1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn năng lực công chức thanh tra sở khoa học công nghệ tỉnh hà nam

117 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 239,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh tra thuộc Sở Khoa học công nghệ tỉnh Hà Nam được thành lập năm 2003. Từ khi ra đời cho đến nay, Thanh tra Sở đã có những đóng góp tích cực trong công tác thanh tra, giám sát các hoạt động công nghệ trên địa bàn tỉnh.Đội ngũ công chức thanh tra không ngừng được nâng cao về chuyên môn nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức. Tuy nhiên, do nguyên nhân khách quan và chủ quan, đội ngũ công chức của Thanh tra Sở Khoa học công nghệ còn nhiều bất cập chưa theo kịp với yêu cầu của ngành cũng như phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới. Việc năng cao năng lực của đội ngũ thanh tra mới chú ý đến việc hợp thức hóa, bằng cấp, quy hoạch chưa cụ thể, chưa đánh giá sát với thực tế hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ này. Đứng trước tình hình đó, việc nghiên cứu lý giải một cách hệ thống công tác quản lý nhà nước về nâng cao năng lực của đội ngũ công chức thanh tra, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý nhà nước về công tác nâng cao năng lực công chức thanh tra Sở, để trên cơ sở đó xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực vững vàng, đủ về số lượng và chất lượng, hoạt động có hiệu quả đáp ứng được yêu cầu đổi mới của bộ máy nhà nước. Điều đó có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn hiện nay. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Năng lực công chức thanh tra Sở Khoa học công nghệ tỉnh Hà Nam” là chuyên đề luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC

GIA …………/………… …………/…………

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

MÃ SỐ: 60 34 82

NĂNG LỰC CÔNG CHỨC THANH TRA

SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỈNH HÀ NAM

Người thực hiện: Phan Văn Điệp

Lớp cao học: CH16B

Niên khóa: 2011 - 2014

HÀ NỘI - NĂM 2014

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn (tính cấp thiết của đề tài luận văn)

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đếncông tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Người khẳng định: Cán bộ làcái “gốc” của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt haykém Thực hiện tư tưởng của Người, các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng ta đều dành sựquan tâm cho công tác cán bộ Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII của Đảng xácđịnh: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vậnmệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựngĐảng” Qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đó ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết yêu cầu từTrung ương đến địa phương, các ngành, các cấp phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngcho đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trongtừng giai đoạn cách mạng cụ thể

Trong mỗi giai đoạn đều đặt ra những yêu cầu cụ thể về đội ngũ cán bộ côngchức phù hợp với những điều kiện lịch sử Song về cơ bản yêu cầu đối với đội ngũcán bộ công chức là phải có phẩm chất đạo đức, có năng lực thực tế, có kỹ năng làmviệc, có phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả để đủ sức hoàn thành nhiệm vụđược giao Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng nước ta

đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ công chức “vừa hồng vừa chuyên” có đủ nănglực và phẩm chất đạo đức đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cáchmạng Sự thành công của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước củacông cuộc gần 30 năm đổi mới vừa qua có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cán

bộ công chức với sự lớn mạnh không ngừng và từng bước thực hiện thắng lợi mục

tiêu mà Đảng và Bác Hồ đã đề ra là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, đòi hỏi đội ngũcán bộ công chức cần có những phẩm chất, năng lực mới như: Có khả năng giao tiếp,

Trang 3

thành thạo ngoại ngữ và tin học, linh hoạt, chủ động, sáng tạo, có sức khỏe tốt để đẩymạnh các hoạt động đối ngoại, hội nhập sâu và đầy đủ hơn các thể chế kinh tế toàncầu, khu vực và tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới

Thanh tra thuộc Sở Khoa học công nghệ tỉnh Hà Nam được thành lập năm

2003 Từ khi ra đời cho đến nay, Thanh tra Sở đã có những đóng góp tích cực trongcông tác thanh tra, giám sát các hoạt động công nghệ trên địa bàn tỉnh.Đội ngũ côngchức thanh tra không ngừng được nâng cao về chuyên môn nghề nghiệp và phẩmchất đạo đức Tuy nhiên, do nguyên nhân khách quan và chủ quan, đội ngũ công chứccủa Thanh tra Sở Khoa học công nghệ còn nhiều bất cập chưa theo kịp với yêu cầucủa ngành cũng như phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới Việc năng caonăng lực của đội ngũ thanh tra mới chú ý đến việc hợp thức hóa, bằng cấp, quy hoạchchưa cụ thể, chưa đánh giá sát với thực tế hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ này

Đứng trước tình hình đó, việc nghiên cứu lý giải một cách hệ thống công tácquản lý nhà nước về nâng cao năng lực của đội ngũ công chức thanh tra, đánh giáthực trạng, đề xuất giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý nhà nước về công tác nângcao năng lực công chức thanh tra Sở, để trên cơ sở đó xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức có phẩm chất, năng lực vững vàng, đủ về số lượng và chất lượng, hoạt động cóhiệu quả đáp ứng được yêu cầu đổi mới của bộ máy nhà nước Điều đó có ý nghĩa lýluận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn hiện nay Chính vì vậy, tôi đã

lựa chọn đề tài: “Năng lực công chức thanh tra Sở Khoa học công nghệ tỉnh Hà Nam” là chuyên đề luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề cán bộ, công chức, năng lực thực thi công vụ cán bộ công chức hànhchính nói chung và công chức thanh tra nói riêng được nhiều người quan tâm nghiêncứu:

- Đề án số 03/2013 của Bộ Khoa học Công nghệ về nâng cao chất lượng thựcthi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức làm khoa học công nghệ trong giai đoạnhiện nay

Trang 4

- Dự án “Tăng cường năng lực tổng thể của đội ngũ công chức thanh tra khoahọc công nghệ giai đoạn 2010 – 2015 của Bộ Khoa học Công nghệ

- Sở Khoa học Công nghệ Hà Nam cũng có các chuyên đề về các giải phápnâng cao chất lượng đội ngũ công chức của Sở KHCN Hà Nam

- “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chứctrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của GS.TS NguyễnPhú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm, Nxb Chính trị quốc gia, 2003 Trên cơ sở cácquan điểm, lý luận và tổng kết thực tiễn, công trình đã phân tích, lý giải, hệ thống hóacác căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốtcác cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố,phát triển đội ngũ này cả cề chất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầucủa sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Lương Ban Mai: “ Nâng cao chất lượng công chức hành chính Việt Nam đápứng yêu cầu hội nhập”, luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính quốc gia;

- Nguyễn Phương Thủy: “Nâng cao năng lực thưc thi công vụ công chức hànhchính nhà nước cấp thành phố ở Cần Thơ, Luận văn Thạc sỹ, Học viên Hành chínhquốc gia

- Nguyên Văn Trường: “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ côngchức cấp Quận trên địa bàn Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹQuản lý Hành chính công – Học viện Hành chính quốc gia, 2011

Và một số công trình khoa học khác

Qua các công trình trên cho thấy việc nghiên cứu năng lực thực thi công vụ củacông chức được chia thành hai nhóm:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu tổng quát qua đó làm rõ các vấn đề chung

về công vụ, công chức; về nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức trongthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 5

Thứ hai, các công trình nghiên cứu trực tiếp việc nâng cao năng lực thực thicông vụ cho một đối tượng công chức ở mỗi cấp hành chính, của mỗi đơn vị trựcthuộc cơ quan chuyên môn cấp tỉnh

Theo hướng nghiên cứu thứ hai thì hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu

về năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra Sở Khoa học công nghệ HàNam

Trên cơ sở kế thừa cơ sở lý luận của một số công trình nghiên cứu và thựctrạng năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra Sở Khoa học công nghệ HàNam, luận văn này cố gắng làm rõ hơn những điều kiện, đặc điểm về công vụ, côngchức và nghiên cứu tổng quát thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chứcthanh tra Sở Khoa học Công nghệ Hà Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nângcao năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra Sở Khoa học Công nghệ HàNam

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3 1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực và năng lựcthực thi công vụ và qua đánh giá thực trạng nâng cao năng lực thực thi công vụ củacông chức thanh tra Sở, luận văn tìm ra những hạn chế, yếu kém trong thực thi công vụcủa công chức thanh tra, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nâng cao nănglực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra Sở nhằm đáp ứng yêucầu nhiệm vụ trong quá trình hội nhập hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ của luận văn là:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc nâng cao năng lực thực thi công vụ củađội ngũ công chức thanh tra;

- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương khác trong việc nâng caonăng lực thực thi công vụ của công chức và rút ra bài học kinh nghiệm đối với SởKhoa học công nghệ Hà Nam;

Trang 6

- Phân tích và đánh giá thực trạng nâng cao năng lực thực thi công vụ của độingũ công chức thanh tra Sở, chỉ ra những ưu điểm, những mặt còn hạn chế và nguyênnhân của các ưu điểm và hạn chế đó làm tiền đề thực tiễn cho việc đề xuất các giảipháp.

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi

công vụ của công chức thanh tra Sở Khoa học công nghệ tỉnh Hà Nam trong thời giantới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực thực thi công vụ của đội ngũcông chức thanh tra Sở Khoa học công nghệ tỉnh Hà Nam, gồm các chức danh:

Mốc nghiên cứu thực trạng: Năm 2009 - 2014

Mốc đề xuất giải pháp: đến năm 2020

5.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn

Trang 7

- Phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống và kháiquát hóa để phân tích số liệu, các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về QLNN đểđạt được nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra.

6 Những đóng góp mới của luận văn

6.1 Về mặt lý luận:

Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về năng lực vànâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và côngchức thanh tra nói riêng

* Về mặt thực tiễn:

- Luận văn phân tích, đánh giá đúng thực trạng hoạt động nâng cao năng lực củađội ngũ công chức thanh tra Sở khoa học công nghệ Hà Nam, chỉ ra nguyên nhânthành công và các mặt còn hạn chế về năng lực thực thi công vụ của công chức thanhtra;

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thicông vụ của công chức thanh tra Sở Khoa học công nghệ Hà Nam trong thời gian tới.Đồng thời thanh tra các Sở ngành có thể tham khảo để nâng cao năng lực của họ

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chínhsách và các nhà nghiên cứu, giảng dạy về công vụ, công chức

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nâng cao năng lực thực thi công vụ của

công chức thanh tra

Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra Sở

Khoa học công nghệ Hà Nam

Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ

của công chức thanh tra Sở Khoa học công nghệ Hà Nam

Trang 8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI

CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC THANH TRA

1.1 CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC THANH TRA

1.1.1 Công vụ của công chức thanh tra

1.1.1.1 Khái niệm công vụ

Công vụ là một khái niệm rộng về phạm vi và có ý nghĩa rất quan trọng trongnền hành chính nhà nước, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nền công vụ như:

- Công vụ là một hệ thống bao gồm tất cả những người được bổ nhiệm dự trênnăng lực và thành tích của họ khi thực thi nhiệm vụ, làm việc trong các cơ quan dânsự

- Công vụ là hệ thống bao gồm tất cả các cơ quan dân sự nhà nước, nhữngngười làm việc trong các cơ quan đó và các hoạt động mà họ tiến hành

- Công vụ là hệ thống bao gồm tấ cả các cơ quan dân sự nhà nước, nhữngngười là m việc trong các cơ quan đó và các hoạt động mà họ tiến hành

- Công vụ là hệ thống bao gồm toàn bộ công chức trong bộ máy của các cơquan quản lý nhà nước và những hoạt động gắn liền với họ

Ở Việt Nam, khái niệm công vụ được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh khácnhau như:

- Từ giác độ xã hội: Công vụ là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, nhà nướcnhằm thực hiện ý chí của nhân dân

- Từ giác độ pháp lý: Công vụ là toàn bộ các quy định, quy chế, nguyên tắchoạt động của cơ quan nhà nước nhằm thực hiện chức năng quản lý xã hội theo mụctiêu đã đặt ra

- Từ giác độ chính trị: Công vụ là hoạt động thực hiện đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, biến các mục tiêu chính trị thành các sản phẩm cụ thể

Trang 9

- Từ giác độ hành chính: Công vụ là hoạt động có tính quyền lực công và tínhpháp lý của công chức

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, công vụ được hiểu theo nghĩa hẹp vàdưới góc độ quản lý hành chính nhà nước theo đó: Công vụ là một loại lao động đặcthù mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi chủ yếu bởi đội ngũ cán bộ côngchức nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý của nhà nước trên tất cả cácmặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động công vụ

Như vậy, công vụ là hoạt động phục vụ nhà nước, tức phục vụ công quyền, suycho cùng là phục vụ nhân dân Xét về nội dung, tính chất và cơ sở pháp lý của công

vụ thì đây là một loại lao động mang tính đặc thù Theo tác giả Nguyễn Trọng Điều

(2007), trong cuốn Về chế độ công vụ, NXB Chính trị quốc gia thì tính đặc thù của

hoạt động công vụ được thể hiện ở các điểm sau[17]:

- Là đại diện cho công quyền nên được sử dụng quyền lực của Nhà nước để thihành nhiệm vụ;

- Là lao động trí tuệ (trừ một bộ phận nhỏ mang tính dịch vụ đang dần dần được

xã hội hóa) có tính sáng tạo, nhạy bén để hoạch định và thực thi các chủ trương,đường lối chính sách và pháp luật của Nhà nước

- Thống nhất cao độ trong toàn lãnh thổ, tập trung cao độ, đồng thời có sự phâncấp thỏa đáng để phát huy tính sáng tạo của cấp dưới

- Hoạt động công vụ mang tính nghề nghiệp nên đòi hỏitrình độ chuyên môn cao

và đạo đức nghề nghiệp nghiêm túc

- Hoạt động công vụ là hoạt động liên tục, cái sau nối tiếp cái trước, đồng thờicũng luôn mang tính sáng tạo và thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi thờikỳ;

- Công vụ chịu sự điều chỉnh rất chặt chẽ của pháp luật, nhưng cũng đòi hỏitínhhiệu lực và hiệu quả cao

1.1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của công chức thanh tra chuyên ngành

Trang 10

Chức năng nhiệm vụ của thanh tra chuyên ngành được quy định trong Nghịđịnh số 07/2012/NĐ-CP quy định nhiệm vu, quyền hạn của cơ quan, Thủ trưởng cơquan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; hoạt động thanh trachuyên ngành của Thanh tra bộ, Thanh tra sở, cơ quan được giao thực hiện chức năngthanh tra chuyên ngành và trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, cơquan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành trong hoạt động thanh tra chuyên ngành.

Hoạt động thanh tra chuyên ngành do Đoàn thanh tra chuyên ngành, Thanh traviên và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện Vàphải được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn,

kỹ thuật, nghiệp vụ; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm phápluật

Thanh tra chuyên ngành có 6 nhiệm vụ, quyền hạn

Theo Nghị định, Tổng cục và tương đương, Cục thuộc Bộ; Chi cục thuộc Sở cónhiệm vụ:

- Xây dựng kế hoạch thanh tra gửi Thanh tra bộ, Thanh tra sở tổng hợp trình

Bộ trưởng, Giám đốc sở phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó;

Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn

-kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực;

- Thanh tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được ChánhThanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở giao;

- Thanh tra những vụ việc khác do Bộ trưởng, Giám đốc Sở giao;

- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử

lý về thanh tra của mình;

- Tổng hợp, báo cáo kết quả thanh tra chuyên ngành với Thanh tra bộ, Thanhtra sở

Nhiệm vụ, quyền hạn của Cục thuộc Tổng cục và tương đương, Chi cục thuộcCục và tương đương được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; Cục

Trang 11

trưởng thuộc Tổng cục và tương đương, Chi cục trưởng thuộc Cục và tương đương;chế độ thông tin, báo cáo, hoạt động thanh tra chuyên ngành của Cục thuộc Tổng cục

và tương đương, Chi cục thuộc Cục và tương đương được giao thực hiện chức năngthanh tra chuyên ngành do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định cụ thể

* Trong trường hợp, phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật được thanh trađột xuất thì theo Điều 14, 15 của Nghị định quy định thẩm quyền ra quyết định thanhtra chuyên ngành theo kế hoạch và thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngànhđột xuất.Theo đó, Chánh thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Tổng cục trưởng, Cụctrưởng thuộc Bộ, Chi cục trưởng thuộc Sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoànthanh tra Đối với những vụ việc phức tạp, kiên quan đến trách nhiệm quản lý củanhiều cơ quan, đơn vị, nhiều cấp, nhiều ngành thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quanngang bộ, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn Thanh tra

Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luậthoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc phòng, chống thamnhũng hoặc theo yêu cầu của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh Thanhtra bộ, Giám đốc sở, Chánh Thanh tra sở

Đối với vụ việc phức tạp liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan,đơn vị, nhiều cấp, nhiều ngành thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyếtđịnh thanh tra đột xuất và thành lập Đoàn Thanh tra

Thời hạn thực hiện cuộc thanh tra chuyên ngành do Thanh tra bộ, Tổng cục,Cục thuộc Bộ tiến hành không quá 45 ngày; trường hợp phức tạp có thể kéo dài hơn,nhưng không quá 70 ngày Cuộc thanh tra chuyên ngành do Thanh tra sở, Chi cụcthuộc Sở tiến hành không quá 30 ngày; trường hợp phức tạp có thể kéo dài hơn,nhưng không quá 45 ngày

* Về thời gian báo cáo kết quả thanh tra: Chậm nhất 15 ngày kể từ ngày nhậnbáo cáo kết quả thanh tra phải ban hành kết luận thanh tra

Nghị định quy định, chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc thanh tra,Trưởng đoàn thanh tra phải có văn bản báo cáo kết quả thanh tra, trừ trường hợp nội

Trang 12

dung kết luận thanh tra phải chờ kết luận về chuyên môn của cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền.

Căn cứ báo cáo kết quả thanh tra, nội dung giải trình của đối tượng thanh tra(nếu có), chậm nhất 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, người

ra quyết định thanh tra phải ra văn bản kết luận thanh tra; trừ trường hợp nội dung kếtluận thanh tra phải chờ kết luận về chuyên môn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Kết luận thanh tra phải có các nội dung: kết quả kiểm tra, xác minh về từng nộidung thanh tra; kết luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, chuyênmôn – kỹ thuật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanhtra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổchức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có)

Bên cạnh đó, kiến nghị các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật; kiến nghị sửađổi, bổ sung, ban hành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý hoặc hủy bỏ quyđịnh trái pháp luật phát hiện qua thanh tra (nếu có).Việc công khai kết luận thanh trachuyên ngành được thực hiện theo quy định tại Điều 46 của Nghị định số86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật Thanh tra

1.1.2 Công chức và công chức thanh tra

1.1.2.1 Khái niệm công chức

Theo quy định tại khoản 2, Điều 4 - Luật cán bộ, công chức năm 2008 côngchức bao gồm:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức

vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chínhtrị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân độinhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốcphòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩquan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lậpcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi

Trang 13

chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhànước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cônglập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quyđịnh của pháp luật

1.1.2.2 Công chức thanh tra

a) Phân loại công chức thanh tra

Đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra được phần thành hai loại:

- Công chức là lãnh đạo thanh tra các cấp gồm:

+ Công chức là lãnh đạo cấp phòng, cấp huyện(quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh) và tương đương thuộc thanh tra tỉnh, thành phố

+ Công chức là lãnh đạo thanh tra tỉnh, thành phố;

+ Công chức là lãnh đạo vụ, viện thuộc thanh tra Chính phủ

- Công chức thừa hành gồm:

+ Thanh tra viên nghiệp vụ

+ Công chức làm công tác văn thư, kế toán, thủ quỹ

Theo các văn bản pháp luật về công chức, là thanh tra viên ngành thanh tra thìđược bổ nhiệm cấn bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các tổ chức thanh tra khôngđồng nhất với việc bổ nhiệm ngạch thanh tra viên Cụ thể công chức A đang công tác

ở một số cơ quan khác được bổ nhiệm chức vụ Chánh thanh tra huyện(theo pháp lệnhthanh tra năm 2007 thì do Chánh thanh tra Chính phủ thực hiện bổ nhiệm, sau khithỏa thuận với Ủy ban nhân dân huyện) thì ít nhất là sau một năm làm nghiệp vụthanh tra thì mới được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra viên cấp một và do Chánh thanhtra cấp trêm bổ nhiệm(theo quy chế thanh tra viên ban hành kèm theo Luật thanh tranăm 2007)

b) Đặc điểm của công chức thanh tra

* Thanh tra là chức năng quản lý nhà nước

Hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm xem xét, đánh giá kết quả việc thực hiệnquyết định quản lý, cũng như hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật.Do đó, thanh

Trang 14

tra là một khâu trong chu trình quản lý nhà nước là yếu tố cấu thành trong hoạt độngquản lý nhà nước, là phương thức và nội dung quan trọng để nâng cao hiệu quả quản

lý nhà nước, là phương tiện phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Hoạt độngthanh tra góp phần bảo đảm việc tuân thủ pháp luật trong quản lý và quản lý nhànước phải bằng pháp luật Hoạt động thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo làphương thức phát huy dân chủ, bảo vệ lợi ích Nhà nước quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân, cơ quan, tổ chức góp phần đẩy mạnh cải cách nền hành chính Nhànước, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng

* Công chức thanh tra góp phần giữ vững pháp chế, phục vụ việc phát triểnkinh tế - xã hội bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thường thì cơ quan, địaphương, bộ phận hay công việc nào đó có chỗ không đúng, chỗ sai lầm mới cầnthanh tra” Do đó, mục đích hàng đầu của công tác thanh tra phải là phòng ngừa, pháthiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiệ những sơ hở trơng cơ chế pháp

lý, chính sách, pháp luật, kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biệnpháp khắc phụ đồng thời chính từ việc phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi viphạm pháp luật, tạo điều kiện cho các nhân tố tích cực phát huy và khắc phục các sơ

hở về chính sách, pháp luật và yếu kém trong công tác quản lý, bao hàm cả việc sửađổi, bổ sung nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, tăng cường trật tự, kỷcương quản lý, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ lợi íchNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Luật Thanh tra đã quy định: “hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện

và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý,chính sách, pháp luật để kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các biệnpháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền vào lợi ích hợp pháp của cơquan, tổ chức và cá nhân”

Trang 15

Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật, tức là khẳng định đến tính phápchế, việc tuân thủ pháp luật của hoạt động thanh tra Song, hiệu quả của hoạt độngquản lý được xem xét trên cả 2 phương diện: Một là tính tuân thủ các quy định củapháp luật, hai là phải đảm bảo tính hợp lý Điều này thấy rõ nhất qua hoạt động thanhtra khi công chức thanh tra đánh giá việc làm của đối tượng thanh tra có những nhân

tố tích cực, đôi khi lại là cách làm mới, mạnh dạn “vượt rào” mà rào cản ở đây ;ànhững quy định cũ của pháp luật chưa kịp xóa bỏ, không thích ướng với xu hứng pháttriển Những việc làm mới đó lại phù hợp với yêu cầu thực tế đang đòi hỏi và có hiệuquả kinh tế rất cao Chính vì vậy, trong quá trình thanh tra, công chức thanh tra phải

có quan điểm đánh giá một cách khách quan, toàn diện, tránh tình trạng sơ cứng, máymóc, chỉ căn cứ vào các quy định cứng nhắc không phù hợp với quy luật khách quan

mà không thấy được những nhân tố mới, hợp lý, tích cực Có như vậy, việc thanh tra

sẽ phục vụ tốt cho việc phát triển kinh tế-xã hội

Mặt khác, hoạt động thanh tra không được làm cản trở đến hoạt động bìnhthường của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thanh tra Điều này bắt bược các cán bộ,công chức thanh tra khi thực hiện thanh tra chỉ cần tiến hành những nội dung thanhtra ghi trong quyết định thanh tra, không được tự ý mở rộng phạm vi thanh tra, hoặckéo dài thời gian thanh tra Việc kết luận phải chính xác, khách quan, không vì động

cơ cá nhân, không được gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu, làm ảnh hưởng đến hoạtđộng bình thường của đối tượng thanh tra

1.2.NĂNG LỰC THỰC THỊ CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC THANH TRA

1.2.1 Khái niệm năng lực và năng lực thực thi công vụ

1.2.1.1 Khái niệm năng lực

Thuật ngữ năng lực được tiếp cận và định nghĩa dưới nhiều giác độ và được sửdụng rộng rãi từ nhiều thập kỷ qua ở các nước trên thế giới

Năng lực là một khái niệm chỉ mức độ, khả năng, kết quả và hiệu quả hoạt độngcủa con người Năng lực không chỉ căn cứ vào tiềm năng, khả năng hoạt động của

Trang 16

con người mà còn chủ yếu dựa vào kết quả, thành tíchcông tác, sự đóng góp và cônghiến của họ cho sự phát triển của đất nước, của xã hội[19, tr.11].

- Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì nghĩa phổ thông nhất, nănglực được hiểu là “ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên, sẵn sàng có thể thựchiện một hoạt động nào đó” Hoặc theo một nghĩa khác là “Phẩm chất tâm lý và sinh

lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượngcao[41,tr.5]

- Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng "Năng lực là khả năng làm việc tốt" [41,tr.5]

- Theo Từ điển Tiếng việt của Nhà xuất bản Khoa học - xã hội "Năng lực là sứclàm việc"[41, tr.5]

Từ các quan niệm trên về năng lực, chúng ta có thể thấy năng lực có những đặcđiểm sau:

- Thứ nhất, năng lực bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định, có thể là một

cá nhân, hay một tổ chức

- Thứ hai, các yếu tố tạo nên năng lực của một cá nhân là tổng hợp tất cả các yếu

tố tâm lý và sinh lý, tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó cókết quả Đó là tổng hợp các yếu tố như thể chấ t, tố chất, năng khiếu bẩm sinh, kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, thái độ, phẩm chất đạo đức, quan hệ xã hội, địnhhướng giá trị cá nhân

- Thứ ba, năng lực của mỗi cá nhân có được có thể là do các yếu tố bẩm sinh,

sinh trưởng tự nhiên mà có, nhưng chủ yếu vẫn là do tác động từ bên ngoài thông quađào tạo, bồi dưỡng hay từ quá trình tự rèn luyện tích lũy kinh nghiệm của mỗi cánhân

- Thứ tư, năng lực của mỗi cá nhân là yếu tố cần thiết, đảm bảo cho mỗi công

việc, mỗi hoạt động được hoàn thành với kết quả cao Một người có năng lực cao, thìkhả năng thực hiện hoàn thành công việc đạt kết quả cao hơn so với người không có

Trang 17

năng lực Trong xã hội luôn vận động và phát triển, mỗi cá nhân phải không ngừngrèn luyện, học tập để nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu của công việc.

Như vậy, ở bình diện chung nhất: Có thể hiểu năng lực là trình độ, khả năng và

sự kết hợp đồng thời những kiến thức, kỹ năng, thái độ và những yếu tố khác cần có

để hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao Hay nói đơn giản, năng

lực chính là cái mà mọi người cần có để có thể hoàn thành công việc được giao

1.2.1.2 Khái niệm về năng lực thực thi công vụ

Để đánh giá cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước người tathường hay dùng đến cụm từ "Năng lực thực thi công vụ" Vậy năng lực thực thicông vụ là gì? Đây là một khái niệm khá trừu tượng, khó phân tích Bởi lẽ, nó liênquan đến trình độ, cá tính, giá trị niềm tin của mỗi cán bộ công chức và các yếu tốnày là định hướng cách xử lý công việc của họ Nói một cách chung nhất năng lựcthực thi công vụ của công chức chính là khả năng công chức thực hiện công việc màNhà nước giao cho

Năng lực ở đây không đứng riêng rẽ mà nó luôn gắn với một chủ thể nhất định,một cá nhân xác định Năng lực của mỗi cán bộ, công chức được coi là khả năng củamột người để làm được công việc được giao, để xử lý một tình huống (thậm chí cảtình huống không hề dự báo trước) và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong mộtmôi trường xác định

Năng lực gắn với bối cảnh mang tính cá nhân và năng động Ngoài các kiến thức

về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực thicông vụ đó được trang bị, đối với mỗi cán bộ, công chức, năng lực còn bao hàm khảnăng quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhau, quan hệ với lãnh đạo, quản lý, với các

tổ chức bên ngoài và nhân dântrên cơ sở những thái độ, kỹ năng giao tiếp cần thiết

Tóm lại: Năng lực thực thi công vụ là khả năng thực tế của mỗi cán bộ công

chức trong việc sử dụng tổng hợp các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, trình độ, thái độ hành vi để làm được công việc được giao, xử lý tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ trong mục tiêu xác định

Trang 18

Như vậy, năng lực của mỗi cán bộ, công chức không phải là phép cộng đơnthuần của các kiến thức kỹ năng, thái độ, mà nó quy tụ đồng thời các nguồn lực, hoạtđộng và kết quả cần đạt, cán bộ, công chức phải biết phối hợp các yếu tố trên trongmột điều kiện, hoàn cảnh nhất định để hành động Nói cách khác, muốn có năng lựccán bộ, công chức phải biết sử dụng tổng hợp các “tài sản” của một con người ví dụnhư kiến thức, kỹ năng và cá tính để đạt được mục tiêu và mục đích cụ thể

Điều 2, Luật cán bộ, công chức năm 2008 cũng chỉ rõ “Hoạt động công vụ củacán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theoquy định của Luật này và các quy định khác có liên quan”

Các nguyên tắc trong thi hành công vụ: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; Bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; Công khai,minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát; Bảo đảm tính hệ thống,thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả; Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phốihợp chặt chẽ

1.2.1.3 Năng lực theo tiêu chuẩn quy định về công chức thanh tra

* Tiêu chuẩn ngạch thanh tra viên

+ Chức trách của thanh tra viên:

Thanh tra viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan thanh tra nhànước, thực hiện quyết định thanh tra và các nhiệm vụ khác của cơ quan thanh tra nhànước Thanh tra viên được giao chủ trì thanh tra các vụ việc có quy mô và tính chấtphức tạp trung bình; khi tiến hành thanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệmtrước pháp luật và Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp về nhiệm vụ được giao

+ Nhiệm vụ của thanh tra viên:

- Tham gia xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các vụ việc thanh tra, giảiquyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng được giao;

- Trực tiếp thực hiện hoặc tổ chức việc phối hợp với các cơ quan, đơn vị cóliên quan tiến hành thu thập chứng cứ, hồ sơ có liên quan đến vụ việc thanh tra, giảiquyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng được giao;

Trang 19

- Lập biên bản, viết báo cáo kết quả thanh tra, làm rõ từng nội dung đã thanhtra, xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm; kiến nghị biệnpháp giải quyết;

- Tổ chức rút kinh nghiệm việc thực hiện các cuộc thanh tra được giao;

- Trong quá trình thanh tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều

47 và Điều 54 Luật Thanh tra;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước giao.+ Năng lực:

- Am hiểu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước để vận dụng vào hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chốngtham nhũng;

- Nắm được nguyên tắc, chế độ, chính sách, quy định của Nhà nước về quản lýkinh tế, văn hóa, xã hội;

- Am hiểu tình hình kinh tế - xã hội;

- Nắm được quy trình nghiệp vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; có khảnăng thực hiện nhiệm vụ được giao;

- Có khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá tình hình hoạt động quản lý ở cấp

cơ sở

+ Yêu cầu trình độ, thâm niên công tác:

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với chuyên môn thuộc ngành, lĩnhvực đang công tác;

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch thanh tra viên;

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước ngạchchuyên viên;

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ ngoại ngữ trình độ B trở lên thuộc 01 trong 05thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức Đối với công chức công tác tại các địaphương ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo có sử dụng tiếngdân tộc thiểu số phục vụ trực tiếp cho công tác thì được thay thế chứng chỉ ngoại ngữ

Trang 20

bằng chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc Thủ trưởng

cơ quan thanh tra nơi công chức đó công tác xác nhận;

- Sử dụng thành thạo tin học văn phòng hoặc có chứng chỉ tin học văn phòng;

- Có thời gian ít nhất 02 năm làm công tác thanh tra (không kể thời gian tập sự,thử việc), trừ trường hợp là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan Quân đội nhândân, sỹ quan Công an nhân dân công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác chuyển sang

cơ quan thanh tra nhà nước thì phải có thời gian công tác ít nhất 05 năm (gồm thờigian ở cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ và thời gian ở cơ quan thanh tra nhà nước, không

kể thời gian tập sự, thử việc) và phải đang giữ ngạch công chức, viên chức, cấp hàmtương đương ngạch thanh tra viên

Trường hợp đã được bổ nhiệm thanh tra viên, sau đó điều động chuyển sang cơquan, tổ chức, đơn vị khác, khi điều động chuyển về cơ quan thanh tra nhà nước, thìđược xem xét bổ nhiệm ngay khi tiếp nhận

* Tiêu chuẩn ngạch thanh tra viên chính

+ Chức trách của thanh tra viên chính:

Thanh tra viên chính là công chức chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan thanhtra nhà nước, thực hiện quyết định thanh tra và các nhiệm vụ khác của cơ quan thanhtra nhà nước Thanh tra viên chính được giao chủ trì hoặc tham gia thanh tra các vụviệc có quy mô rộng, tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực; khi tiến hànhthanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Thủ trưởng cơquan quản lý trực tiếp về nhiệm vụ được giao

+ Nhiệm vụ của thanh tra viên chính:

- Chủ trì hoặc tham gia xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các vụ việc thanhtra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng được giao;

- Trực tiếp thực hiện hoặc tổ chức việc phối hợp với các cơ quan, đơn vị cóliên quan tiến hành thu thập chứng cứ, hồ sơ có liên quan đến vụ việc thanh tra, giảiquyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng được giao;

Trang 21

- Xây dựng báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra, làm rõ từng nội dung

đã thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm; kiếnnghị biện pháp giải quyết để chấn chỉnh hoạt động quản lý trong phạm vi ngành hoặcđịa phương;

- Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện các cuộc thanh tra đượcgiao;

- Tham gia xây dựng các quy trình nghiệp vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tốcáo, chống tham nhũng; trực tiếp hoặc tham gia bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụcho thanh tra viên;

- Trong quá trình thanh tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều

47 và Điều 54 Luật Thanh tra;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước giao.+ Năng lực của thanh tra viên chính:

- Nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước và quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, đềxuất và tổ chức thực hiện có hiệu quả các cuộc thanh tra được giao;

- Nắm vững nguyên tắc, chế độ, chính sách, quy định của Nhà nước trong quản

lý kinh tế, văn hóa, xã hội;

- Am hiểu sâu tình hình kinh tế - xã hội;

- Có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành theo lĩnh vực được phâncông; có khả năng đảm nhận trách nhiệm là trưởng đoàn, phó trưởng đoàn thanh tra;

tổ chức điều hành hướng dẫn thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra thực hiện nhiệm

vụ thanh tra được giao;

- Có năng lực phân tích, đánh giá những vấn đề thuộc phạm vi quản lý củangành, lĩnh vực, địa phương

+ Yêu cầu trình độ, thâm niên công tác:

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với chuyên môn thuộc ngành, lĩnhvực đang công tác;

Trang 22

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch thanh tra viên chính;

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước ngạchchuyên viên chính;

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ ngoại ngữ trình độ B trở lên thuộc 01 trong 05thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức Đối với công chức công tác tại các địaphương ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo có sử dụng tiếngdân tộc thiểu số phục vụ trực tiếp cho công tác thì được thay thế chứng chỉ ngoại ngữbằng chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc thủ trưởng

cơ quan thanh tra nơi công chức đó công tác xác nhận;

- Sử dụng thành thạo tin học văn phòng hoặc có chứng chỉ tin học văn phòng;

- Có thời gian công tác ở ngạch thanh tra viên và tương đương tối thiểu là 09năm, trừ trường hợp là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan Quân đội nhân dân, sỹquan Công an nhân dân công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác và đang giữ ngạchcông chức, viên chức, cấp hàm tương đương ngạch thanh tra viên chính chuyển sang

cơ quan thanh tra nhà nước

* Tiêu chuẩn ngạch thanh tra viên cao cấp

+ Chức trách của thanh tra viên cao cấp:

Thanh tra viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan Thanhtra Chính phủ, Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương, thực hiện quyết định thanh tra và các nhiệm vụ khác của cơ quan thanhtra nhà nước Thanh tra viên cao cấp được giao trực tiếp chủ trì thanh tra các vụ việc

có quy mô lớn, tình tiết rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực; khi tiếnhành thanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Thủtrưởng cơ quan quản lý trực tiếp về nhiệm vụ được giao

+ Nhiệm vụ của thanh tra viên cao cấp:

- Chủ trì xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các vụ việc thanh tra, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng được giao;

Trang 23

- Trực tiếp thực hiện hoặc tổ chức việc phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữuquan tiến hành thu thập chứng cứ, hồ sơ có liên quan đến vụ việc thanh tra, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng được giao;

- Xây dựng báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra, làm rõ từng nội dung

đã thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm; kiếnnghị biện pháp giải quyết để chấn chỉnh hoạt động quản lý đối với các ngành, lĩnhvực hoặc các địa phương;

- Chủ trì hoặc tham gia tổng kết, đánh giá các cuộc thanh tra có quy mô lớn,phức tạp, cuộc thanh tra diện rộng được giao;

- Chủ trì, tham gia xây dựng các quy trình nghiệp vụ thanh tra, giải quyết khiếunại, tố cáo, chống tham nhũng; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho thanh tra viên,thanh tra viên chính;

- Trong quá trình thanh tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều

47 và Điều 54 Luật Thanh tra;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước giao.+ Năng lực của thanh tra viên cao cấp

- Nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng thời kỳ,từng ngành, từng lĩnh vực;

- Am hiểu sâu tình hình kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới; nắm vữngcác nguyên tắc, chế độ, chính sách, quy định của Nhà nước trong quản lý nhà nước,quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội;

- Có kiến thức sâu, rộng về chuyên môn nhiều ngành, lĩnh vực; có khả năngđảm nhận trách nhiệm trưởng đoàn, phó trưởng đoàn thanh tra các vụ việc có quy môlớn, tình tiết rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực; có khả năng tổ chức,điều hành thanh tra viên chính thực hiện nhiệm vụ thanh tra được giao;

Trang 24

- Chủ trì việc tổng kết, nghiên cứu lý luận về công tác thanh tra; tham gia xâydựng các văn bản pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chốngtham nhũng;

- Tham gia xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu chuyên môn nghiệp vụ đểđào tạo, bồi dưỡng cho thanh tra viên, thanh tra viên chính, cán bộ quản lý của các tổchức thanh tra;

- Có năng lực phân tích, khái quát, tổng hợp những vấn đề thuộc phạm vi quản

lý của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực

+ Yêu cầu trình độ, thâm niên công tác:

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với chuyên môn thuộc ngành, lĩnhvực đang công tác;

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch thanh tra viên caocấp;

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước ngạchchuyên viên cao cấp;

- Có trình độ cao cấp lý luận chính trị;

- Có văn bằng hoặc chứng chỉ ngoại ngữ trình độ C trở lên thuộc 01 trong 05thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức;

- Sử dụng thành thạo tin học văn phòng hoặc có chứng chỉ tin học văn phòng;

- Có thời gian công tác ở ngạch thanh tra viên chính và tương đương tối thiểu

là 06 năm, trừ trường hợp là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan Quân đội nhândân, sỹ quan Công an nhân dân công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác và đang giữngạch công chức, viên chức, cấp hàm tương đương ngạch thanh tra viên cao cấpchuyển sang cơ quan thanh tra nhà nước

1.2.2 Các yếu tố hình thành năng lực thực thi công vụ

Năng lực của mỗi con người được hình thành và tổng hợp hài hòa bởi nhiềuyếu tố, trong đó có các yếu tố cơ bản sau:

1.2.2.1.Trình độ đào tạo

Trang 25

Trình độ đào tạo là học vấn, là kiến thức, là tiêu chí cơ bản thể hiện năng lực cánhân, là tiền đề để hình thành năng lực của người cán bộ công chức Người cán bộ,công chức không thể gọi là có năng lực trong một công việc nào đó nếu không có trithức, hiểu biết về vấn đề đó Trình độ là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứutrong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục hiện nay Quá trìnhgiáo dục trong nhàtrường chủ yếu là trang bị tri thức, kinh nghiệm, lý luận và óc tư duy, sáng tạo khoahọc Trình độ đào tạo được thể hiện qua hệ thống các văn bằng, chứng chỉ, chứngnhận đào tạo cho con người một thể giới quan khoa học, óc nhận xét, khả năng tư duyxét đoán và quyết định hành động đúng quy luật, đúng mức độ và đúng thời cơ, là kếtquả của quá trìnhđào tạo Tuy vậy không có nghĩa là cứ có đủ bằng cấp là người đó

có năng lực, đây là hai vấn đề, hai lĩnh vực khác nhau

Trong thực tế, không phải ai có trình độ cao cũng là những người có năng lựcthực tế cao và ai có trình độ thấp là người có khả năng giải quyết công việc thấp.Trình độ đào tạo của cán bộ công chức bao gồm:

- Trình độ: Là yếu tố cơ bản và là yêu cầu tối thiểu đối với mọi công chức Trên

thực tế, trình độ học vấn được biểu hiện trên những văn bằng: Tiểu học, Trung học cơ

sở, Trung học phổ thông

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Là yếu tố hàng đầu đáp ứng yêu cầu công tác,

đảm bảo năng lực, kỹ năng thực thi công vụ của cán bộ, công chức Để hoạt động,công tác đáp ứng nhiệm vụ đòi hỏi mỗi Cán bộcông chức phải cótrình độ chuyênmôn, nghiệp vụ nhất định phù hợp với yêu cầu công tác trên một lĩnh vực mà họ phụtrách Nó tạo nên nét đặc thù trong công việc của mỗi cán bộ công chức, nhất là côngchức chuyên môn Đối với mỗi cán bộ công chức, trình độ chuyên môn đóng vai tròquan trọng nhất, vì đây là những kiến thức liên quan với công việc, hiện nay việctuyển dụng cán bộ công chức chủ yếu dựa vào trình độ chuyên môn

Sự yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ sẽ làm chất lượng, hiệu quả thực thi công

vụ của cán bộ công chức giảm sút, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của cả cơ quan.Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức cơ bản đã được đào tạo trong

Trang 26

quá trình học tập tại các trường lớp Tuy nhiên "Học phải đi đôi với hành" phải biếtứng dụng tốt nghiệp vụ, tri thức vào công tác, mặt khác thực tiễn luôn biến đổi yêucầu công tác ngày càng cao và đòi hỏi cán bộ, công chức phải thường xuyên nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có vậy mới nâng cao được năng lực công tác Trình

độ chuyên môn gồm các cấp độ: Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng, Đại học và sau đạihọc

- Trình độ ngoại ngữ và tin học: Là một yếu tố cần thiết cho hoạt động của công

chức trong điều kiện hội nhập hiện nay Đối với công chức yêu cầu cơ bản là có khảnăng nghe, nói đọc, viết một ngoại ngữ và có thể sử dụng thành thảo phần mềmMicrosoft Ofice, vì đây là các công cụ có thể thu thập, quản lý thông tin một cách cóhiệu quả

- Trình độ lý luận chính trị: Là trình độ nhận thức của cán bộ, công chức về

những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ xãhội, bản chất của Nhà nước, chủ trương đường lối chính sách và về vai trò, sứ mệnhcủa Đảng cộng sản trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa Trình độ lý luận chính trịgiúp cho đội ngũ cán bộ công chức nâng cao ý thức, bản lĩnh chính trị, kiên định mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng và Nhànước đã chọn Có được những kiến thức đó cán bộ sẽ hoạt động đúng hướng và đạtđược hiệu quả cao Trình độ lý luận chính trị gồm các cấp độ: Sơ cấp, Trung cấp vàcao cấp

-Trình độ quản lý nhà nước: Là kiến thức mà công chức được trang bị về những

vấn đề cơ bản nhất về Nhà nước và pháp luật, nền hành chính nhà nước, nắm vững vàvận dụng thành thạo các công cụ, kỹ năng, phương pháp điều hành, quản lý nhànước Những kiến thức này sẽ cho họ hiểu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về nhiệm vụ,quyền hạn của mình và qua đó cũng cung cấp những công cụ, kỹ năng, phương phápquản lý điều hành giúp họ giải quyết công việc có kết quả và đúng pháp luật Trình

độ quản lý nhà nước gồm các cấp độ: Cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính vàchuyên viên cao cấp

Trang 27

Trình độ đào tạo không phải là yếu tố duy nhất tạo nên năng lực nhưng nó cómột vai trò rất quan trọng Trong quá trình thực thi công vụ của mình thì trình độ đàotạo sẽ là nền tảng cho sự nhận thức tiếp thu đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng những chủtrương, chính sách đó vào cuộc sống.

1.2.2.2 Kỹ năng nghiệp vụ

Là tổng hợp những cách thức, phương thức, biện pháp tổ chức và thực hiệngiải quyết công việc của công chức, điều này thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thứcchuyên môn vào thực tế, sự thành thạo và nắm vững nghiệp vụ, chỉ một số ít kỹ năngnghiệp vụ cơ bản mang tính lý thuyết của cá nhân được hình thành trong quá trìnhđào tạo tại trường lớp, còn phần lớn các kỹ năng mang tính thực tế cần thiết cho quátrình giải quyết công việc được hình thành trong quá trình công tác, đó là kinhnghiệm thực tế, người nào càng có nhiều kinh nghiệm thực tế thì người đó càng cónhiều kỹ năng và mức độ thành thạo các kỹ năng càng cao hoặc các kỹ năng đó cóthể có được do sự truyền đạt, trao đổi cho nhau Kỹ năng của công chức bao gồm: Kỹnăng chung và kỹ năng chuyên môn Ngoài ra, trong việc giải quyết các công việchàng ngày còn có: Kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng tổng hợp và phân tích thông tin, kỹnăng giao tiếp, kỹ năng phối hợp và làm việc theo nhóm, kỹ năng sử dụng cácphương tiện hiện đại, kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng tổchức công việc và các kỹ năng bẩm sinh khác phụ thuộc vào kiến thức, trình độ từngngười

1.2.2.3 Kiến thức hiểu biết xã hội và kinh nghiệm thực tiễn

Ngoài kiến thức chuyên môn được đào tạo thông qua các khóa học, mỗi cán bộcông chức phải trang bị cho mình các kiến thức hiểu biết về tình hình kinh tế, vănhoá, chính trị xã hội và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, điều này giúpcho chúng ta có tầm nhìn bao quát, đa diện, giúp đánh giá, giải quyết vấn đề một cáchkhách quan và chuẩn xác hơn

Trang 28

Kinh nghiệm thực tiễn là một trong những yếu tố quan trọng của năng lực cán

bộ, công chức Bên cạnh trình độ, kinh nghiệm thực tiễn nhiều khi quyết định đối với

sự thành công, hay thất bại của công việc Kinh nghiệm là những vấn đề được tíchlũy, rút ra từ quá trình hoạt động của bản thân thông qua quá trình, thời gian làm việc,công tác, trải nghiệm qua thực tiễn Kinh nghiệm bao gồm những yếu tố như: Thờigian công tác, vốn sống, sự hiểu biết, cách ứng xử, xử lý công việc nhờ có kinhnghiệm mà người cán bộ, công chức xử lý tốt cáctình huống, công việc tránh đượcnhững sai sót đã từng vấp phải trước đây, chủ động, tự tin trong cách giải quyết côngviệc được giao Đối với cán bộ, công chức, kinh nghiệm là sự am hiểu về công việc,tình hình thực tế đang giải quyết, về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc phạm vi công việc

cụ thể

1.2.2.4 Định hướng giá trị

Định hướng giá trị là những vấn đề liên quan đến sự phù hợp, sở thích, sởtrường, nguyện vọng cá nhân đối với công việc mà mình tham gia Người hứng thú,tâm đắc, có ý thức trách nhiệm luôn có khả năng thực hiện công việc với chất lượngcao

Người được đối xử tốt, động viên sẽ có tinh thần hăng hái, phấn khởi nên côngviệc thường trôi chảy, do đó năng lực cũng dần được nâng lên cùng với hiệu quảcông việc Người bị thành kiến, hắt hủi thường bất mãn, chán nản, làm việc đối phónăng lực bị kìm hãm, không được phát huy Người có trình độ cao nhưng nếu không

an tâm, thích thú công việc, không định hướng đến công việc thì hiệu quả cũngkhông thể cao vì năng lực không được phát huy

Định hướng giá trị là yếu tố quan trọng, kết nối các yếu tố trình độ, kinhnghiệm, kỹ năng thống nhất trong một hệ thống tạo nên năng lực của cá nhân Khôngchăm lo thường xuyên đến một trong các yếu tố trên sẽ ảnh hưởng đến năng lực Do

đó để nâng cao năng lực cán bộ công chức ngoài việc nâng cao trình độ, bồi dưỡngkiến thức, đào tạo các kỹ năng cần quan tâm tới ý thức tập thể, đạo đức công vụ vàđịnh hướng giá trị cho họ Điều đó giúp cán bộ, công chức hiểu rằng họ làm việc

Trang 29

không chỉ vì thu nhập cánhân mà cònvìlợi ích tập thể và sự hứng thú với công việcmột cách thực sự

Ngoài những yếu tố cơ bản tạo nên năng lực cán bộ công chức còncó nhiều yếu

tố khác có ảnh hưởng đến năng lực cán bộ, công chức như: Môi trường điều kiện làmviệc, chế độ đãi ngộ, đặc thù công việc, yếu tố thiên bẩm, yếu tố sức khỏe, cách phâncông nhiệm vụ, thời điểm

Năng lực thực thi công vụ không phải là tổng của các yếu tố trên Mà quantrọng nó là sự quy tụ đồng thời, là sự phối kết hợp chặt chẽ các yếu tố trong nhữngđiều kiện hoàn cảnh nhất định nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao Điều này phụthuộc rất lớn vào khả năng của mỗi công chức: khả năng sẵn có và khả năng qua đàotạo và kinh nghiệm Trong vấn đề này là sự phối kết hợp giữa kiến thức hành chính

và kỹ năng hành chính để làm sao đạt được mục tiêu đó nêu ra

Trong thực tế, năng lực được xem xét đánh giá trong những điều kiện, thờiđiểm, lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau Ví dụ người cán bộ, công chức trước đây

có năng lực trong thời kỳ bao cấp, nhưng chưa chắc đã gọi là có năng lực trong thời

kỳ mở cửa, hội nhập Người có năng lực trong lĩnh vực xây dựng Đảng chưa chắc đó

có năng lực trong quản lý kinh tế Hiện nay trong việc đánh giá cán bộ, công chứcchúng ta thường đánh giá theo tiêu chí sau: Trước hết là khả năng hoàn thành tốtcông việc sau đó là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; kiến thức quản lý nhà nước;trình độ lý luận chính trị, trình độ tin học ngoại ngữ, phẩm chất chính trị, ý thức tổchức kỷ luật, điều kiện về sức khỏe, thể lực

1.2.3 Tiêu chí xác định năng lực thực thi công vụ của công chức

Đánh giá việc thực thi công vụ của công chức là một trong những nội dung cơbản và quan trọng trong quản lý nhân sự hành chính nhà nước Thông qua việc đốichiếu giữa kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức với mục tiêu đặt ra, đơn vị sửdụng công chức có thể thấy được năng lực, trách nhiệm, sự cống hiến cũng như đạođức công vụ của người công chức Kết quả đánh giá chính là cơ sở để quyết định cácbiện pháp phù hợp trong sử dụng, đãi ngộ, bố trí, đề đạt, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật,

Trang 30

khen thưởng công chức Đánh giá kết quả thực thi công vụ của công chức chính làmột trong những biện pháp để quản lý và xây dựng một đội ngũ công chức chínhquy, chuyên nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước.

Việt Nam đang xây dựng một nền hành chính nhà nước “chính quy, chuyênnghiệp và từng bước hiện đại” Mục tiêu ấy chỉ đạt được khi những con người làmviệc trong nền hành chính cũng thực sự chính quy, chuyên nghiệp và hiện đại

Như vậy, công việc quan trọng phải xác định rõ các tiêu chí để đánh giá nănglực thực thi công vụ của công chức thanh tra, nâng cao chất lượng đội ngũ công chứcđang có, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp để “chuyên nghiệp hóa”, “hiện đạihóa” đội ngũ này

Hiên nay đã có “khung năng lực tiêu chuẩn” nhưng chưa đưa ra được các tiêuchuẩn cụ thể để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức Khung năng lực làtiêu chí bắt buộc phải có của công chức theo chức danh(Thanh tra viên, Thanh traviên chính, Thanh tra viên cao cấp) mà họ đảm nhận Chúng ta chỉ chú trọng nângcao kiến thức mà không quan tâm đến kỹ năng hay thái độ, hành vi của công chứcthanh tra ở từng vị trí việc làm nên việc bố trí chưa thực sự hợp lý, chưa đáp ứngđược yêu cầu, đòi hỏi của thời kỳ mới

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tác giả xin đưa ra một số tiêu chí xácđịnh năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra trên cơ sở tổng hợp các kiếnthức về năng lực, công vụ, công chức và năng lực thực thi công vụ

1.2.3.1 Tiêu chí chung

Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động đa dạng và phức tạp, trong đố độingũ công chức thanh tra có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thực thi phápluật, tổ chức triển khai đưa pháp luật vào cuộc sống, quản lý mọi mặt, mọi lĩnh vựctrong đời sống kinh tế xã hội thực hiện những mục tiêu nhất định Vì vậy, việc nângcao chất lượng đội ngũ công chức thanh tra là nhiệm vụ trọng tâm, được đặt lên hàngđầu và đó là yêu cầu cần thiết góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tácthanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực khoa học công nghệ Nâng cao chất lượng đội ngũ

Trang 31

công chức thanh tra là một trong những nội dung quan trọng là cần phải chuẩn hóachức danh công chức có được những kiến thức chung làm nền tảng để nâng cao nănglực thực thi cho công chức Tùy theo vị trí công tác, chức danh thì có từng loại tiêuchí cụ thể, tuy nhiên công chức thanh tra cần đạt được các kiến thức cơ bản chungtrước khi ở vị trí công việc, chức danh nhất định Các tiêu chí cần được trang bị trướckhi tuyển dụng, cụ thể như:

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được trang bị ở các cơ sở đào tạo trong hệthống giáo dục quốc dân hoặc ở nước ngoài bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau

Ở mỗi ngành nghề hay mỗi vị trí công việc thì cần có trình độ chuyên môn, nghiệp vụtương ứng Kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ thông thường được đào tạo trước khituyển dụng, bố trí, sắp xếp công việc, và trong quá trình công tác thì mỗi công chứcphải thường xuyên nâng cao trình đọ chuyên môn, nghiệp vụ của mình để quá trìnhthực thi công vụ đạt hiệu quả cao

- Kiến thức về quản lý nhà nước

Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nóiriêng là hoạt động đa dạng, phức tạp, diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vìvậy công chức phải có những hiểu biết chung về quản lý nhà nước đặc biệt là kiếnthức liên quan đến hệ thống pháp luật và các văn bản pháp luật Đây là đòi hỏi cấpthiết đối với công chức để họ hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ công tác được giao

- Kiến thức bổ trợ: ngoại ngữ, tin học

Những kiến thức này là công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình thực thi công vụcủa công chức, ở mỗi ngành nghề và vị trí công việc khác nhau mà công chức cầntrang bị cho mình những kiến thức bổ trợ cần thiết Các kiến thức này không phải lànhững tiêu chí bắt buộc đối với công chức ở một số lĩnh vực Trong quá trình thực thicông vụ, kết quả đánh giá thực thi công vụ, hàng năm sẽ là những tiêu chí để xác địnhcông chức có đủ năng lực để thực thi công việc được giao

Kết quả công tác là một trong những yêu tố quan trọng để đánh giá năng lực

Trang 32

thực thi công việc của công chức thanh tra.Đây là kết quả của quá trình vận dụngtrình độ, kiến thức, kỹ năng và thái đội, hành vi trong quá trình thực thi công vụ.Kếtquả công tác, công việc được giao, bao gồm: Số lượng công việc; chất lượng côngviệc; chất lượng công việc; hiệu suất làm việc; điều kiện, hoàn cảnh để hoàn thànhcông việc; kỹ năng tham mưu, thuyết trình, lãnh đạo, trình độ sử dụng máy tính,ngoại ngữ, cách giải quyết vấn đề, chất lượng soạn thảo văn bản, hiệu quả tổ chức hộihọp, làm việc nhóm, giao tiếp, ứng xử Qua đó đánh giá mức độ làm việc, tính sángtạo trong công việc, tính chịu trách nhiệm của công chức Ở Việt Nam, đánh giá kếtquả thực hiện công việc của công chức ở các mức độ khách nhau như:

1 Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 3 Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn

chế về năng lực

2 Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao 4 Không hoàn thành nhiệm vụ

Trong trường hợp công chức không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan đơn vịphải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hoặc luân chuyển công tác phù hợp với trình độ

và năng lực của họ

1.2.3.2 Tiêu chí cụ thể

Người công chức phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí chung nói trên, ngoài ra ởtừng chức danh, vị trí công việc công chức thanh tra sẽ có những tiêu chí đánh giá cụthể, trong phạm vi nghiên cứu này tác giả đưa ra một số tiêu chí sau:

- Đối với công chức lãnh đạo

Lãnh đạo là người đứng đầu đơn vị, có chức năng và nhiệm vụ quan trọngtrong đơn vị Vì vậy, họ phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, phải có kỹ năngchuyên biệt, phải là một tấm gương sáng, có như vậy thì mới có thể tiến hành hoạtđộng quản lý và giúp cho hoạt động quản lý đạt được hiệu lực, hiệu quả cao Nănglực thực thi công vụ của công chức lãnh đạo là năng lực quản lý và điều hành cáchoạt động của cơ quan mình theo đúng mục tiêu đề ra, đó là tổng thể các khả năngnhư là lập kế hoạch, tổ chức, quản lý, điều hành, dự báo do đó để đánh giá năng lực

Trang 33

thực thi công vụ của công chức lãnh đạo cần dựa trên các tiêu chí sau:

Thứ ba, khả năng dự báo

Công chức lãnh đạo cần phải tiên đoán, dự báo các khả năng có thể xảy ratrong hiện tại và tương lai, đồng thời dự phòng các khả năng giải quyết, thực hiệnchúng trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau

Thứ tư, khả năng sáng tạo

Công chức lãnh đạo cần tìm tòi, khám phá, phát hiện và đề xuất cái mới có íchcho nhân dân, đưa ra những biện pháp và hành động mới phù hợp với tình hình thựctiễn của cơ quan

Thứ năm, khả năng quyết đoán

Công chức lãnh đạo cần phải quyết đoán, táo bạo đồng thời chắc chắn trongviệc đưa ra những quyết đinh và trong chỉ đạo hành động, có tinh thần trách nhiệmvới quyết định của mình đưa ra

- Đối với công chức chuyên môn

Công chức chuyên môn là lực lượng không thể thiếu của bất kỳ cơ quan, tổchức nào Họ là những người giúp cho lãnh đạo, cơ quan hoạt động có hiệu quả Đốivới công chức chuyên môn họ không chỉ giỏi về lý thuyết mà còn giỏi cả thực hành

Trang 34

Để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn có thể dựa vào cáctiêu chí như:

Thứ nhất, mức độ hiểu biết chuyên môn

Đây là tiêu chí quan trọng đòi hỏi công chức thừa hành phải có hiểu biết sâurộng về ngành, lĩnh vực mình quản lý, ngoài ra cũng cần phải có những hiểu biếtnhất định về những vấn đề liên quan để giải quyết công việc đạt hiệu quả cao

Thứ hai, khả năng tham mưu

Công chức chuyên môn tham mưu cho lãnh đạo quản lý về những vấn đề liênquan đến công việc của mình, giúp nhà lãnh đạo đưa ra được những quyết định đúngđắn

Thứ ba, phối hợp trong công tác

Trong từng cơ quan hành chính nhà nước cần có sự phối hợp giữa các bộ phận,nhân tố, cấu thành để tổ chức thực hiện những nhiệm vụ công tác cụ thể trong khuônkhổ chức năng, thẩm quyền của cơ quan Để hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệulực và hiệu quả thì mỗi công chức chuyên môn trong Sở cần có sự phối hợp với nhau

để giải quyết công việc một cách nhanh chóng và hiệu quả cao

Thứ tư, thái độ phục vụ nhân dân

Công chức chuyên môn trong quá trình thực thi công vụ cần có thái độ nhãnhẵn, lắng nghe ý kiến; giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về các quy định liênquan đến giải quyết công việc Không gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thựchiện nhiệm vụ

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực thi công vụ của công chức thanh tra

1.2.4.1.Các yếu tố khách quan

- Thiết bị , phương tiện và điều kiện làm việc

Thiết bị, phương tiện làm việc là yếu tố quan trọng giúp nhà lãnh đạo hoànthành tốt công tác quản lý, giúp công chức nâng cao năng suất lao động, hoàn thànhtốt nhiệm vụ được giao, giảm thiểu chi phí, tiết kiệm thời gian, giảm hao tổn sức lực

Trang 35

trong lao động tạo ra sự linh hoạt, mền dẻo trong công việc, chống lại sự ỷ lại;khuyến khích công chức hăng say trong lao động, sáng tạo trong công việc

Điều kiện làm việc ảnh hưởng rất lớn đến năng lực thực thi công vụ của côngchức thanh tra Nếu được đảm được đầy đủ các điều kiện và phương tiện làm việc thì

sẽ giúp công chức giải quyết công việc được nhanh chóng và đạt hiệu quả cao

- Môi trường làm việc

Môi trường làm việc là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệuquả công việc của công chức Môi trường làm việc đối với công chức bao gồm: cơ sởvật chất, tinh thần, chế đọ chính sách, mối quan hệ giữa lãnh đạo đối với nhân viên vàgiữa nhân viên với nhân viên

Để công chức thanh tra thực thi tốt được nhiệm vụ của mình thì các nhà lãnhđạo, quản lý cần tạo ra môi trường làm việc phù hợp Có môi trường làm việc tốt thìmỗi công chức mới có điều kiện làm việc tốt, phát huy khả năng của mình, chung sứcthực hiện nhiệm vụ của tập thể

- Chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ

Chính sách tiền lương ảnh hưởng rất lớn đến năng lực thi công vụ của côngchức bởi vì công chức thanh tra hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm việc thờigian hành chính nên để công chức phát huy hết tài năng và cống hiến cho cơ quan thìphải có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ tương xứng với công việc mà côngchức đảm nhiệm Tiền lương thấp không kích thích được công chức gắn bó với nhànước, không thu hút được nhân tài, người làm việc giỏi, người có tài bỏ khu vực nhànước ra khu vực tư nhân nơi có thu nhập cao hơn Mặt khác, lương thấp cũng là mộttrong những nguyên nhân dẫn đến tiêu cực, tham nhũng của một bộ phận công chức.Việc trả lương đúng cho người công chức là thực hiện đầu tư cho phát triển tạo độnglực để nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệulực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước

- Công tác tuyển dụng công chức

Trang 36

Công tác tuyển dụng công chức cũng ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụcủa công chức thanh tra Tuyển dụng công chức là quá trình bổ sung những người đủtiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức Đây là quá trình thường xuyên và cầnthiết để xây dựng và phát triển đội ngũ công chức Nếu công tác tuyển dụng đượcthực hiện công khai, minh bạch thì sẽ tuyển dụng được đội ngũ công chức có chấtlượng cao, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hành chínhnhà nước

- Công tác sử dụng công chức

Công tác quản lý công chức nhằm tạo ra một đội ngũ công chức đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ của cơ quan hành chính Việc bố trí, sắp xếp công chức phù hợp vớicông việc của họ sẽ giúp họ phát huy hết khả năng của mình, tạo được hứng thú vàsáng tạo trong công việc Ngược lại, nếu bố trí, sắp xếp không hợp lý, không phù hợpvới trình độ chuyên môn và vị trí công tác thì kết quả công việc sẽ không cao

- Công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Trước xu thế mở cửa, hội nhập thì đòi hỏi đội ngũ công chức thanh tra phải cótrình độ cao, có các kỹ năng cần thiết để thực thi nhiệm vụ được giao Trong quátrình thực thi công vụ người công chức phải thường xuyên học hỏi, tham gia các lớpđào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình Công tácđào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình Công tácđào tạo bồi dưỡng phải thường xuyên được cải tiến và đổi mới chương trình,phải gắnvới yêu cầu xây dựng đội ngũ công chức thanh tra chuyên nghiệp, hiện đại trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hiện nay chưa thật sự đápứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, nội dung chương trình đào tạo vẫn nặng về

lý thuyết, chưa thật sự chú trọng đến thực hành, đào tạo chưa gắn với vị trí công tác,với chức năng và nhiệm vụ của công chức được giao Phương thức đào tạo truyềnthống chưa tạo ra được tính tích cực, chủ động trong học tập Năng lực, trình độ độingũ giảng dạy chưa đồng đều, kỹ năng sư phạm còn hạn chế nên khả năng tiếp thu

Trang 37

của người học là chưa cao Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng chưa đổi mớikịp thời.

Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức ảnh hưởng rất lớn đến năng lựcthực thi công vụ của công chức thanh tra

- Công tác kiểm tra, đánh giá công chức

Công tác kiểm tra, đánh giá công chức là rất quan trọng nhằm ngăn ngừa, pháthiện và xử lý hành vi vi phạm Việc đánh giá công chức được các cơ quan hành chínhthực hiện thường xuyên, liên tục, kiểm tra định kỳ về trình độ chuyên môn, kết quảthực hiện công việc, về thái độ phục vụ nhân dân…

Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nếu không có sự hiểm tra, đánhgiá công chức định kỳ mà chỉ dựa vào các báo cáo trên giấy tờ thì sẽ không đánh giáchính xác được năng lực thực sự của công chức Nếu không đánh giá đúng năng lựccủa công chức thì có thể họ sẽ chủ quan cho rằng mình đã có đủ năng lực và khôngcần phấn đấu nữa hoặc nếu không đánh giá đúng năng lực thực sự của họ thì sẽkhông tạo ra động lực để họ cố gắng Chính vì vậy, cần có những tiêu chí rõ ràng đểđánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra

Công việc đánh giá công chức được thực hiện hàng năm hoặc đánh giá theonhiệm kỳ, công tác đánh giá công chức thường dựa vào kết quả của công việc màcông chức đảm nhận

1.2.4.2 Các yếu tổ chủ quan

+ Động cơ cá nhân

Công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quanh hànhchính nói riêng có biên chế suốt đời, nếu họ có nguyện vọng, mong muốn và yêuthích công việc, họ là người có ý thức trách nhiệm với công việc của mình thì đây làđộng lực để họ phấn đấu và cống hiến Động cơ cá nhân là một trong những yếu tốrất quan trọng trong việc xây dựng, nâng cao năng lực thực thi công vụ của côngchức Vì vậy, để nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Vì vậy, để nângcao năng lực thực thi công vụ thì bản thân người công chức phải phải yêu thích công

Trang 38

việc, mong muốn được làm việc và phát huy hết khả năng của bản thân trong côngviệc

+ Kinh nghiệm thực tiễn

Hoạt động quản lý hành chính rất phong phú và đa dạng, vì vậy người côngchức thanh tra phải có kinh nghiệm thực tiễn Kinh nghiệm này được hình thành từquá trình công tác của họ Nếu chỉ có lý thuyết mà không có kinh nghiệp thực tiễn thìcông chức rất khó có thể giải quyết nhanh chóng và chính xác trước những tìnhhuống quản lý hành chính nhà nước

Kinh nghiệm là những hiểu biết có được do từng trải trong cuộc sống trong họctập và công tác Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, có rất nhiều trườnghợp kinh nghiệm có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công hay thất bại của côngviệc Kinh nghiệm bao gồm sự hiểu biết chung về con người và xã hội, các kỹ năng

và cách ứng xử của công chức trong quá trình công tác Hiện nay, đội ngũ công chứcthanh tra khi được tuyển dụng thường có tuổi đời rất trẻ, vừa tốt nghiệp đại học nênchưa có nhiều kinh nghiệm, năng lực còn hạn chế, chủ yếu là những kiến thức lýthuyết được trang bị ở trường đại học nên ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc

Vì vậy, để nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra thì saukhi được tuyển dụng và trải qua một thời gian công tác nên đưa những công chứcxuống làm việc ở cơ sở để gần dân, nắm rõ được tâm tư và nguyện vọng của nhândân hoặc là thường xuyên luân chuyển đội ngũ công chức để học hỏi những kinhnghiệm trong thực tiễn giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

+ Cơ hội thăng tiến

Cơ hội thăng tiến của công chức thanh tra đó là thăng tiến trong một ngạchlương, để đạt được từ ngạch thấp lên ngạch cao hơn cần trải qua kỳ thi nâng ngạchhoặc thăng tiến trong một chức vụ chuyên môn Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩycông chức thanh tra thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực của bảnthân để có cơ hội thăng tiến trong công tác hoặc là động lực để công chức phấn đấu,

Trang 39

rèn luyện phẩm chất đạo đước, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để phù hợpvới vị trí, chức danh mà mình muốn đạt tới.

1.2.5 Nội dung nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra

Quản lý hành chính nhà nước là một nghề của xã hội, và là một nghề đặc biệt của xã hội Bên cạnh các yếu tố cần thiết để giải quyết công việc chuyên môn mang

tính nghề nghiệp, người CBCC còn là đại diện cho Bộ máy Nhà nước, thực thi quyềnlực của Nhà nước để quản lý mọi mặt xã hội theo pháp luật Vì thế, người CBCCkhông chỉ cần am hiểu các kiến thức kinh tế, xã hội nói chung mà cần phải có bảnlĩnh chính trị vững vàng để thực hiện nhiệm vụ cách mạng mà Đảng, Nhà nước vànhân dân giao phó.Vì vậy, năng lực của một người CBCC có được phải thông quamột quá trình đào tạo, bồi dưỡng về các mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ hành vi đểđảm bảo thực hiện tốt yêu cầu công việc quản lý hành chính nhà nước đặt ra Bao

gồm: Trình độ lý luận chính trị, trình độ QLNN, trình độ chuyên môn, trình độ Ngoại

ngữ và Tin học…

- Nâng cao năng lực thực thi công vụ của CBCC thanh tra là một quá trình đào

tạo và bồi dưỡng lâu dài, có kế hoạch cụ thể, hợp lý, để tạo ra một lực lượng côngchức đáp ứng về mọi mặt yêu cầu của công tác QLNN, trong một môi trường quản lýNhà nước luôn luôn thay đổi, bao gồm:

+ Đào tào bồi dưỡng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công tác, quátrình trải nghiệm công tác thực tế

+ Rèn luyện, giáo dục, tu dưỡng đạo đức công vụ, nâng cao tinh thần tráchnhiệm nghề nghiệp, danh dự của người công chức

- Ngoài ra, nội dung của nâng cao năng lực thực thi công vụ của CBCC thanh

tra còn bao hàm việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách nhằmkhuyến khích, động viên tinh thần làm việc công chức thanh tra trong điều kiện cònkhó khăn như hiện nay Đồng thời, góp phần động viên về mặt tinh thần, tạo sự yên

tâm công tác cho công chức thanh tra Từ đó, công chức thanh tra mới có điều kiện

Trang 40

yên tâm để trau dồi, tự trau dồi chuyên môn của mình, nâng cao chất lượng hoạt động công vụ tại địa phương

- Bên cạnh đó, hoạt động định hướng tạo nguồn, lập quy hoạch, kế hoạch, từng

bước thực hiện tiêu chuẩn hoá, để nâng cao mặt bằng trình độ chuyên môn công chức thanh tra, góp phần nâng cao mặt bằng chung năng lực công chức thanh tra trong giai đoạn hiện nay.

Đó là những nội dung cơ bản của hoạt động nâng cao năng lực thực thi công vụđối với công chức thanh tra

1.2.6 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức thanh tra.

Bất kỳ lĩnh vực nào thì yêu cầu về năng lực là điều rất cần thiết Đặc biệttrong cơ quan hành chính thì yêu cầu về năng lực cán bộ, công chức được đặt lênhàng đầu Và đối với Thanh tra Sở thì yêu cầu cần phải nâng cao năng lực đội ngũcán bộ, công chức để có thể tạo nên một đội ngũ thanh tra vừa hồng vừa chuyên đápứng nhu cầu trên địa bàn càng được quan tâm hơn Thanh tra Sở là đơn vị mới đượcthành lập nên đội ngũ cán bộ công chức không chỉ thiếu mà còn nhiều khiếm khuyết

về năng lực thực thi hành động quản lý hành chính Để nâng cao năng lực làm việccủa đội ngũ cán bộ, công chức tại đơn vị phải đáp ứng thời gian yêu cầu, trong đócần phải đáp ứng yêu cầu sau:

Trước tiên, cần phải trang bị kiến thức cho đội ngũ công chức thanh tra theoquy hoạch yêu cầu công việc, đặc biệt là kỹ năng quản lý hành chính một cách cơ bản

và có hệ thống vì đó là nền tảng của các kỹ năng cần có của một vị trí, công việctrong cơ quan

Mỗi một vị trí công tác phải thực hiện nhiệm vụ khác nhau đòi hỏi cán bộ,công chức phải có những kỹ năng lãnh đạo, điều hành, kỹ năng tác nghiệp hànhchính, giao tiếp…

Ngày đăng: 05/07/2017, 10:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6.Chính Phủ (2009), Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường , thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường , thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2009
7.Chính phủ (2010), Nghị định 06/2010/NĐ - CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ về việc quy định những người là công chức, Hà Nội.8. Luật Thanh tra (2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 06/2010/NĐ - CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ về việc quy định những người là công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
10.Bộ Nội vụ (2003), Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 và các văn bản triển khai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 và các văn bản triển khai
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2003
11. Bộ Nội vụ (2011),Chuyên đề Chế độ Công vụ và quản lý cán bộ, công chức - Tài liệu bồi dưỡng thi chuyên viên cao cấp khối Đảng, đoàn thể, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Chế độ Công vụ và quản lý cán bộ, công chức- Tài liệu bồi dưỡng thi chuyên viên cao cấp khối Đảng, đoàn thể
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2011
14. Học viện Hành chính quốc gia (2007), Giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính nhà nước, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
15. Học viên Hành chính quốc gia (2006), Giáo trình quản lý Hành chính công, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý Hành chính công
Tác giả: Học viên Hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
18.Nguyễn Trọng Điều (2007), Về chế độ công vụ Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chế độ công vụ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Điều
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
21. Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việ nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việ nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
22. Thang Văn Phúc (2004), Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới
Tác giả: Thang Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
23.Tỉnh ủy Hà Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ (2010 - 2015), Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ (2010 - 2015)
Tác giả: Tỉnh ủy Hà Nam
Năm: 2010
25. Cục Thống kế Hà Nam (2013), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2013, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2013
Tác giả: Cục Thống kế Hà Nam
Năm: 2013
4. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2004), Nghị quyết số 37 – TW ngày 01/7/2004 về đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng Sông Hồng đến năm 2020 Khác
5. Chính phủ (2003), Nghị định 117/2003/NĐ – CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 về sử dụng và quản lý công chức nhà nước Khác
9. Thông tư số 03/2014/TT-BNV quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành Thanh tra của Bộ Nội vụ Khác
12. Pháp lệnh cán bộ công chức được sửa đổi bổ sung năm 2003, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
16. Đề án số 03/2013 của Bộ Khoa học Công nghệ về nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức làm khoa học công nghệ trong giai đoạn hiện nay Khác
17. Dự án “Tăng cường năng lực tổng thể của đội ngũ công chức thanh tra khoa học công nghệ giai đoạn 2010 – 2015 của Bộ Khoa học Công nghệ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.7. Bảng đánh giá kết quả thực thi công vụ của công chức thanh tra - Luận văn năng lực công chức thanh tra sở khoa học công nghệ tỉnh hà nam
Bảng 2.7. Bảng đánh giá kết quả thực thi công vụ của công chức thanh tra (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w