1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

các rủi ro và giải pháp cho các nhóm ngành: mô hình ppp, chứng khoán, dệt may, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp ô tô.

38 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 72,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các rủi ro trong 5 nhóm ngành và giải pháp: mô hình ppp, chứng khoán, dệt may, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp ô tô. LỜI MỞ ĐẦU Trong thời kì hội nhập của nền kinh tế thị trường như hiện nay thì Việt Nam đang trong giai đoạn thu hút đầu tư trong cũng như ngoài nước, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO cũng như TPP. Các dự án đầu tư đem lại một nguồn lợi lâu dài cho đất nước, tuy nhiên bất kì một dự án đầu tư nào cũng mang lại rủi ro dù lớn hay nhỏ thì việc quản trị rủi ro và lên kế hoạch quản trị rủi ro cho các dự án đầu tư là công việc hết sức quan trọng bởi những rủi ro thì không lường trước được tác hại cho dự án và thiệt hại về tài chính cho doanh nghiệp. Với những rủi ro mà không được lên kế hoạch quản trị trước thì việc xảy ra rủi ro sẽ gây lãng phí sức người và của, đó là chưa kể đến những thiệt hại không được lường trước. Việc không lên kế hoạch quản trị rủi ro cho dự án đầu tư còn khiến doanh nghiệp không định trước những rủi ro có thể xảy ra, và thứ tự ưu tiên phải quản trị những rủi ro đó. Việc quản trị rủi ro không được coi trọng đúng mức có thể sẽ khiến cho một dự án đầu tư bị phá sản do không xử lý được rủi ro. Thế nhưng ngày nay nhiều doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp trong nước vẫn xem nhẹ công tác quản trị rủi ro trong các dự án đầu tư của mình, đặc biệt là các dự án có vốn đầu tư lớn và quy mô. Bài tiểu luận này em dựa trên tính cấp thiết và sự phổ biến trong công tác quản trị rủi ro của các doanh nghiệp Việt Nam bao gồm các lĩnh vực liên quan như: chứng khoán, đệt may, nuôi trồng thủy sản, ô tô, các dự án PPP... Em xin chân thành cảm ơn cô Phạm Thị Trang đã cung cấp cho em kiến thức cơ bản để hoàn thành bài tiểu luận này. Đà Nẵng, ngày 1 tháng 5 năm 2017  CHƯƠNG 1: NHẬN DẠNG, PHÂN LOẠI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO 1.1. Các dự án đầu tư công (TPP) 1.1.1. Tổng quan về dự án PPP (Public Private Partner) là việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án. Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 19942009 đã có 32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ đô la. Trong đó mô hình BOT và BOO là chủ yếu. Hai lĩnh vực đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất là điện và viễn thông. Từ những năm 1990 đến nay có khoảng 26 dự án thực hiện theo hình thức BOT với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO. Theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2010 tổng số dự án cấp mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới. Nhưng số lượng dự án cấp mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự án, chiếm, tỷ trọng cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư. Theo số liệu của Cục quản lý đấu thầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng số dự án PPP được đề xuất hiện nay là 186 dự án, gồm 165 dự án đề xuất từ UBND tỉnhthành phố, 21 dự án đề xuất từ các bộ ngành. Trong đó lĩnh vực giao thông chiếm 30%, môi trường chiếm 25%, dịch vụ thương mại chiếm 25%, năng lượng, y tế, nông nghiệp chiếm 20% và các lĩnh vực khác chiếm 5%. 1.1.2. Nhận dạng và phân tích các loại rủi ro gặp trong dự án PPP  Rủi ro trong giai đoạn tiền thi công xây dựng Sự chậm trễ trong việc thu hồi đất: Rủi ro khi địa điểm dự án chưa sẵn sàng được cung cấp trong thời gian cần thiết, hay trong chi phí được dự tính. Việc thu hồi đất có thể dẫn đến những khoản nợ không thể dự báo trước do những trở ngại đang tồn tại. Tiếp cận địa điểm dự án: Rủi ro về việc không có sự tiếp cận và kết nối kịp thời đến địa điểm dự án, từ đó có thể ảnh hưởng đến việc khởi công xây dựng và tiến độ phát triển chung của dự án. Rủi ro tài chính: Đây là những rủi ro liên quan đến sự chậm trễ trong việc hoàn thành thu xếp tài chính do không có đủ nguồn tài chính với mức chi phí và điều khoản dự tính.  Rủi ro trong giai đoạn xây dựng Rủi ro thiết kế: Rủi ro mà trong đó thiết kế được đề xuất không có khả năng đáp ứng yêu cầu về hiệu quả hoạt động và dịch vụ của các thông số kỹ thuật đầu ra. Điều này có thể dẫn đến những chi phí phát sinh cho việc sửa đổi và thiết kế lại. Rủi ro phê duyệt: Rủi ro liên quan đến sự chậm trễ trong phê duyệt dự án trong giai đoạn thi công, dẫn đến làm chậm tiến độ xây dựng, khiến chi phí phát sinh vượt mức. Rủi ro xây dựng: Rủi ro mà trong đó việc xây dựng các tài sản được yêu cầu trong dự án sẽ không được hoàn thành đúng thời hạn, theo đúng ngân sách hoặc theo đúng các thông số kỹ thuật. Điều này có thể sẽ dẫn đến chi phí phát sinh vượt mức.  Rủi ro trong giai đoạn vận hành Rủi ro vận hành và bảo trì: Rủi ro gắn liền với nhu cầu gia tăng việc bảo trì, bảo dưỡng tài sản trong thời hạn dự án để đáp ứng yêu cầu về hiệu quả hoạt động. Rủi ro lưu lượng giao thông (rủi ro về doanh thu): Rủi ro mà trong đó lưu lượng giao thông thực tế rất khác với lưu lượng dự tính khiến cho dự án không khả thi về tài chính. Rủi ro bàn giao: Rủi ro mà doanh nghiệp dự án không bàn giao lại tài sản vào thời điểm kết thúc vòng đời của dự án, hoặc không đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về chất lượng hay giá trị có thể thực hiện của tài sản khi bàn giao lại cho Cơ quan thực hiện.  Các rủi ro khác Thay đổi về luật pháp: Rủi ro mà cơ chế pháp lý hoặc quy định hiện tại sẽ thay đổi, dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng cho dự án. Bất khả kháng: Những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ hay doanh nghiệp dự án như lũ lụt, động đất, đình công. 1.1.3. Giải pháp Tạo lập khuôn khổ pháp lý và chính sách thực thi hợp đồng và giải quyết tranh chấp, luật BOTPPP, khung quy định về các khu vực rõ ràng. Để đảm bảo sự thành công cho mô hình PPP nói chung và mô hình PPP trong phát triển cơ sở hạ tầng nói riêng cần hội đủ hai yếu tố cơ bản sau: hợp đồng hiệu quả để tăng giá trị vốn đầu tư và môi trường thuận lợi để quản lý PPP, trong đó một trong những nội dung cơ bản nhất của nhân tố môi trường chính là khung thể chế, pháp lý đầy đủ và ổn định. Điều này sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch cho các mô hình PPP và khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia tích cực hơn. Trong hoàn cảnh Việt Nam đang thiếu hụt nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như hiện nay, nhà đầu tư tư nhân nên tập trung hơn vào mô hình hợp tác công tư trong đó nhà đầu tư tư nhân có tham gia tài trợ dự án như BOT, BOO hơn các mô hình chỉ đóng góp kinh nghiệm, khả năng điều hành quản lý như thiết kếxây dựng hay vận hànhbảo dưỡng. Các nhà đầu tư nước ngoài với tiềm lực mạnh về nguồn vốn có thể làm một mình hay kết hợp hai, ba nhà đầu tư tư nhân tham gia hợp tác công tư. Riêng đối với nhà đầu tư tư nhân trong nước nên kết hợp nhiều công ty theo hình thức cổ phần nhằm khắc phục các hạn chế về quy mô, năng lực tài chính và giảm thiểu rủi ro đầu tư. Do các dự án hạ tầng chịu nhiều tác động của chính sách cũng như hoàn cảnh xã hội nên các điều khoản trong hợp đồng cần linh hoạt, có biên độ điều chỉnh để tránh thiệt hại ho nhà đầu tư cũng như chính quyền. Có sự hỗ trợ chính trị từ tầm cao và quản trị tốt, đảm bảo rằng chính phủ sẽ thực hiện các cam kết của mình dưới hình thức PPP. Hợp đồng ký kết giữa chính quyền và nhà đầu tư cần rõ ràng, minh bạch là điều kiện tiên quyết để chính quyền đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư và là cơ sở cho chính quyền tận dụng hiệu quả nhất tính năng động và cạnh tranh của khu vực tư nhân, góp phần tiết kiệm các chi phí về cơ sở hạ tầng của toàn xã hội.

