Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari Tetranychidae)
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận án
Lương Thị Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Văn Đĩnh và TS Lê Ngọc Anh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông Học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Nghiên cứu
và Phát triển Cây có múi, Viện Nghiên Cứu Rau Quả TW đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Nghiên cứu sinh
Lương Thị Huyền
Trang 52.2.2 Những nghiên cứu về nhện bắt mồi thuộc họ Phytoseiidae 8
2.3.3 Những nghiên cứu về các loài nhện bắt mồi và thiên địch khác 33 2.3.4 Những nghiên cứu về biện pháp sinh học nhện nhỏ hại cây trồng 35
Trang 63.5 Phương pháp nghiên cứu 38 3.5.1 Diễn biến mật độ nhện đỏ cam chanh và nhện bắt mồi trên cây bưởi Diễn
3.5.3 Nghiên cứu sự phát triển, tập tính và tỷ lệ tăng tự nhiên của loài
3.5.4 Đánh giá khả năng sử dụng loài N longispinosus trong phòng chống sinh
4.1.1 Sự phát triển, tập tính của nhện bắt mồi và diễn biến số lượng của chúng
4.1.2 Tỷ lệ gia tăng quần thể của loài N longispinosus khi nuôi ở các mức
4.1.3 Tỷ lệ gia tăng quần thể của loài N longispinosus nuôi ở các mức ẩm độ
4.1.4 Tỷ lệ gia tăng quần thể của loài N longispinosus nuôi trên các loại thức
4.1.5 Khả năng sử dụng loài N longispinosus trong phòng chống sinh học
4.2.1 Sự phát triển, tập tính của loài N longispinosus 114 4.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ tới loài N longispinosus 115
4.2.4 Ảnh hưởng của thức ăn tới loài N longispinosus 127 4.2.5 Ứng dụng loài N longispinosus trong phòng chống sinh học 128
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BNN &PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 Thời gian phát triển, khả năng sinh sản và chỉ số sinh học của nhện đỏ
2.2 Thời gian phát dục của loài N longispinosus ở các mức nhiệt độ, ẩm độ
2.3 Thời gian vòng đời, tuổi thọ, thời gian trước, trong và sau đẻ trứng của
trưởng thành cái loài N longispinosus ở các mức nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn 162.4 Các chỉ số sinh học của loài N longispinosus ở các mức nhiệt độ, ẩm độ
2.5 Số lượng con mồi trung bình bị tiêu thụ bởi loài N.longispinosus ở mật
2.6 Các chỉ số sinh học của loài N longispinosus nuôi bằng nhện đỏ hai
4.7 Thời gian các pha phát triển trước trưởng thành của loài N
longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở các nhiệt độ khác
4.8 Thời gian phát triển của nhện cái loài N longispinosus ở các mức nhiệt
độ khác nhau nuôi bằng nhện đỏ cam chanh P citri (RH = 75±5%) 674.9 Sức sinh sản và tỷ lệ giới tính của loài N longispinosus nuôi bằng nhện
đỏ cam chanh P citriở các mức nhiệt độ khác nhau (RH=75±5%) 69
Trang 94.10 Tỷ lệ trứng nở của loài N longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam chanh
4.11 Các chỉ số sinh học của loài N longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam
chanh P citri ở các mức nhiệt độ khác nhau (RH = 75±5%) 744.12 Thời gian các pha phát triển trước trưởng thành của loài N
longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở các ẩm độ khác
4.13 Thời gian phát triển của loài N longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam
chanh P citri ở các ẩm độ khác nhau (to = 27,5±1oC) 794.14 Sức sinh sản và tỷ lệ giới tính của loài N longispinosus nuôi bằng nhện
đỏ cam chanh P citri ở các ẩm độ khác nhau (to = 27,5±1oC) 804.15 Tỷ lệ trứng nở của loài N longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam chanh
4.16 Các chỉ số sinh học của loài N longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam
chanh P citri ở các ẩm độ khác nhau (to = 27,5±1oC) 854.17 Thời gian các pha phát triển trước trưởng thành của loài N
longispinosus nuôi bằng các loại thức ăn tự nhiên (to = 27,5±1oC, RH =
4.18 Thời gian phát triển của loài N.longispinosus nuôi bằng các loại thức ăn
4.19 Sức sinh sản và tỷ lệ giới tính của loài N longispinosus nuôi bằng các
loại thức ăn tự nhiên (to = 27,5±1oC, RH = 85±5%) 914.20 Tỷ lệ trứng nở của loài N longispinosus nuôi bằng các loại thức ăn tự
Trang 104.25 Sức ăn nhện non tuổi 3 các loài nhện hại cây trồng của trưởng thành cái
4.28 Sức ăn nhện non tuổi 3 của 5 loài nhện hại cây trồng của trưởng thành
4.29 Sức ăn trưởng thành 5 loài nhện hại cây trồng của trưởng thành cái loài
4.30 Mật độ nhện đỏ cam chanh P citri (con/lá) sau lây thả hai loài nhện bắt
4.31 Mật độ loài N longispinosus và N cailifornicus (con/lá) sau lây thả 5,
4.32 Hiệu lực (%) khống chế nhện đỏ cam chanh P citri của loài N
4.33 Mật độ nhện đỏ cam chanh P citri sau thời gian lây thả loài N
4.34 Hiệu lực (%) khống chế nhện đỏ cam chanh P citri của loài N
4.35 Thời gian trước trưởng thành, đẻ trứng, tuổi thọ và số trứng của con cái
Trang 11DANH MỤC HÌNH
3.2 Cây bưởi dùng để nhân nuôi nhện đỏ cam chanh P citri, nhện đỏ tươi
3.3 Nhân nuôi nhện đỏ son T cinnabarinus và nhện đỏ hai chấm T urticae 41
3.6 Cây bưởi chua trong nhà lưới có mái che dùng để thả loài N longispinosus 473.7 Cây bưởi Diễn ngoài đồng ruộng dùng để thả loài N longispinosus 484.1 Các pha phát dục của loài N longispinosus (độ phóng đại 60 lần) 54
4.4 Tập tính tụ tập theo nhóm của loài N longispinosus 634.5 Diễn biến loài N longispinosus và nhện đỏ cam chanh P citri trên cây
4.6 Nhịp điệu đẻ trứng của loài N longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam
chanh P citri ở các mức nhiệt độ khác nhau (RH = 75±5%) 704.7 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở 20±1oC (RH = 75±5%) 714.8 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở 25±1oC (RH = 75±5%) 724.9 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở 27,5±1oC (RH = 75±5%) 724.10 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở 30±1oC (RH = 75±5%) 734.11 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở 32,5±1oC (RH = 75±5%) 744.12 Nhịp điệu đẻ trứng của loài N longispinosus nuôi bằng nhện đỏ cam
chanh P citri ở các ẩm độ khác nhau (to = 27,5±1oC) 81
Trang 124.13 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở ẩm độ 55±5% (to = 27,5±1oC) 824.14 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở ẩm độ 65±5% (to = 27,5±1oC) 834.15 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở ẩm độ 75±5% (to = 27,5±1oC) 834.16 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri ở ẩm độ 85±5% (to = 27,5±1oC) 844.17 Nhịp điệu đẻ trứng của loài N longispinosus nuôi bằng các loại thức ăn
4.18 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ hai chấm T urticae (to = 27,5±1oC, RH = 85±5%) 944.19 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ son T cinnabarinus (to = 27,5±1oC, RH = 85±5%) 944.20 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ cam chanh P citri (to = 27,5±1oC, RH = 85±5%) 954.21 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ nâu chè O coffeae (to = 27,5±1oC, RH = 85±5%) 954.22 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện đỏ tươi Brevipalpus sp (to = 27,5±1oC, RH = 85±5%) 964.23 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của loài N longispinosus nuôi
bằng nhện rám vàng P oleivora (to = 27,5±1oC, RH = 85±5%) 96
Trang 13
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
1 Tên tác giả: Lương Thị Huyền
2 Tên luận án: “Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể
của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari:
Tetranychidae)”
3 Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 62.62.10.12
4 Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
5 Mục đích nghiên cứu của luận án
Xác định được điều kiện môi trường: nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn nuôi nhện bắt
mồi Neoseiulus longispinosus Evans (NBM) phù hợp mà tại đó chúng có tỷ lệ tăng quần thể cao nhất và khả năng sử dụng N longispinosus trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor tại Hà Nội
7 Các phương pháp nghiên cứu chính đã sử dụng
* Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự phát triển, tập tính của nhện bắt mồi N longispinosus và diễn
biến mật độ của chúng trên cây bưởi Diễn tại huyện Chương Mỹ, Hà Nội
- Xác định tỷ lệ gia tăng quần thể của loài N longispinosus tại các mức nhiệt độ
* Vật liệu nghiên cứu
- Cây bưởi Diễn, cây Ba Bét
- Nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor
- Nhện hại cây trồng khác: nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch, nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Boisduval, nhện đỏ nâu chè Oligonychus coffeae Neitner, nhện đỏ tươi Brevipalpus sp và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead, phấn
