Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MINH LỢI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Hà Nội – 2017
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MINH LỢI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 62 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Hà Nội, 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
tư liệu, số liệu được sử dụng và trích dẫn trong luận án này là trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, chính xác Kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Minh Lợi
Trang 4
Nhân dịp bản Luận án được hoàn thành, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc và lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám đốc, các thầy giáo, cô giáo và cán bộ Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học và Khoa Quản lý nhà nước về Xã hội của Học viện đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại Học viện GS.TS Đinh Văn Mậu và GS.TS Nguyễn Viết Tiến đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận án này
Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ, công chức Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo - Bộ Y tế; bạn bè đồng nghiệp và Gia đình đã tạo mọi điều kiện, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu, học tập thực hiện Luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Minh Lợi
Trang 5MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 9 1.1 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 9 1.2 Kết quả nghiên cứu tổng quan và những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu31 Chương 2 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG 37 2.1 Điều dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng 37 2.2 Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng 41 2.3 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng 64 2.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng của một số nước và giá trị tham khảo đối với Việt Nam 72 Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM 82 3.1 Khái quát quá trình phát triển ngành điều dưỡng ở Việt Nam 82 3.2 Khái quát thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam 84 3.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam 110 Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM 122 4.1 Dự báo nhu cầu và xu hướng đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng của Việt Nam 122 4.2 Định hướng đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam 128 4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam 131 KẾT LUẬN 150 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 152 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 162
Trang 6CSĐT: Cơ sở đào tạo CTĐT: Chương trình đào tạo CSSK: Chăm sóc sức khỏe ĐDV: Điều dưỡng viên GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
KB, CB: Khám bệnh, chữa bệnh NLYT Nhân lực y tế
NNL: Nguồn nhân lực NNLĐD: Nguồn nhân lực điều dưỡng NNLYT Nguồn nhân lực y tế
QLNN: Quản lý nhà nước WHO: Tổ chức Y tế thế giới
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Tổng số CSĐT điều dưỡng theo vùng miền qua các năm (2005-2015) 88
Bảng 3.2 Tổng chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo điều dưỡng các trình độ 2010-2015 89
Bảng 3.3 Tỷ lệ điều dưỡng/ đầu dân theo vùng kinh tế 91
Bảng 3.4 Tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ theo vùng kinh tế 91
Bảng 3.5 Tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ tuyến TW theo vùng kinh tế 92
Bảng 3.6 Phân loại điều dưỡng viên theo trình độ 92
Bảng 3.7 Cơ cấu giảng viên điều dưỡng trong các CSĐT theo ngành 104
Bảng 3.8 Cơ cấu giảng viên điều dưỡng trong các CSĐT theo độ tuổi 105
Bảng 4.1 Dự báo nhu cầu nhân lực điều dưỡng tới năm 2020 122
Bảng 4.2 So sánh nhu cầu điều dưỡng Việt Nam đến năm 2020 123
Danh mục các sơ đồ Sơ đồ 2.1 Quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Nhật Bản 73
Sơ đồ 2.2 Quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Hàn Quốc 75
Sơ đồ 2.3 Quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Thái Lan 79
Sơ đồ 3.1 Mô hình đào tạo và hành nghề điều dưỡng Việt Nam 87
Sơ đồ 4.1 Đề xuất mô hình đào tạo điều dưỡng Việt Nam 133
Sơ đồ 4.2 Đề xuất mô hình quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Việt Nam 143
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ cấu nhân lực y tế (NLYT), vị trí, vai trò của điều dưỡng viên (ĐDV) đã được khẳng định Cùng với đội ngũ các y, bác sỹ, ĐDV đã trở thành một bộ phận độc lập và không thể tách rời trong ngành Y tế, vừa chiếm
đa số về số lượng, vừa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân Chăm sóc điều dưỡng là một hoạt động nghề nghiệp chuyên môn, đòi hỏi có tri thức và kỹ thuật thành thạo, ĐDV cần phải làm việc chủ động, sáng tạo, phải có kiến thức lẫn kỹ năng, là người cộng sự không thể thiếu được của bác sỹ và cũng là người thực hiện các hoạt động chuyên môn trên cơ sở chẩn đoán của bác sỹ Như vậy, ĐDV phải có những năng lực thông qua những kiến thức, thái độ, kỹ năng cần thiết để đảm bảo thực hiện tốt 3 vai trò là: độc lập, phối hợp và phụ thuộc Thực hiện đường lối đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hội nhập quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng (NNLĐD) đã có những bước phát triển nhất định cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống đào tạo, về các loại hình, quy mô và trình độ đào tạo, góp phần quan trọng tăng cường chất lượng bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác đào tạo cũng như quản lý nhà nước (QLNN) về đào tạo NNLĐD vẫn còn nhiều bất cập và
có những khó khăn, thách thức
Thứ nhất về lý luận, đường lối chiến lược để đưa đất nước ta thoát khỏi
tình trạng kém phát triển, nâng cao chất lượng đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần là cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng để đến năm
2020, nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại,
Trang 9trong đó nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường vững chắc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không đơn giản chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính
là quá trình biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội làm cho xã hội đổi mới về chất, trong đó động lực cho sự phát triển đó là con người Phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là những điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa chỉ có thể thành công khi chúng ta có được một nguồn nhân lực (NNL) có chất lượng Do vậy, đầu tư cho việc phát triển NNL có chất lượng được coi là khâu quan trọng nhất so với các loại đầu tư khác cho việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Đầu tư cho việc phát triển NNL bao gồm: chăm sóc sức khỏe (CSSK), nâng cao chất lượng sống cho con người và phát triển GD&ĐT Như vậy, có thể nói đào tạo NNLĐD có vai trò rất quan trọng, vừa góp phần tác động đến chất lượng CSSK, nâng cao chất lượng sống cho con người vừa góp phần phát triển và nâng cao chất lượng NNL Vấn đề đào tạo NNLĐD đã được nhiều tác giả nghiên cứu nhưng chưa có một nghiên cứu nào được tiếp cận dưới góc độ khoa học về QLNN, đặc biệt là cấp độ tiến sĩ
Thứ hai về thực tiễn, sự phát triển kinh tế - xã hội dẫn đến có những
thay đổi rất lớn về yêu cầu cũng như nhu cầu đối với công tác y tế, đòi hỏi cần
có những thay đổi về cách tiếp cận và xác định cơ cấu nhân lực phù hợp, đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ với những thách thức trong quá trình nâng cao chất lượng bảo vệ, CSSK nhân dân và hội nhập quốc tế Công tác điều dưỡng
có vai trò quan trọng trong hoạt động CSSK nhân dân, đội ngũ ĐDV chiếm tỷ
lệ đa số trong cơ cấu NLYT Hoạt động đào tạo NNLĐD của nước ta đã đạt được một số thành tựu nhưng cũng bộc lộ những vấn đề bất cập như chưa xác định rõ cơ cấu nhân lực cần thiết trong hệ thống y tế, số lượng các CSĐT và
