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2006) [6] thì viêm tử cung chia làm 3 thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung
Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái Viêm nội mạc
tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm tử cung
- Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ
khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn
thương, vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella,
Brucella, roi trùng xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt
khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: + Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ
Trang 23+ Viêm nội mạc tử cung có màng giả
* Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis
Catarhalis purulenta acuta)
- Nguyên nhân: Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp
nhiều ở bò, trâu và lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
- Triệu chứng: Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ
yếu: Thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lẫn những mảnh
tổ chức chết…
- Bệnh tích: Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả
hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau Thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co nhỏ lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng
- Điều trị: Vetrimoxin LA 1ml/10 kg TT/2 ngày/lần, tiêm bắp, điều trị trong 6 ngày liên tục
Trang 24* Viêm nội mạc tử cung màng giả
- Nguyên nhân: Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử
Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử
- Triệu chứng: Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân
rõ: Thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch như: Dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
- Bệnh tích: Vi khuẩn bám vào niêm mạc tử cung phát triển nhanh về
số lượng, gây ra ổ viêm sung huyết, có mủ, gây tróc niêm mạc và xuất huyết Trường hợp nặng, vi khuẩn xâm nhập vào lớp cơ vòng của tử cung, tạo ra các
ổ mủ và dịch thể lan toả trong lòng tử cung, có thể dẫn đến thủng tử cung
- Điều trị: Vetrimoxin LA 1ml/10 kg TT/2 ngày, tiêm bắp, điều trị trong 6 ngày liên tục
Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch nước sinh lý ngày một lần trong 2 - 3 ngày
Chú ý: Trong trường hợp bị viêm nặng, dịch chảy ra có máu, không được thụt rửa, tránh trường hợp bị viêm ngược và tắc ống dẫn trứng Trong trường hợp này có thể dùng oxytocin hoặc FG – F2α, giúp đẩy dịch viêm ra ngoài
Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
- Nguyên nhân: Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử
cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám
Trang 25- Triệu chứng: Thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản
lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu cợn mủ
và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối
- Bệnh tích: Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn
dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng thải ra nhiều Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai
và sinh đẻ lần sau
- Điều trị: Vetrimoxin LA 1ml/10 kg TT/2 ngày/lần, tiêm bắp, điều trị
trong 6 ngày liên tục
Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch nước sinh lý ngày một lần trong 2 - 3 ngày
Chú ý: Trong trường hợp bị viêm nặng, dịch chảy ra có máu, không được thụt rửa, tránh trường hợp viêm ngược và tắc ống dẫn trúng Trong trường hợp này có thể dùng PG – F2α hoặc oxytocin tiêm giúp đẩy dịch viêm ra ngoài
Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)
- Nguyên nhân: Theo Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt (1986)
[18], viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng
- Triệu chứng: Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau
chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy
và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính
Trang 26với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc
bỏ ăn Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm
- Bệnh tích: Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai
sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các
bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng
Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
- Điều trị: Vetrimoxin LA 1ml/10 kg TT/2 ngày/lần, tiêm bắp, điều trị trong 6 ngày liên tục
Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch nước sinh lý ngày một lần trong 2 - 3 ngày
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu phân biệt các thể viêm tử cung
Chỉ tiêu phân
biệt
Thể viêm Viêm nội mạc tử
cung
Viêm cơ tử cung
Viêm tương mạc
tử cung
Sốt Sốt nhẹ Sốt cao Sốt rất cao
Dịch viêm
Màu Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ hơn Đau có phản ứng
Bỏ ăn Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
Trang 272.2.5 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung
Lợn nái sinh sản đều mang khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [8], trong quá trình
có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một
số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm tử cung
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do xây sát
Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau
* Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng
đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn nái
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại, cơ sở
chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt… sẽ làm giảm tỷ lệ viêm
Trang 28* Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung
* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
Nái đẻ những lứa đầu và nái đẻ nhiều lứa thường hay ít bị viêm tử cung hơn Nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung
* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động của ruột kém Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu
Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung,
âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung
2.2.6 Một số bệnh khác ở đường sinh dục của lợn nái
2.2.6.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo
- Nguyên nhân: Nguyên nhân chính của viêm âm môn tiền đình và âm
đạo ở lợn là những sai sót kỹ thuật khi đỡ đẻ Khi gia súc đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không phù hợp, không đảm bảo vô trùng, gây tổn thương niêm mạc hoặc sử dụng các thuốc điều trị bệnh ở tử cung, âm đạo kích thích quá mạnh làm niêm mạc âm đạo, âm môn, tiền đình bị viêm
Theo Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt (1986) [18], trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây sát, tổn thương
Trang 29do bào thai hay do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thương các bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra, bệnh có thể kế phát từ hiện tượng sảy thai, thai thối rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau
- Triệu chứng: Những con viêm mãn tính thì ủ rũ, uể oải, kém ăn,
lượng sữa giảm Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng chảy ra ngoài
- Bệnh tích: Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo mãn tính, niêm mạc trở
nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên bề mặt niêm mạc có chỗ trắng, đỏ không đều Khi kiểm tra âm đạo, con vật đau đớn Những con viêm mãn tính thì ủ rũ, uể oải, kém ăn, lượng sữa giảm Gia súc luôn rặn, khi rặn từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, dính vào gốc đuôi, hai bên mông
- Điều trị: Vetrimoxin LA: Tiêm bắp 1ml/10kg TT/2 ngày/lần
Tiêm oxytocine: liều 40 – 50 UI/con/2 - 3 lần/ ngày
Lutalyse: Tiêm bắp thịt hoặc đưa vào tử cung 2ml/con, một liều duy nhất Liệu trình ngày 1 lần, trong 3 - 5 ngày liên tục