Trang 1

1.2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán

1.2.2 Nhận dạng và phân tích các loại rủi ro gặp trên thị trường chứng khoán

1.4 Nuôi trồng thủy hải sản

1.4.1 Tổng quan ngành nuôi trồng thủy hải sản

1.4.2 Nhận dạng và phân tích các loại rủi ro gặp trong nuôi trồng thủy hải sản

1.4.3 Giải pháp

1.5 Ngành công nghiệp ô tô

1.5.1 Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô

1.5.2 Nhận dạng phân tích các loại rủi ro trong ngành công nghiệp ô tô

1.5.3 Giải pháp

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆN NAY CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO, VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO

2.1 Dự án PPP

2.1.1 Phân tích thực trạng hiện nay của dự án PPP

Trang 2

2.1.2 Tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro dự án PPP

2.2 Kinh doanh thị trường chứng khoán

2.2.1 Phân tích thực trạng hiện nay của thị trường chứng khoán

2.2.2 Tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro trên thị trường chứng khoán

2.3 Ngành dệt may

2.3.1 Phân tích thực trạng hiện nay của ngành dệt may

2.3.2 Tầm quan trọng trong công tác quản lý rủi ro ngành dệt may2.4 Ngành nuôi trồng thủy hải sản

2.4.1 Phân tích thực trạng hiện nay của ngành nuôi trồng thủy hải sản2.4.2 Tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro trong ngành nuôi trồng thủy hải sản

2.5 Ngành công nghiệp ô tô

2.5.1 Phân tích thực trạng hiện nay của ngành công nghiệp ô tô

2.5.2 Tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro trong ngành công nghiệp ô tô 36

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời kì hội nhập của nền kinh tế thị trường như hiện nay thìViệt Nam đang trong giai đoạn thu hút đầu tư trong cũng như ngoài nước,đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO cũng như TPP Các dự án đầu tưđem lại một nguồn lợi lâu dài cho đất nước, tuy nhiên bất kì một dự ánđầu tư nào cũng mang lại rủi ro dù lớn hay nhỏ thì việc quản trị rủi ro vàlên kế hoạch quản trị rủi ro cho các dự án đầu tư là công việc hết sức quantrọng bởi những rủi ro thì không lường trước được tác hại cho dự án vàthiệt hại về tài chính cho doanh nghiệp Với những rủi ro mà không đượclên kế hoạch quản trị trước thì việc xảy ra rủi ro sẽ gây lãng phí sức người

và của, đó là chưa kể đến những thiệt hại không được lường trước Việckhông lên kế hoạch quản trị rủi ro cho dự án đầu tư còn khiến doanhnghiệp không định trước những rủi ro có thể xảy ra, và thứ tự ưu tiên phảiquản trị những rủi ro đó Việc quản trị rủi ro không được coi trọng đúngmức có thể sẽ khiến cho một dự án đầu tư bị phá sản do không xử lý đượcrủi ro

Thế nhưng ngày nay nhiều doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệptrong nước vẫn xem nhẹ công tác quản trị rủi ro trong các dự án đầu tưcủa mình, đặc biệt là các dự án có vốn đầu tư lớn và quy mô