hoa Typha
* Phương Pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu sự phát triển và tỷ lệ tăng tự nhiên theo phương pháp nuôi cá thể trong điều kiện ổn định về nhiệt độ và ẩm độ, còn thức ăn và không gian là không giới hạn (Birch, 1948; Nguyễn Văn Đĩnh, 1992) Từ các số liệu nghiên cứu sẽ lập được bảng sống (life table) của NBM trên từng điều kiện môi trường, xác định được các chỉ số sinh học cơ bản của nhện nhỏ bắt mồi bao gồm: tỷ lệ tăng tự nhiên (rm), hệ số nhân trong một thế hệ (Ro), thời gian của một thế hệ (T, Tc), giới hạn gia tăng quần thể (λ), và thời
gian nhân đôi quần thể (DT) Nuôi sinh học NBM N longispinosus bằng lồng Munger
cải tiến
Trang 14- Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh học của NBM được thực hiện theo
phương pháp của Collyer (1982), Moraes et al (2004), Oliveira et al (2012), McMurtry
et al (2013)
- Sử dụng phương pháp Abbott (1925) để đánh giá hiệu lực khống chế nhện đỏ
cam chanh P citri của NBM N longispinosus trong nhà lưới có mái che và phương
pháp của Henderson Tilton (1955) để đánh giá hiệu lực của NBM trên đồng ruộng
- Xác định diễn biến mật độ NBM N longispinosus và nhện đỏ cam chanh
P citri theo QCVN 01-38 (BNN&PTNT, 2010) và QCVN 01–119: 2012/BNN&PTNT
(2012)
8 Các kết quả nghiên cứu chính đã đạt được
- Loài NBM N longispinosus là thiên địch phổ biến của các loài nhện nhỏ hại trên cây bưởi Diễn tại Chương Mỹ, Hà Nội Mật độ của NBM N longispinosus cao nhất là
tháng 5 (6,72 con/lá) và tháng 10 (6,42 con/lá), thấp nhất là vào tháng 1 (0,95 con/lá)
Nhện đỏ cam chanh P citri có mật độ cao nhất là vào tháng 5 lên tới 65,33 con/lá và
tháng 6 là 41,44 con/lá, thấp nhất là vào tháng 1, 2,11 con/lá
- Với nền ẩm độ 75%, trong 6 mức nhiệt độ thí nghiệm, loài N longispinosus phát
triển tốt ở nhiệt độ từ 25oC đến 32,5oC, phát triển chậm ở 20oC Riêng ở 35oC chúng chỉ
phát triển đến nhện non tuổi 2 Thời gian hoàn thành vòng đời của loài N longispinosus
dài nhất ở 20oC là 13,48 ngày, ngắn nhất ở 30oC là 4,81 ngày và ở 27,5oC là 5,78 ngày
Số trứng trung bình của nhện cái NBM N longispinosus cao nhất ở 27,5oC là 43,76 quả,
ở 30oC là 33,22 quả; tỷ lệ tăng tự nhiên (rm) ở 27,5oC là 0,303 và ở 30oC là 0,323
- Với nhiệt độ 27,5oC, các mức ẩm độ 55, 65, 75, 85 và 95%, loài N longispinosus phát triển tốt nhất trong khoảng 75-85%, phát triển kém ở ẩm độ 55% và không sinh sản ở ẩm độ 95% NBM N longispinosus có thời gian hoàn thành vòng đời
ở ẩm độ 75% là 6,33 ngày và 85% là 5,58 ngày; số trứng trung bình của nhện cái là 27,30 quả ở ẩm độ 75% và 28,36 quả ở ẩm độ 85%; tỷ lệ tăng tự nhiên (rm) là 0,293 ở 75% và 0,318 ở 85%
- Ở điều kiện 27,5oC, ẩm độ 85% và nuôi bằng 6 loài nhện hại cây trồng thì NBM
N longispinosus phát triển bình thường và hoàn thành vòng đời Khi nuôi bằng hai loài nhện kho (T putrescentiae, C lactis) và phấn hoa Typha T latifolia, NBM
N longispinosus không phát triển và chỉ sống đến nhện non tuổi 2 Trong 6 loài nhện nhỏ hại cây trồng thì ba loài như nhện đỏ hai chấm T urticae, nhện đỏ son
T cinnabarinus và nhện đỏ cam chanh P citri là thức ăn tốt nhất mà NBM
N longispinosus có tỷ lệ tăng tự nhiên cao nhất lần lượt là 0,2997; 0,2966 và 0,2980; số
trứng của nhện cái lần lượt là 29,32; 32,09 và 28,97 quả
- Trong nhà lưới có mái che, tất cả các công thức thả NBM N longispinosus ở các
tỷ lệ NBM:Nhện đỏ cam chanh 1:10, 1:20, 1:30, 1:40 và 1:50 đều có kết quả khống chế
nhện đỏ cam chanh P citri trên cây bưởi sau 20 ngày, cao nhất tương ứng ở công thức
có tỷ lệ NBM:Nhện đỏ cam chanh 1:20 và 1:30 là 90,98% và 89,81% Ngoài đồng
ruộng, hiệu lực khống chế nhện đỏ cam chanh P citri của N longispinosus cao nhất là (84,26-83,48%) sau lây thả 50-60 ngày ở tỷ lệ 1:20
Trang 15THESIS ABSTRACT
1 PhD candidate: Luong Thi Huyen
2 Thesis title: The effect of temperature, relative humidity and preys to population
growth rate of the predatory mite Neoseiulus longispinosus Evans and the ability of using them in biological control of citrus red spider mite Panonychus citri McGregor
(Acari: Tetranychidae)
2 Major: Plant protection Code: 62 62 01 12
3 Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
5 Research Objectives
To determine optimal temperature, relative humidity and preys for development of
the predatory mite (PM) N longispinosus at which their intrinsic rate of natural increase
(rm) is the highest and the ability for applying them in biocontrol on citrus red spider
mite (CRSM) Panonychus citri
7 Materials and Methods
* Research contents
- Reasearching of the development, behavior of the predatory mite
N longispinosus and their population density change on Dien grapefruit at Chuong My
- Reasearching of the ability of using them in biological control of citrus red
spider mite Panonychus citri
* Materials
- Dien grapefruit, Mallotus sp.
- Citrus red spider mite P citri
- The other mites: two spotted spider mite T urticae, carmine spider mite
T cinnabarinus, Red spider mite on tea O coffeae, Scarlet mite Brevipalpus sp and
citrus rust mite P oleivora
*Methods
- The intrinsic rate of natural increase in this study was based on the individual rearing method in stable conditions of temperature and humidity, and unlimited food source and space (Birch, 1948; Nguyen, 1992) According to the results of this study, the basic biological parameters of predatory mite such as: The intrinsic rate of natural increase (rm), the net reproductive rate (Ro), the generation time (T, Tc), the finite rate of increase (λ) and the doubling time (DT) were determined The predatory mite
N longispinosus was reared by Munger cage
Trang 16- Morphological and biological characteristics of predatory mite N longispinosus was conducted by methods described by Collyer (1982), Moraes et al (2004), Oliveira et al (2012), McMurtry et al (2013)
- The efficacy of the predatory mite N longispinosus to control citrus red spider mite P citri in greenhouse and in the field was determined by the method of Abbott
(1925) and method of Henderson Tilton (1955), respectively
- The population density change of predatory mites N longispinosus and citrus red spider mite P citri was obtained following the QCVN 01-38 (BNN&PTNT, 2010)
and QCVN 01 – 119: 2012/BNNPTNT (2012)
8 Main findings and conclusions
- The predatory mite N longispinosus was a common predator of mites on citrus
at Chuong My district, Ha Noi city The density of the predatory mite N longispinosus
was the highest in May (6.72 mites/leaf) and October (6.42 mites/leaf), the lowest was
in January (0.95 mites/leaf) The density of citrus red spider mite P citri was the highest
in May (reach 65.33 mites/leaf) and June (41.44 mites/leaf), the lowest was in January (2.11 mites/leaf)
- Rearing at six temperature levels and 75% RH, the predatory mite
N longispinosus well developed at temperatures from 25 to 32.5 degrees, slowly
developed at 20 degree In particularly, at 35oC the predatory mite only developed to
protonymph The life cycle of the predatory mite N longispinosus was the longest at
20oC (13,48 days) and the shortest at 30oC (4.81 days) and at 27.5oC (5.78 days) The total of eggs of a female was the highest at 27.5oC (43.76 eggs) and 30oC (33.22 eggs) The intrinsic rate of natiral increase (rm) was 0.303 at 27.5oC and 0.323 at 30oC
- Rearing at relative humidity levels: 55, 65, 75, 85 and 95% at 27.5oC, the
predatory mite N longispinosus most developed from 75-85% RH Their life cycle was
6.33 days at 75% RH and 5.58 days at 85% RH; the total of eggs of a female was 27.30 eggs at 75% RH and 29.25 eggs at 85% RH; the intrinsic rate of increase (rm) was 0.293
at 75% RH and 0.318 at 85% RH
- Under condition of 27.5oC, 85% RH and reared on six phytophagous mite
species, the predatory mite N longispinosus regularly developed and its life cycle was completed But reared on two stored mites (T putrescentiae, C lactis) and the pollen Typha T latifolia, the predatory mite N longispinosus only developed to protonymph
In six phytophagous mites, T urticae, T cinnabarinus and P.citri were the best preys on which the predatory mite N longispinosus had the highest intrinsic rate of natural
increase (rm) 0.2997, 0.2966, 0.298; the total of eggs of a female was 29.32, 32.09 and 28.97, respectively
- In greenhouse, all treatments releasing of the predatory mite N longispinosus at
predatory mite:citrus red spider mite ratio as 1:10, 1:20, 1:30, 1:40 and 1:50 were all
effective to control citrus red spider mite P citri on grapefruit tree, but at treatments
with ratio 1:20 and 1:30 were the highest results of 90.98% and 89.81%, respectively In
the field, the efficacy of the predatory mite N longispinosus to control citrus red spider mite P citri was the highest (84,26-83,48%) after releasing 50 – 60 days at ratio 1:20
Trang 17PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây ăn quả có múi (Citrus) bao gồm các cây cam, bưởi, quýt, cam đường canh, chanh, chấp, Sản phẩm của chúng được người tiêu dùng rất ưa chuộng không chỉ về khẩu vị mà còn về cả mặt giá trị dinh dưỡng Về mặt dinh dưỡng, quả của cây ăn quả có múi chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người, đặc biệt là vitamin C Một số sản phẩm của cây quả ăn có múi có tác dụng chữa bệnh như chanh đào hay có tác dụng làm gia vị như quả và lá chanh
Hiện nay diện tích trồng cây ăn quả có múi luôn được mở rộng và phát triển
ở một số tỉnh trọng điểm của phía Bắc: Hưng Yên 1900 ha, Hà Giang 1600 ha, Tuyên Quang 2700 ha, Nghệ An 2600 ha, Hà Tĩnh 2500 ha (Nguyễn Quang Huy, 2012), huyện Cao Phong - Hòa Bình riêng cam CS1 là 1200 ha (Vũ Đình Việt, 2014) Theo Cục Thống kê Hà Nội (2014) diện tích trồng cây bưởi là 2705,99 ha, cam 746,87 ha, riêng huyện Chương Mỹ diện tích trồng bưởi Diễn là 138,49 ha Cây ăn quả có múi là cây có rất nhiều loài dịch hại nghiêm trọng như nhện nhỏ hại, sâu vẽ bùa, rệp muội, bệnh Greening, bệnh Tristera, Một số vườn cây ăn quả có múi đã bị tàn phá do những loài dịch hại trên gây ra Trước đây khi khoa học công nghệ chưa phát triển để phòng trừ dịch hại trên cây quả có múi nông dân thường chủ yếu sử dụng thuốc hóa học có tác dụng phòng trừ nhanh và hiệu quả Do quá lạm dụng thuốc hóa học trong thời gian dài đã tạo nên tính kháng thuốc và bùng phát mạnh mẽ của nhiều loài sâu bệnh hại trên cây ăn quả có múi Hiện nay nền nông nghiệp nước ta đang chuyển sang hướng sản xuất an toàn và bền vững cho nên biện pháp sinh học trong phòng chống dịch hại rất được chú trọng Tuy nhiên, việc sử dụng tính năng hữu ích của kẻ thù tự nhiên là chưa nhiều và không phổ biến ở các vùng trồng cây ăn quả có múi trọng điểm của miền Bắc nước ta, người dân chưa thật sự tin tưởng vào các loài thiên địch mà mới chỉ hạn chế sử dụng thuốc hóa học và ưu tiên sử dụng các thuốc có nguồn gốc sinh học trong phòng chống dịch hại cây ăn quả có múi
Nhện đỏ cam chanh Panonychus citri là đối tượng gây hại hàng đầu trên
cây ăn quả có múi Tác hại của nhện đỏ cam chanh là rất lớn, chúng gây hại và phát sinh quanh năm, hại chủ yếu trên lá, chúng hút dịch lá làm cho lá tạo nên các vết châm nhỏ li ti màu trắng vàng Khi mật độ cao chúng có mặt cả trên quả Khi bị hại nặng toàn bộ lá và quả có màu trắng hơi vàng, lá bị rụng, cây không phát triển được, bề mặt giá thể có tơ mỏng (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994)
Trang 18Nhện đỏ cam chanh là đối tượng điển hình về tính chống thuốc và bùng phát số lượng trên cây ăn quả có múi khi sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực
vật Trên nhện đỏ cam chanh P citri nói riêng và sâu bệnh hại cây có múi nói
chung có rất nhiều các loài thiên địch, nếu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý
và kết hợp với tính năng hữu ích của chúng thì nền nông nghiệp sản xuất cây ăn quả có múi sẽ bền vững, an toàn và hiệu quả
Hiện nay ở Việt Nam chưa nhân nuôi công nghiệp bất cứ loài nhện bắt mồi nào để phóng thích ra ngoài đồng ruộng phòng chống nhện đỏ cam chanh
P citri Xuất phát từ nhu cầu sản xuất cây ăn quả có múi và phòng chống tác hại của nhện đỏ cam chanh P citri, chúng tôi tiến hành các thí nghiệm về ảnh hưởng
của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi
Neoseiulus longispinosus Evans trong phòng thí nghiệm và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri
McGregor ngoài đồng ruộng
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định được điều kiện môi trường: nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn khi nuôi
nhện bắt mồi (NBM) Neoseiulus longispinosus Evans phù hợp mà tại đó chúng
có tỷ lệ tăng quần thể cao nhất và khả năng sử dụng N longispinosus trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh P citri tại Hà Nội
- Xác định tỷ lệ gia tăng quần thể của NBM N longispinosus với các thức
ăn tự nhiên và thức ăn thay thế khác nhau
- Đánh giá được hiệu quả sử dụng loài NBM N longispinosus trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh P citri
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài nhện bắt mồi (còn gọi là nhện nhỏ bắt mồi) Neoseiulus longispinosus
Evans, thuộc họ Phytoseiidae, bộ Ve bét (Acari)
Trang 191.3.1 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến NBM
N longispinosus và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện
đỏ cam chanh P citri tại vùng Hà Nội
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Lần đầu nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống về ảnh hưởng của 3 yếu tố sinh thái nhiệt độ, ẩm độ và các loại thức ăn đến sự gia tăng quần thể của
NBM N longispinosus
- Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về thời gian phát dục, các chỉ số sinh
học của NBM N longispinosus nuôi trên nhện đỏ cam chanh P citri và một số
nhện hại cây trồng khác
- Xác định được khả năng sử dụng NBM N longispinosus trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh P citri trên cây ăn quả có múi trong nhà lưới
có mái che và ngoài đồng ruộng
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về đặc điểm sinh học, sinh
thái và khả năng phòng chống nhện đỏ cam chanh P citri của loài NBM
N longispinosus Kết quả nghiên cứu về nhân nuôi sinh học và phóng thích NBM
N longispinosus ra ngoài đồng ruộng là những đóng góp mới trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh P citri, nhằm hạn chế việc sử dụng thuốc hóa học trừ
nhện đỏ cam chanh trên đồng ruộng và là tư liệu cho các khuyến nông viên cũng như cán bộ kỹ thuật chuyên ngành Bảo vệ thực vật tại các vùng trồng cây ăn quả có múi để quản lý nhện đỏ cam chanh một cách hiệu quả và an toàn
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cùng dữ liệu về diễn biến mật độ nhện đỏ cam chanh, biện pháp nhân nuôi tập trung và phóng thích, thời điểm phóng thích
NBM N longispinosus cho phép sử dụng biện pháp phòng chống sinh học đối
với nhện đỏ cam chanh và một số nhện hại cây trồng khác
Trang 20PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Nhện nhỏ hại cây trồng nông nghiệp rất đa dạng và phong phú về loài, mỗi loài có thể hại rất nhiều cây trồng khác nhau Nhiều loài đã trở thành nhưng loài
dịch hại chủ yếu trên cây trồng như: nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch
hại đậu đỗ (Nguyễn Đức Tùng, 2009), hại bông (Mai Văn Hào và cs., 2008; Mai Văn Hào, 2010), rau ăn quả (Nguyễn Thị Phương Thảo và cs., 2014), dưa lê
(Trần Văn Lâm và cs., 2015); nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus (Boisduval)
hại trên cây bông, sắn, đay, đậu đỗ, cà chua, ớt, lạc, hoa hồng, đào, mận …
(Nguyễn Văn Đĩnh, 2002, 2005); nhện đỏ nâu chè Oligonychus coffeae Nietner
hại chủ yếu trên cây chè, cà phê và một số cây khác như ổi, bông, điều, xoài
(Nguyễn Văn Đĩnh, 2002, 2005; Lê Thị Nhung, 2002); nhện đỏ tươi Brevipalpus
sp hại chè, cây ăn quả có múi (Trần Xuân Dũng, 2003; Nguyễn Văn Đĩnh, 2002,
2005); nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora (Ashmead) hại các loài cây thuộc
giống cây quả có múi (Trần Xuân Dũng, 2003; Nguyễn Văn Đĩnh, 2002, 2005)
Trên thế giới nhện đỏ cam chanh Panonychus citri gây hại các giống cây quả
có múi, ngoài ra còn gây hại trên các cây trồng khác như cây táo, lê, đào, mận,
khế, đu đủ, mận Nhật, nho (Baker et al., 2008) và cây cảnh (Pratt and Croft, 1998)
Ở nước ta nhện đỏ cam chanh gây hại nặng trên cây ăn quả có múi (cam,
chanh, quýt, bưởi …) (Trần Xuân Dũng, 2003; Nguyễn Văn Đĩnh, 2002, 2005)
và là một trong các đối tượng dịch hại nghiêm trọng trên tất cả các khu vực thâm canh cây ăn quả có múi Nhện đỏ cam chanh xuất hiện rải rác vào các tháng trong năm nhưng gây hại nặng vào các tháng 4, 5, 6 và tháng 10, 11, 12 hàng năm (Trần Xuân Dũng, 2003; Phạm Thị Hiếu và cs., 2013) Nhện đỏ cam chanh đã trở thành dịch hại chủ yếu và nghiêm trọng khi sử dụng các hóa chất trừ nhện (Nguyễn Văn Đĩnh, 1991)
Quản lý nhện hại tổng hợp (Integrated Mite Management/IMM) đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới như ở châu Phi có IMM nhện xanh
(Mononychellus tanajioa) hại sắn , IMM nhện hại táo ở Washington, IMM nhện hại
cây Hạnh nhân ở California, IMM nhện đỏ cam chanh ở Florida và California (Hoy, 2011) Trong biện pháp IMM, nhóm thiên địch được ưu tiên sử dụng là nhóm nhện
bắt mồi chủ yếu thuộc họ Phytoseiidae gồm có Amblyseius barkeri, A californicus,
A cucumeris, A degenerans, A fallacis, A hibisci, A potentillae, A swirskii, Metaseulus occidentalis, Phytoseiulus persimilis và Typhlodromus pyri
Trang 21Ở các nước châu Á và khu vực Đông Nam Á, loài NBM N longispinosus
được nghiên cứu phòng chống sinh học nhện hại cây trồng tại các nước Ấn Độ
(Thakur and Dinabandhoo, 2005; Chauhan et al., 2010; Chauhan et al., 2011; Rahman et al., 2011, 2012, 2013), Phillipine (Deleon and Corpuz, 2005), Thái Lan (Kongchuensin, 2007, 2011, 2015; Kongchuensin et al., 2001, 2005, 2006; Thongtab, 1998; Thongtab et al., 2001, Nusartlert et al., 2010), Hàn Quốc (Huyn
et al., 1988; Kim and Lee, 1993; Lee et al., 1994), Nhật Bản (Mori and Saito, 1979; Mochizuki, 1990; Ohtani et al., 1991; Ohno et al., 2011), Indonesia (Puspitarini, 2010; Puspitarini et al., 2011), Malaysia (Ibrahim and Palacio, 1994;
Ibrahim and Seo, 1995; Ibrahim and Rahman, 1997; Ibrahim and Yee, 2000),
Trung Quốc (Ho et al., 1995; Zhang et al., 1998, 1999, 2000; Yeh et al., 2000; Zhang, 2003; Zhao et al., 2013)…
Nhện bắt mồi N longispinosus là loài có khả năng khống chế con mồi tốt,
có tính chuyên hóa về phổ thức ăn thuộc dạng tương đối hẹp (Type) II
(McMurtry and Croft, 1997; McMurtry et al., 2013), chúng chỉ tiêu thụ thức ăn
tự nhiên là các loài nhện nhỏ hại cây trồng thuộc họ Tetranychidae
Ở Việt Nam, NBM N longispinosus đã được nghiên cứu về một số đặc điểm sinh vật học và khả năng khống chế nhện đỏ hai chấm T urticae hại đậu đỗ
(Nguyễn Đức Tùng, 2009); về đặc điểm sinh học, sinh thái và khả năng tiêu diệt nhện đỏ hai chấm hại bông (Mai Văn Hào, 2010); và về đặc điểm sinh vật học dưới ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi trên thức ăn là nhện đỏ hai chấm hại rau ăn quả (bầu, bí, dưa, cà …) (Nguyễn Thị Phương Thảo và Nguyễn Thị Hồng Vân, 2013) Tuy vậy, trên các các loài nhện đỏ hại cây trồng khác nói chung và nhện
đỏ cam chanh nói riêng chưa có nghiên cứu nào được thực hiện
Trước sự gây hại ngày một tăng của các loài nhện đỏ cam chanh việc
nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của NBM N longispinosus để xác định
điều kiện sinh thái phù hợp nhất nhằm nhân nuôi tập trung và phóng thích chúng
ra ngoài đồng ruộng một cách hiệu quả là rất cần thiết
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
2.2.1 Những nghiên cứu về nhện đỏ cam chanh P citri
Nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor thuộc họ Tetranychidae, với các tên gọi khác là Tetranychus citri McGregor, Paratetranychus citri McGregor, Metatetranuchus citri Pitchard and Baker, Paratetranychus mytilaspidis Banks, Tetranychus mytilaspidis Banks
Trang 22Trưởng thành có màu đỏ hoặc tím đỏ, cơ thể có nhiều lông cứng, nhện đỏ
cam chanh P citri được Ted Townsend tìm thấy ở Arizona tại Yuma và được xác
định bởi Tuttle Chúng xuất hiện các giống cây ăn quả có múi như chanh, cam,
quýt, chanh Yên, và bưởi (Tuttle and Baker, 1968; McMurtry, 1985; Baker et al., 2008; Zanardi et al., 2014), ngoài ra còn gây hại trên một số cây cảnh (Pratt and Croft, 1998) Nhện đỏ cam chanh P citri có 3 giai đoạn phát triển: trứng, nhện non (tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3) và trưởng thành (Zalom et al., 1985; Karaca, 1994; Kasap et al., 2009; Zanardi et al., 2015)
Trong vườn ươm cây ăn quả có múi ở Kusuma Agrowisata Malang và Kebun Pala, Indonesia giai đoạn đỉnh cao của mật độ nhện đỏ cam chanh là vào từ tháng 5
đến tháng 6, sau đó giảm mạnh và không còn vào tháng 8 (Puspitarini et al., 2011) Nhện đỏ cam chanh P citri là một trong những loài gây hại phổ biến nhất
trong vườn cây ăn quả có múi Trên bốn giống cam ngọt (Valencia, Pera, Natal,
và Hamlin), quýt Ponkan và chanh Sicilian, nghiên cứu của Zanardi et al (2014) cho thấy: giai đoạn trước trưởng thành của nhện đỏ cam chanh P citri trên cam
Hamlin là 13,5 ngày, giống Pera là 13,3 ngày, cam Valencia là 12,5 ngày, cam Natal là 12,9 ngày, quýt Ponkan là 12,8 ngày, và chanh Sicilian là 12,5 ngày
Tuổi thọ của nhện đỏ cam chanh P citri trên cam Valencia là 25,4 ngày, chanh
Sicilian là 25,8 ngày cao hơn những cây ký chủ khác Số trứng đẻ trung bình cao nhất trên cam Valencia là 45,2 trứng và chanh Sicilian là 47,0 trứng, và có sự sai khác rõ rệt khi nuôi trên cam Pera là 36,2 trứng, Natal là 36,5 trứng, Hamlin là 24,7 trứng, trên quýt Ponkan là 35,4 trứng
Nhện đỏ cam chanh P citri có tỷ lệ tăng tự nhiên (rm) tăng dần từ 15oC đến
25oC sau đó giảm ở nhiệt độ 30oC Cụ thể, tỷ lệ tăng tự nhiên của nhện đỏ cam chanh ở nhiệt độ 15oC là rất thấp 0,042, 20oC là 0,111, 25oC là 0,160 và 30oC là 0,148 (Kasap, 2009) Delhiro and Monagheddu (1986) và Karaca (1994) cho thấy
tỷ lệ tăng tự nhiên của nhện đỏ cam chanh ở 30oC là 0,229 và 26oC là 1,86
Hệ số nhân của một thế hệ (Ro) của nhện đỏ cam chanh ở 11oC là 158,9 (Delhiro and Monagheddu, 1986); 15oC là 8,80 và 20oC là 13,30 (Kasap, 2009);
24oC là 33,70 (Delhiro and Monagheddu, 1986); 25oC là 16,50 (Kasap, 2009);
26oC là 16,08 (Karaca, 1994); 30oC là 11,50 (Kasap, 2009) và 11,70 (Delhiro and Monagheddu, 1986)
Thời gian trước trưởng thành của nhện đỏ cam chanh ở nhiệt độ 15, 20, 25,
Trang 2330 và 35oC lần lượt là 37,2; 16,6; 12,2; 9,80 và 9,00 ngày (Kasap, 2009) Theo Chiavegato (1988) thời gian trước trưởng thành của nhện đỏ cam chanh ở 25oC là 12,80 ngày, Childers (1983) ở 24/25oC là 12,00 ngày; ở 26oC trong nghiên cứu của Karaca (1994) là 11,20 ngày, Ragusa et al (1983) là 10,12 ngày Theo
Delhiro and Monagheddu (1986) ở 30oC là 7,86 ngày và 33oC là 8,17 ngày Thời gian đẻ trứng của trưởng thành cái nhện đỏ cam chanh ở 15, 20, 25và
30oC là 22,1; 10,80; 9,90 và 9,40 ngày, ở 35oC trưởng thành cái nhện đỏ cam chanh không đẻ trứng, có tỷ lệ chết là 75,80% và thời gian sống của trưởng thành cái là 4,30 ngày (Kasap, 2009) Theo nghiên cứu của Karaca (1994), thời gian đẻ
trứng của trưởng thành cái nhện đỏ cam chanh là 8,90 ngày và Ragusa et al
(1983) là 14,56 ngày đều ở 26oC và trong nghiên cứu của Childers (1983) là
11-14 ngày ở 24/25oC
Số trứng đẻ của con cái nhện đỏ cam chanh ở 15, 20, 25 và 30oC lần lượt là 16,50; 22,10; 25,60 và 16,60 quả (Kasap, 2009) Theo nghiên cứu của Childers (1983) là 17-37 quả ở 24/25oC; Karaca (1994) là 35,40 quả và và Ragusa et al
(1983) là 72 quả đều ở 26oC; Delhiro and Monagheddu (1986) là 37 quả ở 30oC Khi gây hại trên cây ký chủ là các giống cây ăn quả có múi khác nhau,
nhện đỏ cam chanh P citri có giai đoạn phát triển, chỉ số sinh sản, chỉ số sinh
học trong điều kiện nhiệt độ 25±1oC, ẩm độ 60±10% (Zanardi et al., 2015) thể
hiện ở bảng 2.1
Trong phòng thí nghiệm, khi xử lý chất Oxamyl lên lá có nhện đỏ cam
chanh P citri, chỉ số sinh sản của chúng đều thấp hơn so với công thức xử lý
bằng nước lã Cụ thể: hệ số nhân của một thế hệ (Ro) ở công thức xử lý chất Oxamyl là 11,74 trong khi ở công thức xử lý bằng nước lã là 23,4 Ở công thức
xử lý Oxamyl có tỷ lệ giới tính cái là 43,6%, tuổi thọ trung bình là 7,0 ngày, thời gian đẻ trứng trung bình 3,8 ngày đều thấp hơn công thức không xử lý có tỷ lệ giới tính cái là 63,9%, tuổi thọ trung bình 8,6 ngày và thời gian đẻ trứng là 7,1 ngày Với hoạt chất Permethrin, các chỉ số về bảng sống đều cao hơn so với công thức xử lý bằng nước lã, chỉ có thời gian đẻ trứng là thấp hơn nhưng không có sự sai khác có ý nghĩa Cụ thể, hệ số nhân của một thế hệ (Ro) là 30,31, tỷ lệ giới tính cái là 67,1%, thời gian vòng đời là 8,6 ngày và thời gian đẻ trứng trung bình
là 6,6 ngày Với hoạt chất Malathion, hệ số nhân của một thế hệ (Ro) là 29,6, tỷ
lệ giới tính cái là 70,6% và thời gian vòng đời là 8,5 ngày cao hơn so với công
Trang 24thức xử lý bằng nước lã, chỉ có thời gian đẻ trứng trung bình là 7,0 ngày thấp hơn nhưng không có sự sai khác có ý nghĩa (Jones and Parrella, 1984)
Bảng 2.1 Thời gian phát triển, khả năng sinh sản và chỉ số sinh học
của nhện đỏ cam chanh P citri
S
TT
Chỉ tiêu theo dõi của nhện
đỏ cam chanh P citri
Nguồn: Zanardi et al (2015)
Ghi chú: TG: Thời gian, TT: trưởng thành, TLSS: Tỷ lệ sống sót, TL: Tỷ lệ
Nghiên cứu ảnh hưởng của 2 hóa chất Quix và Nobla đến nhện đỏ cam
chanh P citri trong phòng thí nghiệm, Curkovic and Araya (2004) cho thấy nhện
đỏ cam chanh P citri có tỷ lệ chết là 31,7% đối với chất Quix 0,25% và 91,3%
đối với chất Nobla 0,45%
2.2.2 Những nghiên cứu về nhện bắt mồi thuộc họ Phytoseiidae
Họ Phytoseiidae là một họ nhện bắt mồi (NBM) quan trọng nhất tấn công các loài nhện hại cây trồng nông nghiệp (McMurtry and Croft, 1997; Helle and Sabelis, 1985) Các loài NBM có kích thước tương đương với nhện hại cây trồng (nhện vật mồi - NVM), sống tự do trên cạn, xuất hiện trên lá, vỏ cây và đất mùn
trên toàn thế giới (Helle and Sabelis, 1985) Trưởng thành NBM họ Phytoseiidae
có hình oval hoặc hình trái lê, có chiều dài xấp xỉ 0.3-0.5 mm và chiều rộng xấp
Trang 25xỉ 0.3 mm Màu sắc cơ thể rất khác nhau và phụ thuộc vào màu sắc con mồi mà chúng tiêu thụ, nhưng nhìn chung có màu vàng đục đến đỏ NBM thuộc họ Phytoseiidae gồm có 3 giai đoạn phát triển: trứng, nhện non (tuổi 1, tuổi 2 và tuổi 3) và trưởng thành Nhện tuổi 1 có 3 đôi chân, nhện tuổi 2 và 3 có 4 đôi chân Giai đoạn trưởng thành, trưởng thành đực thường nhỏ hơn trưởng thành cái (Helle and Sabelis, 1985)
Họ Phytoseiidae gồm hai phân họ Amblyseiinae và Phytoseiinae Trong phân họ Amblyseiinae gồm có các giống Amblyseius Berlese, Indoseiulus, Iphiseius, Paraamblyseius và Platyseiella Giống Amblyseius Berlese gồm có các phân giống Amblyseius Berlese, Asperoseius, Euseus, Neoseiulus Hughes, Paraphytoseius, Phytoscutella, Proprioseius, Proprioseiopsis, Typhlodromalus, Typhlodromips Phân họ Phytoseiinae gồm có các giống Phytoseius, Typhlodromus Phân giống Neoseiulus Hughes gồm có các loài Amblyseius (Neoseiulus) aceriae, Amblyseius (Neoseiulus) assamensis, Amblyseius (Neoseiulus) cynodonae, Amblyseius (Neoseiulus) dhooriai, Amblyseius (Neoseiulus) fallacis, Amblyseius (Neoseiulus) fraterculus, Amblyseius (Neoseiulus) indicus, Amblyseius (Neoseiulus) longispinosus, Amblyseius (Neoseiulus) paspalivorus, Amblyseius (Neoseiulus) và loài Amblyseius (Neoseiulus) rangatensis (Gupa, 1985)
Họ Phytoseiidae là một họ lớn bao gồm rất nhiều loài NBM, đến thời điểm tháng 4/2014 có 2.709 loài được miêu tả, trong đó có 2.436 loài có giá trị sử dụng nằm trong 91 giống và 3 phân họ (Amblyseiinae, Phytoseiinae và Typhlodrominae) Phân họ Amblyseiinae là lớn nhất có 1.748 loài được mô tả trong 65 giống Phân họ Typhlodrominae có 723 loài được miêu tả trong 23 giống, còn Phân họ Phytoseiinae chỉ có 229 loài trong 3 giống Giống có số
lượng loài lớn nhất là Typhlodromus (454), Amblyseius (400), Neoseiulus (397), Phytoseius (222), Euseius (213) và Proprioseiopsis (163) Những nước có số
lượng loài thuộc họ Phytoseiidae nhiều là Mỹ (313), Trung Quốc (288), Ấn Độ
(195), Bra-xin (190) và Pa-ki-xtan (178) (Demite et al., 2014)
2.2.3 Nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans
2.2.3.1 Phân loại
Nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans đã được đề cập dưới 4 tên sau:
- Typhlodromus longispinosus Evans, 1952: Evans, 1953; Womersley, 1954
Trang 26- Typhlodromus (Amblyseius) longispinosus: Chant, 1959
- Amblyseius longispinosus: Corpuz-Raros and Rimando, 1966; Schicha, 1975
- Neoseiulus longispinosus: Gupta, 1978a; Moraes et al., 1986; 1989;
2004a; 2004b; Chant and McMurtry, 2003b; 2007; Denmark and Evans, 2011 Nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans, là tên cập nhật và được phân loại theo khóa phân loại của NZIB (2012), NCBI (2015), TaiBIF (2012)
Nhện bắt mồi N longispinosus phân bố rộng khắp các châu lục là châu Á,
châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Úc tại các nước và vùng lãnh thổ như: Trung Quốc, Hong Kong, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Philippine, Nga, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Marie Galante, Les Saintes, New Zealand, Đảo Guadeloupe, Hawaii-Mỹ, Martinique, Papua New Guinea, Saint Barthelemy, Ai
cập, Úc, (Collyer, 1982; Moraes et al., 2004; Oliveira et al., 2012)
Phạm vi ký chủ là trên các cây ký chủ của các loài nhện nhỏ hại cây trồng thuộc họ Tetranychidae và một số họ nhện nhỏ hại cây trồng khác: nhện đỏ hai
chấm T urticae (Mori and Saito, 1979; Akimov and Kolodochka, 1981; Petrova and Khrameeva, 1989; Pogrebnyak and Kolodochka, 1990; Lee et al., 1994;
Ibrahim and Palacio, 1994; Ibrahim and Seo, 1995; Ibrahim and Rahman, 1997;
Kongchuensin et al., 2001; Gerdeman et al., 2008; Hyun et al., 1988; Nusartlert et al., 2010; Chauhan et al., 2010; Jeyarani et al., 2012; Ortiz, 2012; Karmakar, 2015; Song et al., 2016), Tetranychus kanzawai Kishida (Ho et al., 1995; Zhang, 2003; Deleon and Corpuz, 2005; Nusartlert et al., 2010), Tetranychus tumidus Banks (Nusartlert et al., 2010; Madruga et al., 2012), nhện đỏ cam chanh P citri (Puspitarini, 2010), Oligonychus indicus Hirst (Manjunatha and Puttaswamy,
1991), Tetranychus truncatus (Deleon and Corpuz, 2005; Kongjiarean, 2006; Kongchuensin, 2006; 2007), nhện đỏ son T cinnabarinus (Lababidi, 1989; Zaman
Trang 27et al., 1990; Özsisli and Şekeroğlu, 2004), Nhện đỏ nâu chè O coffeae (Rahman, 2011; Rahman et al., 2011; 2012; 2013), Oligonychus mangiferus, Oligonychus simus (Nusartlert et al., 2010), nhện vàng hại cam chanh Eotetranychus cendanai Rimando (Thongtab, 1998; Thongtab et al., 2001), nhện hại tre trúc Aponychus corpuzae (Zhang et al., 1998) và Schizotetranychus nanjigensis (Zhang
et al., 1999), nhện hại Eutetranychus africanus (Tucker) (Nusartlert et al., 2010)
và nhện hại cây anh thảo (Cyclamen) (Behis, 2010)
Gần với Việt Nam, ở Thái Lan nhện bắt mồi N longispinosus được tìm
thấy trên 33 loài thực vật từ cây ăn quả đến cây hàng năm, rau và cây cảnh Trong đó trên cây quả có múi như cây chanh dây (có các loài nhện hại
Tetranychus fijiensis, Brevipalpus phoenicis, Eutetranychus africanus), bưởi (có các loài nhện hại như Eutetranychus africanus, Eotetranychus cendanai, Polyphagotarsonemus latus, P oleivora, Tetranychus fijiensis, Tetranychus taiwanicus) và quýt (có Eutetranychus africanus, Eotetranychus cendanai, P oleivora, Tetranychus taiwanicus, Brevipalpus phoenicis, P latus) (Kongchuensin et al., 2005)
2.2.3.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của loài N longispinosus
Nhện bắt mồi N longispinosus được miêu tả có kích thước nhỏ xấp xỉ với kích thước của nhện hại cây trồng (Muma, 1967, Helle and Sabelis, 1985; Moraes
et al., 2004, Kreiter et al., 2013) NBM N longispinosus có đặc điểm nhận dạng:
Mảnh lưng có 9 cặp lông ở bên cạnh Tất cả lông trên mảnh lưng có chiều dài trung bình tương tự nhau, chỉ có lông L6 rất nhỏ Lông D2 kéo dài theo D3, D3 kéo dài theo M1, hầu như các lông có chiều dài vừa phải nhưng dài hơn trung bình Lông M2 dài hơn L7, dài hơn L8; L8 có chiều dài thay đổi do đó có liên quan đến sự thay đổi của L7 L8 ngắn hơn bằng 1/3 L7 L8 nhẵn không có răng cưa rõ rệt Mảnh bụng
có 3 cặp lông tương đối dài trước hậu môn (Collyer, 1982)
Ở Sri Lanka, kích thước trung bình của ba con cái trưởng thành NBM
N longispinosus: chiều dài mảnh lưng: 321 (313-338) µm, chiều rộng mảnh lưng
tại vị trí lông s4 187 (175-208) µm; chiều dài các lông j1 là 18 (17-19) µm, j3 là
62 (61-64) µm, j4 là 58 (56-60) µm, j5 là 70 (69-71) µm, j6 là 70 (68-72) µm, J2 là 77 (75-79) µm, J5 là 8 µm, z2 là 69 (68-70) µm, z4 là 73 (73-75) µm, z5 là
32 (32-38) µm, Z1 là 77 (76-78) µm, Z4 là 72 (71-73) µm, Z5 là 80 (80-81) µm, s4 là 82 (80-83) µm, S2 là 73 (70-79) µm, S4 là 59 (57-62) µm, S5 là 21 (19-23)
µm, r3 là 55 (55-56) µm, R1 là 60 (59-62) µm và lông StIV là 68 (68-70) µm;
Trang 28khoảng cách giữa các lông St1-St3 là 55 (53-56) µm, St2-St2 là 53 (50-55) µm
và St5-St5 là 53 (51-54) µm; chiều dài mảnh bụng là 106 (103-111) µm, chiều rộng mảnh bụng tại vị trí lông ZV2 là 91(89-93) µm; chiều dài hậu môn là 75 (73-77) µm; chiều dài móc miệng cố định là 22 (21-22) µm có 5 răng, chiều dài móc miệng di động là 25 (23-25) µm có 2 răng; túi đựng tinh dài 21 (20-21) µm
(Moraes et al., 2004)
Tương tự, ở Thái Lan kích thước trung bình của ba con cái trưởng thành
NBM N longispinosus: mảnh lưng có chiều dài là 330 (315–340) µm và chiều
rộng là 186 (178–195) µm; chiều dài các lông j1 là 19 (18–21) µm, j3 là 61 (56–68) µm, j4 là 58 (54–62) µm, j5 là 69 (65–72) µm, j6 là 71 (68–73) µm, J2 là 74 (68–81) µm, J5 là 9 (7–12) µm, z2 là 66 (62–70) µm, z4 là 71 (68–75) µm, z5 là
31 (25–36) µm, Z1 là 75 (71–78) µm, Z4 là 71 (65–75) µm, Z5 là 78 (72–81)
µm, s4 là 81 (76–85) µm, S2 là 73 (68–80) µm, S4 là 61 (56–68) µm, S5 là 20 (18–25) µm, r3 là 61 (50–67) µm và R1 là 63 (55–70) µm; khoảng cách giữa các lông St1-St3 là 63 (57–85) µm, St2-St2 là 59 (57–60) µm và St5-St5 là 61 (55–64) µm; mảnh bụng có chiều dài 123 (120–125) µm và chiều rộng 97 (95–100)
µm tại vị trí lông ZV2; bộ phận sinh dục của con đực dài 19 (17–22) µm; chiều dài móc miệng cố định là 23 (22–25) µm và móc miệng di động là 26 (25–27)
µm (Oliveira et al., 2012; Oliveira, 2015)
Hai loài NBM N longispinosus (Evans) và N womersleyi Schicha là các
loài đều có tính ăn nhóm (type) II, có cấu tạo tương tự nhau Nhưng loài NBM
N womersleyi, lông S5 có vuốt và dài bằng lông S4, còn loài NBM N longispinosus lông S5 nhẵn và ngắn hơn nhiều so lông S4 (Zhang, 2003) Hoặc một đặc điểm khác để phân biệt là NBM N longisipinosus có L8 ngắn hơn hoặc
bằng 1/3 L7, L8 thương nhẵn bóng, hay răng cưa không rõ rệt; nhưng ở loài
NBM A womersleyi có L8 bằng ¼ L7, L8 cóa răng cưa rõ rệt (Collyer, 1982) Hay khi phân tích sự đa dạng di truyền của hai loài NBM A longispinosus và A womersleyi sử dụng phương pháp RAPD trong công nghệ sinh học cũng cho thấy sự khác biệt rõ ràng ở hai loài này ở đoạn mồi OPH-17 và OPH-18 (Yeh et al., 2000)
Nhện bắt mồi N longispinosus cũng như các loài NBM khác có 3 pha phát
dục: trứng, nhện non (tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3) và trưởng thành Trứng có hình oval trong suốt Nhện tuổi 1 có 3 dôi chân, màu trắng, ít hoạt động Nhện tuổi 2 có 4
Trang 29đôi chân, bắt đầu tìm kiếm con mồi, cơ thể chuyển màu hơi vàng Nhện tuổi 3 có
4 đôi chân, kích thước cơ thể lớn hơn, màu cam đậm hơn hoặc màu cam xám (Helle and Sabelis, 1985; Thongtab, 1998)
Theo phổ thức ăn, McMurtry et al (2013) chia họ Phytoseiidae làm 4
nhóm; trong đó nhóm I phân làm 3 phân nhóm, nhóm III làm 5 phân nhóm Nhóm I là nhóm chuyên tính cao: phân nhóm I-a, chỉ ăn các loài nhện hại thuộc
giống Tetranychus (Tetranychidae); phân nhóm I-b, chỉ ăn các loài nhện chăng tơ
thuộc họ Tetranychidae; phân nhóm I-c, chỉ ăn nhóm nhện hại Tydeoids (Tydeoidae) Nhóm II là nhóm chuyên tính vừa, ăn các loài nhện hại thuộc họ Tetranychidae Nhóm III là nhóm đa thực, có phổ thức ăn rộng, được chia làm 5 phân nhóm dựa vào môi trường sống: phân nhóm III-a, sống trên các lá có lông tơ; phân nhóm III-b, sống trên các lá nhẵn, không có lông tơ; phân nhóm III-c,sống trong những khoảng trống trên cây hai lá mầm; phân nhóm III-d, sống trong khoảng trống trên cây một lá mầm; phân nhóm III-e, có môi trường sống là đất và mùn Nhóm IV là những loài NBM chuyên ăn phấn hoa và các loài nhện
hại (McMurtry et al., 2013) NBM Neoseiulus longispinosus Evans thuộc nhóm (Type) II và được ghi nhận xuất hiện rộng khắp châu Á (Moraes et al., 2004; Nusartlert et al, 2010; Oliveira et al., 2012) và chỉ ăn các loài nhện hại cây trồng thuộc nhóm Tetranychids (Eutetranychus, Oligonychus and Tetranychus) Chúng
ăn nhện đỏ hai chấm T urticae (Ibrahim and Palacio, 1994; Nusartlert et al., 2010; Chauhan et al., 2010); nhện đỏ son, T cinnabarinus (Lababidi, 1989; Özsisli and Şekeroğlu, 2004); nhện đỏ cam chanh P citri (Puspitarini, 2010); nhện đỏ nâu chè O coffeae (Rahman et al., 2011; 2012; 2013); nhện Eutetranychus africanus (Kongchuensin et al., 2005; Nusartlert et al., 2010)… Ngoài ra NBM N longispinosus còn ăn một số loài nhện hại cây trồng khác như nhện vàng hại cam chanh Eotetranychus cendanai (Rimando) (Thongtab, 1998; Thongtab et al., 2001); nhện hại tre trúc A corpuzae (Zhang et al., 1999) và S nanjigensis (Zhang et al., 1998)
2.2.3.4 Đặc điểm sinh thái học của loài N longispinosus
Các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng đến thời gian phát dục, khả năng sinh
sản, các chỉ số sinh học và khả năng tiêu thụ con mồi của NBM N longispinosus
trong các nghiên cứu ở nước ngoài
Trang 30a, Ảnh hưởng của nhiệt độ
* Các giai đoạn phát triển
Các giai đoạn phát triển của NBM N longispinosus phụ thuộc nhiệt độ
Nhiệt độ càng thấp thì thời gian phát dục càng dài và ngược lại, tuy nhiên đến mức 35oC thì NBM chỉ phát triển tuổi 1 và không có cá thể nào phát triển đến
tuổi 2 (Rahman et al., 2013) Nhìn chung nhiêt độ phù hợp cho NBM phát triển
là từ 25-30oC Đã có khá nhiều công bố (Bảng 2.2) về thời gian các pha phát dục
của NBM N longispinosus với thức ăn là nhện đỏ hai chấm T urticae ở nhiệt độ
25-28oC và ẩm độ 65-85% (Ibrahim and Palacio, 1994); ở các mức nhiệt độ 18,
22, 25, 28 và 30oC, ẩm độ 75-85% (Hyun et al., 1988); ở nhiệt độ 15, 20 và 30oC
(Ruano Ortiz, 2012); nhện đỏ nâu chè O coffeae ở các mức nhiệt độ 15, 20, 25,
30 và 35oC, ẩm độ 75±10% (Rahman et al., 2013); trứng của nhện hại T truncatus và T kanzawai ở nhiệt độ 27oC (Deleon and Corpuz, 2005); T kanzawai ở nhiệt độ 25-29oC, ẩm độ 60-70% (Rachman, 2011); nhện vàng hại
cam chanh E cendanai ở nhiệt độ 28oC, ẩm độ 58±5% (Thongtab, 1998;
Thongtab et al., 2001); nhện hại T tumidus ở nhiệt độ 24,34oC, ẩm độ 73±11%
(Madruga et al., 2012); nhện trắng P latus và T truncatus ở nhiệt độ 27±1oC,
ẩm độ 57±3% (Surayotee and Siri, 2003); P latus ở điều kiện nhiệt độ 27±2oC,
ẩm độ 75±2% (Kongjiarean, 2006); nhện đỏ son T cinnabarinus ở nhiệt độ 25oC
(Lababidi, 1989) và nhện đỏ cam chanh P citri ở nhiệt độ 28oC, ẩm độ 85%
(Puspitarini, 2010); với thức ăn là bọ trĩ Scirtothrips dorsalis Hood ở nhiệt độ
27±1oC, ẩm độ 57±3% (Surayotee and Siri, 2003)
Trong điều kiện mùa đông ở Nhật Bản có sự dao động của nhiệt độ từ 5,9oC đến 22,7oC và ẩm độ từ 20-91%, loài N longispinosus có thời gian phát dục pha
trứng, nhện non tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và thời gian trước trưởng thành lần lượt là
3,8; 1,3; 1,7; 2,0 và 6,06 ngày (Chauhan et al., 2010) Trong điều kiện nhiệt độ,
ẩm độ phòng thí nghiệm, nhện đực loài N longispinosus có thời gian phát triển ở pha trứng, nhện non tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và trưởng thành lần lượt là 2,73; 0,71;
1,92; 1,85 và 16,24 ngày Nhện cái có thời gian phát triển ở pha trứng là 2,73 ngày, nhện non tuổi 1 là 0,74 ngày, tuổi 2 là 1,92 ngày, tuổi 3 là 2,40 ngày, trưởng thành cái là 27,2 ngày; trưởng thành trước đẻ trứng, đẻ trứng và sau đẻ trứng lần lượt là 2,3; 22,36 và 2,36 ngày Số trứng được đẻ của con cái từ 14-52 quả (Behis, 2010)
Trang 31Bảng 2.2 Thời gian phát dục của loài N longispinosus ở các mức nhiệt độ,
Pha phát dục (ngày) TG
trước
TT
Nguồn Trứng Tuổi
E.cendanai 28 58±5 2,02 0,57 1,07 1,16 4,79 Thongtab et al (2001)
O coffeae 15 75±10 3,80 2,90 3,10 4,30 14,00 Rahman et al (2013)
O coffeae 20 75±10 2,50 0,90 2,90 3,10 9,40 Rahman et al (2013)
O coffeae 25 75±10 1,80 0,60 1,30 1,30 4,90 Rahman et al (2013)
O coffeae 30 75±10 1,40 0,50 1,00 1,30 4,20 Rahman et al (2013)
T tumidus 24,34 73±11 2,19 1,30 1,42 1,46 6,77 Madruga et al (2012) T.truncatus
Ghi chú: TG: Thời gian; TT: trưởng thành; egg: Trứng
* Thời gian vòng đời, đẻ trứng và tuổi thọ
Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến tuổi thọ của con cái, thời gian trước đẻ trứng,
đẻ trứng và sau đẻ trứng, số trứng đẻ, tỷ lệ giới tính, tỷ lệ trứng nở thì nhiệt độ càng thấp thì thời gian của nhện cái càng dài Như ở nhiệt độ 20oC đời của nhện
cái NBM ăn trên nhện đỏ nâu chè O coffeae lên đến 50,9 ngày (Rahman et al.,
2013), ở nhiệt độ 26oC và ẩm độ 60% là 34,0 ngày (Kamaka, 2015), ở nhiệt độ
Trang 3228oC khi ăn nhện hại vàng hại cam chanh E cendanai chỉ có 14,62 ngày
(Thongtab, 1998; Thongtab et al., 2001)
Thời gian phát triển của trưởng thành cái loài N longispinosus nuôi trên
nhện đỏ hai chấm T urticae (Hyun et al., 1988; Ibrahim and Palacio, 1994;
Karmaka, 2015), nhện đỏ cam chanh P citri (Puspitarini, 2010), nhện vàng hại
cam chanh Eo cendanai (Thongtab, 1998, Thongtab et al., 2001), nhện đỏ nâu
chè O coffeae (Rahman et al., 2013), nhện T tumidus (Madruga et al., 2012),
trên trứng của hai loài nhện hại T truncatus, T kanzawai (Deleon and Corpuz,
2005), T kanzawai (Rachman, 2011) và trên nhện đỏ son T cinnabarinus
(Lababidi, 1989) được trình bày ở các bảng 2.3
Bảng 2.3 Thời gian vòng đời, tuổi thọ, thời gian trước, trong và sau đẻ
trứng của trưởng thành cái loài N longisipinosus ở các mức nhiệt độ,
ẩm độ và thức ăn
Nhện vật mồi
Nhiệt
độ (oC)
Ẩm độ (%)
Thời gian (ngày)
Nguồn Vòng
đời
Tuổi thọ
Trước
đẻ
Đẻ trứng
Sau đẻ trứng
Trang 33Thời gian vòng đời của loài N longispinosus nuôi trên nhện đỏ hai chấm
T urticae tại nhiệt độ 15oC là 25,2 ngày, 20oC là 9,1 ngày và 30oC là 5 ngày (Ortiz, 2012); tại 26oC là 5 ngày (Karmakar, 2015) Thời gian trước đẻ trứng của
loài N longispinosus tại 15oC, 20oC và 30oC lần lượt là 5,6 ngày, 1,9 ngày và 1,1 ngày với thức ăn là nhện đỏ hai chấm (Ortiz, 2012) Tuổi thọ của trưởng thành
cái N longispinosus nuôi trên nhện đỏ hai chấm trong điều kiện nhiệt độ
5,9-22,7oC là 19,4 ngày (Chauhan et al., 2010)
Số trứng đẻ của loài N longispinosus bị ảnh hưởng khá rõ rệt bởi nhiệt độ,
ở nhiệt độ thấp số trứng được đẻ ít sau đó tăng dần khi nhiệt độ tăng và đến 35oC
không đẻ trứng (Rahman et al., 2013) Với thức ăn là nhện đỏ hai chấm
T urticae, số trứng của nhện cái loài N longispinosus trong nghiên cứu của Chauhan et al (2010) ở khoảng nhiệt độ 5,9-22,7oC là 11,2 quả; Ibrahim and Palacio (1994) ở 25-28oC là 43,3-50,7 quả; Hyun et al (1988) ở 18oC, 22oC, 25oC
và 30oC lần lượt là 29, 38, 38 và 46 quả; Karmakar (2015) ở 26oC là 46 quả Số
trứng của nhện cái loài N longispinosus khá cao khi nuôi trên nhện đỏ nâu chè
O coffeae ở nhiệt độ 20oC, 25oC và 30oC lần lượt là 71,8 quả, 62,1 quả và 60,9
quả (Rahman et al., 2013); nuôi trên nhện đỏ son T cinnabarinus ở nhiệt độ cố
định 25oC là 48,8 quả và luân phiên 30/20, 33/23 là 49,1 quả và 48,2 quả
(Lababidi, 1989); nuôi trên nhện đỏ cam chanh P citri ở 28oC là 25,9 quả
(Puspitarini, 2010) Trên các loài nhện hại khác như T tumidus số trứng của nhện
cái NBM là 21,7 quả ở 24,34oC (Madruga et al., 2012); nuôi trên nhện hại T kanzawai ở 25-29oC là 32,78 quả (Rachman, 2011); Deleon and Corpuz (2005) số
trứng của nhện cái loài N longispinosus nuôi trên trứng của hai loài nhện hại T truncatus và T kanzawai ở 27oC là 41 quả và 32 quả
Tỷ lệ giới tính cái của loài N longispinosus của các nghiên cứu là khá
cao đều trên 60% ở các nhiệt mức nhiệt độ và thức ăn khác nhau Trong nghiên cứu của Puspitarini (2010) là 75% ở 28oC nuôi trên nhện đỏ cam
chanh, Rahman et al (2013) nuôi trên nhện đỏ nâu chè là 66,67%, 65,36% và
68,03% ở 20oC, 25oC và 30oC, tương ứng, Madruga et al (2012) là 70% ở
24,34oC nuôi trên nhện hại T Tumidus, Deleon and Corpuz (2005) nuôi trên trứng của loài nhện hại T truncatus và T kanzawai ở 27oC là 76,47% và 77,78%, Rachman (2011) là 68,05% ở 25-29oC nuôi trên nhện hại T Kanzawai, Lababidi (1989) nuôi trên nhện đỏ son ở nhiệt độ cố định 25oC và nhiệt độ luân phiên 30/20, 33/23 đều là 70%
Trang 34Tỷ lệ trứng nở của NBM N longispinosus là cao đều đạt 100% với nhiệt độ
5,9-22,7oC (Chauhan et al., 2010) và 24,34oC (Madruga et al.,2012), đạt trên
90% ở nhiệt độ 25-28oC (Ibrahim and Palacio, 1994) và 20oC (Rahman et al.,
2013), đạt 98% ở nhiệt độ 15 và 25oC, nhưng ở 35oC giảm còn 73% (Rahman et al., 2013)
* Các chỉ số sinh học
Chỉ tiêu quan trọng đẻ đánh giá NBM đó có thể khống chế nhện hại hay không đó là các chỉ số sinh học chính: Tỷ lệ tăng thực tự nhiên (rm), hệ số nhân của một thế hệ (Ro), thời gian của thê hệ (T, Tc), thời gian nhân đôi quần thể
(DT) và giới hạn phát triển (λ) Với thức ăn là nhện đỏ hai chấm T urticae ở điều
kiện nhiệt độ 25-28oC và ẩm độ 65-85% (Ibrahim and Palacio, 1994), nhện đỏ
cam chanh P citri ở 28oC, ẩm độ 85% (Puspitarini, 2010), T kanzawai ở nhiệt
độ 25-29oC, ẩm độ 60-70% (Rachman, 2011), nhện đỏ nâu chè, O coffeae ở 20,
25 và 30oC với ẩm độ 75±10% (Rahman et al., 2013), nhện trắng P latus và nhện T truncatus ở điều kiện nhiệt độ 27±2oC, ẩm độ 75±2% (Kongjiarean, 2006) được trình bày trong bảng 2.4
Bảng 2.4 Các chỉ số sinh học của loài N longispinosus ở các mức nhiệt độ,
nhân đôi quần thể; λ: Giới hạn phát triển
Trang 35O coffeae trong nghiên cứu của Rahman et al (2013) ở ẩm độ 75±10%, nhện T tumidus trong nghiên cứu của Madruga et al (2012)ở ẩm độ 73±11%, nhện trắng
P latus, nhện T truncatus và bọ trĩ S dorsali trong nghiên cứu của Surayotee and Siri (2003) ở ẩm độ 57±3%, nhện trắng P latus và nhện T truncatus trong nghiên cứu của Kongjiarean (2006) ở ẩm độ 75±2%, cụ thể các chỉ tiêu được
trình bày ở bảng 2.2, 2.3 và 2.4
c, Ảnh hưởng của thức ăn
Nhện bắt mồi N longispinosus đã được nghiên cứu trên các loài nhện hại như nhện đỏ hai chấm T urticae (Hyun et al., 1988; Ibrahim and Palacio, 1994; Chauhan et al., 2010), nhện đỏ cam chanh P citri (Pratt and Croft, 1998; Puspitarini, 2010; Puspitarini et al., 2011), nhện đỏ nâu chè O coffeae (Rahman
et al., 2012, 2013), nhện vàng hại cam chanh E cendanai (Thongtab, 1998; Thongtab et al., 2001), nhện hại T kanzawai (Ohtani et al., 1991; Deleon and Corpuz, 2005), nhện hại tre trúc Aponychus corpuzae (Zhang et al., 1998) và Schizotetranychus nanjigensis (Zhang et al., 1999, 2000), nhện hại T tumidus (Madruga et al., 2012), nhện hại T truncatus (Surayotee and Siri, 2003; Deleon and Corpuz, 2005; Kongjiarean, 2006), nhện trắng P latus (Surayotee and Siri, 2003; Kongjiarean, 2006), nhện đỏ son T cinnabarinus (Lababidi, 1989) và bọ trĩ S dorsalis (Surayotee and Siri, 2003), cụ thể các chỉ tiêu được trình bày trong
bảng 2.2, 2.3 và 2.4
Trong nghiên cứu của Rahman et al (2013), trưởng thành đực loài
N longispinosus tiêu thụ các pha trứng, nhện non tuổi 1 và tuổi 2 tuổi 3 và trưởng thành nhện đỏ nâu chè O coffeae lần lượt là 4,0 quả, 14,8; 12,1; 9,9 và
1,9 con ít hơn khá nhiều so với con cái tiêu thụ là 13,3 quả, 21,9; 18,3; 15,9 và 5,5 con trong 1 ngày
Trang 36Trong nghiên cứu về phản ứng số lượng của loài N longispinosus có tỷ lệ tấn công thành công (a) của trưởng thành cái với nhện hại tre trúc S nanjingensis ở
nhiệt độ 10, 15, 20, 25, 30 và 35oC lần lượt là 0,347; 1,079; 1,631; 1,462 và 1,536
(Zhang et al., 1999), nhện hại tre trúc Ap corpuzae lần lượt là 1,630; 2,870; 3,440; 2,784 và 2,644 (Zhang et al., 1998), nhện đỏ nâu chè O coffeae lần lượt là 0,687; 0,991; 1,230; 1,187 và 1,183 (Rahman et al., 2012) Thời gian bắt giữ con mồi T h
(ngày) của trưởng thành cái loài N longispinosus với nhện hại tre trúc S nanjingensis ở nhiệt độ 10, 15, 20, 25, 30 và 35oC lần lượt là 0,140; 0,125; 0,141;
0,084 và 0,085 (Zhang et al., 1999), nhện hại tre trúc Ap corpuzae lần lượt là 0,303; 0,178; 0,190; 0,162 và 0,153 (Zhang et al., 1998), nhện đỏ nâu chè O coffeae lần lượt là 0,285; 0,280; 0,216; 0,172 và 0,171 (Rahman et al., 2012) Đối với từng pha
phát dục như trứng, nhện non tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và trưởng thành nhện hại tre trúc
Ap corpuzae thì nhện cái loài N longispinosus có tỷ lệ tấn công con mồi (a) lần lượt
là 0,847; 0,825; 1,333; 3,444 và 2,412, thời gian bắt giữ con mồi Th (ngày) lần lượt
là 0,656; 0,444; 0,182 0,190 và 0,308 (Zhang et al., 1998) Tương tự đối với các pha phát dục của nhện đỏ nâu hại chè O coffeae như trứng, nhện non tuổi 1, tuổi 2, tuổi
3 và trưởng thành thì nhện cái loài N longispinosus có tỷ lệ tấn công con mồi (a) lần
lượt là 0,826; 1,012; 1,022; 1,032 và 1,211, thời gian bắt giữ con mồi Th (ngày) lần
lượt là 0,053; 0,015; 0,035; 0,046 và 0,196 (Rahman et al., 2012)
Phản ứng chức năng của NBM N longispinosus đối với trứng của nhện đỏ hai chấm T urticae trong phạm vi hoạt động khác nhau Ở phạm vi 3 cm2 trứng phân bố tập trung thì tỷ lệ tìm kiếm con mồi là 0,1030 và thời gian bắt giữ con mồi 1,696 (giờ), trứng phân bố đều thì tỷ lệ tìm kiếm con mồi là 0,0546 và thời gian bắt giữ con mồi là 1,5270 (giờ) Ở phạm vi 9 cm2 trứng phân bố tập trung thì
tỷ lệ tìm kiếm con mồi là 0,1238 và thời gian bắt giữ con mồi 1,7323 (giờ), trứng phân bố đều thì tỷ lệ tìm kiếm con mồi là 0,0276 và thời gian bắt giữ con mồi là 1,3053 (giờ) Ở phạm vi 10 cm2 trứng phân bố tập trung thì tỷ lệ tìm kiếm con mồi là 0,1504 và thời gian bắt giữ con mồi 1,8368 (giờ), trứng phân bố đều thì tỷ
lệ tìm kiếm con mồi là 0,0273 và thời gian bắt giữ con mồi là 1,2824 (giờ) (Kim and Lee, 1993)
Trong điều kiện nhiệt độ 25-29oC, ẩm độ 60-70%, ở mật độ con mồi là 5,
NBM N longispinosus có tỷ lệ tấn công nhện đỏ T kanzawai là 4,4 và thời gian
tiêu thụ con mồi là 4,06, ở mật độ con mồi 10 NBM có tỷ lệ tấn công con mồi là 49,7 và thời gian tiêu thụ con mồi là 2,06, ở mật độ con mồi là 20 NBM có tỷ lệ
Trang 37tấn công con mồi là 14,9 và thời gian tiêu thụ con mồi là 1,26, ở mật độ con mồi
là 40 NBM có tỷ lệ tấn công con mồi là 17,4 và thời gian tiêu thụ con mồi là 1,21
và ở mật độ con mồi là 80 NBM có tỷ lệ tấn công con mồi là 17,1 với thời gian tiêu thụ con mồi là 1,32 (Rachman, 2011)
Ở nhiệt độ 25±1oC, ẩm độ 65±10%, thời gian chiếu sáng 16 giờ và thức ăn
là nhện đỏ hai chấm T urticae thì NBM N.longispinosus có tỷ lệ tấn công con
mồi đối với pha trứng là 0,1196, nhện non tuổi 1 là 0,0257 và nhện non tuổi 2-3
là 0,0225, thời gian bắt giữ con mồi đối với pha trứng 1,3020, nhện tuổi 1 là 0,8281 và nhện non tuổi 2-3 là 1,1611, tỷ lệ tấn công lớn nhất đối với pha trứng
là 18,43, nhện non tuổi 1 là 28,98 và nhện non tuổi 2-3 là 20,67 Tương tự khi
nuôi bằng nhện đỏ T kanzawai, NBM có tỷ lệ tấn công con mồi đối với pha
trứng là 0,0772, nhện non tuổi 1 là 0,0301 và nhện non tuổi 2-3 là 0,0281, thời gian bắt giữ con mồi đối với pha trứng 0,9937, nhện non tuổi 1 là 0,7595 và nhện non tuổi 2-3 là 0,9817, tỷ lệ tấn công lớn nhất đối với pha trứng là 24,15, nhện
non tuổi 1 là 31,60 và nhện non tuổi 2-3 là 24,45 (Song et al., 2016)
Theo Song et al (2016), NBM N.longispinosus có khả năng tiêu thụ các pha phát dục hai loài nhện hại cây trồng T urticae và T kanzawai được trình bày
trong bảng 2.5
Bảng 2.5 Số lượng con mồi trung bình bị tiêu thụ bởi loài N.longispinosus
ở mật độ con mồi khác nhau
Nguồn: Song et al (2016)
Nhện bắt mồi N longispinosus được nuôi bằng trứng của các con mồi khác nhau hay hỗn hợp với phấn hoa hoặc chỉ phấn hoa làm thức ăn bổ sung, NBM
N longispinosus hoàn thành vòng đời trên trứng của T truncatus, T kanzawai và
Trang 38kết hợp với phấn hoa nhưng không hoàn thành vòng đời trên thức ăn chỉ là phấn
hoa hay trứng của Suidasia pontifica, Tyrophagus putrescentiae hoặc kết hợp với
phấn hoa (Deleon and Corpuz, 2005) Thời gian vòng đời của nhện cái và đực NBM
N longispinosus là 2,6 ngày và 2,42 ngày với thức ăn là nhện hại cây trồng, 2,70 và
2,68 ngày với thức ăn là nhện hại cây trồng cộng phấn hoa, 5,12 và 3,89 ngày với thức ăn chỉ là phấn hoa (Manjunatha and Puttaswamy, 1991)
Khi nuôi trên trứng và nhện non của các loài nhện hại cây trồng
T kanzawai, T truncatus, T urticae, Eutetranychus africanus, Oligonychus mangiferus, O simus ở nhiệt độ 30±2°C, ẩm độ 50±5% và thời gian chiếu sáng liên tục thì NBM N longispinosus đều hoàn thành các giai đoạn phát triển, ngoại trừ trứng của nhện O mangiferus Để phát triển từ trứng đến trưởng thành, NBM cần tối thiểu 3,2 ngày khi ăn trứng của loài T truncatus hoặc nhện non loài
E africanus và kém hơn khi ăn trứng của loài E africanus Nhện cái nuôi trên các pha phát dục của loài T truncatus sống được 22,0 ngày, đẻ được tổng số trứng/con cái 47,1 quả (hoặc 2,6 quả) (Nusartlert et al., 2010)
Sự tiêu thụ con mồi tăng với sự tăng của nhiệt độ và mật độ con mồi Thời gian chọn lựa con mồi giảm và tỷ lệ tấn công thành công tăng lên với sự tăng
nhiệt độ (Rahman et al., 2012) Mỗi cá thể NBM A longispinosus [N longispinosus] bị đói phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian NBM nuôi bằng nhện đỏ hai chấm T urticae phát triển thích hợp với nhiệt độ cao ở 30-36oC
(Pogrebnyak and Kolodochka, 1990) Các enzyme tiêu hóa của hai loài NBM
P persimilis và A longispinosus được hình thành bởi các men amylase và các
enzyme khác tồn tại trong hệ tiêu hóa của NBM và vẫn hoạt động ở dãy nhiệt độ
20 – 80oC (Barabanova, 1985)
Ngoài những nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ, thức ăn, vùng địa lý thì
các mùa trong năm cũng ảnh hưởng đến loài NBM A longispinosus Chẳng hạn, ở Nhật Bản, loài này có khả năng khống chế nhện đỏ hai chấm T urticae vào mùa hè,
nhưng không có khả năng khống chế vào mùa thu (Mori and Saito, 1979)
Trong điều kiện nhà kính và ngoài đồng ruộng tỷ lệ tiêu thụ con mồi cao
nhất là ở công thức có tỷ lệ NBM: nhện hại(N longispinosus:T urtiae) là (5:50),
nhện non ăn hết 13,50 con mồi/ngày và con trưởng thành ăn hết 16,54 con mồi/ngày; sau đó đến tỷ lệ 4:50, nhện non ăn hết 11,50 con mồi/ngày, nhện trưởng thành ăn hết 14,75 con mồi/ngày; Tỷ lệ 3:50 nhện non ăn hết 9,25 và
Trang 39trưởng thành ăn là 11,25; tỷ lệ 2:50 nhện non ăn hết 5,25 và trưởng thành ăn hết 7,75 con mồi/ngày; thấp nhất là tỷ lệ 1:50 nhện non ăn hết 3,75 và trưởng thành
là 4,25 con mồi/ngày (Jeyarani et al., 2012) Sức tiêu thụ con mồi của NBM N longispinosus đối với nhện hại T urticae, trong 24 giờ nhện cái chưa đẻ trứng
tiêu thụ 16,7 trứng nhện đỏ hai chấm và 17 nhện non, nhện cái đã đẻ trứng tiêu thụ là 33,3 trứng nhện đỏ hai chấm và 27,8 nhện non Đối với nhện hại trưởng
thành, mỗi nhện cái NBM tiêu thụ khoảng 5 đến 10 con Nhện cái chưa trưởng
thành tiêu thụ trứng của nhện đỏ hai chấm là 7,9 trứng/ngày, nhện đực tiêu thụ là 6,4 trứng/ngày NBM tuổi 3, nhện cái tiêu thụ là 4,0 trứng/ngày, nhện đực tiêu
thụ là 2,9 trứng/ngày (Ibrahim and Palacio, 1994; Ibrahim and Rahman, 1997) Ở
nhiệt độ 18oC NBM cái trưởng thành tiêu thụ số trứng của nhện đỏ hai chấm
T urticae là 12 quả, ở 22oC là 13 quả, ở 25oC là 18 quả, ở 28oC là 17 quả và ở
30oC là 13 quả (Hyun et al., 1988)
Trong nhà kính, trên nhện hại T kanzawai, trong 10 ngày đầu tiên sau khi
đẻ trứng, trưởng thành cái NBM N longispinosus tiêu thụ trứng của con mồi 26,43 trứng/ngày và đẻ được 2,92 quả/ngày (Ho et al., 1995), trên nhện trắng (P latus), con cái NBM đẻ được số trứng là 27,5 quả trong 16,1 ngày, mỗi ngày
tiêu thụ 11,7 nhện tuổi 1 và 9,3 nhện tuổi 2 – 3 hoặc 5,1 con trưởng thành NBM tuổi 1 tiêu thụ con mồi tuổi 1 là 3,8 con, tuổi 2-3 là 1,4 con và 0,0 trưởng thành NBM tuổi 2 tiêu thụ con mồi là 9,2 nhện tuổi 1, 7,9 nhện tuổi 2-3 và 3,2 con trưởng thành (Zhang, 2003) Trong điều kiện tủ định ôn ở 28oC và thời gian
chiếu sáng 13 giờ nuôi trên nhện hại T kanzawai, trưởng thành NBM tiêu thụ 13,84 và 11,2 trứng con mồi trong 5,02 và 5,00 ngày (Ho et al., 1995)
Nhện non NBM N longispinosus tiêu thụ số nhện đỏ hai chấm T urticae
trưởng thành ở các mật độ NBM:NVM 1:50, 2:50, 3:50, 4:50 và 5:50 lần lượt là 4,2; 6,25; 10,07; 11,32 và 13,93 con Trưởng thành NBM tiêu thụ ở các mật độ NBM:NVM 1:50, 2:50, 3:50, 4:50 và 5:50 lần lượt là 5,04; 7,21; 11,12; 13,87 và 16,32 con Điều kiện thí nhiệm với nhiệt độ phòng 28-35oC, ẩm độ 65-75% (Kumar and Raghuraman, 2015)
Karmakar (2015) cho thấy ở nhiệt độ 26oC và ẩm độ 60% thì NBM
N longispinosus tiêu thụ trứng nhện đỏ hai chấm T urticae là 34 quả/ngày/con
cái và số trứng đẻ cao nhất/ngày là 4 quả
Nhện bắt mồi A longispinosus tuổi 2 có khả năng tiêu thụ các pha phát
Trang 40triển nhện hại cây anh thảo trong một ngày: trứng bị tiêu thụ là 9,17 quả, nhện tuổi 1 là 6,04 con, tuổi 2 là 3,92 con, tuổi 3 là 3,92 con và trưởng thành là 3,89 con, tổng các pha là 23,02 NBM tuổi 3 tiêu thụ số trứng, nhện tuổi 1, tuôi 2, tuổi
3 và tổng các pha lần lượt là 14,11 quả; 7,72; 9,13; 3,89 và 34,85 con NBM trưởng thành tiêu thụ số trứng, nhện non tuổi 1, tuôi 2, tuổi 3 và tổng các pha lần lượt là 8,0 quả; 5,38; 4,46; 3,28 và 21,12 con trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ phòng thí nghiệm (Behis, 2010)
Thời gian bắt giữ con mồi của NBM A longispinosus trên nhện hại tre trúc
S nanjingensis, trong hai lá tre trúc, một lá có mạng nhện và một lá không có bất
cứ sự gây hại nào của nhện hại tre trúc thì con cái A longispinosus xuất hiện trên
lá có mạng nhện nhiều hơn lá không có mạng nhện để tìm kiếm con mồi (Zhang
et al., 2000) Phản ứng chức năng của các loài NBM A bibens, A Longispinosus [N longispinosus] với mật độ trứng của nhện đỏ son T cinnabarinus thể hiện
bằng độ dốc của đồ thị hình cong tới một đoạn bằng là 16 trứng con mồi (Zaman
et al., 1990) Khả năng tiêu thụ con mồi tăng với sự tăng của nhiệt độ và mật độ
con mồi Thời gian bắt giữ con mồi giảm và tỷ lệ tấn công thành công con mồi tăng khi nhiệt độ tăng Tỷ lệ đẻ trứng được tăng lên với sự tiêu thụ vật mồi và nhiệt độ Trung bình, mỗi NBM tiêu thụ 1,62 trưởng thành cái cho mỗi trứng nó
đẻ Với một số lượng vật mồi cố định, khi tăng mật độ vật bắt mồi thì tỷ lệ ăn
mồi của mỗi NBM là giảm (Rahman et al., 2012)
Nhện bắt mồi N longispinosus tiêu thụ tất cả các pha của nhện đỏ hai chấm hại hoa hồng (T urticae) nhưng thích ăn nhện non và trưởng thành cái đẻ trứng hơn các pha khác (Chauhan et al., 2010) Khi nuôi trên nhện T tumidus, NBM
thích tiêu thụ trứng của con mồi, bởi vì NBM tuổi 1 và các giai đoạn chưa trưởng thành tấn công con mồi đạt tỷ lệ thành công cao nhất NBM mất khoảng hơn
50% thời gian cho các hoạt động tiêu thụ và tìm kiếm con mồi (Madruga et al., 2012) Khi con mồi là nhện đỏ nâu chè O coffeae thì NBM thích ăn nhện tuổi 1,
tuổi 2-3 hơn là trưởng thành Thời gian bắt giữ con mồi của con cái trưởng thành
NBM ngắn hơn NBM tuổi 1 (Rahman et al., 2012)
Khi nuôi bằng nhện đỏ hai chấm bình thường (normal two-spotted spider mite) hoặc nhện có cấu trúc của nhện đỏ hai chấm (the red form of two-spotted
spider mite): Con đực NBM N longispinosus trưởng thành sớm hơn 2-5 giờ so
với con cái Tỷ lệ giới tính cái: 71% khi ăn nhện đỏ hai chấm bình thường, 66%