Trang 10quy mô đào tạo tăng nhanh chưa gắn với yêu cầu hoạt động chuyên môn nghề nghiệp và nhu cầu nhân lực của ngành y tế Hoạt động QLNN về đào tạo NNLĐD cũng bộc lộ những vấn đề cần phải giải quyết như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, bộ máy quản lý còn chồng chéo chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan QLNN về GD&ĐT với cơ quan quản lý
ngành Về hội nhập quốc tế, ngày 31/12/2015, Cộng đồng Kinh tế các nước
khu vực Đông Nam Á (ASEAN) đã chính thức thành lập, hình thành thị trường lao động tự do lưu chuyển đối với những người đã qua đào tạo, trong
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là góp phần hoàn thiện QLNN
về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng CSSK nhân dân và hội nhập quốc tế
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích đã đặt ra, đề tài luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án để làm rõ những nội dung luận án có thể kế thừa, những vấn đề luận án cần tiếp tục
nghiên cứu
Trang 11- Nghiên cứu, tổng hợp và bổ sung làm rõ cơ sở khoa học QLNN về đào tạo NNLĐD
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về đào tạo NNLĐD
ở nước ta hiện nay, phân tích những kết quả đã đạt được, hạn chế và xác định các nguyên nhân chủ yếu
- Tổng hợp các quan điểm, định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về đào tạo NNLĐD của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng CSSK nhân dân và hội nhập quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là QLNN về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận án tập trung nghiên cứu QLNN về đào tạo NNLĐD
để được cấp văn bằng theo các trình độ đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học
và sau đại học, luận án không nghiên cứu QLNN về đào tạo điều dưỡng theo các chương trình ngắn hạn và đào tạo liên tục để cấp chứng chỉ Giới hạn nghiên cứu của luận án là QLNN về đào tạo NNLĐD ở cơ quan quản lý cấp Trung ương
- Về thời gian: luận án tập trung nghiên cứu QLNN về đào tạo NNLĐD trong giai đoạn từ khi có Luật Giáo dục sửa đổi (năm 2009) và Luật Khám bệnh, chữa bệnh (2009) đến nay, trong quá trình phân tích, đánh giá, luận án
có sử dụng dữ liệu có trước năm 2009
- Về không gian: nghiên cứu QLNN về đào tạo NNLĐD trong cả nước
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về phép biện chứng duy vật và lịch sử; tư tưởng Hồ Chí
Trang 12Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về GD&ĐT và về y
tế để phân tích và luận giải QLNN về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam trong mối quan hệ với bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, trong sự vận động và phát triển của xã hội Việt Nam theo hướng hội nhập quốc tế
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Luận án sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp (desk-study) Phương pháp này chủ yếu tập trung nghiên cứu, tham khảo, phân tích các văn bản, tài liệu, công trình khoa học, các số liệu khoa học đã được công bố ở trong và ngoài nước có liên quan đến luận án để hình thành cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng cũng như xu hướng đổi mới đào tạo và QLNN về đào tạo NNLĐD trên thế giới và Việt Nam hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để đảm bảo tính khoa học, khách quan, trung thực trong đánh giá thực trạng QLNN về đào tạo NNLĐD và tính khả thi của các giải pháp, nghiên cứu sinh đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học sau đây:
+ Điều tra, khảo sát: thiết kế để xác định thực trạng đào tạo, nhu cầu
và sử dụng nhân lực điều dưỡng, gửi phiếu điều tra đến các sở y tế trên toàn quốc và một số đơn vị y tế ngành, các bệnh viện tuyến Trung ương và bệnh viện ngành, các trường đại học, cao đẳng và trung cấp có đào tạo điều dưỡng; điều tra chi tiết nhân lực điều dưỡng tại 7 tỉnh tính đến 31/12/2014 đã hoàn thành việc cấp chứng chỉ hành nghề cho ĐDV là Điện Biên, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Bình Định, Khánh Hòa, Tây Ninh; phát vấn ĐDV tại 7 tỉnh về nhận thức nghề nghiệp
+ Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: thực hiện tại 7 địa phương nói
trên Thực hiện phỏng vấn sâu các đối tượng lãnh đạo và trưởng phòng tổ chức cán bộ của sở y tế, bệnh viện đa khoa tỉnh và bệnh viện đa khoa/trung tâm y tế huyện tại 7 tỉnh nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng và nhu cầu
Trang 13nhân lực điều dưỡng dưới góc nhìn của nhà quản lý; thực hiện các cuộc thảo luận nhóm với ĐDV tại 7 tỉnh nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng và nhu cầu NLĐD dưới góc nhìn của bản thân ĐDV
+ Thống kê, tổng hợp: tổng hợp số liệu theo phiếu điều tra; thống kê,
xác định số lượng cơ sở đào tạo và quy mô đào tạo NLĐD thông qua thống kê
số liệu từ cuốn Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung cấp
do Bộ GD&ĐT ban hành từ năm 2010 - 2015
Thời gian thực hiện từ tháng 01 đến tháng 12/2015 Các số liệu được xử
lý theo phần mềm thống kê EpiData 3.1, SPSS 16.0 và Microsoft Excel 2010
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong quá trình nghiên cứu kinh nghiệm QLNN về đào tạo NNLĐD trên thế giới, qua đó lựa chọn, xác định những nội dung, vấn đề có thể áp dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết một số câu hỏi nghiên cứu chính như sau:
- Đào tạo NNLĐD và QLNN về đào tạo NNLĐD là gì? Có đặc điểm, nội dung như thế nào?
- Những yếu tố nào có ảnh hưởng đến QLNN về đào tạo NNLĐD?
- Thực trạng đào tạo, sử dụng và nhu cầu NNLĐD hiện nay ở Việt Nam như thế nào?
- Thực trạng QLNN về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam như thế nào? Kết quả, hạn chế và nguyên nhân? Cần được hoàn thiện theo hướng nào?
5.2 Giả thuyết khoa học
- Hoạt động điều dưỡng và ĐDV có vai trò không thể thiếu trong hệ thống y tế, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng KB, CB, bảo
Trang 14vệ và CSSK nhân dân Để hoạt động chuyên môn của ĐDV đáp ứng được yêu cầu, đào tạo NNLĐD có vai trò đặc biệt quan trọng và ý nghĩa quyết định
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đào tạo NNLĐD chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và còn nhiều bất cập
- Tổ chức bộ máy QLNN chưa được kiện toàn, đội ngũ cán bộ quản lý
và đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu
- Việc hỗ trợ và huy động các nguồn lực cho đào tạo NNLĐD còn hạn chế; hoạt động thanh tra, kiểm tra và đánh giá, tổng kết về đào tạo NNLĐD còn nhiều bất cập
- Cần phải tăng cường QLNN về đào tạo NNLĐD để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng CSSK nhân dân và hội nhập quốc tế
6 Những đóng góp mới của luận án
Luận án “Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay” là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên đề
cập về chủ đề này, luận án đã có một số đóng góp khoa học mới như sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, rút
ra được các nội dung luận án cần tiếp tục giải quyết
- Phân tích nội hàm, làm rõ các khái niệm liên quan và đề xuất khái niệm QLNN về đào tạo NNLĐD Xác định được các nội dung QLNN và phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động QLNN trong lĩnh vực này
- Phân tích, đánh giá được thực trạng, xác định được nguyên nhân kết quả đạt được và nguyên nhân hạn chế của thực trạng QLNN về đào tạo NNLĐD tại Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về đào tạo NNLĐD tại Việt Nam, phù hợp với các định hướng của Đảng, Nhà nước, ngành GD&ĐT, ngành Y tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7.1 Về lý luận
Trang 15Luận án góp phần bổ sung và làm phong phú thêm lý luận về QLNN, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của QLNN về đào tạo NNLĐD, chỉ
rõ thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam
7.2 Về thực tiễn
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo khoa học hành chính Đồng thời cũng có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu đối với các cơ quan chức năng trong lĩnh vực GD&ĐT, lĩnh vực y tế để vận dụng thực hiện trong thực tế QLNN về đào tạo NNLĐD nói riêng và đào tạo NNLYT nói chung
8 Cấu trúc của luận án
Cấu trúc của luận án gồm:
- Các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến
đề tài luận án
