Lũ lụt là thiên tai lớn nhất đe dọa nước Việt Nam ta, nhất là ở miền Bắc vì tổn thất nhân mạng có thể đến mức độ khủng khiếp, điển hình là cơn lũ vào tháng 8 năm 1971 đã làm vỡ đê Sông Hồng và 100,000 người đã bị thiệt mạng. Báo cáo của Bộ Tài nguyên Môi trường nêu rõ những nguyên nhân gây ra nguy cơ lũ lụt tiềm tàng đối với vùng Đồng bằng sông Hồng như: hệ thống sông dày đặc, địa hình trũng, mực nước biển dâng v.v… Việt Nam nằm trong nhóm các nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu. Do đó, đây chính là thời điểm cần thiết để xây dựng các chương trình nghiên cứu về các nội dung như tác động của biến đổi khí hậu, tính dễ bị tổn thương và sự thích ứng với BĐKH. Các chiến lược thích ứng được đề xuất chủ yếu là các chương trình do chính phủ chỉ đạo từ trên xuống, tập trung vào đầu tư hạ tầng và công nghệ, và tham khảo rất ít đến các mức khác biệt về tính chất có thể bị gây hại trong các nhóm dân cư của Việt Nam, hoặc các chiến lược thích ứng có thể được đưa ra từ dưới lên từ chính các cộng đồng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SAU ĐẠI HỌC
BÀI TẬP MÔN HỌC
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI
Giảng viên : TS Nguyễn Tuấn Anh
Học viên: : Nguyễn Thị Ba Liễu Lơp : Biến đổi khí hậu K5
Trang 2MỞ ĐẦU
Lũ lụt là thiên tai lớn nhất đe dọa nước Việt Nam ta, nhất là ở miền Bắc vì tổn thất nhân mạng có thể đến mức độ khủng khiếp, điển hình
là cơn lũ vào tháng 8 năm 1971 đã làm vỡ đê Sông Hồng và 100,000 người đã bị thiệt mạng.
Báo cáo của Bộ Tài nguyên Môi trường nêu
rõ những nguyên nhân gây ra nguy cơ lũ lụt tiềm tàng đối với vùng Đồng bằng sông Hồng như: hệ thống sông dày đặc, địa hình trũng, mực nước biển dâng v.v…
Trang 31.1 Vấn đề nghiên cứu: khả năng thích ứng tại Vi t Nam ệt Nam
Việt Nam nằm trong nhóm các nước bị ảnh hưởng
nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu Do đó, đây chính là thời điểm cần thiết để xây dựng các chương trình
nghiên cứu về các nội dung như tác động của biến đổi khí hậu, tính dễ bị tổn thương và sự thích ứng
với BĐKH Các chiến lược thích ứng được đề xuất
chủ yếu là các chương trình do chính phủ chỉ đạo từ trên xuống, tập trung vào đầu tư hạ tầng và công
nghệ, và tham khảo rất ít đến các mức khác biệt về tính chất có thể bị gây hại trong các nhóm dân cư
của Việt Nam, hoặc các chiến lược thích ứng có thể được đưa ra từ dưới lên từ chính các cộng đồng
Trang 4 Tìm hiểu khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng sông Hồng trường hợp nghiên cứu tại huyện Chương Mỹ, Hà Nội
nhằm xác định khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua phương pháp nghiên cứu có
sự tham gia của người dân Khu vực tập trung của chúng tôi sẽ là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và chúng tôi sẽ tìm hiểu các hộ gia đình, các cộng đồng và những người xây dựng chính sách đã thích ứng với các hiện tượng khí hậu trước kia ra sao, đặc biệt là những đợt lũ lụt lớn đã xảy ra tại đồng bằng sông Hồng
trong những năm gần đây Địa điểm nghiên
cứu sâu là huyện Chương Mỹ, thành phố Hà
Nội
Trang 51.2 Sự cần thiết tập trung vào vấn đề thích ứng của người dân
Chính phủ Việt Nam đã có những nghiên cứu quan trọng nhằm đưa ra những can thiệp to lớn ngăn chặn thiệt hại do bão lũ gây ra Song hầu hết các biện pháp phòng chống để thích ứng với lũ lụt ở vùng ĐBSH đều là những biện pháp mang tính kỹ thuật
Sự thích ứng của người dân và cộng đồng địa phương chưa được tìm hiểu để phát huy nội lực của người dân và cộng đồng địa phương để có thể chủ động hơn trong vấn đề này Do đó, việc tìm hiểu thích ứng của người dân ở cấp độ cá nhân và cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra cơ sở lý luận cho các chính sách can thiệp của chính phủ
Trang 6II VỊ TRÍ NGHIÊN CỨU
Trang 7 Chương Mỹ Là một huyện ngoại thành nằm ở phía Tây nam Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 20 km; phía Bắc giáp huyện Quốc Oai; phía Đông giáp với quận Hà Đông, huyện Thanh Oai; phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức; phía Tây giáp với huyện Lương Sơn(tỉnh Hoà Bình) Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 237,4 km2, là huyện có diện tích lớn thứ 3 của thành phố Dân số 337,6 nghìn người.
