Quán triệt đường lối của Đảng, trong những năm qua Bộ Nội vụ đã chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của Bộ thì đội ngũ này vẫn còn những bất cập. Do được đào tạo từ nhiều ngành nghề khác nhau nên đội cán bộ công chức của Bộ thiếu các kiến thức về quản lý hành chính nhà nước, về pháp luật, tin học và ngoại ngữ, chưa thích ứng nhanh với phong cách làm việc mới.Bộ Nội vụ được Chính phủ giao nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực quan trọng như: tổ chức chính quyền địa phương, tổ chức bộ máy hành chính về cán bộ, công chức, viên chức nhà nước về hợp tác quốc tế… Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ này đòi hỏi đối với cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ cần được nâng cao về chất lượng, được tạo điều kiện học tập, nâng cao trình độ, bố trí, sử dụng phù hợp với năng lực, sở trường của mình. Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ cần được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Công tác này có hiệu quả sẽ tạo điệu kiện khắc phục những bất cập của đội ngũ cán bộ, công chức trong Bộ Nội vụ, đồng thời nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng được những yêu cầu của nền hành chính hiện đại, có đủ năng lực để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.Nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ nói riêng; đồng thời nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức để tạo ra đội ngũ cán bộ, công chức vừa “hồng” vừa “chuyên”, em xin lựa chọn nội dung “ Hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp đối với mỗi sinh viên là một học phần vô cùng mới mẻ và chúng em gặp không ít những bỡ ngỡ, khó khăn trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thiện đề tài Trong những lúc như vậy, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, của bạn bè, gia đình.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Các thầy, cô giáo trong Học viện với quá trình giảng dạy tận tâm trong suốt bốn năm học qua.
- Các thầy, cô giáo khoa Tổ chức và quản lý nhan sự với sự quan tâm, tạo cho em tâm lý thoải mái nhất khi chọn đề tài khóa luận của khoa.
- Em đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo, Thạc sĩ Nguyễn Hồng Hoàng, giảng viên trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận Thầy luôn làm việc với tình thần tận tụy, chỉ bảo cặn kẻ cho những thiếu sót của em, thường xuyên quan tâm và giúp đỡ em một cách nhiệt tình nhất.
- Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bộ, công chức của Bộ Nội vụ với
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIIInên rõ “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bài của cách mạng, gắn liền vớivận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là then chốt trong công tác xâydựng Đảng, trung tâm trong điều kiện toàn hệ thống Nhà nước” Bất kỳ một chế
độ công tác xã hội nào muốn đứng vững và phát triển bền vững thì đều phảiđược xây dựng nên bởi những con người trí tuệ, có năng lực và hết lòng trungthành với chế độ Bộ máy nhà nước muốn vận hành tốt thì càn có đội ngũ cán
bộ, công chức giỏi, bởi chính họ là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân Thể chếhành chính, tổ chức bộ máy, quy chế hoạt động đều là sản phẩm của đội ngũ cán
bộ, công chức Để nền hành chính của một quốc gia có được đội ngũ cán bộ,công chức có năng lực, phẩm chất trong sạch, không quan liêu, tham nhũng vàtận tụy với công việc thì cần phải quan tâm đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức làm sao để họ ứng phó với xu thế vận động của xã hội Chính
vì vây, Chính phủ của nhiều quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến công tác đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức của mình
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam thời gian quacho thấy đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước nói chung vàcác cơ quan hành chính nhà nước nói riêng “đã thể hiện bản lĩnh chính trị vữngvàng, có ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, năng động và sáng tạo, có ý thức, trình
độ và năng lực thực tiễn, trưởng thành trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội,thích nghi dần với cơ chế mới Số đông vẫn giữ được lối sống lành mạnh”
Nhưng đứng trước những thách thức và yêu cầu ngày càng cao của sựnghiệp xây dựng đất nước và của thời đại, đội ngũ cán bộ, công chức còn bộc lộnhiều yếu kém và hạn chế Đội ngũ công chức hành chính được hình thành từnhiều nguồn khác nhau: Sinh viên mới tốt nghiệp, bộ đội chuyển ngành, sinhviên được đào tạo ở nước ngoài…Chính thực tế này đã đạt ra những yêu cầu cầnphải nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Như đại hội lần
Trang 3thứ VIII đã nhấn mạnh “đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện về cả lý luận, chínhtrị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn” Bên cạnh
đó, đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay còn nhiều mặt hụt hẫng như: thiếu kiếnthức lý luận, thực tiễn về nhà nước và pháp luận, kiết thức căn bản về quản lýhành chính, kỷ năng và nghiệp vụ hành chính, trình độ ngoại ngữ, tinh học…Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do việc quy hoạch, kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng làm chưa tốt, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức nhà nước chưa được quản lý chặt chẽ, chưa có nề nếp, chưa đảmbảo chất lượng và từ đó chưa tạo động lực thực sự để thúc đẩy sự nghiệp đổimới Điều này đã dẫn đến hiệu quả đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của bộ máyNhà nước trong lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Do đó, một trong nhữngcông việc cần làm ngay của các cơ quan hành chính nhà nước là quan tâm đếnđội ngũ cán bộ, công chức nói chung cũng như chính sách đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức nói riêng Đây cũng là một việc làm phù hợp với xu thế chungcủa thế giới Đồng thời , công tác này cần phải được đổi mạnh, đẩy nhanh để cómột đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệpcông nghiệp hóa đất nước
Quán triệt đường lối của Đảng, trong những năm qua Bộ Nội vụ đã chútrọng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cả về số lượng và chất lượng Tuynhiên đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của Bộ thì đội ngũ này vẫn cònnhững bất cập Do được đào tạo từ nhiều ngành nghề khác nhau nên đội cán bộcông chức của Bộ thiếu các kiến thức về quản lý hành chính nhà nước, về phápluật, tin học và ngoại ngữ, chưa thích ứng nhanh với phong cách làm việc mới
Bộ Nội vụ được Chính phủ giao nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực quan trọngnhư: tổ chức chính quyền địa phương, tổ chức bộ máy hành chính về cán bộ,công chức, viên chức nhà nước về hợp tác quốc tế… Để hoàn thành tốt nhữngnhiệm vụ này đòi hỏi đối với cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ cần được nângcao về chất lượng, được tạo điều kiện học tập, nâng cao trình độ, bố trí, sử dụngphù hợp với năng lực, sở trường của mình Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức của Bộ Nội vụ cần được đẩy mạnh hơn bao giờ hết Công tác
Trang 4này có hiệu quả sẽ tạo điệu kiện khắc phục những bất cập của đội ngũ cán bộ,công chức trong Bộ Nội vụ, đồng thời nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ,công chức đáp ứng được những yêu cầu của nền hành chính hiện đại, có đủ nănglực để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.
Nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước nói chung
và đội ngũ cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ nói riêng; đồng thời nâng cao chấtlượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức để tạo ra đội ngũ cán bộ,
công chức vừa “hồng” vừa “chuyên”, em xin lựa chọn nội dung “ Hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ” làm đề tài
nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận chung và quá trình thu thập, khảo sát tìnhhình thực tế và kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong BộNội vụ, em xin đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ
+ Đề xuất cac giải pháp phù hợp, khả thi nhằm hoàn thiện công tác đàotào bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ
3 Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích vấn đề lý luận về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ,công chức, đề tài đi sâu nghiên cứu công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, côngchức của Bộ Nội vụ; với đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng là cán bộ, côngchức đang làm việc ở các tổ chức, đơm vị thuộc cơ quan Bộ Nội vụ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5Trong quá trình nghiên cứu, các sự kiện, các khía cạnh của vấn đề cầnđược phân tích, đánh giá đều được xem xét dựa trên quan điểm cơ bản của chủnghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các chủ trương đường lốicủa Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước Các phương pháp được sử dụngtrong quá trình nghiên cứu đề tài có thể đến như:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu
- Phương pháp điều tra, khảo sát xã hội
- Phương pháp phân tích tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm
…
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu gồm 3 chương:Chương 1: Lý thuyết chugn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứcChương 2: Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của
Bộ Nội vụ
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức của Bộ Nội vụ
Trang 6Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC
1.1 KHÁI NIỆM CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Công chức là một bộ phận quan trọng của nền hành chính, là nhân tốquyết định hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước Cán bộ, công chức làmột khái niệm mang tính lịch sử và được quan niệm khác nhau phụ thuộc vàođặc điểm của mỗi quốc gia Theo cách xác định của nhiều quốc gia, công chức lànhững công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyêntrong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, trong nước hayngoài nước, đã được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Ở Việt Nam, sự hình thành đội ngũ cán bộ, công chức có đặc điểm kháccác nước Cán bộ, công chức ở các cơ quan nhà nước, Đảng và đoàn thể là mộtkhối thống nhất trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Có 3 tiêu chí để xácđịnh cán bộ, công chức là:
- Được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử vào trong biên chế chính thứccủa bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị xã hội
- Được xếp vào một ngạch trong hệ thống ngạch bậc của công chức doNhà nước quy định
- Được hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp
Hiện nay, khái niệm cán bộ, công chức được hiểu theo Pháp lệnh cán bộ,công chức số 11/2003/PL-UBTVQH sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnhcán bộ, công chức năm 1998 Theo Điều 1 của Pháp lệnh này, cán bộ công chứcđược quy định như sau:
“Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam,trong biên chế, bao gồm:
a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơquan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận,thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
Trang 7b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chứchoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trungương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chứchoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhànước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân màkhông phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làmviệc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên nghiệp;
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trongThường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ;người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọichung là cấp xã);
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên mônnghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã”
Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và h khoản 1 Điềunày được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công chức quy định tạiđiểm d khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và cácnguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật
Luật CBCC năm 2008 có hiệu lực 1-1-2010 thì CBCC đã được phân định
rõ ràng và có tính đến các yếu tố về tính chất, đặc trưng cho mỗi loại CBCC
1 Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữchức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc
Trang 8trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từngân sách nhà nước
2 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vàongạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công annhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp cônglập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chứctrong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương đượcbảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của phápluật
1.2 ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
1.2.1 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo là quá trình trang bị một cách có hệ thống những kiến thức cơ bảntheo một chương có mục tiêu nhất định nhằm hình thành và phát triển các trithức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của mỗi cá nhân Đào tạo được xem là quátrình làm cho người ta “trở thành có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định” và cókhả năng nhận được một sự phân công lao động Đào tạo theo nghĩa chung nhất
là quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vữngnhững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người
đó thích nghi với cuộc sống, góp phần mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì
và phát triển nền văn minh của loài người Đào tạo công chức là hoạt động củaquản lý nhà nước, theo đó công chức với những cương vị chức vụ khác nhau,nhu cầu khác nhau của từng nhóm, từng ngạch được đào tạo cơ bản một chuyênmôn nhất định theo tiêu chuẩn về kiến thức được nhà nước quy định trong hìnhthức giáo dục quốc dân và tiêu chuẩn nghiệp vụ trong hệ thống công vụ
Trang 9Bồi dưỡng là quá trình bổ sung, cập nhật, củng cố kiến thức hoặc tăngthêm kiến thức mới cho người học Bồi dưỡng chính là quá trình làm cho người
ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” Bồi dưỡng công chức là hoạt độngquản lý nhà nước, theo đó công chức với những cương vị khác nhau, nhu cầucông vụ khác nhau của từng nhóm, từng ngạch được trang bị bổ sung cơ bảnmột số vấn đề chuyên môn nhất định về hành chính
Theo đó, nếu đào tạo được xem như một quá trình làm cho người ta “trởthành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” thì bồi dưỡng đượcxác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”.Như vậy, khái niệm đào tạo và bồi dưỡng trong một chừng mực nào đó dườngnhư có sự tương đồng, phản ánh cùng một mục đích: Trang bị kiến thức chongười công chức Nhưng thực ra hai khái niệm có những thuộc tính, nội dungkhác nhau: Đào tạo khác với bồi dưỡng ở chỗ đào tạo chỉ là quá trình trang bịnhững kiến thức, kỹ năng mới mà trước đó người cán bộ, công chức chưa đượcđào tạo, còn bồi dưỡng là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹnăng nghề nghiệp một cách thường xuyên Đó là quá trình tăng cường năng lựcnói chung trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo Thông thường tronghoạt động công vụ, bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật trang bị thêm, trang bị mớinhững kiến thức, kỹ năng, thái độ cho cán bộ, công chức để thực hiện tốt hơn,hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao Xét về mặt thời gian, đào tạo thường có thờigian dài hơn, thường là từ một năm trở lên, về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấphoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ đào tạo, còn bồi dưỡng thường chỉ có chứngchỉ chứng nhận đã qua khoá bồi dưỡng
Ví dụ: - Đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp với thời lượng hainăm trở lên Ngaòi ra một số người có bằng cấp về một chuyên ngành, một lĩnhvực nhất định có thể học thạc sỹ, tiến sỹ về chuyên ngành đã được học hoặc họcthêm để có một bằng chuyên ngành thứ hai
- Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức ngạchchuyên viên tham gia học tập trong thời gian ba tháng Khi kết thúc khoá học,
Trang 10họ được cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạchchuyên viên.