Bài tiểu luận này em dựa trên tính cấp thiết và sự phổ biến trongcông tác quản trị rủi ro của các doanh nghiệp Việt Nam bao gồm các lĩnhvực liên quan như: chứng khoán, đệt may, nuôi trồng thủy sản, ô tô, các

dự án PPP

Em xin chân thành cảm ơn cô Phạm Thị Trang đã cung cấp cho emkiến thức cơ bản để hoàn thành bài tiểu luận này

Đà Nẵng, ngày 1 tháng 5 năm 2017

Trang 4

CHƯƠNG 1: NHẬN DẠNG, PHÂN LOẠI VÀ ĐỀ XUẤT

GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO 1.1 Các dự án đầu tư công (TPP)

1.1.1 Tổng quan về dự án

PPP (Public - Private Partner) là việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùngphối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụcông trên cơ sở Hợp đồng dự án

Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấpdịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toántheo chất lượng dịch vụ Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu

tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi íchcho cả nhà nước và người dân

Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009

đã có 32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn camkết khoảng 6,7 tỉ đô la Trong đó mô hình BOT và BOO là chủ yếu Hailĩnh vực đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất là điện và viễn thông Từ nhữngnăm 1990 đến nay có khoảng 26 dự án thực hiện theo hình thức BOT vớitổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầuPhú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đangđược thực hiện theo phương thức BOO

Theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư,trong năm 2010 tổng số dự án cấp mới được đầu tư trực tiếp từ nướcngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT, BTO có 6 dự

án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới Nhưng số lượng dự án cấp mớichiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự

án, chiếm, tỷ trọng cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư

Theo số liệu của Cục quản lý đấu thầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng

số dự án PPP được đề xuất hiện nay là 186 dự án, gồm 165 dự án đề xuất

từ UBND tỉnh/thành phố, 21 dự án đề xuất từ các bộ ngành Trong đó lĩnh

Trang 5

chiếm 25%, năng lượng, y tế, nông nghiệp chiếm 20% và các lĩnh vựckhác chiếm 5%.

1.1.2 Nhận dạng và phân tích các loại rủi ro gặp trong dự án PPP

Rủi ro trong giai đoạn tiền thi công xây dựng

- Sự chậm trễ trong việc thu hồi đất: Rủi ro khi địa điểm dự án

chưa sẵn sàng được cung cấp trong thời gian cần thiết, hay trong chi phí được dự tính Việc thu hồi đất có thể dẫn đến những khoản nợ không thể

dự báo trước do những trở ngại đang tồn tại

- Tiếp cận địa điểm dự án: Rủi ro về việc không có sự tiếp cận và

kết nối kịp thời đến địa điểm dự án, từ đó có thể ảnh hưởng đến việc khởicông xây dựng và tiến độ phát triển chung của dự án

- Rủi ro tài chính: Đây là những rủi ro liên quan đến sự chậm trễ

trong việc hoàn thành thu xếp tài chính do không có đủ nguồn tài chínhvới mức chi phí và điều khoản dự tính

Rủi ro trong giai đoạn xây dựng

- Rủi ro thiết kế: Rủi ro mà trong đó thiết kế được đề xuất không

có khả năng đáp ứng yêu cầu về hiệu quả hoạt động và dịch vụ của cácthông số kỹ thuật đầu ra Điều này có thể dẫn đến những chi phí phát sinhcho việc sửa đổi và thiết kế lại

- Rủi ro phê duyệt: Rủi ro liên quan đến sự chậm trễ trong phê

duyệt dự án trong giai đoạn thi công, dẫn đến làm chậm tiến độ xây dựng,khiến chi phí phát sinh vượt mức

- Rủi ro xây dựng: Rủi ro mà trong đó việc xây dựng các tài sản

được yêu cầu trong dự án sẽ không được hoàn thành đúng thời hạn, theođúng ngân sách hoặc theo đúng các thông số kỹ thuật Điều này có thể sẽdẫn đến chi phí phát sinh vượt mức

Rủi ro trong giai đoạn vận hành

Trang 6

- Rủi ro vận hành và bảo trì: Rủi ro gắn liền với nhu cầu gia tăng

việc bảo trì, bảo dưỡng tài sản trong thời hạn dự án để đáp ứng yêu cầu vềhiệu quả hoạt động

- Rủi ro lưu lượng giao thông (rủi ro về doanh thu): Rủi ro mà

trong đó lưu lượng giao thông thực tế rất khác với lưu lượng dự tính khiếncho dự án không khả thi về tài chính

- Rủi ro bàn giao: Rủi ro mà doanh nghiệp dự án không bàn giao

lại tài sản vào thời điểm kết thúc vòng đời của dự án, hoặc không đáp ứngcác yêu cầu tối thiểu về chất lượng hay giá trị có thể thực hiện của tài sảnkhi bàn giao lại cho Cơ quan thực hiện

Các rủi ro khác

- Thay đổi về luật pháp: Rủi ro mà cơ chế pháp lý hoặc quy định

hiện tại sẽ thay đổi, dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng cho dựán

- Bất khả kháng: Những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của

Chính phủ hay doanh nghiệp dự án như lũ lụt, động đất, đình công

1.1.3 Giải pháp

- Tạo lập khuôn khổ pháp lý và chính sách thực thi hợp đồng vàgiải quyết tranh chấp, luật BOT/PPP, khung quy định về các khu vực rõràng Để đảm bảo sự thành công cho mô hình PPP nói chung và mô hìnhPPP trong phát triển cơ sở hạ tầng nói riêng cần hội đủ hai yếu tố cơ bảnsau: "hợp đồng hiệu quả" để tăng giá trị vốn đầu tư và "môi trường thuậnlợi" để quản lý PPP, trong đó một trong những nội dung cơ bản nhất củanhân tố môi trường chính là khung thể chế, pháp lý đầy đủ và ổn định.Điều này sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch cho các

mô hình PPP và khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia tích cựchơn

- Trong hoàn cảnh Việt Nam đang thiếu hụt nguồn vốn đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng như hiện nay, nhà đầu tư tư nhân nên tập trung hơn vào