Toàn huyện có 32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 30 xã và
2 thị trấn Người dân tộc Kinh chiếm đại đa số, dân tộc Mường có 01 thôn Đồng Ké (thuộc xã Trần Phú); ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu số khác ở rải rác tại các xã, thị trấn Có gần 100 cơ quan, đơn vị Nhà nước, Trung ương và Thành phố đóng trên địa bàn; Chương Mỹ có 01 khu công nghiệp, 9 cụm điểm công nghiệp và trên 10 nghìn cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp cá thể đang hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế trong những năm qua.
Trang 82.1 Những sự kiện thời tiết và ảnh hưởng của
nó đến huy n Chương Mỹ ệt Nam
Qua việc thảo luận nhóm, chúng tôi được biết trong vòng 5 năm trở lại đây huyện Chương Mỹ đã gánh chịu cơn lũ lịch sử năm 2008
Từ 27 tháng 10 tới 4 tháng 11 năm 2008, mưa xối xả qua 8 ngày gây ra lũ trên diện rộng ở những khu vực khác nhau ở các tỉnh miền bắc và trung của Việt
Nam, ghi nhận tổng lượng mưa là 700 mm chỉ trong
3 ngày Số tỉnh chịu ảnh hưởng bởi lũ cục bộ, bao
gồm Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải
Dương, Hà Nam, Nam Định, và Quảng Bình
Trang 9 Theo tính toán chính thức, 92 người chết bởi nhiều
nguyên nhân như chết đuối, điện giật, sét đánh, và 3000
bị thương Khoảng 700.000 trường học đóng cửa từ vài ngày đến vài tuần, trong khi hầu hết các khu vực bị ảnh hưởng ở huyện Chương Mỹ các trường học đã đóng cửa hàng tuần Thiếu năng lượng, chất đốt đã xảy ra hơn 1 tháng đối với nhiều xã của huyện Chương Mỹ và các
huyện khác của Hà Nội Những con đường chính từ Hà Nội đến thị Xã Sơn Tây và các huyện khác đã bị hư hại nặng, giao thông hạn chế, và thậm chí quân đội phải
dựng một cây cầu tạm nối Sơn Tây với Hà Nội (Hội Chữ Thập Đỏ Quốc tế, 2008) Tổng thiệt hại ước tính 8 000
tỷ đồng hoặc gần 500 triệu đô la mỹ.
Trang 102.2 Thông tin chung về khu vực nghiên cứu
2.2.1 Tính chất của hộ gia đình
Qua phỏng vấn 149 hộ với 801 khẩu, trung
bình trong một hộ là 5 khẩu/hộ Số hộ gia
họ đã sống ở đây trên 3 thế hệ.
Trang 112.2.2 Thống kê lao động
Theo Luật lao động của Việt Nam thì những người từ
15-59 tuổi được xác định là người trong độ tuổi lao động, trong khi trẻ em từ 14 tuổi trở xuống và những người từ
60 tuổi trở lên được xem là người phụ thuộc Tỷ lệ phụ thuộc của hộ gia đình được tính toán trong giới hạn trẻ
em dưới 15 tuổi và người già từ 60 tuổi trở lên Trung bình những người trong độ tuổi lao động và người chưa
đến tuổi và quá tuổi lao động là 1:1,99 Tỷ lệ phụ thuộc
cao yêu cầu đất nông nghiệp nhiều hơn.