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn củatừng công vụ, tiêu chuẩn từng nghiệp vụ của từng ngạch, chức danh, quy hoạch,
kế hoạch xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan, đơn vị vànhu cầu đào tạo, bồi dưỡng phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ đượcgiao
1.2.2 Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một trong những mặt hoạt độngcủa quản lý nhà nước Xét về hình thức không gắn trực tiếp với hoạt động quản
lý điều hành nhưng giữ vai trò bổ trợ, trang bị kiến thức, kỹ năng cho cán bộ,công chức có đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao Trình độ nănglực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức có ý nghĩa quyết định đến hiệulực, hiệu quả quản lý Công tác đào tạo, bồi dưỡng giữ vai trò quan trọng trongquản lý cán bộ, công chức nói riêng, trong quản lý nhà nước nói chung
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một việc làm thường xuyên, phổbiến và rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức, nhất là trong bối cảnh đang đứng trước yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đạihoá đất nước nói chung và công cuộc cải cách hành chính nói riêng Người cán
bộ, công chức trong môi trường mới phải là những con người có đức, có tài,ham học hỏi, thông minh, sáng tạo, làm việc quên mình cho sự nghiệp phồn vinhcủa Tổ quốc Họ phải được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hoá, được đào tạothành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, về điều hành vĩ mô kinh tế xã hội đất nước,
có trình độ khoa học kỹ thuật vươn lên ngang tầm thế giới Hơn nữa, họ cònphải có phẩm chất chính trị vững vàng, trung thành với đường lối của Đảng vànhà nước xã hội chủ nghĩa Chỉ khi nào chúng ta có được đội ngũ các nhà hànhchính chuẩn mực thì khi đó chúng ta mới có một nền hành chính dân chủ, trongsạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quảtheo nguyên tắc nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo củaĐảng Có thể nói đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố quyết định đến chất lượng
Trang 11của nền hành chính nhà nước Công cuộc cải cách hành chính nhà nước đặt ranhiều yêu cầu, thách thức đối với đội ngũ cán bộ, công chức Bởi vậy đòi hỏiChính phủ phải coi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm để công tác này ngày càng được hoàn thiện, có hiệuquả Bởi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có những vai trò to lớn, có thể kểđến như:
Thứ nhất, công tác đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức, truyền thụ kinh
nghiệm, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo trong thực thi các công việc cho cán bộ,công chức Cần nhận thấy một thực tế rằng, mặt hạn chế cơ bản nhất của đội ngũcán bộ, công chức nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá là sựhẫng hụt về trình độ năng lực, thiếu kiến thức về quản lý kinh tế, về kỹ nănghành chính, kém hiểu biết về pháp luật, về chuyên môn nghiệp vụ, phươnghướng công tác và các kiến thức bổ trợ khác như: ngoại ngữ, tin học Nhữngmặt hạn chế trên chỉ có thể được khắc phục thông qua công tác đào tạo, bồidưỡng Đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động cải biến mặt tiêu cực, phát huy mặt tíchcực trong mỗi con người, bù đắp những thiếu hụt, khiếm khuyết của mỗi cá nhântrong quá trình hoạt động Thông qua đào tạo, bồi dưỡng mà mọi người tiếp cậnđược những tinh hoa văn hoá của nhân loại, tiếp thu được tri thức và kinhnghiệm của loài người Cũng thông qua hoạt động học tập, mọi cá nhân nhậnthức được quy luật của tự nhiên, xã hội, biết vận dụng chúng trong thực tiễn,biết nhận rõ chân lý, đúng sai, biết được cái hay, cái dở của mình để vươn lên,
để phấn đấu Như vậy quá trình đào tạo, bồi dưỡng là quá trình tạo ra chất mới
và sự phát triển toàn diện trong mỗi con người Khi người cán bộ, công chứcđược trang bị đầy đủ kiến thức, công việc của họ được thực hiện một cách nhanhchóng, trôi chảy và đạt hiệu quả cao hơn
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng góp phần tăng cường bản lĩnh chính trị và
phẩm chất đạo đức cho người cán bộ, công chức Như Bác Hồ đã nói: Cán bộ,công chức phải là những người vừa “hồng” vừa “chuyên” Điều này có nghĩa làcán bộ, công chức phải có đủ phẩm chất và năng lực tức là đủ đức và đủ tài,trong đó đức là gốc Bác cũng nói: Kẻ có tài mà không có đức là kẻ vô dụng,
Trang 12người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó Người cán bộ, côngchức có đạo đức là người: có lối sống lành mạnh, trong sạch, không sống xa hoa,lãng phí, tham nhũng, không có tư tưởng đặc quyền, đặc lợi, liên hệ mật thiếtvới nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, lời nói phải đi đôi với việclàm, làm nhiều hơn nói Theo tư tưởng của Người: Trời có bốn mùa: Xuân, hạ,thu, đông; Đất có bốn hướng: Đông, tây, nam, bắc; Người cần có bốn đức tính:Cần, kiệm, liêm, chính” Tuy nhiên, hiện nay những biểu hiện tiêu cực đang cóchiều hướng phát triển làm xói mòn bản chất cách mạng của đội ngũ cán bộ,công chức, làm suy giảm uy tín của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân vớichế độ Để khắc phục tình trạng trên, đào tạo, bồi dưỡng giữ một vai trò hết sứcquan trọng Nội dung của đào tạo, bồi dưỡng góp phần hình thành phẩm chấttâm lý, tư tưởng, đạo đức định hướng sự phát triển nhân cách cho mọi cán bộ,công chức.
Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, công chức có mối liên hệ mật thiếtvới nhau Đào tạo, bồi dưỡng giúp cán bộ, công chức nâng cao năng lực, đápứng nhiệm vụ được phân công Đào tạo, bồi dưỡng gắn với bố trí, sử dụng nhằmđáp ứng nhu cầu sử dụng cán bộ, công chức của cơ quan Và ngược lại, việc bốtrí, sử dụng cán bộ, công chức phải dựa trên cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức nhằm đảm bảo đúng tiêu chuẩn và chuyên môn được đào tạo
Thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng trong bất cứ giai đoạn cáchmạng nào Đảng và Nhà nước chăm lo đầy đủ cho công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức thì khi đó đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng cao, hoànthành tốt nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước, ngược lại nếu không được chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng thì khi đó kết quảhoạt động thấp, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức kém
Qua những phân tích trên đây ta có thể thấy đào tạo, bồi dưỡng giữ một ýnghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện đổi mới đất nước nói chung và trongcông cuộc cải cách hành chính nói riêng
1.2.3 Quy trình đào tạo, bồi dưỡng
Quy trinh đào tạo bồi dưỡng có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
Trang 131.2.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo
Xác đinh nhu cầu đào tạo là xác định khoảng cách giữa những cái hiện có,đang diễn ra với những gì cần phải có Nói một cách khác, xác định nhu cầu đàutạo là xác định sự khác nhau, chênh lệch giữa năng lực hienj tại so với yêu cầunăng lực cần có trong tương lai của mỗi vị trí công việc, nhằm đưa ra những nộidung và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cần thiết cung cấp cho cán bộ, công chức
= _
Cụ thể hơn bằng sơ đồ sau:
XÁC ĐỊNH NHU CẦU ĐÀO TẠO
THỰC KIỆN KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO
LẬP KẾ HOẠC ĐÀO TẠO ĐÁNH GÁI ĐÀO TẠO
Nhu cầu
đào tạo,
bồi dưỡng
Kiến thức, kỹ nặng cần có để thực hiện nhiệm vụ
Kiến thức và kỹ năng hiện có đảm nhiệm nhiệm vụ đó
Những cái hiện
có
Khoảng cách cần được lấp đầy
Những cái hiện có
- Những chuẩn mực cho thực hiện công việc
Trang 14Bất kỳ một tổ chức nào đều mong muốn các thành viên trong tổchức của mình luôn nổ lực phấn đấu đạt được mục tiêu chung của tổ chức vàngày càng phát triển Do vây, nhu cầu phát triển chính là sự đòi hỏi làm thỏamãn mong muốn, khát vọng của cá nhân, của nhóm hay của tổ chức để đạt đượcmục đích, nhiệm vụ của mình một cách tôt đẹp, có hiệu quả trong điều kiện nhấtđịnh Và nhu cầu phát triển có thể được thỏa mãn bằng con đường đào tạo, bồidưỡng Thông thường có các loại đào tạo, bồi dưỡng như sau:
- Nhu cầu đào tạo nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh củacán bộ, công chức đã được quy định
- Nhu cầu đào tạo nhằm giúp cho cá nhân và tổ chức thực hiện công việctốt hơn, hiệu quả hơn
1.2.3.2 Xây dựng kế hoạch đào tạo.
Bước thứ hai của quá trình đào tạo là cần phải xây dựng kế hoạch đào tạo,dựa trên cơ sở nững số liệu thu được từ bước xác định nhu cầu đào tạo Xâydựng kế hoạch là thiết kế công việc cần làm trong tương lai và cách thức thựchiện có hiệu quả, là sự dự liệu cách sử dụng các nguồn lực, thời gian và sự cốgắng thực hiện những gì chúng ta mong muốn
Cần phải trả lời các câu hỏi sau khi xây dựng kế hoạch:
- Các hoạt động cần phải làm là gì?