1.1.1 Nghiên cứu về nguồn nhân lực điều dưỡng
Các tác giả Lyn N Henderson và Jim Tulloch, Australia (2008) trong
báo cáo Incentives for retaining and motivating health workers in Pacific and Asian countries (Khuyến khích duy trì và thúc đẩy cán bộ y tế tại khu vực
châu Á và Thái Bình dương) [76, tr.18] Nghiên cứu này nói lên rằng, để cho chương trình ưu đãi nhân viên y tế được thành công thì cần phải có sự cam kết chính trị lâu dài và phải được duy trì ở tất cả các cấp, cần phải có sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện về văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế, sự tham gia của các bên liên quan Đồng thời, để khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển của đội ngũ cán bộ y tế, giáo dục, đào tạo và phát triển nghề nghiệp phải gắn với các chính sách thu hút, sử dụng nhân lực, cải thiện chế độ lương bổng, chế
độ ưu đãi, cải thiện điều kiện làm việc và hoàn thiện hệ thống quản lý
Theo nghiên cứu của Churnrurtai Kanchanachitra (2011) với chủ đề
Human resources for health in Southeast Asia: shortages, distributional challenges, and international trade in health services (Nguồn nhân lực y tế ở
Đông Nam Á: sự thiếu hụt, những thách thức về phân phối và thương mại quốc tế trong dịch vụ y tế) [70, tr 769-780] đã đưa ra bức tranh chung về NNLYT khu vực Đông Nam Á Trong đó, tác giả đã có những đánh giá về NNLĐD Việt Nam như: đã có nhiều ĐDV có trình độ thạc sỹ và bắt đầu có tiến sỹ điều dưỡng được đào tạo, làm việc ở nước ngoài Số lượng điều dưỡng trên 10.000 người cũng tăng lên (8,82 năm 2009 so với 9,35 năm 2010), trong
Trang 17đó điều dưỡng trong khu vực tư nhân chiếm khoảng là 5,7% Để đáp ứng các khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới - World Health Organization (WHO)
về chỉ số NLYT/10.000 dân, Việt Nam sẽ cần đào tạo 78.747 nhân viên y tế ở các lĩnh vực trong thời gian tới
WHO với các tài liệu Nursing Midwifery services-Strategic Directions 2011-2015 (Định hướng chiến lược dịch vụ điều dưỡng - hộ sinh giai đoạn 2011-2015) (2011) [94], Strengthening nursing and midwifery, the sixty- fourth World Health Assembly (Nghị quyết số 64 của Hội đồng Y tế Thế giới
về tăng cường điều dưỡng và hộ sinh) (2011) [95] đã xác định vai trò của
ĐDV trong cơ cấu NLYT và trong hệ thống y tế, giúp cho người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế, đảm bảo tính phổ cập, công bằng và hiệu quả Trên cơ sở tham khảo Chuẩn năng lực chung của cử nhân điều dưỡng
do WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, Chuẩn “Năng lực điều dưỡng chuyên nghiệp-Professional Nurse” của Hội đồng Điều dưỡng thế giới
(International Council of Nurses: ICN, 2003), Chuẩn năng lực cho điều dưỡng
của Australia và Philippines, Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam được xây dựng từ năm 2008 và được phê duyệt vào ngày 24/4/2012 theo
Quyết định số 1352/QĐ-BYT của Bộ Y tế [19] gồm 3 lĩnh vực năng lực và 25 tiêu chuẩn, 110 tiêu chí cần đạt được của người điều dưỡng để đủ năng lực hành nghề, là cơ sở quan trọng để xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra trong đào tạo điều dưỡng Ba lĩnh vực năng lực là: năng lực thực hành chăm sóc; năng lực quản lý và phát triển nghề nghiệp; năng lực hành nghề theo pháp luật
và đạo đức nghề nghiệp
Bộ Y tế trong báo cáo tại Hội nghị đào tạo nhân lực Điều dưỡng Việt Nam [17], Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng - hộ sinh, giai đoạn từ nay đến năm 2020 [16, tr 106-119], Niên giám thống kê y tế 2013 [20, tr.54-55], Joint Annual Health Review 2015 (Báo cáo tổng quan ngành y tế 2015) [77, tr 38-49], Báo cáo tổng hợp số liệu nguồn nhân
Trang 18lực lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh năm 2015 [26, tr.7], đã có những đánh giá về
thực trạng NNLĐD, quản lý và sử dụng NNLĐD Theo các báo cáo này, NNLĐD của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất lượng trong những năm gần đây thông qua nhiều hình thức như đào tạo ở nước ngoài, đào tạo liên kết, liên thông, theo địa chỉ sử dụng, cử tuyển và đào tạo liên tục Các báo cáo của Bộ Y tế đã chỉ ra rằng, số lượng ĐDV được đào tạo tăng nhanh qua các năm nhưng có sự mất cân đối về trình độ đào tạo dẫn đến sự dư thừa ở trình độ trung cấp; mất cân đối nhân lực điều dưỡng giữa các vùng miền, lĩnh vực chuyên môn, chưa rõ ràng về phạm vi hoạt động chuyên môn theo từng lĩnh vực chuyên ngành của chăm sóc điều dưỡng
Tác giả Đỗ Đình Xuân tại Hội nghị đào tạo Điều dưỡng Việt Nam 2005 [13], Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác Điều dưỡng -
Hộ sinh, giai đoạn từ nay đến năm 2020 của Bộ Y tế [16, tr 106-119], tác giả
Lê Vũ Anh và cộng sự (2013) trong đề tài Đánh giá hiện trạng đào tạo nhân lực y tế [1, tr.36], tỷ lệ điều dưỡng của Việt Nam còn thấp và mất cân đối về
trình độ, thiếu nhân lực ở vùng nông thôn, vùng khó khăn Cục Quản lý KB,
CB, Bộ Y tế trong Báo cáo tổng hợp số liệu nguồn nhân lực lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh năm 2015 [26, tr 7], đến năm 2015, tỷ lệ điều dưỡng/bác sỹ của
Việt Nam mới đạt 1,9 là chưa đáp ứng với tỷ lệ trung bình ở các nước trong khu vực Đông Nam Á và các khuyến cáo của WHO
Đề tài cấp Bộ của tác giả Lê Quang Cường và cộng sự "Nghiên cứu thực trạng sử dụng bác sĩ, cử nhân điều dưỡng sau tốt nghiệp"(2011) [27, tr 130] đã điều tra, đánh giá việc sử dụng sinh viên sau tốt nghiệp của các ngành
Y đa khoa và Điều dưỡng trình độ đại học Đối với sử dụng cử nhân điều dưỡng, mặc dù hiện nay cả nước đang rất thiếu nhưng mới đạt 87,5% điều dưỡng trình độ đại học có việc làm sau tốt nghiệp, tập trung đa số y tế nhà nước (93,3%)
1.1.2 Nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
Trang 19Tác giả Ronald M Harden (2006) đã nghiên cứu về đề tài “Trends and the future of postgraduate medicine education” (Xu hướng và tương lai của giáo dục y khoa sau đại học) [72] Trong đề tài này, tác giả đã cho rằng, vai
trò thuộc về Bộ Y tế và các hiệp hội nghề y trong việc đào tạo khoa chuyên, chuyên ngành sâu Nghiên cứu chỉ ra rằng, xu hướng đào tạo chuyên khoa phải tập trung vào kết quả đầu ra Kết quả đầu ra của quá trình đào tạo là yếu
tố quan trọng nhất và được quyết định bởi các quyết định liên quan đến CTĐT, kế hoạch đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy và cơ sở thực hành tiền lâm sàng và lâm sàng
Báo cáo của Barzansky, B và Abraham Flexner (2010) The Future of Nursing Education: Ten Trends to Watch (Tương lai của giáo dục điều dưỡng: Mười xu hướng để hướng tới) [67] đã đề cập tới những yếu tố cần
phải đổi mới trong đào tạo ĐDV Trong báo cáo, tác giả nhấn mạnh đến việc đào tạo điều dưỡng phải gắn liền với sự phát triển của hệ thống y tế Tác giả
đã đề cập tới việc hầu hết các ĐDV đã không được cập nhật với những thay đổi về công nghệ và những phát hiện mới của y học do các chương trình đào tạo (CTĐT) của các trường chưa kịp thay đổi Các nội dung thiếu hụt được đề cập tới bao gồm: thiếu hụt các kiến thức cơ bản để đảm bảo cho người học có thể nắm bắt và cập nhật các nguyên lý khoa học, phương pháp giảng dạy thuyết trình quá nhiều; quá ít thực tập lâm sàng; các kiến thức được học không được kiểm chứng trong điều kiện thực tiễn nghề nghiệp và một số nội dung khác
Theo tài liệu Nursing Midwifery services-Strategic Directions
2015 (Định hướng chiến lược dịch vụ điều dưỡng-hộ sinh giai đoạn 2015) của WHO (2011) [94], mục tiêu đào tạo điều dưỡng ở khu vực Đông
2011-Nam Á và thế giới là đào tạo ra những điều dưỡng chuyên nghiệp có khả năng thực hành nghề nghiệp dựa trên bằng chứng, có khả năng áp dụng chăm sóc
Trang 20điều dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu sức khỏe của người dân, có khả năng làm việc trong đội đa ngành và có khả năng học tập suốt đời
Các tác giả Julio Frenk, Lincoln Chen và cộng sự (2011) trong nghiên
cứu Health professionals for a new century: transforming education to strengthen health systems in an interdependent world (Cải cách chuyên môn y