Ngoài sử dụng kháng sinh và thuốc bổ, kết hợp thụt rửa tử cung bằng dung dịch thuốc sát trùng omnicide (pha 1 ml với 100 ml nước sạch) mỗi lần dùng cho 1 con từ 2000 - 2500 ml dung dịch đã pha Bơm dung dịch đã pha vào tử cung của lợn và chờ khoảng 30 phút cho dung dịch và dịch viêm ra hết Sau đó dùng hỗn hợp kháng sinh
Hòa tan hỗn hợp: penicillin 1 triệu UI, streptomycin 1g, nước muối sinh lý 50 ml bơm trực tiếp vào tử cung
Trang 302.2.6.2 Viêm buồng trứng
- Nguyên nhân: Đa số trường hợp viêm buồng trứng là do kế phát từ bệnh
viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng và viêm phúc mạc Các vi khuẩn gây viêm lan truyền từ tử cung lên ống dẫn trứng vào buồng trứng hoặc từ phúc mạc lan sang
Những vi khuẩn gây viêm thường gặp là: Staphylococcus, Streptococcus, E coli,
Proteus vulgaris
- Triệu chứng: Lợn không động dục khi đến chu kỳ rụng trứng Giai
đoạn đầu con vật đau đớn khi thăm khám buồng trứng qua trực tràng, buồng trứng to gấp 2 - 3 lần bình thường Nếu con vật chỉ viêm một bên buồng trứng thì vẫn thấy chu kỳ động dục và phối giống được nhưng ít thụ thai hơn súc vật cái bình thường
- Bệnh tích: Các vi khuẩn gây viêm, sưng thủng buồng trứng, có thể gây
mủ Sau đó, buồng trứng bị bã đậu và can xi hoá chỗ viêm, buồng trứng nhỏ lại nhưng rắn và xơ cứng
- Điều trị: Pendistrep LA 1ml/20 kgTT/2 ngày/lần, điều trị trong 5
ngày
Tiêm các thuốc trợ sức: vitamin C, B complex, campho-Na trong quá trình điều trị để gia súc mau bình phục
2.2.6.3 Thể vàng tồn tại (Corpus luteum persistens)
- Nguyên nhân: Do Prostaglandin F2α nội sinh tiết ra không đủ để tiêu
hủy thể vàng trong lần lên giống trước đó và sau khi sinh Sự tiết nhiều
progesterone sẽ kìm hãm sự phát triển của nang noãn và dẫn đến không xuất
hiện động dục
- Triệu chứng: Thể rối loạn này không có triệu chứng lâm sàng Chỉ có
thể chẩn đoán được khi sờ khám qua trực tràng phát hiện có sự hiện diện của thể vàng nhưng lợn thật sự không mang thai
Trang 31- Bệnh tích: Thể vàng nổi rõ trên bề mặt buồng trứng và ranh giới giữa
thể vàng và buồng trứng phân biệt rõ rệt Lợn không biểu hiện động dục và có
xu hướng mập dần lên theo thời gian tồn lưu của thể vàng Nếu thật sự không mang thai nhưng khi khám tử cung nghi ngờ có chứa dịch hoặc mủ thì nên dùng dẫn tinh quản đưa qua cổ tử cung và hút lấy dịch để kiểm tra cho chắc chắn có hay không có sự kết hợp với viêm tử cung tích mủ
- Điều trị: Phương pháp điều trị tương tự như u nang thể vàng và lợn sẽ
biểu hiện động dục trong vòng 2 - 5 ngày sau đó Nếu có dịch trong tử cung thì
phải tiến hành thụt rửa ngay sau khi sử dụng prostaglandin Có thể hủy thể
vàng bằng tay nhưng điều này không khuyến cáo rộng rãi vì có thể có những biến chứng xảy ra sau đó như xuất huyết, viêm kết dính buồng trứng và có thể dẫn đến vô sinh sau đó
2.2.7 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
* Phòng bệnh:
Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường hoặc dùng dung dịch biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000
Trước khi đẻ nên chuyển lợn sang ô chuồng dành riêng cho lợn đẻ đã
vệ sinh sát trùng kỹ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục, bầu vú bằng nước sạch
ấm, phun sát trùng bằng dung dịch Famsafe pha với tỷ lệ 1/3000 lên mình gia súc Tay người đỡ phải được sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu
Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng cồn, bôi trơn vazolin hoặc dầu lạc Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 1/1000 hay nước muối sinh lý 9/1000 hay biocid -
30 1/2000 Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicilin 2 - 3 triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 2 - 5g vào tử cung để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ
Trang 32bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch
Trong trường hợp phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải được vô trùng, nếu can thiệp bằng tay cần cắt móng tay sát trùng và bôi trơn bằng gel Các thao tác đúng kỹ thuật, nhịp nhàng