- Làm như thế nào?
- Làm ở đâu?
- Ai làm?
- Bào giờ thì hoàn thành đươc?
Thông thường xây dựng kế hoạch bao gồm những nội dung sau:
Trang 15Để xây dựng đề cương chi tiết kế hoạch đào tạo cho từng khóa học cầnquan tam đến các nội dung cụ thể dưới đây:
- Tên kháo học
- Các mục tiêu cụ thể
- Đối tượng: mô tả nhóm đối tượng về trình độ cơ bản, lĩnh vực công việc,tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện tham gia
- Hỗ trợ đối với công việc học tập
- Xác định nguyên tác đào tạo, phương pháp đào tạo, các hoạt động củahọc viên
- Phân phối thời gian
- Nội dung chính: các chủ đề
- Tài liệu đào tạo
- Người dạy: Giáo viên, báo cáo viên, công tác viên
- Kết quả: các tiêu chuẩn cần đạt được
- Chương trình chi tiết
- Các khoản khác
1.2.3.3 Thực hiện kế hoạch đào tạo
Để giúp cho việc thực hiện kế hoạch đào tạo người ta cần phải tiến hànhcác bước trong thết kế chương trình đào tạo như sau:
- Liệt kê các mục tiêu đã được xem xét, chấp nhận đối với chương trìnhđào tạo
- Xem xét về số người tham gia học tập và họ sẽ tác động thế nào đến việcthiết kế chương trình
- Liệt kê những cách thức có thể là tốt nhất để đạt được mục tiêu
- Quyết định xem việc học tập sẽ đạt kết quả tốt nhất theo loại hình,chương trình đào tạo tại cơ quan (đào tạo trong công việc) hay đào tạo tập trung
- Quyết định hình thức, phương pháp đào tạo
- kế hoạch các công việc để đạt được mục tiêu của chương trình và củatừng mục tiêu
- Chuẩn bị đề cương kế hoạch chi tiết từ các khoản mục ở trên
Trang 16- Thảo luận về kế hoạch với những người liên quan, nếu có thể được thảoluận với những người sẽ tham gia học tapaj và những người quản lý phụ tráchhọ.
- Hoàn thành kế hoạch chương trình lần cuối và đưa ra kế hoạch chi tiết.Thực hiện kế hoạch của một kháo đào tạo cần phải thực hiện tất cả cácbước như sau: ra quyết định mở lớp; công văn chiêu sinh; xác định địa điểm họctập; giảng viên; tổ chức theo dõi lớp; kiểm tra, đánh giá; tổng kết báo cáo
1.2.3.4 Đánh giá đào tạo
Đây là gia đoạn cuối cùng trong quá trình quản lý Đánh giá cho chung tabiết mục tiêu đào tạo đã đạt được ở mức độ nào để có những điều chỉnh cầnthiết, phù hợp Đánh giá là một quá trình thu thập và phân tích dữ liệu một cách
có hệ thống để đưa ra những quyết định Đối với đào tạo, đánh giá được hiểunhư là quá trình thu thập và xử lý thông tin về quá trình đào tạo nhằm xác địnhphù hợp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng Về bản chất, đánh giá chính là việc sosánh những kết quả đã đạt được với mục tiêu đề ra từ trước Với ý nghĩa pháttriển, đánh giá được xem như là việc kiểm tra, xem xét độc lập và có hệ thốngcủa một chương trình, dự án để xác định kết quả, hiệu quả, hiệu lực, sự ảnhhưởng và những yếu tố liên quan đến mục tiêu của chính nó
Trong khi đánh giá cần lưu ý hai tiêu chí cơ bản là độ tin cậy và độ giá trị
Ở đây, độ giá trị nói đến tính hiệu quả trong việc đạt được những mục đích xácđịnh, còn độ tin cậy đề cập đến mức độ chính xác cảu việc đánh giá
Để đánh giá một chương trình đào tạo cần phải quan tâm đến các vấn đềsâu:
- Phản ứng của người học: Suy nghĩ của họ về việc đào tạo trước khi đượcđào tạo, trong, cuối khóa đào tạo và những thởi điểm sau đào tạo
- Kết quả học tập: đánh giá kết quả học tạp của học viên trong quá trìnhđào tạo; kiểm tra kiến thức, kỷ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã
đề ra
- Năng lực thực hiện công việc: những thay đổi đối với việc thực hiệncông việc sau khi đực đào tạo, bồi dưỡng
Trang 17- Những tác động, ảnh hưởng đối vơi tổ chức: Việc đào tạo có tác động tớiviệc thực hiện nhiệm vụ, tới hiệu quả của tổ chức, xác định xem đào tạo, bồidưỡng có đóng góp như thế nào vào kết quả thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Trong công tác đánh giá, thời điểm tiến hành đánh giá là một trong nhữngvấn đề nhạy cảm Có thể tiến hành đánh gía vào thời điểm khác nhau và mỗimột thời điểm được chọn để đánh giá sẽ ảnh hưởng đến kết quả đánh giá Cónhiều cách để lựa chọn thời điểm đánh giá; có thể là đánh giá sau khi hoàn thànhcông việc, đánh giá thường kỳ, đánh giá khi đang trong quá trình tiến hành hoạtđộng đào tạo…
Việc đánh giá phải sử dụng những phương pháp khác nhau như: quan sát,bảng hỏi, trắc nghiệm, phỏng vấn, điều tra khảo sát nhằm thu thạp thông tin cógiá trị và độ tin cậy cao
Tóm lại, bốn bước của quy trình đào tạo, bồi dưỡng có mối quan hệ mật
thiết với nhau Xác định nhu cầu là bước đầu tiên và quan trọng trong quá trìnhđào tạo, bồi dưỡng Nếu xác định đúng nhu cầu là cơ sở khoa học cho bước lập
kế hoạch đào tạo Như vậy, kế hoạch đào tạo có khả thi, có đáp ứng được nhucầu đào tạo Trên cơ sở kế hoạch đào tạo đã được lập sẽ tiến hành thực hiện kếhoạch đó Kế hoạch tổ là cơ sở để thực hiện trôi chảy và hiệu quả chương trìnhđánh giá đào tạo Như vậy, bốn bước có mối liên hệ chặt chẽ với nhau giốngnhư một vòng quay khép kín, bước trước là cơ sở để tiến hành bước sau, bướcsau là cơ sở để hoàn thiện bước trước Chính vì vậy để nâng cao chất lượng đàotạo, bồi dưỡng là đánh giá đào tạo Như vậy, bốn bước có mối liên hệ chặt chẽvới nhau giống như một vòng quy khép kín, bước trước là cơ sở để tiến hànhbước sau, bước sau là cơ sở để hoàn thiện bước trước Chính vì vậy để nâng caochất lượng đào tạo, bồi dưỡng phải thực hiện các bước theo trình tự và thực hiệntốt tất cả các bước trong quy trình đó
Ngày nay, con người không chỉ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sựtồn tại, suy thịnh riêng một quốc gia như quan niệm trước đây mà còn ảnhhưởng không nhỏ tới sự phát triển của nhân loại Khi nói tới nguồn nhân lực củamột quốc gia, đội ngũ cán bộ, công chức luôn được xác định là nhân tố rất quan
Trang 18trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của đất nước Nhận thức đượcvấn đề trên, các quốc gia đều xây dựng chiến lược, kế hoạch khác nhau nhưngcác quốc gia đều thừa nhận và lấy công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức là biện pháp phát triển nguồn nhân lực bền vững có hiệu quả nhất.