Giảm tỷ lệ hộ nghèo: Kế hoạch 2 - 3%/năm, đến năm
2016 còn dưới 5% hộ nghèo; ước thực hiện 2,4%.
Lao động có việc làm thường xuyên: Kế hoạch: 85%, ước thực hiện 87,4%.
Lao động qua đào tạo: Kế hoạch 40%, ước thực hiện 42%.
Trang 122.2.3 Trình độ giáo dục
Giữ vững phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi, đạt phổ cập Trung học cơ sở đúng độ tuổi, phổ cập bậc Trung học (phổ thông), ước thực hiện đạt mục tiêu.
Trình độ giáo dục của hộ gia đình được đánh giá trong giới hạn trung bình số năm học cao nhất đã tham dự của bất kỳ thành viên trưởng thành Ở Chương Mỹ trung bình là 6 năm học
Số liệu chứng minh rằng đàn ông đã sử dụng nhiều thời gian ở trường hơn phụ nữ
Trang 132.3 Hi n trạng cơ sở hạ tầng ệt Nam
Ở Chương Mỹ 98% hộ gia đình trong mẫu điều tra sở hữu nhà của họ Chỉ có một hộ gia đình cho thuê nhà
và 2 hộ sống trên đất của bà con họ hàng
95% số hộ gia đình sở hữu nhà 1 tầng, chỉ có 3 hộ gia đình (2%) sở hữu nhà một tầng với 1 tầng xép Mặc dù tất cả mọi người đều nhận thấy rằng có 1 tầng xép là rất quan trọng trong bối cảnh mà họ có thể di chuyển tất cả mọi thứ lên đó khi bị lũ lụt, đa phần người dân trả lời nói rằng họ không đủ khả năng để xây dựng nhà
có tầng xép Nhiều chủ gia đình đã bày tỏ mong muốn vay tiền từ ngân hàng để xây nhà có tầng lửng nhưng
họ sợ rằng họ không thể trả lại được tiền vay.
Trang 142.3.1 Thu nhập hộ gia đình
Qua khảo sát cho ta thấy nguồn thu nhập của các hộ gia đình đã có nhiều thay đổi sau trận lũ năm 2008 Năm 2007, hộ gia đình trung bình ở Chương Mỹ thu nhập chủ yếu từ vật nuôi (13,5 triệu đồng mỗi hộ) Nguồn thu nhập lớn tiếp theo là từ lương hưu
khoảng 2,6 triệu Thu nhập từ ao cá và công việc tự kinh doanh là nguồn quan trọng thứ 3 vào khoảng 2,2 triệu đồng Nông nghiệp là nguồn thu nhập
quan trọng thứ 4 với mức 1,1 triệu đồng
Nguồn thu nhập của hộ gia đình, như nông nghiệp, gia súc, gia cầm, thủy sản và công việc tự kinh
doanh đã bị ảnh hưởng xấu bởi trận lụt năm 2008
Trang 152.3.2 Các chỉ số kỹ thuật
Ở Chương Mỹ không có nhà tránh lũ cộng đồng cho những hộ dân sống ở vùng thấp dễ bị ngập lụt Tuy nhiên, qua phân tích phiếu điều tra cho thấy đa
phần người dân đã tin tưởng và ngôi nhà của mình 97% số hộ trả lời ngôi nhà của họ đã an toàn trong
sự kiện thời tiết và họ có thể ở tại ngôi nhà của họ 76% hộ gia đình trả lời nếu có điều gì xảy ra đột
xuất với ngôi nhà của họ, họ không có nơi an toàn
để di tản Trong trường hợp thiên tai nghiêm trọng, nhà của Ủy ban Nhân dân hoặc trường học nơi
được xây dựng ở vị trí cao là nơi mà dân có thể di tới trú ẩn
Trang 16III PHÂN TÍCH CÁC CƠ QUAN
3.1 Các cơ quan trong sự thích ứng với biến đổi khí
h u ậu
3.1.2 Ủy ban kiểm tra và phòng chống bão lụt
3.1.3 Sở/Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 3.1.4 Sở/Phòng Tài nguyên và Môi trường
3.1.5 Sở/phòng Kế hoạch và Đầu tư (DPI)