Trang 7

mô hình hợp tác công tư trong đó nhà đầu tư tư nhân có tham gia tài trợ

dự án như BOT, BOO hơn các mô hình chỉ đóng góp kinh nghiệm, khảnăng điều hành quản lý như thiết kế-xây dựng hay vận hành-bảo dưỡng

- Các nhà đầu tư nước ngoài với tiềm lực mạnh về nguồn vốn cóthể làm một mình hay kết hợp hai, ba nhà đầu tư tư nhân tham gia hợp táccông tư Riêng đối với nhà đầu tư tư nhân trong nước nên kết hợp nhiềucông ty theo hình thức cổ phần nhằm khắc phục các hạn chế về quy mô,năng lực tài chính và giảm thiểu rủi ro đầu tư

- Do các dự án hạ tầng chịu nhiều tác động của chính sách cũngnhư hoàn cảnh xã hội nên các điều khoản trong hợp đồng cần linh hoạt,

có biên độ điều chỉnh để tránh thiệt hại ho nhà đầu tư cũng như chínhquyền

- Có sự hỗ trợ chính trị từ tầm cao và quản trị tốt, đảm bảo rằngchính phủ sẽ thực hiện các cam kết của mình dưới hình thức PPP Hợpđồng ký kết giữa chính quyền và nhà đầu tư cần rõ ràng, minh bạch làđiều kiện tiên quyết để chính quyền đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư và

là cơ sở cho chính quyền tận dụng hiệu quả nhất tính năng động và cạnhtranh của khu vực tư nhân, góp phần tiết kiệm các chi phí về cơ sở hạ tầngcủa toàn xã hội

1.2 Kinh doanh thị trường chứng khoán

1.2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán (securities market) là nơi trao đổi chứngkhoán Thị trường chứng khoán giúp những người thiếu vốn huy độngđược vốn và người có vốn chuyển vốn của mình thành vốn đầu tư vì thếthị trường chứng khoán còn được gọi là thị trường vốn

Theo đối tượng trao đổi thì thị trường chứng khoán có thể phân làm

2 đối tượng cơ bản là thị trường cổ phiếu (stock market) và thị trường tráiphiếu (bond market)

Trang 8

Về mặt không gian thì không có sự phân biệt 2 thị trường này, sởgiao dịch chứng khoán và các công ty chứng khoán đều tổ chức trao đổi

cả cổ phiếu lẫn trái phiếu và các loại chứng khoán khác

Theo tính chất của chứng khoán, thị trường chứng khoán có thểchia làm 2 loại là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Trái phiếu là công cụ nợ mà thực chất việc phát hành của công cụnày là nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả gốclẫn lãi Trái phiếu thường có thời hạn xác định có thể là trung hay dài hạn

Cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đốivới thu nhập ròng và tài sản của công ty cổ phần

Thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ hoạt động được 21 năm

So với các nước khác thì chúng ta còn quá non trẻ, có rất nhiều rủi rođang rình rập, vì thế để tồn tại trên này đòi hỏi các nhà đầu tư khôngnhững xác định đúng thời điểm và mức giá mua bán 1 loại chứng khoán

mà còn phải biết trung hòa rủi ro bằng cách đa dạng hóa thông qua việcxây dựng danh mục chứng khoán có các mức rủi ro khác nhau hoặc chu kìgiao động lệch nhau

1.2.2 Nhận dạng và phân tích các loại rủi ro gặp trên thị trường chứng khoán

Rủi ro thanh khoản

Là rủi ro khi nguy cơ một sản phẩm phái sinh không thể bán tại mức giá trị hợp lý vì không có cầu An toàn thị trường gặp rủi ro nếu các thành viên thị trường liên quan mất khả năng thanh toán do không thể đóng vị thế của các hợp đồng phái sinh Thanh khoản kém thường xảy ra tại các thị trường không có sự quản lý, thiếu tính minh bạch và sản phẩm không chuẩn hóa Như vậy, rủi ro thanh khoản giảm trong mô hình thị trường có tổ chức, trong đó lợi ích của các bên được củng cố

Lừa đảo trên thị trường

Trang 9

Hiện tượng lừa đảo trên các thị trường chứng khoán tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như: làm giả các số liệu tài chính, đánh bóng công ty; chegiấu không cho nhà đầu tư biết các rủi ro hay các tin xấu; rút ruột công ty;trò Ponzi (hút tiền của các nhà đầu tư mới để trả cho các nhà đầu tư cũ và một phần bỏ túi, chứ doanh nghiệp không tạo lợi nhuận thật sự); lũng đoạn giá chứng khoán trên thị trường; giao dịch nội gián; cò mồi kích động các nhà đầu tư mua bán bằng các tin đồn, phân tích giả, v.v Trong tất cả các vụ lừa đảo như vậy, người bị thiệt hại là các nhà đầu tư Một khicác nhà đầu tư đã bị lừa đảo mất tiền thì có rất ít khả năng đòi lại được số tiền bị mất đó.

Năm 2011, thị trường chứng khoán tiếp đà sụt giảm mạnh cả về giácác loại cổ phiếu cũng như số lượng nhà đầu tư Trước tình thế khó khăn,

để thu hút nhà đầu tư, một số công ty chứng khoán đã cố tình vi phạm cácquy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước như “làm giá” một số cổphiếu, ứng khống trước cổ phiếu cho một số nhà đầu tư “ruột”, bảo lãnhkhống cho một số nhà đầu tư vay tiền ngân hàng… Đồng thời, một số nhàđầu tư đã có hành vi tung tin thất thiệt tạo sốt ảo một số cổ phiếu, thaotúng giá cổ phiếu nhằm trục lợi, tiêu biểu là sự kiện Tổng Giám đốc Công

ty Dược Viễn Đông thao túng giá cổ phiếu DHT - Dược Hà Tây, khaikhống, tạo doanh thu ảo cho Công ty Do đó, Công ty đã phải chấm dứthoạt động vào cuối tháng 9/2011 và bị xử lý hình sự Đây là vụ khởi tốhình sự đầu tiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Rủi ro về hoạt động của doanh nghiệp đầu tư

Đây là rủi ro rất phổ biến hiện nay do ảnh hưởng từ của cuộc khủnghoảng kinh tế toàn cầu Nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, thậm chíphá sản Chỉ tính riêng quý 1/2012 đã có hơn 12.000 doanh nghiệp đóngcửa và ngừng hoạt động Do vậy, nếu nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếucủa những doanh nghiệp này thì sẽ đứng trước nguy cơ “mất trắng” Từgiữa năm 2008, thị trường bất động sản Việt Nam “đóng băng”, giao dịchhết sức trầm lắng… Kết quả là, giá cổ phiếu thuộc các nhóm ngành nàycùng bị “vạ lây” - giảm hơn 80% so với đầu năm 2008 Chẳng hạn, cổ

Trang 10

phiếu TDH (Công ty Phát triển Nhà Thủ Đức) đã giảm xuống còn 28.900đồng từ mức 141.000 đồng/cổ phiếu.