Ở Việt Nam, từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, yêu cầu đàotạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chuyểnđổi cơ chế quản lý càng trở nên cấp bách Đồng thời học tập là quyền lợi vànghĩa vụ của cán bộ, công chức: “Mọi các bộ, công chức phải có kế hoạchthường xuyên
Thường xuyên học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn vànăng lực hoạt động trực tuyến, bồi dưỡng đạo đức cách mạng
Không nằm ngoài xu hướng trên, cũng như tất cả các bộ, ngành và địaphương khác trong cả nước, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứcnhằm nâng cao chất lượng và năng lực đội ngũ cán bộ, công chức Bộ Nội Vụ đểđáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế hiện nay là hết sức cần thiêt Đây
là công tác đặc biệt quan trọng, không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng công tácriêng của cơ quan bộ nội vụ mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành nội
vụ cũng như của đất nược
Với vai trò và ý nghĩa đặc biệt của công tác này cần thiệt phải ngày cànghoàn thiện hơn, hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng để có được đội ngũ cán bộ,công chức hoạt động với hiệt suất, hiệu quả cao nhất, đáp ứng yêu cầu của côngcuộc đổi mới đất nước
Trang 19Chương 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CÔNG CHỨC CỦA BỘ NỘI VỤ.
2.1 Tổng quan về Bộ Nội vụ
2.1.1 Vị trí và chức năng
Bộ nội vụ là cơ quan của chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về các ngành, lĩnh vực: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước, chính quyềnđịa phương, địa giới hành chính, khen thưởng thi đua tôn giáo, cơ yếu, văn thư,lưu trữ nhà nước và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vựcquản lý của bộ theo quy định của pháp luật
2.1.2 Nhiệm vụ và quền hạn
Theo nghị định 48/2008/NĐCP ngày 17/4/2008 bộ nội vụ có những nhiệm
vụ quyền hạn cụ thể sau đây:
* Trình chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của quốc hội, dự án pháplệnh, dự thảo nghị quyết của ủy ban thường vụ quốc hội, dự thảo nghị quyết,nghị định của chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàngnăm của bộ đã được phê duyệt vào các dự án, đề án theo sự phân công của chínhphủ, thủ tướng chính phủ
* Trình thủ tướng chính phủ chiến lược, kế hoạch quy hoạch phát triển dàihạn hàng năm, 5 năm, hàng năm, các dự án, công trình quan trọng quốc gia vàcác dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ thuộc phạm vi quản lýnàh nước của Bộ
* Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư thuộc phạm vi quản lý nhànước của Bộ
* Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện cácvăn bản quy phạm pháp luật, chiến lực, quy hoạch, kế hoạch đã được ban hànhhoặc phê duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; thôn tin, tuyên truyền,phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
* Về tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước:
* Về địa giới hành chính và phân loại đơn vị hành chính:
Trang 20* Về quản lý biên chế:
* Về cán bộ, công chức, viên chức nhà nước:
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lýcủa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tổng hợp, báo cáo Thủtướng Chính phủ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch,chương trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Chính phủ, Thủtướng Chính phủ về: tuyển dụng, sử dụng, nâng ngạch, bổ nhiệm ngạch, chuyểnngạch; đánh giá, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, từ chức, miễnnhiệm, biệt phái: kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu và các chế độ, chính sách khác đốivới cán bội, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Chính phủ về chứcdanh, tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý từ cấp trưởng phòng và tương đươngdanh, tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý từ cấp trưởng phòng và tương đươngđến thứ trưởng phòng và tương đương thuộc Ủy ban nhân dân các cấp huyệnđến giám đốc sở và tương đương thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Quy định ngạch và mã ngạch; ban hành và hướng dẫn, kiểm tra việcthực hiện tiêu chuẩn các ngạch công chức; cơ cấu ngạch công chức; công tácquản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức; số hiệu, thẻ công chức, trang phụcđối với cán bộ, công chức;
- Tổ chức thi nâng ngạch từ ngạch chuyên viên chính lên ngạch chuyênviên cao cấp; quyết định bổ nhiệm ngạch viên cao cấp và tương đương theothẩm quyền; phối hợp với các Bộ, cơ quan ngan Bộ, cơ quan thuộc Chính phủxây dựng ngân hàng để thi nâng ngạch công chức, viên chức chuyên ngành;hướng dẫn về điều kiện đảm bảo thực hiện phân cấp việc tổ chức thi nâng ngạchcông chức, viên chức chuyên ngành; kiểm tra, giám sát việc nâng ngạch côngchức, viên chức
- Thẩm địch các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định về tiêuchuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của các ngạch viên chức, cơ cấu ngạch viên chức,đánh giá, nội dung, hình thức thi tuyển, nâng ngạch viên chức chuyên ngành để
Trang 21các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý ngạch viên chức chuyênngành ban hành;
- Thẩm định về nhân sự đối với các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lýthuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
- Tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ cao cấp theo phân công vàphân cấp;
- Xây dựng và quản dữ liệu quốc gia về đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức nhà nước, cán bộ, công chức cấp xã và cán bộ thuộc thẩm quyền quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ; tổ chức quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viênchức theo phân cấp
* Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức ở trong nước và ở ngoài nước, cán bộ, công chức cấp
xã và đại biểu HĐND các cấp;
- Hướng dẫn, các quy định của chính phủ về tổ chức của cơ sở đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Thống nhất quản lý về chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹnăng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức hành chính, đại biểu HĐNDcác cấp và cán bộ, công chức cấp xã;
- Tổ chức đào tạo, kiến thức, kỹ năng quản ký nhà nước đối vơi cán bộ,công chức hành chính ngành nội vụ; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành đào tạo,bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với đại biểu HĐND các cấp
và cán bộ, công chức cấp xã;
- Phân bổ, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện chỉ tiêu đào tạo, bồi dương cán
bộ, công chức hàng năm sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổng hợp vàbáo cáo thủ tướng chính phủ kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
* Về chính sách tiền lương
* Về tổ chức hội và các tổ chức phi chính phủ:
* Về thi đua, khen thưởng
Trang 22* Về công tác tôn giáo
* Về công tác cơ yếu
* Về công tác văn thư – lưu trữ nhà nước
* Về cải cách hành chính nhà nước
* Về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
* Về hợp tác quốc tế
* Quản lý nhà nước về công tác thanh niên
* Thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộtheo quy định của pháp luật
* Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống thamnhũng, tiêu cực và xử lý các hành vi vi phạm pháp luận trong các ngành, lĩnhvực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
* Chủ trì, phối hợp với cac bộ, ngành giải quyết kiến nghị của các cơ quannhà nước, tổ chức chính trị - xã hội theo phân công của chính phủ, thủ tướngchính phủ
* Hướng dẫn, kiểm tra việc cho phép các cơ quan, tổ chức được sử dụngcon dấu và việc quản ký, sử dụng con dấu theo quy định của pháp luận
* Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học và ứngdụng nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ
* Tổ chức, chỉ đạo ứng dụng công nghệ và dữ liệu thống kê theo các lĩnhvực quản lý của bộ
* Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; quyết định việc bổ nhiệm lại, điềuđộng, luan chuyển, từ chức, miễn nhiệm, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, thôiviệc, nghĩ hưu, chỉ đạo thực hiện tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ đôivới cán bộ, công chức, viên chức thuộc bộ quản lý theo quy định của pháp luật;đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, đối với cán bộ, công chức, viênchức thuộc phạm vi quản lý của bộ
* Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sáchđược phân bổ theo quy định của pháp luật
Trang 23* Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do chính phủ, thủ tướng chínhphủ giao và theo quy định của pháp luật.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Bộ nội vụ.