Trang 173.2 Các tổ chức quần chúng và Chương trình nghị sự về
sự thích ứng
Các tổ chức quần chúng tham gia vào sự thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm: Hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên Những tổ chức này cử đại diện để tham gia phục vụ trong Ủy Ban Phòng chống lụt bão các cấp Tất cả các tổ chức quần chúng ở địa phương đều nằm dưới sự lãnh đạo của UBND, khi có bão lụt xuất hiện Trong và sau khi bão lụt các tổ chức này huy động các thành viên giúp đỡ lẫn nhau để ứng phó với thiên tai Họ cũng tạo ra các đội lưu động trực bảo vệ đê điều, cấp cứu các nạn nhân khi cần thiết
Trang 183.2.1 Hội Nông dân
Chủ tịch Hội nông dân tại mỗi cấp là thành viên của Ủy ban Phòng chống lụt bão tương ứng và chịu trách nhiệm cho một xã hoặc một đơn vị dân cư tại cấp xã trong một sự kiện Hội nông dân thường chịu trách nhiện chuyển giao công nghệ cây trồng và vật nuôi để giúp
đỡ người bị thiệt hại do thiên tai Hội cũng là một tổ chức quần chúng và được cấp ngân sách cho các hoạt động hàng năm
Trang 193.2.2 Hội Cựu chiến binh
Trang 203.2.3 Mặt trận tổ quốc
Mặt trận tổ quốc luôn là một thành viên của
Ủy ban Phòng chống lụt bão chịu trách nhiệm hướng dẫn các tổ chức quần chúng khác thực hiện các kế hoạch của ủy ban phòng chống lụt bão Trong và sau khi thiên tai họ huy động và phổ biến cho nhân dân ở thôn giúp
đỡ lẫn nhau để ứng phó với thiên tai Nguồn tài chính của Mặt trận Tổ quốc là từ ngân sách của địa phương.
Trang 223.2.5 Đoàn thanh niên
Đoàn thanh niên là một thành viên của Ủy
ban Phòng chống lụt bão, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban Nhân dân khi có thiên tai
Đoàn thanh niên thường xuyên huy động các đoàn viên để cứu đê khi cần thiết Nguồn tài chính củ Đoàn thanh niên là từ Ủy ban Nhân dân.
Trang 233.2.6 Hội chữ thập đỏ
Hội chữ thập đỏ thường huy động lao động xã hội trong việc ngăn chặn các thiên tai tự nhiên Hội cung cấp các khóa tập huấn về cứu thương, cứu trợ cho cộng đồng Cứu trợ là trách nhiệm chính của hội chữ thập đỏ
Hội chữ thập đỏ của huyện và xã luôn luôn tham gia vào Ủy ban Phòng chống lụt bão Hội hoạt động dưới sự lãnh đảo trực tiếp của Ủy Ban nhân dân khi
có thiên tai Hội phục vụ giải cứu những nạn nhân, cung cấp thực phẩm, nước uống cho những người trong thôn, giúp người dân làm sạch môi trường sau khi bão lụt
Trang 243.3 Sự thích ứng chung ở cộng đồng
Trên thế giới, việc xây dựng mô hình cộng
đồng thích ứng với BĐKH được đánh giá có
hiệu quả cao Các mô hình này, có nhiều lợi
ích đã thu hút được cộng đồng cùng tham gia một cách chủ động vào các giải pháp ứng phó với thiên tai và phát triển bền vững mang tính chất dài hạn, chi phí không cao.
Ở nước ta, dân đông, người dân chủ yếu sống trong sự cố kết cộng đồng và mang tính tập thể làng xã, việc áp dụng mô hình này sẽ
mang lại hiệu quả cao trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu.