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được vô trùng trước và sau khi sử dụng
Sau khi lợn đẻ xong tiêm oxytocine liều 2 - 4ml để kích thích đẩy hết sản dịch và nhau thai ra ngoài Tiêm một mũi kháng sinh phòng viêm tử cung
Theo dõi quá trình đẻ để kiểm tra sót nhau, sau khi nhau đã ra hết, nên thụt rửa tử cung bằng nước muối 0,9% hoặc dung dịch thuốc tím 0,1% sau đó tiêm kháng sinh phòng nhiễm trùng kế phát
Cho nái chửa ăn đúng khẩu phần có bổ sung rau xanh, theo dõi sức khỏe của lợn, trước khi đẻ cho lợn nái ăn ít hay nhịn ăn nhưng phải cho uống nước đầy đủ có thể bổ sung điện giải
* Biện pháp điều trị
Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, đỡ tốn kém thuốc mà bệnh chóng khỏi, con vật chóng hồi phục
Trang 33Lutalyse: Tiêm bắp hoặc đưa vào tử cung 2ml/con, một liều duy nhất
+ Thuốc trợ sức
Anagine - C: Tiêm bắp 1ml/10 kgTT/1ngày
Vitamin ADE: Tiêm bắp 1ml/5-10 kgTT/ngày
Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin C không dùng chung với kháng sinh penicilline, sulfamid và thuốc khác
2.3 Một số loại thuốc kháng sinh và hóa dƣợc sử dụng điều trị bệnh viêm tử cung
Vetrimoxin LA (Lọ 200ml)
- Thành phần: trong 100ml vetrimoxin LA có 15g amoxycillin
- Cơ chế tác dụng: amoxycillin hoạt động bằng cách ngăn cản sự tổng
hợp mucopeptide trên thành tế bào vi khuẩn
Amoxycillin có hiệu lực diệt khuẩn thay đổi theo thời gian trên các vi
khuẩn Gram (+) như: Staphylococci, Streptococci, Corynebacteria và vi khuẩn Gram (-) như: E coli, Samonella, Pasteurella…
Sau đó, amoxycillin xâm nhập nhanh chóng vào các mô cũng như vào
hệ thống mạch máu.Trong đó quan trọng nhất là khả năng phân bố khắp phổi Khả năng chuyển hóa của amoxycillin yếu nên phần lớn bị thận thải trừ qua đường tiểu dưới dạng còn hoạt tính
- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp 2 ngày một lần
Trang 34* Pendistrep LA (Lọ 100ml)
- Thành phần: amoxycillin (dưới dạng muối trihydrate) 20g
- Công dụng: Nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhiễm trùng đường hô hấp
(như các bệnh do Pasteurella gây ra), nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm
trùng đường sinh dục, tiết niệu (viêm bàng quang, viêm vú, viêm tử cung), nhiễm trùng sau khi giải phẫu
- Cơ chế tác dụng: Pendistrep có thành phần là amoxicilin là kháng
sinh bán tổng hợp thuộc họ β - lactamin có phổ diệt khuẩn rộng đối với nhiều
vi khuẩn gram dương và gram âm do ức chế thành tế bào vi khuẩn
- Liều lượng và cách dùng: Tiêm bắp 2 ngày/lần, liều 1ml/10 – 15
kgTT, điều trị trong 5 ngày
Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau hạ sốt, trợ sức trợ lực… làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh
* Amoxinject LA (Lọ 100ml)
- Thành phần: Trong 1000 ml amoxinject LA chứa 15g amoxicillin
trihydrate, gentamycin sulphate, tá dược vừa đủ
- Công dụng: Điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, đường sinh
dục, đường tiết niệu, đường tiêu hóa như: viêm phổi, tụ huyết trùng, viêm vú,
viêm tử cung, viêm thận, viêm ruột - tiêu chảy, phù đầu do E coli, thương
hàn, nhiễm trùng vết thương, viêm da có mủ
- Cách dùng: Thuốc dùng tiêm bắp
- Liều lượng và cách dùng: Tiêm 1 ml/10 kgTT/ngày
* Penicillin
- Thành phần: Penicillin
- Cơ chế tác dụng: Penicillin G là kháng sinh phổ hẹp, có tác dụng chủ
yếu trên vi khuẩn gram dương như cầu khuẩn: tụ cầu, liên cầu, phế cầu; trực khuẩn: uốn ván, than, hoại thư sinh hơi, bạch hầu, xoắn khuẩn giang mai
Trang 35Thuốc cũng có tác dụng lên một số vi khuẩn gram âm như lậu cầu (Neisseria
gonorrhoeae), màng não cầu (Neisseria meningitilis)
- Liều lượng và cách dùng: Tùy thuộc vào từng loại bệnh, dạng bệnh mà
liều lượng và cách sử dụng thuốc khác nhau, thuốc được dùng dưới dạng tiêm bắp tiêm tĩnh mạch chậm hoặc tiêm truyền, hay dùng trong thụt rửa tử cung
Dung dịch tiêm bắp: 600 mg (1 triệu đơn vị) thường được pha trong 1,6
- 2,0 ml nước cất tiêm
Dung dịch tiêm tĩnh mạch: Nồng độ thích hợp là 600 mg pha trong 4 -