2.1.3.1 Các đơn vị hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.
- Ban thi đua – Khen thưởng TW
- Ban tôn giáo chính phủ
- Ban cơ cấu chính phủ
- Cục Văn thư và lưu trữ nhà nước
- Cơ quan đại diện của Bộ tại Thành phố HCM
- Cơ quan đại diện của bộ tại thành phố Đà Nẵng
2.1.3.2 Các đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ
- Việc khoa học tổ chức Nhà nước
- Tạp chí tổ chức Nhà nước
- Trung tâm thông tin
Trang 24_ Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức.
2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ
Nguồn: Số liệu thống kê của vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Nội vụ đến 2/2009
Qua bảng số liệu ta thấy, đội ngũ cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ khôngngừng được bổ sung, với số lượng bổ sung bình quân 20 người/năm Số liệu cán
bộ, công chức tăng lên chủ yếu do sự biến đổi tổ chức cũng như để đáp ứng nhucầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao phó ngày càng nhiều và tính chấtphức tạp hơn
Song những năm gần đây số lượng này tương đối ổn định, hầu như không
có sự biến đổi nào đáng kể cũng chứng tỏ cơ chế hoạt động của bộ máy cơ quan
Bộ dần đi vào thế ổn đinh, công việc được giải quyết nhanh chóng, cán bộ, côngchức làm việc có hiệu quả cao
Với sự gia tăng của số lựng cán bộ, công chức như vậy góp phần thựchiện công tác quản lý nhà nước của Bộ nội vụ đươc diễn ra thuận lợi, trôi chảy
và có hiệu quả hơn Nhưng bên cạnh đó cũng đặt ra cho các nhà tổ chức phải bốtrí, sắp xếp bộ máy để vận hành sao cho hiệu quả nhất, đặt đúng người vào vị trícông việc để có hiệu quả lao động tốt nhất, tránh sự lãng phí hoặc hạn chế nănglực của cán bộ, công chức là không hề đơn giản
2.2.2 Cơ cấu độ tuổi
Tuổi > 60 51 – 60 41 – 50 31 – 40 < 30
Nguồn: Số liệu thống kê của vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Nội vụ đến 2/2009
(chưa vẽ biể đồ) trang 24
Theo nguồn số liệu thống kê, độ tuổi cán bộ, công chức củ Bộ Nội vụ đa
số nằm trong khảng 31 – 50 tuổi (chiếm 61.20%), trong khi đội ngũ công chức
Trang 25trẻ có độ tuổi dưới 30 không nhiều (chiếm 14.93%), cùng với độ ngũ cố vấn,chuyên gia chiếm 1.49% (5 người).
Số lượng đội ngũ cán bộ, công chức trẻ chưa nhiều và còn thêm thực tế làphân bố không đồng đều tại các đơn vị thuộc Bộ Các đơn vị có đông đảo độingũ này nhất phải kể đên như: Viện nghiên cứu khoa học tổ chức Nhà nước, Vụđào tao, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước và Văn phòng Bộ Song ở cácđơn vị đòi hỏi một lực lượng cán bộ, công chức chứa được đáp ứng như: Vụ hợptác quốc “trẻ hóa” đội ngũ cán bộ, công chức chưa được quan tâm, chú trọngnhiều Với số lượng đông đảo độ tuổi 31 – 5 của đội ngũ cán bộ, công chứccũng là một lợi thế, bởi độ tuổi này rất phù hợp với công tác quản lý hành chínhnhà nước vù họ có đủ chín chắn, kinh nghiệm để thực hiện các nhiệm vụ côngtác Mặc dù vậy, Bộ vẫn rất cần quan tâm và tăng cường lực lượng cán bộ, côngchức trẻ
Đất nước bước sang thời kỳ mới với sự biến đổi nhanh chóng của các vấn
đề xã hội ngày càng phức tạp, đi liền với công cuộc cải cách hành chính đòi hỏingười cán bộ, công chức cùng một lúc phải giải quyết nhiều công việc khácnhau, khối lượng công việc lớn, thực tế đó yêu cầu người công chức phải có mộtthế lực tốt, bị công tác hiện đại Thực tế đó yêu cầu người công chức phải cómột thế lực tốt, một hệ thần kinh tốt với tinh thần làm việc hăng say, chịu đựngđược áp lực thì mới có thể đảm đương được công việc
Việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong công tác cũng đòihỏi những người sử dụng phải có độ nhanh nhậy để nắm bắt và thực hành cóhiệu Tuy nhiên, qua biểu đồ trên ta thấy với thực tế trên 23.88% cán bộ, côngchức trên 50 tuổi cũng đồng nghĩa với việc hạn chế khả năng ứng dụng cácthành tựu khoa học kỹ thuật trong công tác và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệuquả công việc chung của cả cơ quan
Tóm lại, việc cần thiết hiện nay là thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ, côngchức để tránh sự chênh lệch, hẫng hụt giữa các thế hệ, tạo ra đội ngũ trẻ trung,năng động nhiệt tình Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ươngKhóa VIII về công tác thanh niên thời kỳ đổi mới đã nêu rõ: “Sự nghiệp đổi mới
Trang 26có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước trên con đường xãhội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việcbồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còncủa dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cáchmạng”.