Rủi ro về chính sách

Các cơ quan chính phủ có thể ban hành nhiều loại chính sách khácnhau ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà đầu tư, ví dụ như: mức thuế cho lợinhuận từ đầu tư, các quy định về việc được mua bán chứng khoán, quyđịnh về chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, Các chính sách đó có thể khiếncác nhà đầu tư không thể thực hiện được các chiến lược đầu tư đáng lẽ cóthể thực hiện được Đặc biệt là khi chính sách đột ngột thay đổi, nhà đầu

tư có thể bị mắc kẹt, thậm chí trở thành phạm pháp nếu không kịp thờithay đổi theo chính sách Ngày 27/9/2010, Thông tư 19/2010/TTNHNNsửa đổi Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàncủa tổ chức tín dụng được ban hành Thông tư 13 và Thông tư 19 là vănbản pháp lý có ảnh hưởng lớn nhất tới thị trường chứng khoán trong năm

2010 khi được xem là tác nhân gây ra sự lo lắng về khả năng thoái vốn ồ

ạt của các ngân hàng, giảm hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán, bấtđộng sản nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn mới

Rủi ro về thông tin

Vấn đề “thông tin bất cân xứng” là vấn đề nổi cộm trong đầu tưchứng khoán ở Việt Nam Rất khó khăn để biết được tình trạng kinhdoanh thực thật sự của doanh nghiệp, bởi các thông tin trên báo cáo tàichính thường thiếu tin cậy Hơn nữa, một số “tay trong” nắm được thôngtin tốt hơn và sớm hơn, mua bán dựa trên các thông tin đó, còn nhữngngười khác không hề nhận được thông tin, hoặc chỉ nhận được khi đãmuộn Ví dụ, thông tin về việc Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đôthị Khu Công nghiệp Sông Đà (SJS) “sập sàn” do báo Tiền phong điện tửđăng ngày 12/1/2007 thực chất là do SJS chia 3 cổ phiếu thưởng cho 1 cổphiếu hiện tại nên giá cổ phiếu của Công ty giảm tương ứng từ 728.000đồng/cổ phiếu xuống còn 190.000 đồng/cổ phiếu Sự thua thiệt thuộc vềcác nhà đầu tư cá nhân, không có nguồn tin nội bộ, khi muốn mua thì

Trang 11

không thể tìm được nguồn mua do các nhà đầu tư lớn đã thâu tóm toàn

bộ, khi muốn bán thì cũng không thể bán được do thị trường bão hòa

Rủi ro về khả năng quản lý

Việc quản lý danh mục đầu tư nói chung và quản lý rủi ro nói riêngđòi hỏi nhiều công sức, kiến thức, kinh nghiệm, v.v Khi quyết định đầu

tư vào bất kỳ chứng khoán nào, người đầu tư cũng phải thu thập thông tin,phân tích, quyết định đầu tư, theo dõi và xử lý, Một người riêng lẻ cóthể không đủ khả năng để làm tất cả những việc đó một cách hiệu quả, dễdẫn đến nhiều sai lầm gây thiệt hại, đồng thời bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tưtốt

Rủi ro về ước lượng sai giá trị

Việc ước lượng giá trị thực của cổ phiếu không đơn giản Nhữngngười khác nhau có thể đưa ra các ước lượng chênh nhau đến vài lần,trong đó có những người quá lạc quan và những người quá bi quan Nếulạc quan quá, ước lượng giá trị cao quá so với giá trị thực, thì cóthể dễdấn đến mua cổ phiếu đắt hơn so với giá trị thực, và nếu sau đó giá cổphiếu giảm về giá trị thực thì thua lỗ Vào khoảng thời gian tháng 3-4/2011, thị trường chứng khoán nằm trong bối cảnh chịu đựng nhiềuthông tin xấu về kinh tế vĩ mô như chỉ số lạm phát và giá một số mặt hàngthiết yếu tăng liên tục Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp niêmyết cũng trở nên khó khăn Có đến 1/3 số công ty chứng khoán báo lỗ.Trong khi đó, nhiều phiên giao dịch nối tiếp nhau với thanh khoản lênxuống thất thường vẫn không phát ra một tín hiệu rõ ràng nào về xuhướng thị trường Hiển nhiên, đây là giai đoạn mua vào mang tính đánhcược rất cao và quá rủi ro đối với nhà đầu tư Hệ quả của sự rủi ro đó đãđến vào tuần đầu tháng 5/2011, khi cả hai sàn chứng khoán đồng loạt laodốc mạnh, tạo nên hiệu ứng “tuần lễ kinh hoàng” Niềm tin đánh cược vớithị trường đã bị đổ vỡ hoàn toàn

Rủi ro về tâm lý

Trang 12

Nhà đầu tư Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn của “tâm lý bầyđàn.” Nhà đầu tư có thể rất dễ bị kích động theo xu hướng chung của thịtrường, mua lúc đáng lẽ không nên mua, bán lúc đáng lẽ không nên bán,mua bán quá nhiều, v.v Khi thị trường chứng khoán trong trạng tháimania (giá bị thổi phồng lên rất cao), là lúc có rủi ro cao, thì các nhà đầu

tư lại tranh nhau mua vào theo tâm lý bầy đàn, để rồi sau đó thua lỗ thảmhại khi thị trường đi xuống Ngược lại, khi thị trường ở mức thấp, rất rẻ sovới giá trị thực, là cơ hội hấp dẫn, thì nhà đầu tư lại sợ không dám muavào Tâm lý này không chỉ ảnh hưởng tới các nhà đầu tư nhỏ lẻ, mà cònảnh hưởng đến các quỹ đầu tư và doanh nghiệp lớn

1.2.3 Giải pháp

- Tránh xa các cổ phiếu nhỏ, ít thông tin, ít người quan tâm, trừ khitiếp cận được với các giám đốc điều hành đáng tin cậy của các công ty đó,bởi cổ phiếu càng nhỏ và càng ít thông tin thì càng dễ bị lừa đảo và lũngđoạn

- Khi cổ phiếu đang giữ là của doanh nghiệp có dấu hiệu lừa đảo,nhà đầu tư nên loại nó khỏi danh mục đầu tư, kiểm tra lại cẩn thận trướckhi quyết định có nên đầu tư vào loại cổ phiếu đó không

- Xây dựng khả năng tự phân tích và thu thập thông tin, tự xác địnhđược giá trị của các cổ phiếu, để tránh bị các cò mồi kích động

- Đa dạng hóa cổ phiếu, để nếu cổ phiếu này bị rủi ro về doanhnghiệp thì có cổ phiếu khác bù lại

- Chọn lựa cổ phiếu của các doanh nghiệp đang mạnh và tương đối

ít rủi ro, loại khỏi danh mục đầu tư các doanh nghiệp có nhiều nguy cơsuy yếu hay phá sản (ví dụ như nợ quá nhiều mà tỷ lệ lợi nhuận kém,công nghệ lỗi thời, v.v )

- Có tầm nhìn đầu tư dài hạn, để có thể chấp nhận lỗ tạm thời khicác biến động bất lợi về giá trong ngắn hạn xảy ra, miễn sao kỳ vọng lợinhuận về dài hạn là tốt

Trang 13

- Không tham lam dùng đòn bẩy cao bởi dễ gặp phải rủi ro bất lợikhi có biến động ngắn hạn Ngược lại, cần có tiền mặt dự trữ (hay nguồnthu nhập đều đặn có thể dùng để đầu tư thêm), để mỗi khi giá của cổphiếu tốt đi xuống trong ngắn hạn thì là có cơ hội mua vào.

- Có thể kết hợp sử dụng các chứng khoán phái sinh để giảm bớt độbiến động của danh mục đầu tư, tăng độ ổn định ngắn hạn

- Đa dạng hóa các chứng khoán để góp phần giảm rủi ro biến độnggiá thị trường

- Dành công sức, thời gian và tiền chi phí một cách thích đáng choviệc thu thập thông tin

- Nhà đầu tư cần có những người đáng tin cậy giúp đỡ trong quản

lý đầu tư

- Nếu không tự tin trong quyết định đầu tư của mình thì tốt nhất nhàđầu tư nên ủy thác cho một tổ chức đầu tư có uy tín

- Trau dồi thêm kiến thức về tài chính và đầu tư

- Cần tích lũy kinh nghiệm phân tích, hoặc dựa trên sự tham mưucủa những người có chuyên môn trong việc này

- Phân tích cần dựa trên các mô hình hợp lý và các nguồn tin đángtin cậy

- Đối với các cổ phiếu là “ứng cử viên” mới cho danh mục đầu tư,cần có đủ thời gian phân tích (ít nhất một tháng), để có thể hiểu rõ vềcông ty và giá trị của chúng trước khi đầu tư

- Xây dựng trước các tình huống có thể xảy ra và tính trước cách xử

lý tình huống để tránh hoang mang, thụ động

- Kỷ luật trong đầu tư: có chiến lược và quy trình rõ ràng, tuân thủtheo nó, không đầu tư theo cảm tính

- Có kiểm soát: cần có người kiểm soát (nếu một mình đầu tư thìkhông có ai kiểm soát, dễ đầu tư sai lầm)

Trang 14

1.3 Ngành dệt may

1.3.1 Tổng quan ngành dệt may

Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam đã có nhữngbước phát triển đáng kể với tốc độ trên dưới 20%/năm, kim ngạch xuấtkhẩu chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu cả nước Giá trị sản xuất côngnghiệp của ngành dệt may trong năm 2007 tăng 17,9% so với năm 2006.Các sản phẩm chủ yếu đều tăng như sợi toàn bộ tăng 11%; vải lụa thànhphẩm tăng 8,9%; sản phẩm quần áo dệt kim tăng 8,8%; quần áo may sẵntăng 12,6% Sự phát triển ấn tượng của ngành may mặc đã góp phần đưaViệt Nam trở thành một trong chín nước xuất khẩu hàng may mặc lớnnhất trong số 153 nước xuất khẩu hàng dệt may trên toàn thế giới Dệtmay đang vươn lên và tham gia vào những mặt hàng xuất khẩu có kimngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD của Việt Nam, bên cạnh những mặt hàngkhác như dầu thô, giày dép, thuỷ sản v.v Năm 2007, kim ngạch xuất khẩudệt may của Việt Nam đạt 7, 8 tỷ USD, tăng 33,4% so với năm 2006 vàbằng khoảng 16% giá trị xuất khẩu hàng hoá năm 2007 Hơn nữa, trongnăm 2007, dệt may đã vượt qua dầu thô và trở thành mặt hàng mang lạikim ngạch xuất khẩu lớn nhất

Kể từ sau Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ và đặc biệt khiViệt Nam trở thành viên chính thức của WTO, thị trường và thị phần xuấtkhẩu hàng may mặc của Việt Nam ngày càng phát triển Trong đó, thịtrường Mỹ đứng đầu với kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 4, 5 tỷ USD(chiếm khoảng 57,7% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2007); tiếptheo là EU với 1, 5 tỷ USD (chiếm khoảng 19,2%) và Nhật Bản Ngoài racòn các thị trường khác như: Đài Loan, Canada, Hàn Quốc v.v Đặc biệtsau khi Mỹ đã xúa bỏ hạn ngạch cho hàng may mặc của Việt Nam vàođầu năm 2007 thì hàng may mặc của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ đã tăngmạnh, tăng 46,7% so với năm 2006, lớn hơn nhiều so với hàng TrungQuốc (chỉ tăng 23% so với năm 2006 khi xuất sang thị trường Mỹ)

Trang 15

1.3.2 Nhận dạng và phân tích các loại rủi ro gặp phải trong ngành dệt may

Rủi ro về chính trị, pháp lý

Đây là loại rủi ro mà các nhà kinh doanh mà đặc biệt là các doanhnghiệp kinh doanh xuất khẩu lo ngại nhất Bởi vì trước khi xây dựngchiến lược kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp hay quyết định ký 1hợp đồng xuất khẩu doanh nghiệp phải dựa vào tình hình kinh tế - xã hội,dựa trên các quyết định về thuế, luật lệ Một biến động mạnh về chínhtrị, pháp lý xảy ra có thể làm đảo lộn mọi dự đoán của doanh nghiệp vàdoanh nghiệp có thể bị thất bại

Trong hoạt động xuất khẩu, rủi ro chính trị, pháp lý mà các doanhnghiệp khó lường trước được là tình hình quan hệ ngoại giao giữa 2 nướcbỗng nhiên căng thẳng, hay việc ban hành các văn bản cấm nhập hay xuấtkhẩu 1 mặt hàng nào đó, nước này tẩy chay hàng hóa của nước kia Hoặcdoanh nghiệp đã gởi hàng đi và lập 1 bộ chứng từ hợp lệ nhưng vẫn gặprủi ro trong thanh toán khi chiến tranh hoặc xung đột xảy ra ở nước nhậpkhẩu Hơn nữa doanh nghiệp xuất khẩu có thể gặp rủi ro do phong tỏa,cấm vận hoặc trả đũa thương mại đối với mặt hàng mà doanh nghiệp xuấtkhẩu Cụ thể tài khoản của doanh nghiệp có thể bị phong tỏa ở ngân hàngnước ngoài hoặc doanh nghiệp đã chuẩn bị hàng xuất nhưng không thểxuất được vì biện pháp trả đũa của nước nhập khẩu đối với nước xuấtkhẩu Rõ ràng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu, tình hình kinh tế -chính trị trong và ngoài nước là mối quan tâm hàng đầu của các doanhnghiệp xuất khẩu vì nó quyết định lợi nhuận xuất khẩu và sự thành cônghay thất bại của doanh nghiệp

Rủi ro về lạm phát

Lạm phát là sự tăng giá bình quân của hàng hóa, các doanh nghiệpluôn gặp các rủi ro do các biến động kinh tế Trong kinh doanh xuất khẩu,thời gian kể từ khi tính toán hiệu quả của thương vụ xuất khẩu đến khinhận tiền thanh toán của khách hàng nước ngoài tương đối dài từ 30 chođến 45 ngày, do vậy xác suất xảy ra lạm phát là không hề nhỏ

Trang 16

Rủi ro hối đói

Rủi ro hối đói là sự không chắc chắn về 1 khoảng thu nhập hay chitrả do biến động tỉ giá gây ra Có thể làm tổn thất đến giá trị dự kiến củahợp đồng Trong hoạt động xuất khẩu, rủi ro xuất khẩu xảy ra khi ngoại tệ

mà doanh nghiệp xuất khẩu nhận được trong tương lai gần giảm so vớiđồng nội tệ Nghĩa là tiền thu về được quy đổi ra đồng nội tệ giảm so với

dự kiến Như vậy sự biến động về tỉ giá làm cho các hợp đồng trở nênkhông chắc chắn, doanh nghiệp xuất khẩu cần có các biện pháp nghiệp vụtrên các thị trường tiền tệ để hạn chế các rủi ro do biến động tỉ giá gâynên

Rủi ro do chính sách ngoại thương thay đổi

Chính sách ngoại thương là hệ thống các nguyên tắc, biện phápkinh tế, hành chính, pháp luật nhằm điều tiết các hoạt động mua bán quốc

tế của một nhà nước trong một giai đoạn nhất định

Hầu hết các chính sách ngoại thương của các nước thay đổi theocác giai đoạn tùy theo mục đích, định hướng của nhà nước đó Sự thay đổithường xuyên của các chính sách này là một đe dọa lớn cho các doanhnghiệp xuất khẩu vì các doanh nghiệp này không chỉ chịu rủi ro do sựthay đổi của các chính sách ngoại thương trong nước mà còn phải chịu rủi

ro của nước có hàng nhập khẩu

Trong rủi ro do sự thay đổi các chính sách ngoại thương doanhnghiệp xuất khẩu có thể gặp nhiều rủi ro khác nhau nhưng cơ bản vẫn làrủi ro về quy định hạn ngạch, thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu, vàcác quy định hành chính khác

Rủi ro do biến động giá

Bao gồn rủi ro biến động giá cả các yếu tố đầu vào và biến động giáxuất khẩu trên thị trường trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩucủa doanh nghiệp đặt biệt đối với các hành động xuất khẩu có thời giandài

Trang 17

Biến động giá cả các yếu tố đầu vào gồm biến động giá cả nguyênvật liệu, chi phí lưu thông Thêm vào đó các doanh nghiệp xuất khẩuphải gặp rủi ro do giá xuất khẩu giảm.