10 ml nước cất tiêm
Dung dịch tiêm truyền: Hòa tan 600 mg trong ít nhất 10 ml natri clorid
tiêm hoặc một dịch truyền khác
Dung dịch thụt rửa tử cung: Hòa tan 1 triệu UI penicillin trong ít nhất 1000ml natri clorid hoặc một dung dịch khác
* Streptomycin
- Thành phần: Streptomycin sulfate 1g
- Cơ chế tác dụng: Điều trị các bệnh: Tụ huyết trùng, bệnh lao, bệnh
viêm ruột tiêu chảy, các bệnh viêm đường hô hấp, bệnh sảy thai,… ở trâu, bò, ngựa, heo, chó, dê; bệnh tụ huyết trùng, sổ mũi truyền nhiễm, CRD, ở gà, vịt, cút
- Cách dùng: Hòa tan với nước cất hay sinh lý mặn 9‰, tiêm bắp
Dùng liên tục 3 - 4 ngày Kết hợp với penicillin trong thụt rửa tử cung
- Liều dùng: Heo, dê, chó, mèo: 20 - 30mg/kg TT/ngày
Bò, trâu, ngựa: 10 - 20mg/kg TT/ngày
Gà, vịt: 30 - 40mg/kg TT/ngày
* Oxytocin (Lọ 100ml)
- Thành phần: Oxytocin dạng dung dịch tiêm
Trang 36- Cơ chế tác dụng: Oxytocin dùng để gây sảy thai, gây chuyển dạ đẻ
hoặc thúc đẻ và để giảm chảy máu nơi nhau bám Oxytocin gây co bóp tử cung với mức độ đau thay đổi tùy theo cường độ co bóp tử cung Oxytocin là một hormon nonapeptid, oxytocin ngoại sinh cũng có tất cả các tác dụng dược
lý như oxytocin nội sinh
- Cách dùng: Tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch
- Liều lượng và cách dùng: 2ml/con/ngày, trong 3 ngày liên tục
* Lutalyse (Lọ 5ml)
- Thành phần: Là chất prostaglandin F2α tự nhiên, được trình bày dưới
dạng dung dịch vô trùng dinoprost 5mg/ml có chứa 1.65% benzyl alcohol
- Cơ chế tác dụng: Có tác dụng làm tiêu thể vàng và thúc đẻ nên được
chỉ định sử dụng cho trâu, bò, ngựa và heo
- Liều lượng và cách dùng: Tiêm bắp 2ml/con, một liều duy nhất
2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh
mẽ, số lượng đầu lợn tăng lên không ngừng, song song với nó tình hình dịch bệnh cũng tăng, đặc biệt là bệnh sinh sản Trong khi đó người chăn nuôi chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức cần thiết nên năng suất chăn nuôi chưa cao Mặt khác, các công trình nghiên cứu về bệnh sinh sản, đặc biệt là bệnh viêm tử cung còn rất ít, do đó tỷ lệ lợn nái mắc bệnh đang ngày càng gia tăng
Theo Trần Ngọc Bích và cs (2016) [1] đã khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh và phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục,chiếm tỷ lệ 74.13 %
Viêm tử cung là một trong nhiều tổn thương đường sinh dục ở lợn nái sau khi sinh Có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: Dinh dưỡng, tuổi,
Trang 37lứa đẻ, tình trạng sức khoẻ chăm sóc , quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn là do vi sinh vật, các nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập
và phát triển gây bệnh (Nguyễn Văn Thanh, 2002) [14]
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2005) [2], Phùng Thị Vân (2004) [19] cho biết: Ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng )
Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2006) [6], khi gia súc bị bệnh viêm
tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytocin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ
Theo Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt (1986) [18] , sót nhau trên lợn nái ít xảy ra, nhưng nếu lợn nái bị sót nhau sẽ đưa đến nhiễm trùng và gây viêm tử cung Điều kiện môi trường thay đổi đột ngột như: Thời tiết môi trường quá nóng hay quá lạnh trong thời gian đẻ cũng dễ đưa đến viêm tử cung
Theo Lê Xuân Cường (1986) [3], lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân, trong đó tổn thương bệnh lý sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Khi lợn nái đẻ khó cần áp dụng kỹ thuật ngoại khoa, khi thực hiện không đúng kỹ thuật sẽ gây viêm niêm mạc đường sinh dục, có thể bị tổn thương gây viêm tử cung
Theo Hồ Văn Nam và Nguyễn Văn Thanh (1997) [9], bệnh viêm tử cung ở gia súc là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là nguyên nhân gây rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái