1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.

7 650 9

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Abstract: SnO2gC3N4 composites as photocatalysts with various weight ratios of SnO2 and gC3N4 were synthesized using a facile method through heating of mixtures of Sn6O4(OH)4 and melamine. The asprepared samples are denoted as MSC1:n where n = 5, 6, 7 corresponding to the weight ratios of Sn6O4(OH)4 and gC3N4. The samples were characterized by Xray diffraction, scanning electron microscopy, infrared, and the thermogravimetricdifferential scanning calorimetry analysis thermal gravimetric analysis. The results show that the composites containing SnO2 covered by gC3N4 sheets. All the samples exhibit good photocatalytic activity in degradation of rhodamine B under visible light. Among them, the MSC1:6 sample possesses the best one. A synergistic effect between SnO2 and gC3N4 in the composites for the photodegradation of rhodamine B was observed. Keywords: gC3N4, SnO2, rhodamin B, photocatalysis.

Trang 1

NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT

SnO2/g-C3N4 Preparation and photocatalytic activity of SnO2/g-C3N4

Huỳnh Thị Phụ1, Phạm Văn Nhanh1, Nguyễn Ngọc Phi1, Đào Thị Kim Thoa1, Nguyễn Thị Kim Thoa1,

Võ Viễn1,2*

1Khoa Hóa học, 2Viện Nghiên cứu ứng khoa học và công nghệ Trường Đại học Quy Nhơn, 170 An Dương Vương, Quy Nhơn, Bình Định

*vovien@qnu.edu.vn

Abstract: SnO 2 /g-C 3 N 4 composites as photocatalysts with various weight ratios of SnO 2 and

g-C 3 N 4 were synthesized using a facile method through heating of mixtures of Sn 6 O 4 (OH) 4 and melamine The as-prepared samples are denoted as MSC-1:n where n = 5, 6, 7 corresponding

to the weight ratios of Sn 6 O 4 (OH) 4 and g-C 3 N 4 The samples were characterized by X-ray diffraction, scanning electron microscopy, infrared, and the thermogravimetric-differential scanning calorimetry analysis thermal gravimetric analysis The results show that the composites containing SnO 2 covered by g-C 3 N 4 sheets All the samples exhibit good photocatalytic activity in degradation of rhodamine B under visible light Among them, the MSC-1:6 sample possesses the best one A synergistic effect between SnO 2 and g-C 3 N 4 in the composites for the photodegradation of rhodamine B was observed.

Keywords: g-C 3 N 4 , SnO 2 , rhodamin B, photocatalysis.

2. Ô nhiễm môi trường là vấn đề

hiện đang đặt ra rất bức thiết đối với

hầu hết các quốc gia trên thế giới Việc

gia tăng dân số và phát triển công

nghiệp đã dẫn đến việc ngày càng

nhiều các chất độc hại được thải vào

môi trường Các chất độc hại này có

thể gây nên các bệnh tật liên quan đến

ô nhiễm và làm ấm lên khí hậu toàn

cầu Các chất thải có thể ở dạng rắn,

lỏng hoặc khí Tuy nhiên, đáng chú ý là

những chất hữu cơ độc hại có trong

dung dịch nước Do vậy, việc nghiên

cứu xử lý triệt để các hợp chất hữu cơ

độc hại trong môi trường nước bị ô

nhiễm luôn là mối quan tâm của nhiều

nhà khoa học Để xử lý các hợp chất

hữu cơ độc hại, thời gian gần đây người

ta quan tâm đến quá trình xúc tác

quang do chúng có ưu điểm như sử

dụng năng lượng ánh sáng mặt trời và

chất oxi hóa là oxi không khí Đối với

quá trình xúc tác quang, thông thường

người ta sử dụng chất xúc tác là các

chất bán dẫn, trong đó các oxit kim

loại được quan tâm nhiều nhất Tuy

nhiên, các oxit kim loại thường chỉ hoạt

động trong vùng ánh sáng tử ngoại,

hơn nữa hiện tượng tái tổ hợp

electron-lỗ trống quang sinh cao khi dùng dạng

nguyên chất Vì thế đã có nhiều nghiên

cứu nhằm khắc phục hiện tượng này

3. Thời gian gần đây, một loại vật liệu bán dẫn không kim loại, dạng polyme của carbon nitride có cấu trúc lớp như graphit (g-C3N4 ) (hình 1) rất được quan tâm Vật liệu này ưu điểm là

có năng lượng vùng cấm bé, khoảng 2,7 eV có thể hoạt động dưới vùng ánh sáng mặt trời, có thể tổng hợp lượng lớn, bền hóa [1] Tuy nhiên ở dạng nguyên chất, g-C3N4 có nhược điểm là

dễ tái tổ hợp electron và lỗ trống quang sinh, dẫn đến hiệu suất xúc tác kém [2] Một số công trình nghiên cứu chỉ ra rằng pha tạp g-C3N4 với các nguyên tố phi kim như O, S, B, P [3] hay gắn với một chất bán dẫn khác [4,5] có thể làm giảm tốc độ tái kết hợp electron - lỗ trống quang sinh, dẫn đến cải thiện hoạt tính xúc tác quang

do tăng khả năng hấp thụ ánh sáng khả kiến và giảm tốc độ tái kết hợp electron-lỗ trống quang sinh

4.

5. Hình 1 Cấu tạo một lớp g-C3N4

hoàn hảo [1]

6. Trong bài báo này, chúng tôi kết hợp SnO2 với g-C3N4 nhằm kết hợp ưu điểm của hai vật liệu riêng lẻ, đó là

Trang 2

tăng khả năng hấp thụ ánh sáng khả

kiến bởi g-C3N4 và giảm tốc độ tái tổ

hợp bởi kết hợp hai chất bán dẫn Đặc

biệt hệ xúc tác này được điều chế bằng

một phương pháp mới chưa được công

bố

7

10. Các hóa chất chính sử dụng

trong nghên cứu này là melamin,

SnCl2.2H2O, NaOH, rhodamin B, cồn

tuyệt đối có xuất xứ từ Trung Quốc

12.2.2.1 Tổng hợp g-C 3 N 4

13. Cho 6 gam bột melamin vào

cốc sứ, bọc kỹ bằng giấy nhôm (nhằm

ngăn cản sự thăng hoa của tiền chất

cũng như làm tăng cường sự ngưng tụ

tạo thành g-C3N4), đặt cốc vào lò nung

Nung nóng ở nhiệt độ 520°C trong 1

giờ Sau đó, lò được làm nguội tự nhiên

đến nhiệt độ phòng Sản phẩm thu

được là chất bột màu vàng nhạt, kí

hiệu g-C3N4

14.2.2.2 Tổng hợp SnO 2

15. Cho 6,768 gam SnCl2.2H2O vào

cốc có sẵn 50 mL H2O và 20 mL etanol,

khuấy cho hỗn hợp cho đến tan, thu

được dung dịch A Tiếp theo, cho 2,807

gam NaOH vào trong 30mL H2O thu

được dung dịch B Cho dung dịch B vào

dung dịch A cho đến hết thu được kết

tủa trắng Sau đó, tiếp tục khuấy trong

2 giờ, ly tâm, rửa nhiều lần bằng nước

và etanol để loại Cl- và Na+ Kết tủa

vàng nâu Sn6O4(OH)4 thu được được

sấy ở 80°C trong vòng 12h, nghiền mịn

bằng cối mã não thu được sản phẩm

Sn6O4(OH)4 Cho 4 gam mẫu vào cốc sứ

có nắp đậy, bọc kín bằng giấy nhôm và

nung ở 520°C trong 1 giờ Để nguội ở

nhiệt độ phòng, nghiền mịn thu được

sản phẩm là chất bột màu trắng xám,

kí hiệu là SnO2

16.2.2.3 Tổng hợp composit

SnO 2 /g-C 3 N 4

17. Trộn lần lượt hỗn hợp gồm

Sn6O4(OH)4 và melamin với các tỉ lệ

1/5, 1/6 và 1/7 vào cối mã não và

nghiền mịn Cho 3 mẫu vào 3 cốc sứ và

bọc kín bằng giấy nhôm Sau đó, nung

3 mẫu ở cùng một nhiệt độ 520°C

trong 1h Để nguội đến nhiệt độ

thường và nghiền mịn thu được sản phẩm là chất bột màu vàng nâu, kí hiệu lần lượt là MSC-1:5, MSC-1:6, MSC-1:7

19. Nhiễu xạ tia X (XRD) của các mẫu được đo trên nhiễu xạ kế Bruker D8 Advance, ống phát tia X bằng Cu có bước sóng λ (CuKα) = 1,5406 Å, công suất 40 kV, dòng 40 mA Góc quét từ

100 đến 80o Góc mỗi bước quét là 0,008o và thời gian mỗi bước quét 0,6 giây Ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) được chụp trên máy Nova NanoSEM

450 Phổ hồng ngoại được ghi trên phổ

kế IRAffinity-1S (Shimadzu) trong khoảng 400 đến 4000 cm-1 Dữ liệu TGA-DTA được ghi trên SETRAM LABSYS TG tư nhiệt độ phòng đến 700oC với tốc độ nâng nhiệt độ 10oC/phút dưới điều kiện dòng không khi

20.2.4 Khảo sát hoạt tính xúc tác quang

21. Hoạt tính xúc tác quang của các vật liệu được đánh giá dựa trên khả năng phân hủy rhodamin B (RhB) trong dưới tác dụng của đèn sợi tóc (220V-100W) Quy trình thực hiện như sau: cho 0,05 g xúc tác vào cốc 100 mL, sau đó cho tiếp 80mL dung dịch RhB (20 mg/L) vào cốc, bọc kín cốc bằng giấy nhôm và khuấy đều cốc trên máy khuấy từ trong 2h (giai đoạn khuấy trong bóng tối) để cho quá trình hấp phụ - giải hấp phụ cân bằng Sau đó, hỗn hợp phản ứng được khuấy dưới điều kiện chiếu sáng bởi đèn dây đốt vonfram (220V-100W) qua kính lọc tia

UV Dùng pipet hút hỗn hợp phản ứng

ra (mỗi lần hút 10 mL) theo thời gian phản ứng (1 giờ hút 1 lần) Sau đó ly tâm 2 lần, mỗi lần 10 phút, tách lấy phần dung dịch để phân tích nồng độ rhodamin B còn lại Nồng độ RhB trong các mẫu được xác định bằng phương pháp đo quang trên máy UV-Vis (Jenway 6800 của Anh) Ngoài ra, để khảo sát tính chất hấp phụ của các mẫu vật liệu, thực hiện một quy trình tương tự như đánh giá hoạt tính xúc tác chỉ khác là khuấy hỗn hợp trong bóng tối

22.