Rủi ro thiếu vốn

Để nâng cao khả năng cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp khôngngừng cải tiến chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụ Song do thiếu vốn,doanh nghiệp không đủ khả năng đổi mới công nghệ, mở rộng quy môsản xuất tối ưu Từ đó không đủ sức cạnh tranh với đối thủ dẫn tới việcmất thị phần Ngoài ra trong hoạt động xuất khẩu, rủi ro thiếu vốn cònlàm cho quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu không được đảm bảo dẫntới giao hàng chậm

Rủi ro do thiếu thông tin

Việc thiếu thông tin sẽ đem lại những hậu quả không lường trướcđược đối với doanh nghiệp Doanh nghiệp phải tiến hành những hoạtđộng xuất khẩu với các “công ty ma” đến khi không được thanh toán tiềnhàng mới biết mình bị lừa Hơn nữa việc không nắm bắt được thông tinnhững biến động về giá cả, nhiều doanh nghiệp đã kí hợp đồng với giáthấp đến khi giá trên thị trường thế giới tăng vọt làm cho giá của thịtrường trong nước cũng tăng theo khiến doanh nghiệp bị lỗ

Rủi ro do năng lực quản lý kém

Đây là rủi ro được xem như là không có phương thuốc chữa hiệu quả

1 nhà quản lý có năng lực quản lý kém sẽ liên tục gặp những rủi ro khácnhau Từ những quyết định sai lầm, vội vã, không tính toán kĩ sẽ làm chodoanh nghiệp gặp phải rủi ro, thiệt hại về tài sản hay mất uy tín của kháchhàng

Rủi ro thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Có thể nói hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn thiếunhân viên có nghiệp vụ ngoại thương đặc biệt là các doanh nghiệp vừa vànhỏ sự thiếu hiểu biết về luật pháp và tập quán kinh doanh quốc tế mà

Trang 18

biểu hiện là sự vi phạm hợp đồng, nhầm chất lượng, thiếu số lượng Mộtkhi trình độ nghiệp vụ của nhân viên ngoại thương còn yếu kém họ dễdàng bị mắc lừa và hậu quả là rủi ro phát sinh thường xuyên và liên tiếpxảy ra.

1.3.3 Giải pháp

- Nâng cao năng suất không chỉ từ rút gọn quy trình và tối ưu hóa sản

xuất mà còn bao gồm thay thế những thiết bị có độ tự động kém, sử dụngnhiều lao động bằng thiết bị có độ tự động cao nhằm giảm chi phí laođộng

- Tuyển dụng, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực để có thể từng bướchiện đại hóa các khâu đã lựa chọn

- Tăng cường công tác quản trị trong việc xác định các thông tin vềkhách hàng, ngân hàng, chú trọng công tác soạn thảo ký kết hợp đồngxuất khẩu, tập trung vào một số thị trường quen thuộc…Nhằm giảm nguy

cơ rủi ro

Lập quỹ dự phòng tài chính để bù đắp thiệt hại, tránh cho doanhnghiệp bị rơi vào nguy cơ bị phá sản Quỹ dự phòng tài chính lập ra nhằmbảo toàn vốn kinh doanh, trả lương cho nhân viên, bù đắp khi xảy ra rủi

ro, tổn thất và đáp ứng nhu cầu cần thiết.Như vậy việc rủi ro xảy ra khôngthể tránh khỏ thì doanh nhiệp phải chấp nhận nó và nhanh chóng hạn chếtác hại của rủi ro đã xảy Việc lập quỹ dự phòng tạo điều kiện cho doanhnghiệp nhanh chóng khắc phục hậu quả, huy động nguồn lực bên tronghay thuê bên ngoài để khắc phục hậu quả

- Chuyển giao, phân tán rủi ro: Là việc doanh nghiệp ràng buộctrách nhiệm của hàng hóa đối với người mua, người vận chuyển hay trunggian xuất nhập khẩu, vì vậy khi rủi ro xảy ra thì các đối tác sẽ phải chịumột phần thiệt hại với doanh nghiệp mình Điều này thể hiện trên tinhthần trách nhiệm, các quy tắc, cam kết giữa các bên trước đó, là cơ sở đểtiến hành san sẻ rủi ro

Trang 19

- Tham gia bảo hiểm: Bảo hiểm là một sách lược để giảm tínhkhông chắc chắn của người tham gia bảo hiểm về việc có hay không xảy

ra rủi ro trong công tác xuất khẩu hàng hóa, thông qua việc san sẻ nhữngrủi ro tới một bên khác là bên nhận bảo hiểm Nếu xảy ra rủi ro thì công

ty bảo hiểm sẽ đền bù theo giá trị kí kết hợp đồng trước đó Việc bảo hiểmcũng tùy theo loại hình dịch vụ, hàng hóa, đơn vị bảo hiểm và chọn điềukiện bảo hiểm mà mức lệ phí bảo hiểm cũng như mức công ty bảo hiểm

sẽ trả khi rủi ro xảy ra là khác nhau

1.4 Nuôi trồng thủy hải sản

1.4.1 Tổng quan ngành nuôi trồng thủy hải sản

Thủy hải sản là thuật ngữ dùng để chỉ về những nguồn lợi, sản vậtđem lại cho con người từ môi trường nước (nước mặn, nước ngọt, nướclợ) Hải sản bao gồm các loại cá biển, động vật thân mềm (bạch tuộc,mực, tôm, nghêu, sò, ốc, hến, hàu ), động vật giáp xác (tôm, cua và tômhùm), động vật da gai (nhím biển) Ngoài ra, các thực vật biển ăn được,chẳng hạn như một số loài rong biển và vi tảo Còn thủy sản bao gồm cácnhóm: nhóm cá (cá tra, cá bống tượng, cá chình,…); nhóm giáp xác (tômcàng xanh, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất); nhóm động vật thân mềm (nghêu,

sò huyết, hàu, ốc hương, ); nhóm rong; nhóm bò sát và lưỡng cư (cásấu, ếch, rắn…)

Ngày nay, đất để nuôi trồng thủy hải sản là đất có mặt nước nội địa,bao gồm ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước venbiển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụngcho kinh tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, chothuê để nuôi trồng thủy hải sản

Nghề nuôi trồng thủy sản rất đa dạng tùy thuộc theo từng chuyênngành trong đó, có hơn bốn loại lĩnh vực chính, tương ứng với các sảnphẩm khác nhau : nhóm động vật thân mềm, nhóm tảo, nhóm giáp xác(tôm, cua) và các loại cá Người nuôi trồng thủy sản đánh bắt con giốngtrong môi trường tự nhiên, hoặc mua chúng trong những trang trại nuôitrồng thủy sản/ cơ sở sản xuất giống Tiếp đến, họ theo dõi sự phát triển

Ngày đăng: 05/07/2017, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w