2.2.3 Về trình độ
2.2.3.1 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trình độ Trung cấp Cao đẳng Đại học Sau đại học
Nguồn số liệu thống kê của vụ Tổ chức cán bộ - Bộ nội vụ đến 2/2009
Số lượng cán bộ, công chức với chuyên môn nghiệp vụ ở trình độ Đại học
và sau Đại học chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm 70.75% (284 người) nhưng lại từnhiều ngành học khác nhau, chủ yếu là các ngành khoa học xã hội như: Triếthọc, Luật học, Sử học, Kinh tế, Ngoại ngữ Số còn lại từ các ngành học khácnhư: Sư phạm, khoa học tự nhiên…Cũng chính sự đa dạng trong các ngành họcnhư vậy là một khó khăn, trở ngại không nhỏ cho độ ngũ cán bộ, công chức của
Bộ trong việc thực hiện công tác quản lý hành chính Nhà nước – một công việcđòi hỏi kiến thứ tổng hợp từ nhiều ngành kinh tế - xã hội
Hiện nay, Bộ Nội vụ với nhiệm vụ “thống nhất quản lý về nội dung,chương trình, phương thức và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức hànhchính nhà nước từ trung ương đến địa phương”, trong khi đó cơ quan Bộ lạikhông có công chức tốt nghiệp về chuyên ngành quản lý đào tạo, bồi dưỡng.Đây được coi là một thiếu sót lớn trong đội ngũ cán bộ, công chức mà Bộ cầnkhắc phục
Cán bộ, công chức được đào tạo sau Đại học với số lượng 64 người(chiếm 2%) là một lợi thế của Bộ, bởi trong số đó có một số được đào tạo trongnhững ngành khoa học như: Luật học, hành chính nên đã phát huy được nănglực, hiệu quả trong công việc Hơn thế nữa, chính sách cử cán bộ, công chức đi
tu nghiệp và học tiến sỹ, thạc sỹ ở nước ngoài của Bộ cũng làm tăng thêm việctiếp thu kiến thức và kỹ năng, kinh nghiệm trong giải quyết công việc của các
Trang 27nước tiên tiến, áp dụng vào thực tiễn Việt Nam, giúp đất nước hội nhập nhanhchóng hơn.
2.2.3.2 Trình độ Lý luận chính trị.
Trình độ Cao cấp Trung cấp Sơ cấp Chưa học
Nguồn: Số liệu thống kê của vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Nội vụ đến 2/2009
Với bảng số liệu và biểu đồ này thể hiện khá rõ trình độ lý luận của độingũ cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ Trình độ lý luận cao cấp Chủ yếu tậptrung vào đối tượng là các cán bộ lãnh đạo, hoặc chuyên viên chính Đây là độingũ cần ưu tiên số một cho việc củng cố trình độ lý luận chính trị, bởi ngườilãnh đạo phải có sự am hiểu lý luận chính trị rõ ràng, lập trường chính trị vữngvàng, kiên định theo sự lãnh đạo của Đảng thì mới trung thành và cống hiến hếtmình cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, hoàn thành và hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao phó theo đường lối chủ trương của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu là Đại học nên những đối tượngnày được xếp vào trình độ sơ cấp lý luận chính trị với số lượng 130 người(chiếm 40.63%)
Quan trọng hơn cả là cần mở lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị chocác đối tượng chưa được tham gia đào tạo, để củng cố tinh thần và lòng tin của
họ với chế độ, bởi hiện nay trong nền kinh tế thị trường, với nhiều sự phức tạp
và sự cám dỗ của các thế lực bên ngoài rất dễ làm xa ngã, biến đổi bản chất củacán bộ, công chức
Trang 282.2.3.3 Trình độ về quản lý nhà nước.
Nguồn: Số liệu thống kê của vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Nội vụ đến 2/2009
Cũng như yêu cầu chung đối với cán bộ, công chức ở cơ quan hành chínhnhà nước khác, các công chức của Bộ Nội vụ rất cần những kiến thức về phápluật và quản lý hành chính Nhà nước trong việc tham gia xây dựng, soạn thảo,thẩm định các dự án luật, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tổ chức
bộ máy nhà nước và cải cách hành chính
Căn cứ vào biểu đồ ta thấy số cán bộ công chức có trình độ cao về quản lýnhà nước cũng chưa nhiều 25 người (chiếm 7.18%), trong đó trình độ Đại họcchiếm 4.14% (15 người), trên Đại học chiếm 3.04% (11 người) So với số lượngcán bộ, công chức mới chỉ qua bồi dưỡng có tỷ lệ cao hơn nhiều 50 người(chiếm 13.81%) Bên cạnh đó, một lực lượng khá đông chưa được tham gia cáckhóa đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý Nhà nước, tới 70 người (chiếm19.34%) Đây cũng là một thực tế cần khắc phục, đặt ra cho công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ trong giai đoạn hiện nay
2.3.3.4 Trình độ tin học
Nguồn: Số liệu thống kê của vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Nội vụ đến 2/2009
Số lượng lớn cán bộ, công chức đã có trình độ tin học, như tin học cơ bản
280 người (87.5%), trình độ đại học 10 người (chiếm 3.13%)
Qua biểu đồ ta có thể nhận thấy ở Bộ Nội vụ cán bộ, công chức phần lớn
đã được trang bị các kiến thức cơ bản về tin học đủ khả năng sử dụng máy vitính trong công tác quản lý Các công chức sử dụng máy tính chủ yếu phục vụcho việc soạn thảo văn bản, khai thác mạng nội bộ, internet, nhưng việc tiếp cậncác kiến thức về mạng và phần mềm rất hạn chế do trình độ và tính chất côngviệc đang đảm nhận không đòi hỏi cao Việc sử dụng hạn chế các chức năng củamáy tính còn ảnh hưởng rất lớn đến khả năng làm việc, đến hiệu quả công việccủa cán bộ, công chức trong Bộ Trong khi đó, yêu cầu công việc ngày nay đòi
Trang 29hỏi phải được hoàn thành trong khoảng thời gian giới hạn nhanh nhất Điều nàydẫn đến việc áp dụng những thành tựu của ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lý là hết sức hạn chế nên chưa áp dựng được yêu cầu đổi mới Quá trìnhgiải quyết công việc, cập nhật thông tin, thống kê tổng hợp thông tin gặp nhiềukhó khăn Bên cạnh đó, một số lượng cán bộ, công chức không có trình đọ tinhọc đã ảnh hưởng đến mức độ liên kết công tác giữa các bộ phận, làm chậm tiến
độ công việc khi làm việc theo thủ công Điều này dẫn đến yêu cầu tiếp tục bồidưỡng kiến thức tin học cho cán bộ, công chức là một trong những công việc mà
Bộ cần làm nhanh trong thời gian tới
Cửnhân
Cơbản Cử nhân Cơ bản
Nguồn: Số liệu thống kê của vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Nội vụ đến 2/2009
So với tổng số cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ tới thời điểm hiện tại thì
số lượng cán bộ, công chức có trình độ ngoại ngữ là khá cao 170 người (chiếm53.13%) Đây sẽ là một lợi thế trong thực thi công vụ và cho quá trình hội nhập.Song số lượng người có bằng đại học ngoại ngữ còn thấp chỉ 40 người (chiếm12.5%) Khả năng vận dụng và sử dụng ngoại ngữ không đồng đều, nhiều cán
bộ, công chức có chứng chỉ ngoại ngữ chỉ coi như thủ tục để toàn tất hồ sơ màthôi, còn thực chất lại không thể sử dụng trong giao tiếp, giải quyết công việchàng ngày cũng như để đi học tập nước ngoai Thực tế đã cho thấy, một số cán
bộ, công chức mặc dù có chứng chỉ C về ngoại ngữ nhưng không có khả năng sửdụng ngoại ngữ thành thạo nếu không nói là rất yếu Điều đó có thể giải thíchbởi những lý do như không có điều kiện và cơ hội tiếp xúc và sử dụng nhiềutiếng Anh nhưng cũng có thể do tâm lý ngại học tập, trau dồi kỹ năng và bị chiphối bởi cá công việc khác
