Có thể nói rằng sữa có một thị trường vô cùng rộng lớn cả trên phương diện là thức uống cần thiết của con người và ở một số nước có dân số đông, với cấu trúc dân số trẻ thì lượng sữa tiêu thụ trung bình trên đầu người càng cao. Do đó Việt Nam là một thị trường sữa đầy tìm năng. Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới, các rào cản bảo hộ cho ngành sản xuất trong nươc nói chung và sữa nói riêng dần được tháo bỏ, thị trường sữa Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự tham gia của các nhà sản xuất trong nước và nhiều nhất là nhà sản xuất của nước ngoài. Cũng như các ngành khác, ngành sữa là một chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng từ khâu sản xuất nguyên liệu từ sữa bò đến khâu chế biến và đưa tới tay người tiêu dùng. Có thể nói thị trường sữa Việt Nam hiện nay biến động không ngừng, cạnh tranh sữa nội và sữa ngoại, giá sữa leo thang hay thói quen sử dụng sữa của người tiêu dùng về sữa Việt… đặc biệt là ngành sữa cho trẻ em. Vì tất cả các lý do đó mà em chọn đề tài “ Lập kế hoạch truyền thông cho ngành sữa Việt Nam năm 2018”.
Trang 1em Vì tất cả các lý do đó mà em chọn đề tài “ Lập kế hoạch truyền thông cho ngành
sữa Việt Nam năm 2018”.
Đề tài gồm có 2 phần:
Chương 1: Tổng quan về nghành sữa Việt Nam
Chương 2: Lập kế hoạch truyền thông cho ngành sữa Việt Nam
Do điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế nên đề tài khó tránh khỏinhững thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý từ quý thấy cô và các bạn để đề tàiđược hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và hướng dẫn nhiệt tình
của cô Lê Thị Hải Vân – giảng viên bộ môn Lập kế hoạch truyền thông đại chúng đã
giúp em hoàn thành tôt đồ án này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHÀNH SỮA VIỆT NAM 1
1.1 Tổng quan về Ngành sữa Việt Nam hiện nay 1
1.2 Quá trình phát triển 2
1.2.1 Giai đoạn 1920 - 1923 3
1.2.2 Giai đoạn 1937 - 1942 3
1.2.3 Giai đoạn 1954 - 1960 3
1.2.4 Giai đoạn Những năm 1970 4
1.2.5 Giai đoạn 1985 - 1987 4
1.2.6 Giai đoạn 1986 - 1999 5
1.2.7 Giai đoạn 2001 đến nay 5
1.3 Phân tích bối cảnh 7
1.3.1 Thị trường sữa Việt Nam 7
1.3.2 Tình hình giá sữa tại Việt Nam 7
1.4 Phân tích ma trận SWOT 9
1.4.1 Điểm mạnh 9
1.4.2 Điểm yếu 9
1.4.3 Cơ hội 9
1.4.4 Thách thức 10
1.5 Mốc thời gian 10
1.6 Xác định công chúng 10
1.6.1 Công chúng mục tiêu 10
1.6.2 Đối tượng công chúng liên quan 11
1.6.2.1 Đơn vị chỉ đạo, giám sát 11
1.6.2.2 Đơn vị tổ chức 11
1.6.2.3 Đơn vị bảo trợ truyền thông 11
1.6.2.4 Đơn vị tài trợ 12
CHƯƠNG II KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG CHO NGÀNH SỮA VIỆT NAM 13
2.1 Xác định mục tiêu 13
Trang 32.2 Công chúng mục tiêu 13
2.3 Xác định thông điệp 14
2.4 Xây dựng chiến lược 14
2.5 Xây dựng chiến thuật 15
2.5.1 Giai đoạn 1: Đưa tin lên truyền hình và đăng bài trên báo, tạp chí, internet 15
2.5.1.1 Truyền thông trên truyền hình 15
2.5.1.2 Truyền thông trên Internet 16
2.5.1.3 Nội dung của bài viết đăng trên Internet 20
2.5.1.4 Truyền thông trên báo từ ngày 01/03- 30/06/2018 22
2.5.1.5 Ngân sách 25
2.5.2 Giai đoạn 2: Tổ chức Hội thảo “Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam” được tổ chức ngày 29/06/2018 26
2.5.2.1 Mục tiêu: 26
2.5.2.2 Nội dung cuộc hội thảo 27
2.5.2.3 Truyền thông 28
2.5.2.4 Lịch trình thực hiện hội thảo “Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam” 29
2.5.2.5 Chuẩn bị cho hội thảo 30
2.5.2.6 Ngân sách cho hội thảo 32
2.5.3 Giai đoạn 3: 33
2.5.3.1 Mục đích: 33
2.5.3.2 Nội dung và chi phí lập website 33
2.6 Dự phòng rủi ro 35