Trang 25 Mô hình ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng làm thay đổi thái độ nhận thức của người dân, trang bị những kỹ năng, cơ sở vật chất cho cộng đồng thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, có những kiến thức cần thiết để chủ động bảo vệ tài sản và tính mạng của mình Trước hết, cần nâng cao ý thức người dân thay đổi những thói quen, hành vi sinh hoạt, sản xuất đe dọa môi trường sống Với đồng bào dân tộc thiểu số, cần thay đổi ngay thói quen đốt rừng làm nương rẫy làm giảm
hệ thống nước ngầm khiến gia tăng tình trạng hạn hán lũ lụt vào mùa khô…
Ứng phó với thiên tai dựa vào cộng đồng đã được hiện thực hóa qua phương châm “4 tại chỗ” bao gồm “chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư - phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ” Sự thành công của cách tiếp cận này cho phép kỳ vọng sẽ thành công trong thích ứng biến đổi khí hậu ở nước ta.
Trang 263.4 Khả năng thích ứng
Cán bộ của các đơn vị chính quyền địa phương và các tổ chức cộng đồng lên danh sách khả năng mà họ tin là thích hợp nhất
để đối phó và thích ứng với biến đổi khí hậu ở địa phương Khi
mà hệ thống đê được làm hầu hết bằng đất, sự cần thiết cho bê tông hóa hệ thống đê là điều kiện sống còn cho việc đối phó với
lũ lụt và bão lớn
Tập huấn về sinh kế để giúp người dân địa phuơng tạo thu nhập
là một khả năng quan trọng và nó được đề cập bởi hầu hết các cán bộ mà chúng tôi đã phỏng vấn Tập huấn tại chỗ được xem như là sự thích hợp nhất cho người dân địa phương và họ cũng nói là đã đã nhận thấy thách thức rất lớn trong việc xác định sinh kế Địa phương có những người sẵn sàng thử các hoạt động phi nông nghiệp, như sản xuất sản phẩm từ tre cho xuất khẩu, nhưng công việc không không được tiến triển vì khủng khoảng toàn cầu, sản phẩm không có đầu ra Các cán bộ của huyện
cũng đưa ra nhận xét rằng giáo dục thấp ở những người trong thôn là rào cản cho họ tạo ra thị trường đối với các sản phẩm của họ.
Trang 273.5 Nhận thức về biến đổi khí hậu trong tương lai
Kế thừa thành quả của Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 - 2015, Chương trình Mục tiêu ứng phó BĐKH và Tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 - 2020 được kỳ vọng
sẽ hỗ trợ các địa phương tăng cường khả năng chống chịu tổng hợp trước BĐKH, bảo đảm an toàn tính mạng tài sản cho người dân.
Theo Bộ TN&MT (đơn vị chủ trì Chương trình), Kết thúc giai
đoạn 2012 - 2015, Việt Nam đã xây dựng hệ thống văn bản pháp
lý quan trọng về BĐKH; xây dựng, cập nhật và công bố kịch bản BĐKH, nước biển dâng làm định hướng cho các ngành, địa
phương trong quá trình triển khai quy hoạch, kế hoạch phát
triển KTXH.
Đồng thời, đánh giá được tác động của BĐKH đến từng lĩnh vực, từng khu vực, triển khai một số mô hình thích ứng, công trình hạ tầng, nâng cao ý thức, nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong ứng phó với BĐKH Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành trên
cả nước đều đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH.
Trang 28 Hệ thống chính sách đã tương đối đầy đủ, song thực tế vẫn cho thấy những khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn Theo Tiến Sĩ Nguyễn Lanh, Viện Chiến lược chính sách, tài nguyên và môi trường, hoạt động lồng ghép ứng phó
BĐKH vẫn còn mang tính hình thức Khía cạnh BĐKH chỉ được quan tâm khi có những biểu hiện gây thiệt hại đáng
kể từ BĐKH, hoặc việc đầu tư vào ứng phó BĐKH mang lại lợi ích cụ thể Bên cạnh đó, hầu hết các chính sách, văn
bản liên quan đến ứng phó BĐKH đều kêu gọi “cần chủ
động”, “cần nỗ lực”, song hiệu quả thực thi chưa cao.
Trước những vấn đề còn tồn tại, Chương trình Mục tiêu
ứng phó với BĐKH và Tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 -
2020 sẽ chú trọng đến những giải pháp cấp bách, cần ưu tiên nhằm giải quyết nhu cầu thực tế, đặc biệt là nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH cho địa phương Các chính
sách đã ban hành sẽ tạo hành lang phát lý thuận lợi, đẩy mạnh hiệu quả triển khai Chương trình.