1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương luận văn: Điều tra và đánh giá hiện trạng để bảo tồn các loài Khỉ thuộc giống Macaca ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

16 300 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 188 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của luận văn Thú Linh Trưởng nói chung và loài thuộc khỉ nói riêng có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên và có ý nghĩa rất to lớn đối với đời sống con người. Các loài thú linh trưởng không những được sử dụng làm thực phẩm, dược phẩm, dược liệu, làm cảnh, xuất khẩu mà còn được sử dụng trong nghiên cứu sinh học và y học thực nghiệm góp phần trong việc điều trị bệnh cho con người. Tại Việt Nam những nghiên cứu về phân bố và số lượng loài Linh Trưởng còn chưa đầy đủ. Trong những nghiên cứu gần đây bước đầu đã cung cấp được số lượng loài tại Việt Nam. Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Nà Hẩu được thành lập theo Quyết định số 512QĐUB ngày 09102006 của UBND tỉnh Yên Bái. Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trên địa bàn các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thượng thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái với diện tích 16950 ha. Đây là khu vực có các hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình của vùng núi phía Bắc Việt Nam. Những kết quả điều tra, nghiên cứu ban đầu cho thấy, khu rừng này ngoài tính đa dạng sinh học về thảm thực vật, khu hệ thực vật và động vật, còn có những mẫu rừng tương đối nguyên sinh là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới tiêu biểu cho vùng Trung tâm ẩm miền Bắc Việt Nam. Theo báo cáo về điều tra thực vật của Trường Đại học Lâm Nghiệp năm 2009 đã thống kê được 516 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 332 chi và 126 họ; 129 loài động vật có xương sống thuộc 54 họ và 17 bộ của 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái đã được ghi nhận trong báo cáo điều tra ĐDSH của VCF năm 2012. Trong số đó nhiều loài thuộc diện quý hiếm được ghi trong sách đỏ và Nghị định 322006NĐCP của Chính phủ. Trong khu vực có những hệ sinh thái rừng đặc trưng cho vùng trung tâm ẩm Bắc bộ còn tương đối nguyên vẹn. Những kiểu địa hình thuộc hệ thống núi cao tiếp nối của dãy Hoàng Liên Sơn cùng với rừng nguyên sinh đã tạo nên một cảnh quan tự nhiên hùng vĩ, sinh động và hấp dẫn. Tất cả các loài thú Linh trưởng ở Việt Nam đều ở tình trạng sắp nguy cấp đến nguy cấp. Theo sách đỏ Việt Nam năm 2007 trong số 24 loài và phân loài hiện biết ở Việt Nam, có 4 loài trong tình trạng “Cực kỳ nguy cấp” (CR) và 8 loài ở trình trạng “Nguy cấp” (EN), một vài loài đang đứng trước bờ vực của sự tuyệt chủng. Trong những năm gần đây việc phá rừng, khai thác lâm sản cùng với tình trạng khai thác, săn bắt và buôn bán trái phép động vật rừng quý hiếm vẫn còn diễn ra ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu làm suy giảm về số lượng của loài thú linh trưởng nói chung và loài thuộc khỉ nói riêng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Xuất phát từ thực tiến đó, tôi chọn đề tài “Điều tra và đánh giá hiện trạng để bảo tồn các loài Khỉ thuộc giống Macaca ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”. Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung cơ sở dữ liệu và là cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài khỉ thuộc giống Macaca tại Khu bảo tồn. 2. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá hiện trạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của các loài khỉ thuộc giống Macaca tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn loài khỉ thuộc giống Macaca tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 3. Nội dung nghiên cứu 3.1. Đánh giá hiện trạng thành phần loài khỉ thuộc giống Macaca tại KBT 3.1.1. Xác định tình trạng các loài thuộc giống Macaca tại KBT Xác định thành phần loài Cấu trúc quần thể 3.1.2. Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài khỉ thuộc giống Macaca tại KBT Đặc điểm sinh cảnh tại KBT Phân bố của các loài theo sinh cảnh 3.2. Xác định các mối đe dọa đến các loài khỉ thuộc giống Macaca tại KBT Các mối đe dọa trực tiếp: săn bẫy bắt, săn thú mồi,… Các mối đe dọa gián tiếp: buôn bán bất hợp pháp, sinh cảnh bị chia cắt, nơi sống bị thu hẹp, dịch bệnh. 3.3. Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn loài khỉ thuộc giống Macaca ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

Trang 1

1 Tính cấp thiết của luận văn

Thú Linh Trưởng nói chung và loài thuộc khỉ nói riêng có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên và có ý nghĩa rất to lớn đối với đời sống con người Các loài thú linh trưởng không những được sử dụng làm thực phẩm, dược phẩm, dược liệu, làm cảnh, xuất khẩu mà còn được sử dụng trong nghiên cứu sinh học và y học thực nghiệm góp phần trong việc điều trị bệnh cho con người Tại Việt Nam những nghiên cứu về phân bố và số lượng loài Linh Trưởng còn chưa đầy đủ Trong những nghiên cứu gần đây bước đầu đã cung cấp được số lượng loài tại Việt Nam

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Nà Hẩu được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của UBND tỉnh Yên Bái Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trên địa bàn các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thượng thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái với diện tích 16950 ha Đây là khu vực có các hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình của vùng núi phía Bắc Việt Nam

Những kết quả điều tra, nghiên cứu ban đầu cho thấy, khu rừng này ngoài tính đa dạng sinh học về thảm thực vật, khu hệ thực vật và động vật, còn có những mẫu rừng tương đối nguyên sinh là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới tiêu biểu cho vùng Trung tâm ẩm miền Bắc Việt Nam Theo báo cáo về điều tra thực vật của Trường Đại học Lâm Nghiệp năm 2009 đã thống kê được 516 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 332 chi và 126 họ; 129 loài động vật có xương sống thuộc 54 họ và 17 bộ của 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái đã được ghi nhận trong báo cáo điều tra ĐDSH của VCF năm 2012 Trong số đó nhiều loài thuộc diện quý hiếm được ghi trong sách đỏ và Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ Trong khu vực có những hệ sinh thái rừng đặc trưng cho vùng trung tâm ẩm Bắc bộ còn tương đối nguyên vẹn Những kiểu địa hình thuộc hệ thống núi cao tiếp nối của dãy Hoàng Liên Sơn cùng với rừng nguyên sinh đã tạo nên một cảnh quan tự nhiên hùng vĩ, sinh động và hấp dẫn

Tất cả các loài thú Linh trưởng ở Việt Nam đều ở tình trạng sắp nguy cấp đến nguy cấp Theo sách đỏ Việt Nam năm 2007 trong số 24 loài và phân loài hiện biết ở Việt Nam, có 4 loài trong tình trạng “Cực kỳ nguy cấp” (CR) và 8 loài ở trình trạng

“Nguy cấp” (EN), một vài loài đang đứng trước bờ vực của sự tuyệt chủng

Trong những năm gần đây việc phá rừng, khai thác lâm sản cùng với tình trạng khai thác, săn bắt và buôn bán trái phép động vật rừng quý hiếm vẫn còn diễn ra ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu làm suy giảm về số lượng của loài thú linh trưởng nói chung và loài thuộc khỉ nói riêng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Xuất phát

từ thực tiến đó, tôi chọn đề tài “Điều tra và đánh giá hiện trạng để bảo tồn các loài Khỉ thuộc giống Macaca ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh

Trang 2

Yên Bái” Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung cơ sở dữ liệu và là cơ sở khoa

học đưa ra các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài khỉ thuộc giống Macaca tại Khu

bảo tồn

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của các loài khỉ thuộc

giống Macaca tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

- Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn loài khỉ thuộc giống Macaca tại khu

bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

3 Nội dung nghiên cứu

3.1 Đánh giá hiện trạng thành phần loài khỉ thuộc giống Macaca tại KBT

3.1.1 Xác định tình trạng các loài thuộc giống Macaca tại KBT

- Xác định thành phần loài

- Cấu trúc quần thể

3.1.2 Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài khỉ thuộc giống Macaca tại KBT

- Đặc điểm sinh cảnh tại KBT

- Phân bố của các loài theo sinh cảnh

3.2 Xác định các mối đe dọa đến các loài khỉ thuộc giống Macaca tại KBT

- Các mối đe dọa trực tiếp: săn bẫy bắt, săn thú mồi,…

- Các mối đe dọa gián tiếp: buôn bán bất hợp pháp, sinh cảnh bị chia cắt, nơi sống bị thu hẹp, dịch bệnh

3.3 Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn loài khỉ thuộc giống Macaca ở khu

bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

3 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

3.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

3.3.1 Đặc điểm tự nhiên

3.3.1.1 Vị trí địa lý

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa phận của bốn xã phía Nam của huyện Văn Yên, bao gồm xã Nà Hẩu, xã Đại Sơn, xã Mỏ Vàng và xã Phong Dụ Thượng KBT cách trung tâm huyện 30km Khu vực có toạ độ địa lý và ranh giới như sau:

Từ 104º23’ đến 104º40’ kinh độ Đông

Trang 3

Từ 21º50’ đến 22º01’ vĩ độ Bắc

Phía Bắc giáp các xã Xuân Tầm, Tân Hợp, Đại Phác huyện Văn Yên

Phía Đông giáp xã Viễn Sơn huyện Văn Yên

Phía Đông-Nam giáp huyện Trấn Yên

Phía Nam giáp huyện Văn Chấn

Phía Tây và Tây-Nam giáp huyện Mù Cang Chải

Phía Tây Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai

Tổng diện tích tự nhiên khu vực 4 xã là 43.850ha, chiếm 31,6% tổng diện tích (27 xã) toàn huyện

3.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Dân số: Năm 2010 dân số Khu BTTN Nà Hẩu có 13.988 người Mật độ dân số trung bình 33 người/km2, trong đó: Mỏ Vàng có mật độ cao nhất 39 người/km2; thấp nhất là Phong Dụ Thượng là 27 người/km2

- Lao động: Toàn khu bảo tồn có 7693 lao động, chiếm 55 % dân số Lao động trong khu vực Nhà nước là 559 người, chiếm 4% tổng số lao động

- Dân tộc: Cộng đồng dân cư trong khu bảo tồn gồm 5 dân tộc (Kinh, Dao, Tày, H’Mông) Trong đó 2 dân tộc chính là dân tộc Dao và H’Mông

Dân tộc Dao: Người Dao là một trong những dân tộc có số dân đông và phân bố

rộng trong khu bảo tồn, người Dao sống phân bố ở các làng, bản thuộc các xã Phong

Dụ Thượng, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Người Dao còn giữ được nhiều thuần phong, mỹ tục

và truyền thống đặc trưng của họ, phụ nữ người Dao hàng ngày vẫn mặc áo váy truyền thống do họ tự làm ra, đàn ông người Dao trưởng thành thực thụ phải trải qua lễ Lập tỉnh, trong ngày lễ này điệu múa truyền thống là múa xoè Trong sản xuất và sinh hoạt người Dao mang tính cộng đồng rõ nét, tại Văn Yên nói chung và các xã Khu bảo tồn nói riêng người Dao giàu có nhờ thu nhập từ các sản phẩm cây quế đem lại

Dân tộc H'Mông: Người H’Mông là dân tộc phân bố chủ yếu trong khu vực vùng

lõi khu bảo tồn Cũng như các dân tộc khác, người H’Mông cũng có những đặc trưng văn hoá và tuyền thống đẹp Tại Nà Hẩu người H’Mông tuy chuyển dân định cư, canh tác lúa nước, nhưng vẫn giữ được đặc trưng bản sắc của dân tộc mình, trong cuộc sống sinh hoạt, cũng như trong sản xuất, người H’Mông có tính cộng đồng rất cao, có tinh thần tự lực tự cường, hàng ngày, phụ nữ H’Mông vẫn mặc áo váy truyền thống từ những sản phẩm vải do chính họ làm ra

Trang 4

3.3.1.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

+ Về nông nghiệp:

Trồng trọt: Diện tích đất nông nghiệp có tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích Trong đó đất trồng lúa, màu ít, bình quân 285m2/khẩu sản phẩm trồng trọt chủ yếu là lúa nước, ngô, lúa nương, sắn… ruộng nước được phân bố nơi thấp, gần nới dân cư, ven suối và ruộng bậc thang Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên

- Các loại hoa màu thường có ngô, sắn…được trồng trên nơi đất cao, bằng phẳng nhưng không có điều kiện khai hoang ruộng nước Do diện tích ruộng nước không đầy 1sào/người, chủ yếu là 1 vụ, người dân phải làm nương rẫy để bổ sung nguồn lương thực

- Chăn nuôi:Chăn nuôi trong khu vực chưa phát triển, chưa được trú trọng đầu tư Thành phần đàn gia súc tương đối đơn giản, chủ yếu là trâu, bò, ngựa, lơn, gà Công tác thú y chưa phát triển, các thôn bản chưa có cán bộ thú y hoặc cán bộ chưa qua trường lớp chính quy

+ Về lâm nghiệp:

Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, các loài động vật phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá Từ khi thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên, giao đất giao rừng, lực lượng kiểm lâm đã cắm bản cùng người dân tham gia bảo vệ rừng thì hiện tượng khai thác gỗ và săn bắn thú rừng bừa bãi không còn xảy ra thường xuyên, công khai Một nguồn lợi từ rừng đem lại sự giàu có của nhiều hộ trong khu vực nhất là ở Phong Dụ Thượng, Mỏ Vàng, Đại Sơn là trồng và khai thác rừng quế, có thể xem cây quế ở đây là cây xoá đói giảm nghèo, là cây đem lại thu nhập chính của người dân trong khu bảo tồn

3.3.1.4 Cơ sở hạ tầng

- Giao thông: Xã Nà Hẩu hiện nay đã có đường giao thông đổ bê tông và cấp phối đến trung tâm xã tuy nhiên do độ dốc cao, nền địa chất kém bền vững nên hiện tượng sạt lở thường xuyên xảy ra, gâytắc đường không có khả năng khắc phục ngay, việc giao lưu văn hoá, hàng hoá gặp nhiều khó khăn Trong vùng các xã đã chú trọng xây dựng đường liên thôn, xã, nhưng đường hẹp, dốc, lầy lội vào mùa mưa

- Thuỷ lợi: Trong vùng canh tác nông nghiệp, điều kiện nguồn nước không khó khăn

do được đầu tư nên hệ thống thuỷ lợi tương đối phát triển Cần đầu tư cho thủy lợi để tăng năng suất cây trồng, tăng vụ trên diện tích đã có, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần cho người dân tham gia vào công cuộc bảo tồn trong khu vực rừng đặc dụng

Trang 5

- Y tế: Các xã đề có trạm y tế và cán bộ y tế, tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân địa phương Trong điều kiện giao thông như Nà Hẩu thì rất cần thiết phải tăng cường y tế tuyến xã Các dịch bệnh lớn không sảy ra do làm tốt công tác phòng bệnh

- Giáo dục: Các xã đều có trường học cấp tiểu học cơ sở và trung học cơ sở, nhưng điều kiện cơ sở vật chất và giáo viên thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân Hầu hết trẻ em đến độ tuổi đi học đều được đến trường

- Đời sống văn hóa xã hội:Trong khu bảo tồn hầu hết các cộng đồng dân cư là

dân tộc H'Mông và Dao, cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số ở đây vẫn giữ gìn tốt bản sắc văn hoá của dân tộc mình, thể hiện trong trang phục, lối sống, các hoạt động sản xuất, dệt vải, thêu thùa và làm đồ thủ công mỹ nghệ Đây là tiềm năng lớn trong du lịch sinh thái, nhân văn Những đóng góp của khu rừng đặc dụng vào việc phòng hộ, duy trì cảnh quan thiên nhiên, cân bằng sinh thái và giữ gìn bản sắc văn hoá, nhân văn

là rất to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của khu vực

Do điều kiện là vùng sâu, vùng xa của cả nước, điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở khu bảo tồn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều thiếu thốn, lạc hậu, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế Việc đầu

tư xây dựng khu bảo tồn sẽ là cơ hội góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế

xã hội một cách bền vững

3.4 Khái quát tình hình nghiên cứu loài khỉ

3.4.1 Sơ lược về tình hình nghiên cứu khỉ tại Việt Nam

Các nghiên cứu về động vật hoang dã trong đó có các loài khỉ ở Việt Nam được bắt đầu chủ yếu từ những năm cuối thế kỷ XIX, do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện Kể từ những năm 1960 đến nay đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về các loài khỉ được các nhà khoa học Việt Nam thực hiện cùng với các điều tra và nghiên cứu về

đa dạng sinh vật Sơ lược về lịch sử nghiên cứu khỉ ở Việt Nam có thể chia thành 3 giai đoạn:

3.4.1.1 Giai đoạn trước năm 1954

Trong giai đoạn này, các nghiên cứu về thú trong đó có các loài khỉ chủ yêu được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài Các nhà nghiên cứu tiêu biểu về các loài thú, trong đó có các loài khỉ ở Việt Nam trong giai đoạn này có thể kể đến George Finlayson (1828), Mine-Edwards (1867–1874), Morice (1904), Brousniche (1887), Billet (1896 – 1898), Pavie (1879 – 1898), Boutan (1900 – 1906), De Pousargues (1904), Menegeaux (1905-1906), Delacour (1928 – 1930), H.t Stevens (1924 – 1924), Kelly Rooservelts (1928 – 1929), Bourret (1942, 1944)

Trang 6

Có thể nói, những kết quả nghiên cứu về linh trưởng ở Việt Nam, trước năm

1954, chủ yếu là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài thông qua các cuộc điều tra và nghiên cứu thám hiểm nhằm phát hiện, mô tả loài mới, phân loại và thống kê thành phần loài, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn các loài linh trưởng

Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945–1954), mọi hoạt động nghiên cứu trực tiếp về các loài thú nói chung, các loài khỉ nói riêng ở Việt Nam bị gián đoạn

3.4.1.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (tháng 10 năm 1954), các nghiên cứu về đa dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng đã được tiếp tục và phát triển

Ở miền BắcViệt Nam, các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu về thành phần loài của các khu hệ và cả một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thú nói chung và các loài khỉ nói riêng ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong giai đoạn 1956 – 1971 Ở miền Nam Việt Nam, chỉ có rất ít điều tra, nghiên cứu đã được thực hiện trong thời gian này, đáng chú ý là các công trình của VanPeenen và cộng sự (1969)

Các nghiên cứu về linh trưởng có giá trị khoa học trong thời gian này phải kể đến các công trình là: Đào Văn Tiến (1960), đã mô tả một loài Cu li mới – Cu li nhỡ

(Nycticebusintermedius) ở Việt Nam

- Đào Văn Tiến (1970), nghiên cứu về các phân loài của loài Voọc đen má trắng

(Presbytisfrancoisi) và đã mô tả một phân loài voọc mới – Voọc Hà Tĩnh (Presbytisfrancoisihatinhensis)

- Lê Hiền Hào (1973), đã cung cấp những thông tin về phân bố, đặc điểm sinh học và giá trị kinh tế của 9 loài linh trưởng ở miền Bắc Việt Nam

- Đào Văn Tiến (1985), đã cung cấp những thông tin về phân bố, đặc điểm một

số loài thú ở miền Bắc Việt Nam

3.4.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay

Các điều tra, nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinhvật, đặc biệt đối với các loài khỉ ,được quan tâm và triển khai mạnh mẽ trên các vùng của cả nước và đạt được rất nhiều kết quả có giá trị Từ năm 1975 đến nay, ở Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu về khỉ, các nghiên cứu không chỉ bó hẹp do các cán bộ khoa học Việt Nam tiến hành, mà còn

có sự hợp tác quốc tế sâu rộng với các chuyên gia linh trưởng và các tổ chức bảo tồn quốc tế

Đặc biệt, trong những năm gần đây, công tác điều tra, nghiên cứu, bảo tồn và

Trang 7

phát triển các loài linh trưởng quý hiếm đã và đang được chú trọng Hàng loạt các VQG và KBTTN đã được thành lập trên khắp cả nước để bảo tồn đa dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng quý hiếm Một số chương trình nghiên cứu về sinh thái và tập tính của các loài linh trưởng đã và đang được tiến hành

Kết quả điều tra, nghiên cứu về khỉ của các địa phương, các vùng miền và các công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái của các loài linh trưởng ở Việt Nam đã được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

4.3 Đối tượng nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Là các loài khỉ thuộc giống Macaca ở khu KBTTN Nà

Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

+ Thời gian nghiên cứu: Từ 30/04/2017 đến 30/10/2017

4.4 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp điều tra thành phần loài

Tiến hành điều tra thành phần loài thú linh trưởng ở Khu bảo tồn bằng phương pháp phỏng vấn và phương pháp điều tra theo tuyến

5.2.1.1 Phương pháp điều tra xã hội học

- Xây dựng 01 mẫu phiếu điều tra về các loài khỉ thuộc giống Macaca ở KBT

- Đối tượng phỏng vấn là cán bộ kiểm lâm, người dân địa phương, thợ săn tại địa phương, những người dân sống quanh vùng đệm của khu bảo tồn và thường xuyên vào rừng để săn bắt, kiếm củi, chăn trâu bò, lấy các lâm sản ngoài gỗ…

- Mục đích phỏng vấn là thu thập được thông tin sơ bộ về sự có mặt của các loài

Khỉ và số lượng của chúng Ngoài ra, qua phỏng vấn để biết được các hoạt động có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên của người dân mà có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới khu hệ thú Linh trưởng tại đây

5.2.1.2 Điều tra theo tuyến

- Dụng cụ chuẩn bị:

Bản đồ khu bảo tồn tỷ lệ 1/25000

Máy đinh vị GPS

Địa bàn

Ống nhòm

Trang 8

Đèn pin + pin đèn.

Máy ảnh kỹ thuật số

Lều + Bạt

Dây đánh dấu

Để điều tra hiện trạng và phân bố của quần thể thú Linh trưởng, chúng tôi đã tiến hành lập các tuyến điều tra trong khu vực nghiên cứu Trước hết sử dụng bản đồ hiện trạng rừng kết hợp với phân bố của thảm thực vật và kết quả phỏng vấn phân chia ra các dạng sinh cảnh (ở đây đồng nghĩa với kiểu rừng theo các cách phân chia của TS Thái Văn Trừng (1978) khác nhau và đánh dấu trên bản đồ

Nguyên tắc lập tuyến: Dựa trên bản đồ địa hình, phân bố thảm thực vật, khảo sát thực tế

Điều tra theo tuyến được thực hiện lặp lại 3 lần, thời gian dự kiến trong tháng 6

và tháng 7/2017

Quan sát và ghi chép trên tuyến

Các loài thú Linh trưởng có thời điểm hoạt động kiếm ăn khác nhau Chẳng hạn các loài Khỉ, Voọc và Vượn hoạt động kiếm ăn ngày, còn các loài Cu li hoạt động kiếm ăn đêm Nên thời gian quan sát trên tuyến cũng được bố trí theo các pha khác nhau trong ngày, có thể quan sát ngày hoặc quan sát đêm Đối với các loài Cu li chúng ta phải quan sát vào ban đêm, còn lại các loài Khỉ, Voọc và Vượn ta quan sát vào ban ngày

Vận động trên tuyến nhẹ nhàng, không nói chuyện, không hút thuốc và di chuyển với tốc độ 1,5-2,5 km/giờ Chú ý quan sát, cẩn thận lắng nghe hai bên tuyến để phát hiện con vật Tập trung hơn vào các khu vực có nhiều khả năng xuất hiện các loài Linh trưởng Các ghi nhận về thú Linh trưởng thu thập thông qua quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc ống nhòm, tiếng kêu và các dấu vết khác như: Dấu chân, dấu phân, dấu

ăn, nơi ngủ các thông tin quan sát trong quá trình điều tra theo tuyến được ghi vào mẫu bảng sau:

Bảng 5.1 Kết quả điều tra thực địa

Người điều tra: Ngày điều tra:

Thời tiết: Địa điểm điều tra:

Tuyến điều tra: Chiều dài tuyến:

Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc:

Sinh cảnh:

Trang 9

Thời gian Loài Số lượng Tuổi/giới tính Hoạt động Ghi chú

5.2.2 Phân chia sinh cảnh và xác đinh phân bố của các loài

Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia các dạng sinh cảnh rừng Việt Nam Chẳng hạn, Thái Văn Trừng (1978) đã phân rừng Việt Nam thành 14 kiểu Trong khi

đó, Lê Mộng Chân và Vũ Văn Dũng (1992) phân chia thành 9 kiểu rừng chính ở Việt Nam Kiểu rừng ở đây đồng nghĩa với dạng sinh cảnh

Tuy nhiên, trong giới hạn luận văn này việc mô tả các dạng sinh cảnh chính ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, được sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp trên tuyến điều tra, dùng máy ảnh chụp lại các dạng sinh cảnh chính này quan điểm phân chia như sau: rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, rừng thứ sinh trên núi đá vôi, rừng thứ sinh trên núi đất, rừng phục hồi sau khai thác nương rẫy Kết quả được tổng hợp trong bảng sau:

Bảng 5.2 Biểu điều tra loài theo sinh cảnh

Người điều tra: Ngày điều tra:

Thời tiết: Địa điểm điều tra:

Tuyến điều tra: Chiều dài tuyến:

Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc:

Sinh cảnh:

………

1

2

Trong đó A, B, C, D là các dạng sinh cảnh

Trang 10

5.2.3 Các mối đe doạ

Quan sát trực tiếp và phỏng vấn người dân các thông tin về mức độ tác động của con người vào tài nguyên rừng như: Săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ, đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc các thông tin thu thập được ghi vào mẫu bảng sau

Bảng 5.3 Biểu ghi chép về tác động của con người

Địa điểm điều tra: Ngày:

Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc:

Tuyến số: Quãng đường đi:

Người điều tra:

Hoạt động 1 Bẫy 2 Súng 3 Chặt cây trồng thảo quả 4 Lều/Trại (săn bắt, khai thác gỗ) 5 Nương rẫy 6 Khai thác gỗ 7 Khai thác lâm sản ngoài gỗ 8 Chăn thả gia súc 9 Xây dựng nhà 10 Đường đi lại trong rừng 11 Những hoạt động khác Thời gian Hoạt động Vị trí* Hoạt động/ Không hoạt động Ghi chú** * Kinh độ, vĩ độ (nếu có) ** Bao gồm cả những thông tin về số người, dân tộc, mục đích, nơi trú ngụ, tên,

5.2.4 Đánh giá các mối đe dọa

Sau khi xác định và liệt kê các mối đe doạ trong khu bảo tồn tiến hành đánh giá cho điểm theo thứ tự từ 1 đến n điểm, tương ứng với n mối đe dọa tùy từng mức độ ảnh hưởng lớn hay nhỏ và tránh cho hai mối đe dọa có số điểm bằng nhau dựa trên 3 tiêu chí: Diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa, cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa và tính cấp thiết của mối đe dọa Theo phương pháp của (Margoluis and Salafsky, 2001) Diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa: Tỷ lệ diện tích bị ảnh hưởng bởi mối đe dọa trong khu vực nghiên cứu Ở đây chúng tôi xem xét mối đe dọa đó ảnh hưởng đến toàn

bộ khu vực nghiên cứu hay chỉ là một phần Cho điểm cao nhất (n điểm) đối với mối

Ngày đăng: 04/07/2017, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w