2.6.1 Đăng bào trên báo, tạp chí, internet 35
2.6.2 Cho hội thảo: 35
2.7 Tổng ngân sách: 36
2.8 Đánh giá 36
KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Ngân sách phát bảng tin trên VTV1, VTV3 16
Bảng 2.2 Tần xuất đăng bài trên báo, tạp chí 24
Bảng 2.3 Ngân sách đăng bài trên báo và website 25
Bảng 2.4 Nội dung cuộc hội thảo 27
Bảng 2.5 Phân bổ thời gian chuẩn bị cho hội thảo 29
Bảng 2.6 Ngân sách cho hội thảo 32
Bảng 2.7 Ngân sách thiết kế Website 33
Bảng2.8: Tổng ngân sách của kế hoạch truyền thông 36
Trang 5DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Thị trường sữa Việt Nam 7
Hình 2.1 Logo ngành sữa Việt Nam 14
Hình 2.2 Đăng bài trên trang báo dantri.com.vn 17
Hình 2.3 Đăng bài trên trang báo vnexpress.net 18
Hình 2.4 Đăng bài trên trang báo Dinhduong.com.vn 18
Hình 2.5 Fanpage Facebook ngành sữa Việt Nam 19
Hình 2.6 Đăng video “ qui trình sản xuất của ngành sữa Việt nam” trên youtube.com 19
Hình 2.7 Backrop cho chương trình hội thảo 30
Hình 2.8.Khán phòng nơi diễn ra hội thảo 31
Hình 2.9 Phướn cho hội thảo 31
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHÀNH SỮA VIỆT NAM1.1 Tổng quan về Ngành sữa Việt Nam hiện nay
Trong những năm trở lại đây, sữa là một trong những ngành đạt tốc độ tăngtrưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm ở Việt Nam, với mức tăng trưởng doanh thutrung bình trong giai đoạn 2005-2009 đạt 18%/ năm (EMI 2009) Với một đất nướcđang phát triển, có tốc độ đô thị hóa và tăng dân số cao như ở Việt Nam, nhu cầu tiêuthụ sữa sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới
Nằm trong xu thế chung của các nước đang phát triển trên thế giới, nhu cầu vềcác sản phẩm sữa ở Việt Nam như một nguồn bổ sung dinh dưỡng thiết yếu ngày càngtăng lên Có thể thấy qua sự gia tăng doanh số từ sữa của các hãng sản xuất tại ViệtNam, với tổng doanh thu các mặt hàng sữa tăng ổn định qua các năm Điều này chothấy rằng khủng hoảng kinh tế trong 2 năm này không ảnh hưởng nhiều đến tiêu thụsữa tại Việt Nam Hiện nay, tiêu dùng các sản phẩm sữa tập trung ở các thành phố lớn,với 10% dân số cả nước tại Hà Nội và HCM tiêu thụ 78% các sản phẩm sữa Bìnhquân mức tiêu thụ hàng năm hiện đạt 9 lít/người/năm, vẫn còn thấp so với các nướctrong khu vực như Thái Lan (23 lít/ người/ năm) hay Trung Quốc (25 lít/ người/ năm);
do đó, theo xu hướng của các nước này, mức tiêu thụ tại Việt Nam sẽ tăng lên cùngvới GDP Cùng với nhu cầu về các sản phẩm sữa ngày càng tăng lên tại Việt Nam, thịtrường sữa hiện có sự tham gia của nhiều hãng sữa, cả trong nước và nước ngoài, vớinhiều sản phẩm phong phú.Các sản phẩm sữa ở Việt Nam: Bao gồm các loai: Sữa bộtcông thức, sữa uống, sữa khác (sữa chua, sữa đặc ), sữa nước, sữa đậu nành Cạnhtranh trong một ngành sữa diễn ra mạnh nhất ở mảng sữa bột (bao gồm cả sữa bộtcông thức và các loại sữa bột khác) Mảng sữa bột, đặc biệt là các loại sữa bột thuộcphân khúc cao cấp sẽ là đối tượng cạnh tranh của các hãng, do lợi nhuận của nhà sảnxuất/ giá bán lẻ ở mức rất cao, đạt 40%; và đây cũng là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớnnhất trong tổng doanh thu các mặt hàng sữa Còn lại các sản phẩm sữa khác như sữauống, sữa chua ăn, sữa nước… chủ yếu là cuộc cạnh tranh của các hãng sữa trongnước
Diễn biến giá sản phẩm sữa: Giá sữa tăng 10-15% trong năm 2009 và là độnglực chính cho tăng trưởng doanh thu bán sữa Trong năm 2010, các hãng sữa đã tănggiá nhiều mặt hàng sữa từ 7%-10% Theo khảo sát của Ban Bảo vệ người tiêu dùng,
Trang 7giá sữa bột nguyên hộp nhập khẩu ở Việt Nam cao hơn từ 20% - 40% so với giá sữacùng loại ở các nước trong cùng khu vực Nguyên nhân:
- Do đồng tiền Việt Nam mất giá so với USD và các đồng tiền ở Châu Âu,khiến giá đầu vào và thành phẩm nhập khẩu tăng Bên cạnh đó, giá sữa nguyên liệuthế giới đã tăng trở lại từ nửa cuối năm 2009 cũng đã góp phần đẩy chi phí sản xuấtlên cao (70% nguyên vật liệu sản xuất sữa của Việt Nam là nhập từ nước ngoài)
- Chi phí quảng cáo tăng cao, các nhà sản xuất đầu tư rất nhiều vào quảng cáo
và khuyến mãi, đặc biệt là các loại sữa bột công thức trẻ em
- Giá đường tăng cao (chỉ riêng năm 2009 tăng 99% so với năm 2008)
- Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng các nhà sản xuất tăng giá như một chiến lượcmarketing; vì nhiều người tiêu dùng cho rằng giá cao hơn nghĩa là chất lượng cao hơn,giá tăng có thể tăng doanh thu, ít nhất trong ngắn hạn
Sữa nằm trong các mặt hàng bị kiểm soát giá: Sữa nằm trong danh sách các mặthàng bình ổn giá Nhưng thông tư 104 hiện tại còn nhiều sơ hở, để các doanh nghiệp
có thể lách được và tiếp tục tăng giá sữa…Ví dụ như mỗi đợt tăng giá sữa phải hơn20% mới bị coi là vi phạm thông tư này, trong khi các hãng sữa chia nhỏ các đợt tănggiá, mỗi đợt đều dưới 20% Ngoài ra, thông tư này không áp dụng với các hãng sữanước ngoài Vì thế, sắp có thông tư mới thay thế, tuy nhiên việc áp dụng rất khó khăn
do vấn đề bóc tách chi phí để tính giá
1.2 Quá trình phát triển
Việt Nam vốn không có ngành chăn nuôi trâu bò sữa truyền thống nên không
có các giống trâu bò sữa chuyên dụng đặc thù nào Chăn nuôi bò sữa xuất hiện ở ViệtNam từ những năm đầu của thế kỷ XX Trải qua những năm tháng khó khăn của đấtnước, ngành chăn nuôi bò sữa đã đóng góp đáng kể trong việc đảm bảo nhu cầulương thực thực phẩm cho sự phát triển của đất nước Tuy nhiên ngành chăn nuôi bòsữa mới chỉ thực sự trở thành ngành sản xuất hàng hóa từ những năm 1990 trở lạiđây
Dưới đây là những mốc lịch sử đáng nhớ của ngành chăn nuôi bò sữa ViệtNam:
Trang 81.2.1 Giai đoạn 1920 - 1923
Người Pháp đã đưa các giống bò chịu nóng như bò Red Sindhi (thường gọi là
bò Sin) và bò Ongle (thường gọi là bò Bô) vào Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và Hà Nội đểnuôi thử và lấy sữa phục vụ người Pháp ở Việt Nam Tuy nhiên số lượng bò sữa thời
đó còn ít (khoảng 300 con) và năng xuất sữa thấp (2-3 kg/con/ngày)
1.2.2 Giai đoạn 1937 - 1942
Ở miền Nam đã hình thành một số trại chăn nuôi bò sữa ở Sài Gòn-Chợ Lớn,mỗi ngày sản xuất được hàng nghìn lít sữa và tổng sản lượng sữa đạt trên 360tấn/năm Có 6 giống bò sữa đã được nhập vào miền Nam là Jersey, Ongole, RedSindhi, Tharpara, Sahiwal và Haryana Cũng ở miền Nam trong giai đoạn này, Chínhphủ Australia đã giúp đỡ xây dựng Trung tâm bò sữa thuần Jersey tại Bến Cát với sốlượng 80 bò cái, nhưng do điều kiện chiến tranh Trung tâm này sau đó đã giải thể Bòlai hướng sữa và bò sữa nhiệt đới về sau được nuôi tại Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đứctại những trại bò sữa do tư nhân quản lý với qui mô nhỏ từ 10-20 con, sản xuất sữatươi cung cấp cho các nhà hàng và trực tiếp cho người tiêu dùng là chính
1.2.3 Giai đoạn 1954 - 1960
Ở miền Bắc, Nhà nước bắt đầu quan tâm đến phát triển chăn nuôi, trong đó có
bò sữa Các Nông trường quốc doanh được xây dựng như Ba Vì (Hà Tây), Mộc Châu(Sơn La), Than Uyên (Nghĩa Lộ), Tam Đường (Lào Cai), Hữu Nghị (Quảng Ninh),
Hà Trung (Thanh Hoá) cùng với các trạm trại nghiên cứu về giống và kỹ thuật chănnuôi bò sữa Năm 1960, giống bò sữa lang trắng đen Bắc Kinh lần đầu tiên đã đượcđưa vào Việt Nam nuôi thử nghiệm tại Ba Vì, Sa Pa và Mộc Châu Đến thập kỷ 70,Việt Nam đã được Chính phủ Cu Ba viện trợ 1000 con bò sữa Holstein Friesian (HF)
về nuôi thử nghiệm tại Mộc Châu Đồng thời chính phủ Cu Ba cũng đã giúp ta xâydựng Trung tâm bò đực giống Moncada để sản xuất tinh bò đông lạnh
Trang 9Chủ tịch Fidel Castro - Cuba (phải) trao tặng Chính phủ Việt Nam bò đực HF
thuần tại Trung tâm MONCADA
1.2.4 Giai đoạn Những năm 1970
Việt Nam cũng đã nhập một số trâu sữa Murrah từ Ấn Độ Số trâu này đượcnuôi ở Phùng Thượng, Sông Bé và một số nới khác Tuy nhiên, chăn nuôi trâu sữa tỏ
ra chưa phù hợp với điều kiện của Việt Nam và vì thế đến nay số lượng trâu Murrahcòn lại không nhiều Từ năm 1976 một số bò sữa HF được chuyển vào nuôi tại ĐứcTrọng (Lâm Đồng) Bên cạnh đó phong trào lai tạo và chăn nuôi bò sữa cũng đượcphát triển mạnh thêm ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Tp Hồ Chí Minh Tuy nhiên,cho đến những năm đầu thập kỷ 1980, đàn bò sữa của Việt Nam chỉ được nuôi tại cácnông trường quốc doanh và các cơ sở trực thuộc sở hữu Nhà nước Quy mô các nôngtrường quốc doanh thời đó phổ biến là vài trăm con, quy mô lớn nhất là Nông trườngMộc Châu với khoảng 1000 con Do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm chăn nuôi, cơchế quản lý không phù hợp, điều kiện chế biến và tiêu thụ sữa khó khăn nên nhiềunông trường đã phải giải thể do chăn nuôi bò sữa không có hiệu quả Đàn bò sữacũng vì thế mà giảm sút nhanh chóng
1.2.5 Giai đoạn 1985 - 1987
Đồng thời với việc nuôi bò thuần nhập nội, chương trình lai tạo bò sữa Hà-Ấn(HFx Lai Sin) cũng được triển khai song song với chương trình Sin hoá đàn bò Vàngnội Trong thời gian 1985-1987 Việt Nam nhập bò Sin (cả bò đực và bò cái) từPakistan về nuôi ở nông trường Hữu nghị Việt Nam-Mông Cổ và Trung tâm tinh
Trang 10đông lạnh Moncada (Ba Vì, Hà Tây) Đồng thời năm 1987, bò Sahiwal cũng đã đượcnhập từ Pakistan về nuôi tại Trung tâm tinh đông lạnh Moncada và Nông trường bògiống miền Trung (Ninh Hoà, Khánh Hoà) Những bò Sin và Sahiwal này đã đượcdùng để tham gia chương trình Sin hoá đàn bò Vàng Việt Nam nhằm tạo ra đàn bòLai Sin làm nền cho việc gây HF khác nhau tuỳ theo thế hệ lai: F1 (1/2 HF), F2 (3/4HF), F3 (7/8 HF) hay F2 (5/8 HF).
Trong thời gian trên Việt Nam cũng đã nhập tinh đông lạnh bò Jersey và NâuThuỵ Sĩ dùng để lai với bò cái Lai Sin (LS), bò Vàng và bò cái lai F1, F2 (HF x LS).Tuy nhiên do năng suất sữa của con lai kém xa so với bò lai với bò Holstein, hơn nữa
do màu lông không hợp với thị hiếu của người nuôi, nên việc lai tạo với bò nàykhông có hướng phát triển thêm
1.2.6 Giai đoạn 1986 - 1999
Từ năm 1986 Việt Nam bắt đầu phong trào Đổi mới và chỉ sau 3 năm từ một
nước thiếu lương thực Việt Nam đã có lương thực xuất khẩu Kinh tế phát triển đã tạo
ra nhu cầu dùng sữa ngày càng tăng Do vậy, đàn bò sữa ở TP HCM, các tỉnh phụ cậnnhư Bình Dương, Đồng Nai, Long An, ngoại thành Hà Nội và các tỉnh phụ cận cũngtăng nhanh về số lượng Từ năm 1986 đến 1999 đàn bò sữa tăng trưởng trung bình11%/năm Phong trào chăn nuôi bò sữa tư nhân đã hình thành và tỏ ra có hiệu quả
1.2.7 Giai đoạn 2001 đến nay
Chính phủ đã có chủ trương đẩy mạnh phát triển ngành sữa của Việt Nam vớiviệc thông qua Quyết định 167/2001/QĐ/TTg về chính sách phát triển chăn nuôi bòsữa trong giai đoạn 2001-2010 Theo chủ trương này từ năm 2001 đến 2004 một sốđịa phương (TP Hồ Chí Minh, An Giang, Bình Dương, Thanh Hoá, Tuyên Quang,Sơn La, Hoà Bình, Hà Nam, …) đã nhập một số lượng khá lớn (trên 10 nghìn con) bò
HF thuần từ Australia, Mỹ, New Zealand về nuôi Một số bò Jersey cũng được nhập
từ Mỹ và New Zealand trong dịp này.
Trang 11Nguồn: Cục Nông nghiệp (2005), Cục Chăn nuôi (2006)
Trong tổng đàn bò sữa trong cả nước hiện có, trên 75% tập trung ở TP Hồ ChíMinh và các tỉnh phụ cận như Đồng Nai, Bình Dương và Long An v.v , khoảng 20%
ở các tỉnh phía Bắc, dưới 2% ở các tỉnh miền Trung và trên 2% ở Tây Nguyên Hiệntại, trong cơ cấu giống đàn bò sữa cả nước bò HF thuần chiếm khoảng 10% và bò laichiếm khoảng 90% Chăn nuôi bò sữa hiện tại chủ yếu là các hộ gia đình (95%),ngoài ra có một số ít cơ sở chăn nuôi Nhà nước và liên doanh
Nhìn chung, ngành chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh từ đầu những năm 1990đến 2004, nhất là từ sau khi có Quyết định 167 nói trên Tuy nhiên, hiện tại tổng sảnlượng sữa tươi sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 20-25% lượng sữatiêu dùng, còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài Sau một số năm phát triển quá nóng,
từ năm 2005 sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa cũng đã chững lại và bộc lộmột số khó khăn, yếu kém mới, nhất là trong vấn đề tổ chức quản lý vĩ mô ngànhhàng và tổ chức quản lý sản xuất các cơ sở chăn nuôi “hiện đại” có quy mô lớn
Trang 121.3 Phân tích bối cảnh
1.3.1 Thị trường sữa Việt Nam
Tính đến tháng 7/2013, thị phần Sữa uống hiện nay chủ yếu nằm trong tay cácdoanh nghiệp sữa nội, trong đó, Vinamilk nắm giữ 48,7% thị phần, kế đến là
FrieslandCampina Việt Nam với 25,7% và TH True Milk là 7,7% thị phần Vinamilkhiện có 5 thương hiệu sữa uống FrieslandCampina Việt Nam hiện có 4 dòng sảnphẩm sữa uống trong đó Dutch Lady (Sữa Cô gái Hà Lan) chiếm vị trí chủ lực
Hình 1.1: Thị trường sữa Việt Nam
1.3.2 Tình hình giá sữa tại Việt Nam
Giá sữa trong nước đang diễn tiến theo chiều ngược với thị trường thế giới.Các nhà sản xuất và cung ứng không có sự cạnh tranh giảm giá nào, và định giá sữadựa trên nhận thức của người tiêu dùng
Giá bán lẻ sữa ở Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới: giá bán lẻ trung bình
là 1,4 USD/lít, trong khi Trung Quốc là 1,1 USD, Ấn Độ: 0,5 USD, các nước Âu
-Mỹ từ 0,5-0,9 USD/lít Hiện giá sữa ở Việt Nam cao gấp đôi Malaysia và gấp 1,5 lần
so với Thái Lan Đó là thông tin từ hội thảo về chất lượng sữa do hội Tiêu chuẩn vàbảo vệ người tiêu dùng Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vừa qua Hội đang đề nghị đưasản phẩm sữa vào danh mục các mặt hàng được Nhà nước bình ổn giá, kiểm soát giá
Sự bất hợp lý trong tiêu dùng sữa của thị trường Việt Nam thể hiện ở chỗngười tiêu dùng phải trả số tiền lớn hơn để mua sữa trong khi thu nhập bình quân đầungười ở Việt Nam lại thấp so với thế giới Theo ông Hồ Tất Thắng, phó chủ tịch hội
Trang 13Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, từ năm 2007 đến nay, giá sữa ởtrong nước liên tục tăng, trong khi thuế và giá sữa thế giới lại giảm Ghi nhận từ thịtrường, vào lúc cao điểm giá sữa nguyên liệu lên đến trên 5.000USD/tấn (từ giữa đếncuối qúi 3.2008), người tiêu dùng đã phải chịu mua sữa giá cao gọi là để chia sẻ khókhăn (về đầu vào) với doanh nghiệp.
Khi giá sữa nguyên liệu giảm từ các tháng cuối 2008 đến nay, các nhãn sữatrên thị trường cũng không giảm giá, mà lại tiếp tục tăng! Hiện nay, giá sữa trên thịtrường thế giới ở đã giảm hơn 40% so với cao điểm Một thuận lợi khác cho sữa nhậpkhẩu, là chính phủ đã giảm thuế từ 30% xuống còn 7% Nhưng giá bán sữa cứ tăng!
Ngay cả sữa tươi dùng nguyên liệu trong nước, người tiêu dùng cũng gánhchịu giá cao Như 1 lít sữa tươi 100% nguyên chất (làm từ sữa bò của nông dân), giábán lẻ của các công ty sữa có thể lên đến 23.400-23.610 đồng, gấp gần 4 lần so vớigiá mua của nông dân chỉ khoảng 6.500- 7.000 đồng
Giá một kg sữa đạt chuẩn về hạm lượng đạm, béo, đường và có bổ sung đầy
đủ các khoáng chất, vitamin, DHA, Prebiotic… theo tiêu chuẩn của FAO/ WHOkhông quá 70.000đ Nếu cộng thêm bao bì khoảng 7.000 - 8.000đ/lon thiếc, cáckhoản thuế và chi phí khác cho kinh doanh thì bán trên 100.000đ/kg là các công ty đã
có lãi
Theo mức giá trên thị trường hiện nay mà một công ty sản xuất sữa vừa muahàng vào đầu tháng 3-2009, giá sữa nguyên liệu đạt chuẩn nhập từ các nhà cung cấpbán cho các tập đoàn toàn cầu vào khoảng 55.000đ/kg (đã có thuế) Trong các chất bổsung, mắc nhất là DHA khoảng 80USD/kg, calcium khoảng 7 USD/kg, vitamine tổnghợp (6- 10USD/kg)… Tính trên giá thành, mỗi kg sữa có bổ sung tối đa các thànhphần theo công thức tốt nhất mà các hãng sữa nêu, thậm chí có bổ sung DHA đến 4-5lần, thì giá cũng chỉ vào khoảng 70.000đ/kg (bổ sung DHA lên gấp 4 lần, giá chỉ cóthể tăng thêm khoảng 4.000đ/kg sữa bột)
Thế nhưng hiện nay người tiêu dùng phải trả từ 143.000 - 165.000đ/kg cho sữasản xuất trong nước và từ 305.000 - 425.000đ/kg cho sữa nhập khẩu "cao cấp" đểmua niềm tin vào sự ảo tưởng bé sẽ khoẻ hơn, sẽ cao hơn, sẽ ít bệnh hơn…
Ông Phạm Ngọc Châu, phó tổng giám đốc công ty Hancofood, chi phí xăng
Trang 14dầu tăng làm đội chi phí một chuyến xe tải chở hàng chỉ khoảng 10%, tức mỗi thùngsữa 24 lon chỉ tăng thêm khoảng 2.000 đồng Với mức lợi nhuận bình quân là 30%,còn sữa “hiệu”, sữa “cao cấp” lên đến trên 60%, áp lực chi phí tăng giá xăng dầu, bao
bì chỉ tác động rất nhỏ đối với nhà sản xuất sữa
- Ban lãnh đạo có năng lực quản lý tốt về mọi mặt
- Mạng lưới được phân phối rộng khắp trên khắp mọi tỉnh thành
- Nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định, không bị gián đoạn trong quá trình sản
Trang 15xuất để đảm bảo đầy đủ số lượng cho các sản phẩm của ngành.
1.4.4 Thách thức
- Khi nền kinh tế bị lạm phát, khủng hoảng về kinh tế làm cho việc phts triểncủa các ngành kinh tế Việt Nam gặp không ít khó khăn
-Gia nhập cộng đồng kinh tế asean vào cuối năm 2015
- Gia nhập WTO là nhiều cơ hội cho ngành sữa nhưng cũng không gặp ít khókhăn trong việc sự xuất hiện ngày càng nhiều của các đối thủ cạnh tranh
- Tình hình chính trị trên đất nước bất ổn, cũng là nhân tố hạn chế về sụ pháttriển của ngành sữa nói chung và ngành kinh tế nói riêng
- Khách hàng là tổ chức, người tiêu dùng đây là nhóm khách hàng mua phuc
Trang 161.6.2 Đối tượng công chúng liên quan
1.6.2.1 Đơn vị chỉ đạo, giám sát.
Giới truyền thông: Truyền bá thông điệp và ý nghĩa đến người tiêu dùng
Cộng đồng: Bệnh viện Nhi TW, Viện dinh dưỡng quốc gia, Cục quản lýgiá (Bộ tài chính), Bộ y tế, Bộ khoa học và công nghệ, Hiệp hội sữa Việt Nam, Hộibảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam,Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, Cục Thú y - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà phân phối
1.6.2.2 Đơn vị tổ chức
Ngành sữa Việt Nam là cầu nối, giúp các thành viên tăng cường các mối quan
hệ trao đổi thương mại, khoa học kỹ thuật với các đối tác trong và ngoài nước Từngbước nâng cao năng lực sản xuất, thương mại của thành viên nhằm hướng tới sản suất
ra những sản phẩm sữa chất lượng cao cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Việc rađời Ngành sữa Việt Nam sẽ mở ra cơ hội cho những ý tưởng lớn, những đóng góp vềtài chính và trí lực của nhiều nguồn lực trong và ngoài nước vào sự phát triển củangành một cách tập chung và hiệu quả nhất Mặc dù sẽ phải đối mặt với nhiều khókhăn, thách thức, nhưng ngành được kỳ vọng sẽ là nơi để những người có tâm huyếtthảo luận sâu sắc những vấn đề của ngành để tìm ra tiếng nói chung, hướng đi chung,giải quyết những mâu thuẫn nội tại và vươn ra hội nhập, cạnh tranh với thế giới chongành sữa Việt Nam
1.6.2.3 Đơn vị bảo trợ truyền thông
Để thực hiện được kế hoạch, các đơn vị truyền thông bao gồm:
+ Đài truyền hình Việt Nam VTV1, VTV3: là đài truyền hình quốc gia, là cơquan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung ứng các dịch vụ công; góp phần giáodục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trìnhtruyền hình Là những kênh được nhiều người với nhiều nội dung thông tin về mọi
Trang 17mặt của đời sống như chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.
+ Bộ thông tin và truyền thông
Những đơn vị bảo trợ truyền thông trên sẽ phối hợp với đơn vị tổ chức để đưanhững thông tin về truyền thông cho ngành sữa Việt trên toàn quốc
1.6.2.4 Đơn vị tài trợ
Đơn vị tổ chức sẽ gởi thư mời tài trợ đến các tổ chức có liên và các công tysữa quan tâm đến chương trình và nêu rõ những quyền lợi mà họ nhận được khi tàitrợ cho cho kế truyền thông lần này như nhận được thư cảm ơn của đơn vị tổ chức,được nêu tên trong các chương trình được tổ chức với vai trò là nhà tài trợ, logo củacác tổ chức, công ty được in trên các băng rôn, tờ rơi và backdrop chương trình, được
bố trí thời gian để giới thiệu về doanh nghiệp đến công chúng, được sử dụng các hìnhảnh hoạt động làm hình ảnh quảng cáo cho đơn vị mình… Các đơn vị tài trợ baogồm:
+ Công ty sữa Vinamilk là nhà sản xuất sữa hàng đầu tại Việt Nam Danh mụcsản phẩm của Vinamilk bao gồm các sản phẩm chủ lực là sữa nước và sữa bột Cungcấp cho thị trường một danh mục sản phẩm, hương vị bao bì và qui cách bao bì nhiềulựa chọn nhất
+ Ngoài ra, để chương trình diễn ra đạt hiệu quả cao hơn, đơn vị tổ chức sẽtiến hành xin hỗ trợ từ phía có quan nhà nước, các doanh nghiệp trên cả nước
Trang 18CHƯƠNG II KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG CHO NGÀNH SỮA
VIỆT NAM.
2.1 Xác định mục tiêu
Chương trình diễn ra nhằm nâng cao nhận thức góp phần thay đổi thái độ vàhành vi tiêu dùng của người tiêu dùng về sữa Việt trên cả nước Thông qua chươngtrình thực tế sẽ góp phần tạo nên thành công của các mục tiêu trong ngành sữa
Tạo ra một mạng lưới liên kết các tổ chức cũng như các cá nhân hoạt độngtrong ngành sữa tại Việt Nam để trao đổi các thông tin liên quan đến việc phát triển,đào tạo, lập dự án, nghiên cứu …
Không chỉ vậy, trong chương trình này nhằm truyền bá kiến thức về sữa nội vàsữa ngoại cho người tiêu dùng hiểu sự tương đương về chất lượng
Cung cấp đẩy đủ hơn thông tin về dinh dưỡng trong sữa cho người tiêu dùnghiểu
Quảng bá các sản phẩm sữa Việt Nam tới công chúng Khuyến khích người tiêudùng Việt Nam tin dùng hàng Việt
Nâng cao vị thế của Ngành sữa Việt Nam ở trong nước cũng như quốc tế
Cải thiện mối liên hệ giữa những người sản xuất sữa, chế biến sữa và người tiêudùng tại Việt Nam
2.2 Công chúng mục tiêu
Công chúng mục tiêu là đối tượng chính của một chương trình truyền thônghướng đến Việc truyền thông có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc xácđịnh nhóm đối tượng mục tiêu Xác định được đúng nhóm đối tượng mà chương trìnhnhắm đến, cần tác động thì việc truyền thông mới đạt được hiệu quả cao Đối tượngmục tiêu của ngành sữa Việt Nam nhắm đến là khách hàng trong nước Ở đây kháchhàng trong nước là các nhà phân phối (đại lý, các siêu thị bán buôn), nhà bán lẻ ( nhàbán lẻ nhỏ,các siêu thi tự chọn), khách hàng là các tổ chức, người tiêu dùng.Trong đó:
Trang 19- Khách hàng là tổ chức, người tiêu dùng đây là nhóm khách hàng mua phuc vụcho tổ chức và mục đích cá nhân.
- Khách hàng nhà phân phối đây là nhóm mua về để kinh doanh với mục đíchphân phối khắp khu vực
- Khách hàng bán lẻ nhỏ siêu thị tự chọn đây là nhóm kinh doanh mục tiêu lợinhuận
2.3 Xác định thông điệp
Hình 2.1 Logo ngành sữa Việt Nam
Một khi kinh tế đã phát triển thì đời sống người dân sẽ được cải thiện, kéo theo
đó là những nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần như ăn ở, đi lại và đặc biệt la chăm locho sức khỏe nhiều hơn Ngày nay, có rất nhiều loại sữa trên thị trường Việt Nam, đặcbiệt là sữa ngoại và sữa ngoại được người dân chọn mua nhiều hơn với giá cao hơnsữa nội, nhưng chất lượng sữa là tương đương nhau, người tiêu dùng chưa có nhiều
thông tin và hiểu biết về sữa Thông điệp của kế hoạch truyền thông lần này là “Sữa
Việt Nam vì một tương lai tốt đẹp hơn cho người Việt nam” Chính vì vậy mà chủ
đề xuyến suốt của kế hoạch lần này tạo niềm tin cho người tiêu dùng về sữa Việt
2.4 Xây dựng chiến lược
Để đạt mục đích đưa ra là thay đổi nhận thức và tạo niềm tin về chất lượng sữanội cho người tiêu dùng, trong giai đoạn 1, tập trung vào các hoạt động nhằm cung cấpthông tin xoay quanh các chủ đề về chất lượng sữa, các chỉ số thành phần dinh dưỡngphù hợp với sự phát triển của thể chất của người Việt Nam và những vấn đề liên quanđến chi phí cấu thành giá sản phẩm Tất cả các hoạt động này đều được triển khai trên
cơ sở hưởng ứng chiến dịch “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ Chính trị.
Trang 20Hoạt động sẽ tiếp cận với người dân bằng những chương trình thiết thực, cáchthức tiếp cận của chương trình phải tác động đến nhận thức và hành động của ngườitiêu dùng.
Để chương trình thành công thì không thể thể thiếu các phương tiện truyềnthông: truyền hình, báo chí và đặc biệt là internet Nhằm mục đích viết bài và đưathông tin về các sự kiện được tổ chức, các chương trình và các vấn đề liên quan đếnsữa như giá, chất lượng, thành phần dinh dưỡng,…
Chương trình sẽ truyền thông cho ngành sữa Việt Nam sẽ kéo dài trong vòng 7
tháng, từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/07/2018 với thông điệp xuyên suốt là “Sữa
Việt Nam vì một tương lai tốt đẹp hơn cho người Việt nam” Kế hoạch được chia
làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1:Đưa tin lên truyền hình và đăng bài trên báo, tạp chí, internet vớicác chuyên mục liên quan dinh dưỡng, giá cả, quy trình sản xuất của sữa việt nam bắtđầu từ 01/01/2018 đến 31/07/2018
Giai đoạn 2: Tổ chức Hội thảo “Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam”
được tổ chức ngày 29/06/2018
Giai đoạn 3: Thành lập trang Website: www.nganhsuavietnam.com.vn
2.5 Xây dựng chiến thuật
2.5.1 Giai đoạn 1: Đưa tin lên truyền hình và đăng bài trên báo, tạp chí, internet.
2.5.1.1 Truyền thông trên truyền hình
Ngày nay, nhờ vào sự phát triển và cải tiến khoa học công nghệ mà các phươngtiện truyền thông cũng ngày càng trở nên phong phú hơn, giúp cho việc truyền tảithông tin đến các đối tượng công chúng mục tiêu được nhanh chóng và kịp thời vàtruyền hình là phương tiện có thể đáp ứng được yêu cầu đó do tính hấp dẫn, tiện lợi vàthu hút bởi tính đa chức năng của nó
Thực hiện kế hoạch truyền thông cho ngành sữa Việt Nam cũng là để hướngứng chương trình của bộ chính trị Mỗi địa phương thực hiện một chương trình khácnhau và có những ảnh hưởng nhất định đến công chúng nhưng làm sao để thông điệp
đó đến được với công chúng mục tiêu một cách hiệu quả nhất thì cần phải có sự trợ
Trang 21 Thời gian: Từ ngày 01/01 đến ngày 31/01/2018
Hình thức: Phát bản tin về ngành sữa Việt Nam
sẽ đươc phát trên hai đài này
Nội dung bản tin nói về tình hình sữa, giá, chất lượng và đưa tin về kế hoạchtruyền thông Qua đây các hình ảnh về kế hoạch cũng được trình chiếu để mọi ngườinắm bắt được rõ rằng, cụ thể hơn và dễ dàng hình dung được thức tế
Khung giờ phát sóng, bản tin về kế hoạch truyền thông sẽ được phát sóng trongkhung giờ từ 18h50 – 19h00 trên đài VTV3 và từ 11h50 đến 12h00 trên VTV1 Bảntin sẽ kéo dài 5 phút và được phát liên tục trong vòng một tháng tính từ này 01/01-31/01/2018, sẽ phát cả tuần Sỡ dĩ chọn khung giờ này là vì đây là thời gian trước khithời sự diễn ra, cũng là khoảng thời gian hầu hết các thành viên trong gia đình tụ họpđông đủ, do đó thông tin sẽ được chuyển tải đến nhiều đối tượng và tạo sức ảnh hưởngnhiều hơn đến với công chúng
Bảng 2.1 Ngân sách phát bảng tin trên VTV1, VTV3
(ĐVT: VNĐ)
Thời
gian
Thời điểm
Kênh
Thời gian tồn tại clip (tuần)
Trang 22Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam đã liên tục đứng trong top 20 quốc gia có sốngười dùng Internet lớn nhất thế giới với tỷ lệ hơn 30% dân số Theo thống kê củaTrung tâm số liệu Internet quốc tế, Việt Nam xếp hạng 18 trên 20 quốc gia có số ngườidùng Internet lớn nhất thế giới trong quý I/2012 Theo các chuyên gia, với giá cướcInternet ngày càng rẻ, số lượng người dùng Internet sẽ còn tăng mạnh hơn nữa Đây làmột lợi thế rất lớn trong việc đăng thông tin trên các website và thu hút lượng ngườitruy cập.
a Đăng tin trên website:
+ Vnexpress.net, dan tri.com.vn đây là các trang báo điện tử cung cấp các thôngtin cập nhật được từ kinh tế, văn hóa, xã hội cho đến các tin tức giải trí khác trong mọimặt của đời sống Thông tin được đưa lên một cách nhanh chóng, đáp ứng được nhucầu về thông tin của người truy cập Những sự kiện trong ngày đều được cập nhập kịpthời Hiện nay có khoảng 80% đến 85% độc giả trong nước truy cập trang web này.Chính vì những lý do đó mà 2 trang web này được chọn để đăng bài Thông tin và cácvấn đề về sữa được đăng trong chuyên mục sức khỏe
Hình 2.2 Đăng bài trên trang báo dantri.com.vn