tế của thế kỷ mới: Cải cách giáo dục nhằm tăng cường hệ thống y tế trong một thế giới tương tác hỗ trợ) [74, tr.1926-1927], ngoài việc đánh giá về thực
trạng và nhu cầu về số lượng NNLĐD Việt Nam, tác giả đã nhấn mạnh đến việc xu hướng đổi mới giáo dục NLYT nói chung và NNLĐD nói riêng cần được tiếp cận dựa trên nguyên tắc hệ thống, đào tạo dựa trên năng lực, đáp ứng yêu cầu của hệ thống y tế, đáp ứng yêu cầu sử dụng nhân lực của xã hội
Các báo cáo Nursing in Thailand (Điều dưỡng của Thái Lan) của các
tác giả Nujjaree Chaimongkol [81] và Robert L Anders, Wipada Kunaviktikul [87] đã tập trung giới thiệu về quá trình và mô hình đào tạo điều dưỡng tại Thái Lan với các loại hình: chức danh Trợ lý Điều dưỡng (Technicial Nurse) thời gian đào tạo 2 năm; chức danh Điều dưỡng với trình độ thấp nhất là cử nhân thời gian đào tạo 4 năm (sau tốt nghiệp được cấp bằng với chức danh Cử nhân Khoa học Điều dưỡng-Bacherlor of Nursing Science) Các tác giả cũng
đã giới thiệu về mô hình đào tạo đại học, sau đại học và điều kiện hành nghề điều dưỡng của Thái Lan
Tác giả Yu Xu và cộng sự (2000) trong các nghiên cứu Assessment of AACN Baccalaureate Nursing Education Curriculum: Model in the People's
of China (Đánh giá chương trình giáo dục cử nhân điều dưỡng: mô hình của Trung Quốc) [98, tr 147-156] và nghiên cứu The nursing education system in the People's Republic of China: evolution, structure and reform (Hệ thống giáo dục điều dưỡng Trung Quốc: quá trình hình thành, cấu trúc và cải cách)
[99, tr 207-217], Trường Đại học Trinh Châu, Trung Quốc đã nghiên cứu, so sánh và đánh giá CTĐT cử nhân điều dưỡng của 22 CSĐT cử nhân điều
Trang 21dưỡng của nước này (50%), khảo sát 21 lĩnh vực được rút ra từ chương trình
cử nhân điều dưỡng hiện tại của nhà trường so sánh với CTĐT cử nhân điều dưỡng của Hoa Kỳ (được coi là chương trình lý tưởng) tìm hiểu trên ba khía cạnh: tầm quan trọng, sự phù hợp văn hóa, mức độ thực hiện Kết quả cho thấy đa số không hài lòng với CTĐT cử nhân điều dưỡng hiện tại Các lĩnh vực được cho là quan trọng nhất, phù hợp văn hóa nhất, mức độ thực hiện thường xuyên nhất là: Nhóm các kỹ năng về kỹ thuật điều dưỡng, nhóm kỹ năng về giao tiếp, nhóm kỹ năng về bệnh và quản lý bệnh Ngoài ra những người trả lời cũng có nhu cầu cần bổ sung vào CTĐT của các CSĐT thêm kỹ năng sư phạm, kỹ năng quản lý, kỹ năng nghiên cứu điều dưỡng và kỹ năng ra quyết định
Tác giả Nguyễn Minh Lợi (2003) trong Luận văn Thạc sỹ Quản lý
Hành chính công Nâng cao quản lý chương trình, nội dung đào tạo cán bộ y
tế từ thực tế Trường Đại học Y Hà Nội [36, tr.91-92] đã nêu khái quát về thực
trạng quản lý chương trình, nội dung đào tạo cán bộ y tế trình độ đại học trong đó có đào tạo NNLĐD Tác giả đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc đổi mới và hoàn thiện cấu trúc chương trình, tổ chức biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, đổi mới phương pháp dạy-học, phương pháp đánh giá, trong đào tạo để đảm bảo chất lượng đào tạo NNLYT
Bài báo Đào tạo điều dưỡng ở các nước Đông Nam Á (2006) [47, 56] của tác giả Nguyễn Văn Thanh, báo cáo Đào tạo điều dưỡng ở một số nước trên thế giới (2008)[17] của tác giả Đỗ Đình Xuân tại Hội nghị đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng Việt Nam và tài liệu Các vấn đề nhân lực y tế hiện nay: Thực trạng và những bất cập (2008) [62] của Vụ Khoa học và Đào
tr.50-tạo, Bộ Y tế cho thấy, mạng lưới CSĐT ở các nước trên thế giới đều gắn với quy mô dân số và năng lực đào tạo của từng trường Theo báo cáo trên, năm
2005 Philippine có 192 trường điều dưỡng, Thái Lan có 63 trường điều dưỡng
Trang 22trong đó có 7 khoa điều dưỡng thuộc đại học tổng hợp và hầu hết là đào tạo trình độ đại học
Theo tài liệu của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản (2017)
về Cơ chế kỳ thi quốc gia về điều dưỡng và cấp bằng tại Nhật Bản [32], đến
năm 2016, Nhật Bản đã có 256 trường điều dưỡng đào tạo trình độ đại học và
571 trường đào tạo trình độ cao đẳng được phân bố tương đối đồng đều ở các khu vực với quy mô đào tạo hàng năm tương đối ổn định chỉ từ 50-100 sinh viên Để được cấp bằng điều dưỡng, sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông phải trải qua thời gian đào tạo tối thiểu 3 năm, hành nghề điều dưỡng cộng đồng hoặc hộ sinh được coi là một chuyên ngành của điều dưỡng Cơ cấu nhân lực điều dưỡng của Nhật Bản còn có cả chức danh nhân viên chăm sóc với chương trình và thời gian đào tạo riêng
Các tác giả Sung Rae Shin, Kyung Rim Shin, Chun Yu Li (2002) trong
báo cáo Hệ thống giáo dục điều dưỡng tại Hàn Quốc, Trung Quốc và Hoa Kỳ, định hướng tương lai (Nursing Education Systems in Korea, China and the United States of America and its Future Directions) [89, tr.949-959], đào tạo
điều dưỡng Hàn Quốc có từ năm 1903, được nâng cấp lên bậc trung cấp năm
1947 với thời gian đào tạo 3 năm và đổi tên thành đào tạo kỹ thuật điều dưỡng vào những năm 1950 CTĐT đại học được áp dụng từ năm 1955 và sau đại học từ 1960, chương trình tiến sỹ từ 1979 Hàn Quốc tồn tại hai loại CTĐT điều dưỡng bao gồm chương trình cao đẳng 3 năm (Associate Degree Program – ADN) và chương trình đại học 4 năm (Baccalaureate Degree Program - BSN) đều có thể đăng ký để lấy giấy phép hành nghề (Registered Nurse-RN) Tính đến năm 2001, Hàn Quốc có 51 CSĐT cử nhân điều dưỡng,
61 CSĐT cao đẳng với quy mô rất thấp chỉ khoảng 50-120 sinh viên/CSĐT
Tác giả Nguyễn Trường Sơn (2011) và cộng sự trong bài báo Đánh giá
kỹ năng thực hành nghề của sinh viên đại học điều dưỡng chính quy khóa II, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đăng trên Tạp chí Y học thực hành
Trang 23[45, tr.4–10] đã nêu kết quả về đánh giá kỹ năng thực hành nghề của sinh viên chính quy Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định trên 3 nhóm kỹ năng: kỹ năng thực hành nghề, kỹ năng giao tiếp và giáo dục sức khỏe và kỹ năng tư duy, ra quyết định Kết quả cho thấy kỹ năng giao tiếp-giáo dục sức khỏe có kết quả thấp nhất trong các kỹ năng khảo sát (28,2% không đạt yêu cầu) Các tác giả Phí Thị Nguyệt Thanh, Joy Notter và Đỗ Đình Xuân (2009)
trong nghiên cứu Vấn đề đào tạo điều dưỡng tại 7 tỉnh - Làm thế nào để nâng cao chất lượng [50, tr.99-102], kết quả cho thấy nhận định của lãnh đạo các
bệnh viện thực hành về kiến thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp của ĐDV đạt mức độ tốt chiếm tỷ lệ không cao, lần lượt là 34%, 57% và 48% Về nhận xét của giáo viên đối với CTĐT cử nhân điều dưỡng của nhà trường: nội dung lý thuyết có 68,3% cho là phù hợp, 30,2% cho là không phù hợp Nội dung đào tạo thực hành tại phòng thực tập của trường thì 78,3% cho là phù hợp, 19,6% đánh giá là không phù hợp Nội dung thực hành tại bệnh viện thì
có 59,3% cho là phù hợp, 40% là không phù hợp Đối với thời gian học lý thuyết thì có 59,9% giảng viên cho rằng giữ nguyên, 31,4% cho là cần phải giảm, đối với thời gian học thực hành thì 61% giảng viên cho rằng cần phải tăng thực hành tại bệnh viện và 63,5% cho rằng cần phải tăng thực hành tại phòng thực tập của nhà trường Về vấn đề giảng dạy, kỹ năng giao tiếp cũng được đề cập tới và kết quả cho thấy 74,3% giảng viên cho là cần tăng thời lượng học tập cho môn học này
Luận án tiến sỹ Nghiên cứu về thái độ đối với nghề nghiệp của học sinh, sinh viên điều dưỡng, đề xuất các giải pháp can thiệp, tác giả Phí Thị
Nguyệt Thanh (2010) [49, tr.141] đã đưa ra kết quả chỉ có 50,7% sinh viên đại học và 77,4% học sinh trung cấp có thái độ thỏa mãn với nghề nghiệp và
sự thỏa mãn với nghề nghiệp ở học sinh, sinh viên những năm sau thấp hơn những năm đầu Tác giả cũng đã đưa ra nguyên nhân ảnh hưởng và một số giải pháp đó là cần thay đổi về CTĐT, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng
Trang 24viên, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và đặc biệt là cần tăng cường vị thế của người điều dưỡng trong hệ thống y tế
Tài liệu Hội nghị tăng cường chất lượng đào tạo nhân lực y tế, Bộ Y tế (2008) [14] và Tài liệu Hội nghị đào tạo nhân lực Điều dưỡng Việt Nam, Bộ Y
tế (2012) [17] đã có những đánh giá kết quả đào tạo NLYT và NLĐD, đánh
giá về CTĐT của các ngành đào tạo thuộc khối ngành khoa học sức khỏe trong đó có ngành điều dưỡng đã có những thay đổi và tiếp cận theo xu hướng quốc tế, một số trường bắt đầu tiếp cận với CTĐT dựa vào năng lực Tuy nhiên, đa số các CSĐT vẫn thực hiện CTĐT theo niên chế, còn nặng về lý thuyết, chưa hướng tới kỹ năng thực hành tay nghề theo nhu cầu sử dụng
Bộ Y tế (2014) trong Báo cáo phát triển nhân lực y tế: thành tựu, khó khăn và giải pháp [22] đã cho thấy thông qua một số chương trình hợp tác
quốc tế và các dự án, nhiều CSĐT đang tích cực thực hiện đổi mới CTĐT điều dưỡng, xây dựng CTĐT dựa trên năng lực, tổ chức đào tạo theo tín chỉ Nội dung chương trình chú trọng hơn về tăng cường kỹ năng thực hành nghề nghiệp, bám sát với các nội dung năng lực điều dưỡng của khu vực ASEAN
và thế giới
Báo cáo Hội nghị Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng năm 2014
của Bộ GD&ĐT [9] đã có những đánh giá thực trạng và những kết quả đã đạt được về đào tạo trình độ đại học, cao đẳng trong cả nước Về những điểm còn tồn tại, báo cáo đã nhấn mạnh CTĐT của các trường đại học, cao đẳng là:
“Hầu hết các trường hiện nay thiết kế chương trình khá tỉ mỉ về những vấn đề
cụ thể nhưng thiếu trang bị những kiến thức tổng quát mang tính quy luật tạo nền tảng phát triển tư duy sáng tạo của sinh viên”
Luận văn thạc sỹ Thực trạng đào tạo thực hành cử nhân điều dưỡng đại học tại 5 cơ sở đào tạo năm 2014 [48, tr.102], tác giả Phạm Thị Kim
Thanh (2014) đưa ra kết quả: mặc dù thời điểm nghiên cứu là vào học kỳ cuối cùng của chương trình điều dưỡng đại học, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể sinh
Trang 25viên không được thực hành ở bệnh viện một số kỹ năng nghề nghiệp của người điều dưỡng Nhiều sinh viên điều dưỡng năm cuối tự nhận định về khả năng thực hành các kỹ năng điều dưỡng của mình, trong đó có nhiều kỹ năng
cơ bản, là chưa làm được hoặc làm kém Có 58/60 kỹ năng tồn tại một tỷ lệ nhất định sinh viên không được thực hành lần nào tại bệnh viện
Nguyễn Minh Lợi (2016) trong bài báo Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam [38, tr.7-10] đã cho thấy những thành công trong
đào tạo NNLĐD của Việt Nam như sự phát triển mạnh mẽ về đào tạo NNLĐD trong những năm gần đây cả về số lượng các CSĐT và quy mô đào tạo, các chế độ, chính sách liên quan được xây dựng và ban hành Tuy nhiên, tác giả cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa mô hình đào tạo với hoạt động nghề nghiệp và sử dụng nhân lực, mất cân đối về CSĐT và quy mô đào tạo ở các trình độ, các điều kiện đảm bảo chất lượng còn bất cập
1.1.3 Nghiên cứu quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
Giáo trình Quản lý nhà nước về xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia
(2012) [33, tr 59-62] đã giới thiệu hệ thống lý thuyết về quản lý công của nhiều học viện hành chính trên thế giới mà tiêu biểu là hệ thống lý thuyết của Max Weber (1864 - 1920) - nhà xã hội học người Đức, cha đẻ của mô hình hành chính thư lại đã đưa ra ba loại hình thẩm quyền: thẩm quyền truyền thống, thẩm quyền uy tín và thẩm quyền pháp lý - duy lý Trong đó, thẩm quyền pháp lý - duy lý là dựa trên trật tự pháp lý không bị quan hệ tình cảm chi phối, dựa trên các quy định do quần chúng nhân dân xây dựng nên một cách lý tính
Tác giả R Wayne Mondy trong cuốn sách Human Resource Management (Quản lý nguồn nhân lực) được tái bản lần thứ 12 đề cập đến
việc quản lý NNL như thế nào để đạt được mục tiêu của một tổ chức Tác giả
đã tiếp cận ở góc độ nhà quản lý ở mọi cấp độ cần biết cách quản lý nhân lực
Trang 26của tổ chức, cụ thể là lập kế hoạch nhân lực, tuyển dụng, đào tạo và phát triển nhân viên, quản lý theo kết quả thực thi, có chế độ đãi ngộ thoả đáng và xây dựng các mối quan hệ trong tổ chức
Fleming Fllon Jr, Charles R Mc Connell trong cuốn sách Human Resource Management in Health Care: Principles and Practices (Quản lý
nguồn nhân lực trong ngành y tế: nguyên tắc và thực hành) [71, tr 113-122, 187-200] đã giới thiệu cách thức quản lý NNL cho những người đang chuẩn
bị để làm việc lĩnh vực CSSK và dịch vụ y tế Cuốn sách bao gồm các chủ đề quan trọng như tuyển dụng, đào tạo, chấm dứt hợp đồng, vấn đề pháp lý Mỗi chương của cuốn sách đã giới thiệu một nghiên cứu trường hợp điển hình trong quản lý NNLYT, trong đó xác định vai trò của việc phân tích vị trí việc làm, các yếu tố để xác định (Chương 6), đào tạo nguồn nhân lực (Chương 10)
Hệ thống các giáo trình, hệ thống sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, chuyên khảo của Học viện Hành chính Quốc gia đã giới thiệu các nguyên lý
cơ bản về QLNN nói chung và QLNN về đào tạo NNL nói riêng Hệ thống các tài liệu đó đã đưa ra những thành tố, nội dung, công cụ, hình thức QLNN như hệ thống thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy, đội ngũ NNL, hệ thống tài
chính công và những công cụ, phương thức kiểm tra, giám sát Giáo trình Quản lý nhà nước về xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia (2012) [33, tr.18-
29] đã giới thiệu về hệ thống lý thuyết, cơ sở lý luận và các quan điểm QLNN
về xã hội, trong đó nêu rõ: Quản lý nhà nước về xã hội là sự tác động liên tục,
có tổ chức của chủ thể quản lý xã hội đó chính là Nhà nước lên xã hội và các khách thể có liên quan, nhằm duy trì và phát triển xã hội theo các đặc trưng
và các mục tiêu mà nhà nước - chủ thể quản lý đặt ra, phù hợp với xu thế phát triển khách quan của lịch sử Đồng thời, giáo trình cũng nêu ra những nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước để thực hiện các chức năng và nhiệm
vụ của mình; giáo trình cũng giới thiệu về các nội dung và phương thức QLNN về xã hội
Trang 27Giáo trình Quản lý nhà nước về xã hội, Học viện Hành chính quốc gia (2012) [33, tr.114-153] và cuốn tài liệu Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực, Học viện Hành chính quốc gia (2013) [31, tr.114-146] dùng cho bồi
dưỡng chuyên viên cao cấp đã đưa ra khung lý thuyết và các nguyên lý QLNN về xã hội và QLNN về ngành và lĩnh vực Các tài liệu này đã giúp cho các cán bộ làm công tác vĩ mô được tiếp cận sâu hơn về QLNN về xã hội và QLNN về ngành và lĩnh vực với những phân tích cụ thể, logic, xác định các nội dung và phương thức QLNN về các lĩnh vực xã hội và phát triển NNL, trong đó có lĩnh vực GD&ĐT, y tế
Cuốn sách Chính sách Kinh tế - Xã hội, Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1999) [34, tr.18-45, 276-293] đã nêu một trong những công cụ quan
trọng nhất của Nhà nước để quản lý, điều hành các hoạt động xã hội theo mục tiêu xác định là xây dựng chính sách về kinh tế - xã hội, trong đó có chính sách về đào tạo NNL, chính sách giải quyết việc làm, chính sách về khoa học công nghệ
Theo tác giả Lê Thanh Bình (2009) trong cuốn Một số vấn đề quản lý nhà nước về kinh tế, văn hoá, giáo dục trên thế giới và Việt Nam [2, tr 360]
đã đưa ra những luận điểm và xu hướng về QLNN hiện nay ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục trên thế giới và Việt Nam Cuốn sách đã đưa ra mối quan hệ và vai trò của chất lượng giáo dục trong phát triển kinh tế - xã hội, tác
giả nêu rõ: Chất lượng một quốc gia sẽ được đánh giá theo các tiêu chí: dân
cư được giáo dục tốt, NNL dựa vào trí tuệ dồi dào của trí thức, sự linh hoạt, hiệu quả của cơ cấu tài chính, đội ngũ các nhà doanh nghiệp giỏi, mà giáo dục, đào tạo lại có ảnh hưởng then chốt đến vấn đề trên, tức là có vai trò làm đòn bẩy của sự phát kinh tế - xã hội
Trong nghiên cứu Việt Nam: Giáo dục đại học và kỹ năng cho tăng trưởng của Ngân hàng Thế giới (2008) [39] đã khẳng định giáo dục đại học
Việt Nam đang đối mặt với những thách thức của thế kỷ mới về việc xây
Trang 28dựng kỹ năng cho người học Chất lượng giáo dục đại học cần nhấn mạnh ở khía cạnh việc tạo lập kỹ năng làm việc cho học viên sau khi tốt nghiệp Nghiên cứu đã chỉ ra trách nhiệm của Nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học, phải nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục của các cơ quan nhà nước Nhà nước cần phải tạo lập môi trường chính sách, môi trường pháp lý bảo
đảm các CSĐT vận động hướng tới các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Trong nghiên cứu On the philosophy of higher education (Về triết lý của giáo dục đại học) [69], tác giả Brubacher J.S đã đưa ra những quan điểm
chung về giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt, liên quan đến triết lý để đảm bảo chất lượng giáo dục phải gắn với nhu cầu của xã hội và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục, tác giả đã nhấn mạnh chất lượng giáo dục đại học được thể hiện ở việc đạt được những trách nhiệm xã hội mà giáo dục đại học phải gánh vác Không thể có một nền giáo dục có chất lượng nếu chất lượng của đa số trường đại học ở mức thấp kém, không hoàn thành được
sứ mệnh mà xã hội giao phó cho nó
Lê Thị Kim Dung (2012) trong luận án tiến sỹ Luật học Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay [28, tr.140-141], tác giả đã
nêu lên quan điểm về đánh giá chất lượng giáo dục qua kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục Tác giả cho rằng: chất lượng nên được xem là sự phù hợp với mục tiêu Sinh viên tốt nghiệp một trường đại học là có chất lượng nếu những mục tiêu mà nhà trường đặt ra đối với sinh viên đạt được
Nguyễn Minh Lợi (2003) trong Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính
công Nâng cao quản lý chương trình, nội dung đào tạo cán bộ y tế từ thực tế Trường Đại học Y Hà Nội [36, tr.91] đã nêu lên những vấn đề bất cập trong
quản lý chương trình, nội dung đào tạo cán bộ y tế trình độ đại học trong đó
có đào tạo NNLĐD Tác giả đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, rà soát quy hoạch mạng lưới và tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo chất lượng đào tạo NNLYT
Trang 29Nguyễn Minh Lợi (2016), ở một góc tiếp cận trực tiếp đến thể chế đào
tạo NNLĐD trong bài báo Hoàn thiện thể chế đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam theo hướng hội nhập quốc tế [37, tr.43-47], tác giả đã giới
thiệu về thực trạng hệ thống thể chế đào tạo NNLĐD Việt Nam hiện nay chưa đảm bảo tính đồng bộ, chưa thể hiện được tính đặc thù trong đào tạo NNLĐD Tác giả đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện thể chế đào tạo NNLĐD Việt Nam theo hướng hội nhập trên nguyên tắc tiếp cận xây dựng và hoàn thiện thể chế về đào tạo NNLĐD cần được tiếp cận nghiên cứu, hoàn thiện và đồng bộ ở cả về hoạt động đào tạo, hoạt động nghề nghiệp và sử dụng nhân lực; lộ trình sắp xếp bộ máy quản lý theo hướng đảm bảo tinh gọn, tránh chồng chéo; tăng cường đầu tư tài chính thông qua các chương trình, dự án; triển khai kiểm định chất lượng giáo dục và tăng cường kiểm tra, giám sát
Tác giả Sun-Joo Kang và In-Sook Kim trong bài báo Development of the Korean Nursing Profession with Changes in its Legal Basis (Sự phát triển
điều dưỡng chuyên nghiệp ở Hàn Quốc với thay đổi về chính sách pháp luật) [88] đã giới thiệu về sử dụng và đào tạo NNLĐD của Hàn Quốc dưới góc độ tiếp cận về thể chế Bài báo đã nêu những vấn đề cần phải điều chỉnh trong việc phát triển nghề nghiệp khi có sự thay đổi về Luật Dịch vụ y tế của Hàn Quốc năm 2015 và nhấn mạnh vai trò của hệ thống thể chế trong đào tạo và phát triển nghề nghiệp
Trong báo cáo Nursing in Thailand (Điều dưỡng của Thái Lan)
[81],[87] bên cạnh việc giới thiệu về mô hình đào tạo của Thái Lan, các tác giả Nujjaree Chaimongkol, Robert L Anders, Wipada Kunaviktikul đã giới thiệu về hệ thống thể chế của Thái Lan với việc xây dựng và ban hành Luật Hành nghề điều dưỡng, quy định về thi và cấp giấy phép hành nghề và vai trò của Hội đồng Điều dưỡng Thái Lan trong kiểm định chất lượng, thi và cấp giấy phép hành nghề
Trang 30Trong các tài liệu Cơ chế kỳ thi quốc gia về điều dưỡng và cấp bằng tại Nhật Bản [32] tác giả Iwasawa Kazuko, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật
Bản (2017), đã tập trung giới thiệu về quá trình phát triển ngành điều dưỡng của Nhật Bản Các tài liệu này đã nhấn mạnh vai trò của nhà nước thông qua việc thể chế hóa khi ngay từ năm 1948 Nhật Bản đã có Luật về điều dưỡng, điều dưỡng cộng đồng và điều dưỡng sản phụ khoa (hộ sinh) Luật đã quy định về việc tổ chức kỳ thi quốc gia để cấp giấy phép hành nghề
Tổ chức Y tế thế giới WHO khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2009
đã ban hành tài liệu Tiêu chuẩn toàn cầu cho giáo dục điều dưỡng và hộ sinh chuyên nghiệp (Global standards for the initial education of professional nurses and midwives) [91] và năm 2011 đã ban hành Nghị quyết số 64 về tăng cường điều dưỡng và hộ sinh (Strengthening nursing and midwifery, the sixty- fourth World Health Assembly) [95] Các tài liệu này đã đưa ra các khuyến
cáo và yêu cầu về đào tạo và hoạt động nghề nghiệp của điều dưỡng và hộ sinh làm cơ sở để các quốc gia áp dụng Nhiều nước đã chấp thuận và thông qua hội đồng điều dưỡng quốc gia để ban hành các quy định và điều hành các hoạt động về hành nghề và đào tạo điều dưỡng theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia
Báo cáo National nursing and midwifery legislation in countries of South-East Asia with high HIV burdens (Luật về điều dưỡng và hộ sinh ở các nước Đông Nam Á nhiễm HIV cao), các tác giả Nila K Elison, Andre R
Verani, Carey McCarthy (2015) [84, tr 12-19] đã nêu bật tầm quan trọng vai trò của quản lý nhà nước đối với CSSK thông qua hệ thống pháp luật chuyên ngành tại các nước nghiên cứu là Ấn Độ, Nepal, Myanmar, Thái Lan Các văn bản luật đều quy định về các điều kiện liên quan đến đào tạo, hành nghề điều dưỡng
Năm 2013, cơ sở dữ liệu về điều dưỡng và hộ sinh của các nước khu
vực Tây Thái Bình Dương đã được WHO giới thiệu (Western Pacific Region
Trang 31Nursing/Midwifery Databank) [97] Thông qua cơ sở dữ liệu này có thể tiếp
cận với sự phát triển về điều dưỡng và đào tạo NNLĐD, hệ thống thể chế, đào tạo và sử dụng nhân lực điều dưỡng ở các nước khu vực Tây Thái Bình Dương Cơ sở dữ liệu này cũng đưa ra một số thông tin về việc đăng ký và cấp giấy phép hành nghề điều dưỡng, vai trò của các cơ quan QLNN, các tổ chức trong quản lý và cấp giấy phép hành nghề điều dưỡng, trong đó đa số các nước đã thành lập và xác định vai trò của Hội đồng Điều dưỡng
Tại Hoa Kỳ, Hội đồng Tư vấn quốc gia về giáo dục và hành nghề điều
dưỡng (National Advisory Council on Nurse Education and Practice - NACNEP) năm 2010 đã có bài giới thiệu Addressing New Challenges Facing Nursing Education: Solutions for a Transforming Healthcare Environment
(Giải quyết thách thức mới đối với giáo dục điều dưỡng: Giải pháp cho việc
chuyển đổi môi trường chăm sóc sức khoẻ) [82] và năm 2011 với tài liệu The National Advisory Council on Nurse Education and Practice (Hội đồng tư
vấn quốc gia về giáo dục và hành nghề điều dưỡng) [83] đã xác định những
xu hướng mới trong đào tạo điều dưỡng của Hoa Kỳ, vai trò của NACNEP trong đào tạo và hành nghề điều dưỡng tại Hoa Kỳ bao gồm các quy định về định hướng nghề nghiệp, kiểm định chất lượng giáo dục, điều kiện thi và cấp
giữa các cơ quan quản lý Nghị quyết đã nêu rõ: Quản lý giáo dục và đào tạo
Trang 32còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm
"giáo dục là quốc sách hàng đầu" còn chậm và lúng túng; việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ
Bộ GD&ĐT (2013) trong Báo cáo tổng kết 03 năm thực hiện Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 [7, tr 7-19] đã nêu lên những thành
tựu đã đạt được về đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 như hệ thống thể chế ngày càng hoàn thiện khi đã trình Quốc hội thông qua Luật Giáo dục đại học, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và bộ máy quản lý từ trung ương đến địa phương, sự phát triển của hệ thống mạng lưới các cơ sở đào tạo, đội ngũ giảng viên và các điều kiện đảm bảo chất lượng ngày càng được quan tâm và củng cố Bên cạnh đó, báo cáo cũng đã nêu lên những khó khăn, thách thức, tồn tại của giáo dục đại học trong 3 năm thực hiện Chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ Báo cáo đã khẳng định: các công cụ pháp lý giúp cho công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục đại học chưa được hoàn thiện; thiếu các giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng đào tạo, sự phối hợp giữa các đơn vị trong toàn hệ thống còn thiếu chặt chẽ và chưa hiệu quả
Tài liệu Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI [8] của Bộ GD&ĐT (2013), Báo cáo Vai trò điều tiết của Nhà nước trong việc đảm bảo chất lượng và công bằng giáo dục [11] của Bộ GD&ĐT tại Hội thảo quốc gia do Bộ
GD&ĐT phối hợp với Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) tổ chức ngày 19/12/2012 đã đánh giá thực trạng công tác điều tiết của Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đại học với nhận định có những lĩnh vực nhà nước đã không
Trang 33thực hiện hiệu quả vai trò điều tiết, chưa bảo đảm quyền tự chủ đủ mức cho các trường đại học vận động vươn tới chất lượng cao hơn
Bộ GD&ĐT (2016) trong Báo cáo tổng kết năm học 2015 - 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016 - 2017 [10, tr 110-141] đã chỉ ra những
điểm mạnh trong đào tạo điều dưỡng như đổi mới chương trình, đào tạo theo năng lực và một số CSĐT tiếp cận mô mình đào tạo quốc tế Tuy nhiên, báo cáo đã xác định một trong những hạn chế, yếu kém đó là công tác QLNN về giáo dục chuyên nghiệp trong đó có đào tạo điều dưỡng còn nhiều bất cập, chưa thực hiện tốt chức năng QLNN về xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chiến lược, tiêu chuẩn và kiểm soát chất lượng đào tạo Quy mô đào tạo nhóm ngành sức khỏe (trong đó có điều dưỡng) vẫn cao, chiếm tới 35,8% Đối với giáo dục đại học, báo cáo của Bộ GD&ĐT cũng đã chỉ ra thực trạng quy hoạch, phát triển hệ thống CSĐT chưa sát với thực tiễn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mô hình mới chú trọng đến số lượng mà chưa chú ý đúng mức đến các điều kiện đảm bảo chất lượng và nhu cầu xã hội
Luận án tiến sỹ Luật học Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay (2012) [28, tr 54-55, 84-90], tác giả Lê Thị Kim Dung đã
nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo tính đồng bộ, tính phù hợp trong xây dựng hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo với các văn bản pháp luật hiên quan khác Đồng thời, tác giả đã chỉ ra rằng thể chế quản lý giáo dục đại học đang có quá nhiều bất cập, chưa định hình rõ vai trò của nhà nước, xã hội, nhà trường và các chủ thể khác đối với giáo dục đại học Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành còn chậm, thiếu đồng bộ, cụ thể, khả thi và chưa hoàn chỉnh Việc thành lập, nâng cấp các trường đại học, cao đẳng và
mở ngành đào tạo còn nhiều bất cập Nhiều trường đại học, cao đẳng được nâng cấp hoặc chuyển từ đào tạo chuyên ngành sang đào tạo đa ngành không đáp ứng được các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo Việc mở trường và
mở ngành tràn lan dẫn tới tình trạng mất cân đối về hình thức, trình độ đào
Trang 34tạo, cơ cấu ngành, nghề và cơ cấu vùng, miền Hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học còn hạn chế
Xác định tầm quan trọng của công tác y tế trong đó có đào tạo và phát
triển NNLYT, Bộ Chính trị (2005) đã ban hành Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [6], trong đó đã khẳng định quan điểm Nghề y là nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt Theo các báo cáo của Bộ Y tế: Báo cáo kết quả 3 năm thực hiện Nghị định số 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo (2014) [21] và Báo cáo phát triển nhân lực y tế: thành tựu, khó khăn và giải pháp (2014) [22], Báo cáo chung tổng quan Ngành Y tế năm 2011: nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm ngành y tế 2011 - 2015 (2011) [23]
cũng đã đưa ra những kết quả đã đạt được trong đào tạo và phát triển NNLYT góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Đồng thời, các báo cáo cũng đã nêu ra những khó khăn, thách thức trong đó hệ thống thể chế hiện nay chưa thực sự đồng bộ nên chưa có những quy định riêng đối với đào tạo NNLYT như thông lệ quốc tế, không thể hiện được sự phối hợp liên hành giữa cơ quan QLNN về đào tạo với cơ quan QLNN về sử dụng nhân lực trong lĩnh vực y tế Nghị định 115/2010/NĐ-CP ngày 24/10/2010 của Chính phủ quy định về vai trò, trách nhiệm của các Bộ, ngành chưa thực sự phù hợp, đặc biệt là đối với lĩnh vực chuyên sâu có tính đặc thù cao như lĩnh vực y tế khi xác định vai trò quản lý của các bộ, ngành chỉ là phối hợp với Bộ GD&ĐT để QLNN đối với các CSĐT trực thuộc bộ, ngành đó
Bộ Y tế (2014) trong Báo cáo phát triển nhân lực y tế: thành tựu, khó khăn và giải pháp [22] cũng đã xác định về chính sách sử dụng NNLYT đã có
những cải tiến để phù hợp với đặc thù ở từng lĩnh vực chuyên môn như Nghị
Trang 35định số 64/2009/NĐ-CP ngày 30/7/2009 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở
y tế công lập và các văn bản hướng dẫn, Quyết định số 14/2013/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở KB, CB - Bộ Y tế đã có hướng dẫn
để thực hiện quyết định này
Trong báo cáo Một số nội dung quản lý nhà nước trong đào tạo nhân lực y tế (2015) [24], Bộ Y tế đã đánh giá những thành tựu của công tác đào
tạo nhân lực y tế như phát triển mạng lưới CSĐT, phát triển chương trình, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, đầu tư một số chương trình, dự án cho đào tạo NNLYT Tuy nhiên, báo cáo của Bộ Y tế đã nêu những tồn tại, khó khăn trong đó việc thể chế hóa quan điểm của Nghị quyết số 46 vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là thể chế hóa về công tác đào tạo NNLYT
Tác giả Phạm Văn Tác (2014) trong Luận án tiến sỹ quản lý Hành
chính công Quản lý nhà nước đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y tế [45, tr 157-165] đã nghiên cứu về vấn đề lý luận, thực tiễn và
những giải pháp hoàn thiện QLNN đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y tế Một trong những giải pháp cần thiết là cần có chính sách
về kỳ thi quốc gia để cấp CCHN, chính sách về lương/phụ cấp và đãi ngộ phù hợp đối với người làm chuyên môn y tế
Trong lĩnh vực y tế, đầu tư tài chính cho NNLYT bao gồm các chi phí cho đào tạo và thù lao cho người lao động Nhà nước đã và đang huy động một nguồn kinh phí tương đối lớn cho đào tạo cán bộ y tế, gồm cả đầu tư về
cơ sở hạ tầng cho các cơ sở y tế và cả các chi phí thường xuyên Theo Niên giám thống kê y tế năm 2013 [20, tr 41-44] của Bộ Y tế về đầu tư cho các
CSĐT trực thuộc Bộ, tổng số tiền đầu tư cho đào tạo NNLYT tăng theo thời
Trang 36gian nhưng nếu tính trên tổng quỹ cho y tế, đầu tư cho đào tạo lại giảm theo thời gian (năm 2000: 1,73%, năm 2010 chỉ là: 0,56%) Chính phủ trợ cấp cho tất cả các hoạt động đào tạo của các trường đại học công lập (khoảng 6 triệu đồng cho sinh viên đại học) Tuy nhiên, việc trợ cấp hiện tại vẫn chưa đáp ứng được chi phí do chi phí cho đào tạo gia tăng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo
Gần đây, Chính phủ đã phê duyệt một số dự án nhằm cải thiện NNLYT Chương trình nâng cao năng lực NNLYT giai đoạn 2006 - 2010 do chính phủ Hà Lan viện trợ không hoàn lại với tổng số tiền là 14 triệu Euro; mục tiêu là nâng cao năng lực giảng dạy cho các CSĐT, cải thiện CTĐT theo hướng phát triển kỹ năng thực hành và năng lực sau tốt nghiệp Chương trình phát triển NNLYT do ADB và AusAID tài trợ, thực hiện trong giai đoạn từ
2010 - 2015 với tổng kinh phí khoảng 76 triệu USD; mục tiêu chính của chương trình là để nâng cấp CSĐT cán bộ y học, lập kế hoạch hỗ trợ và quản
lý đào tạo, tăng cường việc quản lý NNL và cải thiện cơ chế tài chính và chi trả cho người cung cấp các dịch vụ y tế) Dự án GD&ĐT NNLYT phục vụ cải cách hệ thống y tế do WB tài trợ với tổng kinh phí là 121 triệu USD đang chuẩn bị triển khai giai đoạn 2014 - 2020; mục tiêu của Dự án là tăng cường
về kiểm định chất lượng đào tạo NNLYT, củng cố mạng lưới y tế cơ sở và nâng cao năng lực một số CSĐT Ngoài ra còn một số chương trình, dự án có
hỗ trợ cho đào tạo NNLYT theo từng lĩnh vực, khu vực, nhóm đối tượng cụ thể do World Bank, ADB, Pathfinder International, Sida Thụy Điển, Atlantic Philanthropies, UNFPA, WHO tài trợ Các hoạt động hỗ trợ cụ thể như: cải thiện CTĐT chi tiết cho một số môn học; phát triển tài liệu đào tạo; tăng cường năng lực nghiên cứu; các phương pháp giảng dạy tích cực
Về đảm bảo chất lượng đào tạo, trong nghiên cứu của tác giả Lê Vũ
Anh và cộng sự (2013) Đánh giá hiện trạng đào tạo nhân lực y tế Việt Nam [1 tr.42], đánh giá về việc kiểm định chất lượng đào tạo NNLYT nói chung và
Trang 37điều dưỡng nói riêng, đã nêu: các quy định hiện nay thiếu các nhóm năng lực chính và tiêu chí cụ thể cho từng ngành đào tạo, không có các tiêu chí đặc trưng cho lĩnh vực y tế, thiếu chuyên gia về kiểm định chất lượng Các trường đều gặp khó khăn với nhân sự tiến hành kiểm định chất lượng vì họ chưa có cán bộ được đào tạo chính quy, các rào cản về văn hóa Kiểm định chất lượng
là vấn đề mới, chưa nhận được sự quan tâm của lãnh đạo cũng như các giảng viên trong trường, đặc biệt việc triển khai lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên vẫn chưa được triển khai triệt để; thiếu kinh phí để tiến hành hoạt động kiểm định chất lượng, vì vậy, rất khó triển khai đánh giá chất lượng đào tạo
Theo báo cáo thường niên của Bộ Y tế và nhóm các nhà tài trợ về y tế
Joint annual health review 2015 strengthening primary health care at the grassroots towards universal health coverage (Báo cáo chung tổng quan ngành y tế 2015: Tăng cường y tế cơ sở hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân) [77, tr 181-183], hạn chế trong việc đảm bảo chất lượng được xác
định là vấn đề chính trong hệ thống đào tạo NNLYT Các hạn chế này được thể hiện trong những vấn đề sau: công tác đảm bảo chất lượng đào tạo chưa được coi trọng trong nhiều CSĐT NNLYT; thiếu tiêu chuẩn năng lực thống nhất cho sinh viên tốt nghiệp các trường y tế để làm cơ sở cho việc xây dựng các CTĐT hay các mục tiêu đào tạo; chương trình đào tạo chưa dựa trên chuẩn năng lực; trình độ giảng viên, kỹ năng, thời gian, các phương pháp và điều kiện giảng dạy còn yếu kém và không tương xứng; các phương pháp đánh giá kết quả đào tạo chưa mang tính hệ thống
Năm 2006, Việt Nam đã ký thoả thuận công nhận lẫn nhau trong các nước ASEAN về dịch vụ điều dưỡng (ASEAN Mutual Recognition Arrangement on Nursing Services) [66, tr.4-6] Để thực hiện được thoả thuận của khu vực, người điều dưỡng phải có đủ các yêu cầu tối thiểu cần thiết theo các nội dung của thoả thuận Phát triển điều dưỡng cũng phải theo hướng tiêu
Trang 38chuẩn và năng lực theo chuẩn mực quốc tế, đây cũng là tiền đề để đảm bảo hội nhập khi cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập, thị trường lao động
tự do đối với lao động đã qua đào tạo được hình thành trong đó có lĩnh vực điều dưỡng
Về quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo, các báo cáo của Bộ Y tế:
Báo cáo đề dẫn Hội nghị đào tạo nhân lực Điều dưỡng (2005, 2012) [13],[17]
và Báo cáo phát triển nhân lực y tế: thành tựu, khó khăn và giải pháp (2014)
[22] cho thấy mạng lưới các CSĐT NNLĐD đã có sự phát triển mạnh mẽ trong 10 năm trở lại đây Nếu năm 2005, cả nước có 10 trường đại học, 03 trường cao đẳng và 56 trường trung cấp tham gia đào tạo NNLĐD, thì đến năm 2014, cả nước đã có 23 trường đại học, 50 trường cao đẳng và 110 trường trung cấp tham gia đào tạo NNLĐD; nếu năm 2005 chỉ có 1 trường ngoài công lập thì năm 2014 có 8 trường đại học, 10 trường cao đẳng và hơn
30 trường trung cấp ngoài công lập Các CSĐT tập trung chủ yếu ở các khu vực kinh tế - xã hội phát triển, đô thị lớn là các thành phố trực thuộc trung ương, không tương ứng với quy mô dân số của khu vực, không phù hợp với quy hoạch phát triển NNLYT
Tác giả Lê Vũ Anh trong nghiên cứu Đánh giá hiện trạng đào tạo nhân lực y tế (2013) [1, tr.36] và các báo cáo của Bộ Y tế tại Hội nghị đào tạo nhân lực Điều dưỡng (2005, 2012) [13],[17] cho thấy, có sự mất cân đối về phân bố
các CSĐT NLYT khi trên một nửa số CSĐT tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Hồng (dân số chiếm 22,8%), chỉ có một số ít trường ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ (dân số ở từng khu vực lần lượt là 20, 12,9 và 21,9%)
1.2 Kết quả nghiên cứu tổng quan và những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1 Kết quả nghiên cứu tổng quan từ các công trình liên quan
Trang 39Các công trình, tài liệu trên đã đưa ra tương đối hoàn chỉnh những thành tố, nội dung, công cụ, hình thức QLNN như hệ thống thể chế, hệ thống
tổ chức bộ máy, đội ngũ NNL và hệ thống tài chính công Trong các tài liệu
đã nêu, có những tài liệu đã đề cập đến QLNN về GD&ĐT hoặc về y tế nhưng mới chỉ dừng ở quản lý về thể chế chung, chưa có tài liệu nào nghiên cứu về QLNN theo từng lĩnh vực cụ thể theo đặc thù nghề nghiệp trong đó có đội ngũ ĐDV Điều đó đã đặt ra nội dung lý luận mà nghiên cứu sinh cần nghiên cứu để giải đáp trong luận án này
Qua tham khảo và phân tích một số công trình nghiên cứu nêu trên, có thể thấy, một số nghiên cứu cũng đã đề cập đến những khía cạnh trong QLNN
về đào tạo NNLĐD như vấn đề thể chế, vấn đề đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng, vấn đề, quy hoạch mạng lưới, vấn đề đầu tư công Các công trình này đã có những giá trị hỗ trợ cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung mà các công trình chưa đề cập đến một cách toàn diện, cụ thể như sau:
Một là, phần lớn các công trình nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tập
trung nghiên cứu NNLYT nói chung mà chưa tập trung nghiên cứu vào đội ngũ nhân lực điều dưỡng hoặc nếu nghiên cứu về điều dưỡng mới chỉ tiếp cận
ở một số nội dung liên quan đến đào tạo mà chưa tiếp cận ở góc độ QLNN Đây cũng là một khoảng trống lớn mà luận án này cần tập trung nghiên cứu đối với QLNN về đào tạo NNLĐD là đội ngũ chiếm đa số trong cơ cấu NNLYT
Hai là, các tài liệu, các công trình nghiên cứu ngoài nước mới chủ yếu
đề cập đến việc đào tạo NNLYT hoặc là nhân lực điều dưỡng Trong đó đa số
đề cập đến vấn đề đổi mới, phát triển chương trình, kiểm định chất lượng, hành nghề, mà chưa có lý luận cụ thể và toàn diện về vai trò QLNN đối với đào tạo NNLĐD Đây là vấn đề mà trong quá trình nghiên cứu, tác giả mong
Trang 40muốn nhìn nhận ở góc độ quản lý công để đưa ra các khuyến cáo, góp phần hoàn thiện về công tác QLNN về đào tạo NNLĐD
Một số nghiên cứu đã tiếp cận đến vai trò của QLNN trong đào tạo và phát triển NNLĐD nhưng mới ở mức độ khái quát về thể chế mà chưa có những nghiên cứu sâu về các nội dung và vai trò của QLNN đối với đào tạo NNLĐD Các nghiên cứu cũng mới tiếp cận từ góc độ hoạt động chuyên môn nghề nghiệp và sử dụng NNLĐD mà chưa phân tích rõ vai trò của Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan; chưa phân tích được sự ràng buộc và sự phối hợp cần thiết giữa các Bộ, Ngành liên quan trong xây dựng chính sách, chỉ đạo, điều hành để đạt mục tiêu cuối cùng là đào tạo NNLĐD phải đáp ứng được yêu cầu của hệ thống y tế, yêu cầu CSSK nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước
Ba là, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước hoặc mỗi khu vực, vùng,
miền của từng nước có những đặc điểm khác nhau, do đó công tác đào tạo và phát triển NNL nói chung hay NNLĐD cũng có sự khác nhau Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào về QLNN đối với đào tạo NNLĐD ở Việt Nam
1.2.2 Những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Từ những vấn đề nêu trên, luận án cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề sau:
Một là, cơ sở khoa học cả về lý luận và thực tiễn về QLNN đào tạo
NNLĐD, trên cơ sở đó vận dụng vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay Cần nghiên cứu nhằm làm rõ các khái niệm có liên quan, nội dung của QLNN đối với đào tạo NNLĐD Việt Nam và các yếu tố tác động đến các hoạt động quản lý này
Hai là, nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động QLNN về đào tạo
NNLĐD ở Việt Nam và sự khác biệt với đào tạo NNLĐD của các nước trên thế giới để phân tích, so sánh tìm ra các hạn chế cần khắc phục để hội nhập quốc tế