Trang 30Tỷ lệ cán bộ, công chức không có trình độ ngoại ngữ cũng là một con sốđáng chú ý, với 90 người (chiếm 28.13%) Có thể coi đây là một hạn chế đối với
Bộ Nội vụ trong quá trình phát triển theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế, khicác mối quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng
Nhận xét: Qua thống kê số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức của Bộ Nội vụ chúng ta có thể nhận thấy rằng: với một lực lượng đông đảođội ngũ cán bộ, công chức là điều kiện tốt để Bộ thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn được giao phó Trình độ năng lực của cán bộ, công chức ngàycàng được củng cố và nâng cao, góp phần tăng cường hiệu quả công việc Songbên cạnh đó, cũng chính vì đông nên công tác sắp xếp bố trí, sử dụng gặp nhiềuvướng mắc Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, yêu cầu của côngcuộc cải cách tổng thể nền hành chính trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thìvới trình độ, năng lực như hiện tại của đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa thểđáp ứng một cách đầy đủ Thực tế đòi hỏi cán bộ, công chức phải thường xuyênđược trau dồi kiến thức, tiếp thu những luồng tri thức mới và biết cách vận dụngnhững kiến thức đó vào công vụ của mình, vừa để tránh lạc hậu trong cách thứclàm việc, vừa mang lại hiệu quả công việc to lớn Đứng trước hiện thực đó, mộttất yếu đặt ra đó là bằng cách nào giúp cán bộ, công chức đạt được những yêucầu trên Trả lời rằng chỉ có thể thông qua đào tạo, bồi dưỡng Bởi đào tạo, bồidưỡng có một vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng như phần xem xét trên Hơnthế nữa, công tác này gắn chặt với bố trí và sử dụng nhân lực, là tiền đề cho bốtrí sử dụng nhân lực có hiệu quả và đúng người, đúng chuyên môn, đúng vị trícông việc
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA BỘ NỘI VỤ
2.3.1 Về xác định nhu cầu đào tạo
Bộ Nội vụ cũng như các cơ quan, đơn vị hành chính khác, trước đây chưaquan tâm đến nhu cầu đào tạo Do đó, các chương trình đào tạo chủ yếu lànhững nội dung lý thuyết rất chung chung và cứng nhắc Điều này làm chongười học cũng như giảng viên phát huy được tính chủ động, sáng tạo của mình
Trang 31trong quá trình đào tạo; ngược lại còn làm họ trở nên bị động và phụ thuộc vàogiáo trình với nội dung đã định trước Nội dung đào tạo, bồi dưỡng là sự áp đặtmột cách cứng nhắc từ trên xuống, không quan tâm đến nhu cầu thực tế đặt ra.Chính vì vậy, những yêu cầu đổi mới của thực tế công việc không được đáp ứng,dẫn đến công tác đào tạo, bồi dưỡng chỉ mang tính hình thức, không theo nhucầu thực tế, không mang lại hiệu quả cao.
Nhưng hiện nay, khi việc xác định nhu cầu đào tạo đã được Bộ Nội vụquan tâm hơn thì công tác đào tạo lúc này không chỉ với mong muốn lấp đầy,khắc phục những hẫng hụt về năng lực công tác của cán bộ, công chức trong Bộ,
mà hơn nữa còn quan tâm đến việc xác định và thỏa mãn nhu cầu phát triển như:phát triển đa kỹ năng, tăng cường năng lực công tác toàn diện và chuẩn bị choviệc đề đạt, bổ nhiệm lên vị trí cao hơn với trách nhiệm nặng nề hơn trong tươnglai của cán bộ, công chức
Việc xác định nhu cầu đào tạo được thực hiện theo các mức độ khác nhaunhư: nhu cầu của toàn bộ cơ quan, nhu cầu của từng đơn vị và nhu cầu của từng
cá nhân cán bộ, công chức Song tại cơ quan Bộ Nội vụ, việc xác định nhu cầulại chủ yếu dựa vào thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức và nhu cầu của tổ chức
mà chưa quan tâm thực sự đến nhu cầu của từng cá nhân cán bộ, công chức Đâycũng là một hạn chế của công tác này Dựa vào việc phân tích các mặt mạnh,mặt yếu, những thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức, nhu cầu đào tạođặt ra đó là phải nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức, trình độ
về quản lý nhà nước và pháp luật Thêm vào đó, trong xu thể hội nhập như hiệnnay, nhu cầu kiến thức về tin học, về Internet và ngoại ngữ đòi hỏi được đáp ứngđầy đủ
Có thể nói mức độ hài lòng với công việc có tác động gián tiếp tới nhucầu đào tạo, bồi dưỡng Một thực tế có thể nhận thấy rõ rằng cán bộ, công chứcchỉ cảm thấy hài lòng, có hứng thú với công việc khi công họ đảm nhận phù hợpvới chuyên môn được đào tạo và điều này sẽ giúp tăng cường hiệu quả hoạtđộng của tổ chức Ngược lại, nếu công việc không phù hợp thì họ sẽ có thái độkhông tích cực khi thực thi công vụ Chính vì thế, yếu tố hài lòng và hứng thú
Trang 32với công việc dó tác động tới nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.Hơn thế nữa, khi làm việc với sự yêu thích, có hiệu quả sẽ xuất hiện tâm lýmuốn thực hiện có hiệu quả hơn nữa công việc hiện tại và vị trí đảm nhận Điềunày có thể làm được thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Hiện tại, theo quy định chung từ ngạch bậc chuyên viên trở lên tối thiểuphải tốt nghiệp đại học, cán sự là bậc trung học và cao đẳng Tuy nhiên, trong cơquan Bộ Nội vụ, để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ chính trị được giao thìnhu cầu về trình độ ngành nghề đào tạo phải ưu tiên tập trung trước nhất và cácngành nghề đào tạo về xã hội học, nhân văn, luật học…Một số nội dung côngtác cần các nghiệp vụ chuyên ngành thì nhu cầu đào tạo theo ngành nghề thíchhợp như kế toán, tài chính, đo đạc bản đồ địa giới hành chính…
Qua việc phân tích thực tế nêu trên có thể kết luận rằng nhu cầu đào tạo,bồi dưỡng của cán bộ, công chức Bộ Nội vụ là khá cao, tập trung vào các kiếnthức về lý luận chính trị, quản lý hành chính, ngoại ngữ và tin học Từ sự tiến bộtrong việc xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Nội
vụ mà công tác này đã sát thực tế hơn, những nội dung kiến thức các cán bộ,công chức thu nhận được trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng ngày càng được ápdụng nhiều hơn trong công việc của họ Điều này đồng nghĩa với chất lượng đàotạo, bồi dưỡng ngày càng có hiệu quả cao hơn và công tác này hoàn thiện hơn.Song cũng cần nhìn nhận một thực tế rằng, công tác này không được tiến hànhthường xuyên mà chỉ được tiến hành một lần và lần đó sẽ làm căn cứ cho nhữnglần sau, nhu cầu của lần sau dựa trên sự “áng chừng” từ lần trước Chính cáchlàm việc này sẽ góp phần không nhỏ vào việc hạn chế hiệu quả của công tác đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ
2.3.2 Về lập kế hoạch đào tạo
Để xây dựng được kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm cho cán bộ,công chức của Bộ, sau khi tiến hành xác định nhu cầu đào tạo và căn cứ nguồnkinh phí hàng năm được cấp, Vụ Tổ chức cán bộ tiến hành xây dựng nội dung kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng năm nêu rõ:
- Số khóa đào tạo, bồi dưỡng dự kiến tổ chức;