24.

25.3.1 Đặc trưng vật liệu

Trang 3

26. Để xác định cấu trúc và độ tinh

khiết, các mẫu vật liệu đã được đặc

trưng bởi kỹ thuật nhiễu xạ tia X và kết

quả được trình bày trong các hình 2, 3

và 4 Hình 2 trình bày kết quả nhiễu xạ

tia X của g-C3N4 cho thấy có một pic có

cường độ nhỏ ở 2θ = 13,4o và một pic

có cường độ lớn hơn có 2θ = 27,4o

Theo các tài liệu đã công bố [1,2], hai

pic này tương ứng với cấu trúc carbon

nitride dạng lớp như graphit (g-C3N4)

Như đã đề cập trong phần tổng quan,

g-C3N4 có cấu trúc dạng lớpnhư graphit

với pic thứ nhất có 2θ = 13,49o tương

ứng với mặt (100) và pic thứ hai tương

ứng với mặt (002) Theo phương trình

Vulf-Bragg: 2dsinθ =λ với bậc nhiễu xạ

bằng 1, ta tính được giá trị d002 ứng với

2θ = 27,4olà d002 = 2sin

λ

θ = 3,3 Å Giá trị này chính là bề dày của một tấm

Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các

số liệu đã công bố

27.

28.Hình 2 Giản đồ nhiễu xạ tia X của

g-C3N4

29. Kết quả nhiễu xạ tiaX của mẫu

SnO2 tinh khiết được trình bàyở hình 3,

cho thấy rằng pic thứ nhất có cường độ

mạnh ở 2θ = 26,6° tương ứng với mặt

(110) ba pic tiếp theo ở 2θ =33,9°, 2θ

=38,0°, 2θ =51,8° tương ứng với các

mặt (101), (211) và (301) của cấu trúc

tinh thể SnO2 (JCPDS 72-1147), điều

này phù hợp với các số liệu nhiễu xạ

chuẩn cho bốn mặt tứ diện của SnO2

Kết quả này phù hợp với các tài liệu đã

được công bố [5]

30.

31. Hình 3 Giản đồ nhiễu xạ

tia X của SnO2

32. Hình 4 trình bày kết quả đo nhiễu xạ tia X của các mẫu vật liệu đã tổng hợp Nhìn chung, mặc dù được tổng hợp với các tỉ lệ khác nhau nhưng hình dạng các phổ gần như nhau và cùng xuất hiện các pic đặc trưng của SnO2 và g-C3N4 Cụ thể, trong phổ biểu diễn các pic đặc trưng của SnO2 ở 33,8° và 51,8° Riêng pic ở 26,6o có thể

bị chồng với pic 27,3o của g-C3N4 tạo thành pic có cường độ mạnh ở 27,1o Ngoài ra, điều đáng lưu ý là mẫu này còn xuất hiện một pic ở vị trí 2θ = 13,1° đặc trưng cho sự có mặt của

g-C3N4 trong vật liệu Theo nhiều tài liệu

đã công bố [1,2], g-C3N4 còn có một pic

ở 27,3o Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, pic này có thể bị chồng với pic của g-C3N4 Pic này có cường độ khác nhau ở các mẫu MSC-1:5, MSC-1:7 và MSC-1:6, trong đó cường độ cao nhất

là ở mẫu MSC-1:6

33.

34.Hình 4 Giản đồ nhiễu xạ tia X của các mẫu vật liệu MSC-1:5 (a), MSC-1:6

(b) và MSC-1:7 (c)

35. Như vậy, kết quả XRD minh chứng rằng chúng tôi đã tổng hợp thành công mẫu vật liệu composit SnO2/g-C3N4, trong đó mẫu MSC-1:6 có

độ tinh thể cao nhất, điều đó có thể dự

Trang 4

đoán rằng mẫu này có khả năng hoạt

tính xúc tác tốt hơn hai mẫu còn lại

36. Để kiểm tra hình thái, các vật

liệu cũng được đặc trưng bởi SEM

Trong hình 5 là hình ảnh SEM của các

mẫu vật liệu MSC-1:n và của SnO2 tinh

khiết Có thể nhận thấy rằng đối với

mẫu SnO2 tinh khiết có các hạt dạng

hình cầu đồng đều có đường kính

khoảng 50 nm Tuy nhiên đối với các

composit có dạng các khối lớn bao

gồm các tấm, có thể do các lớp g-C3N4

hình thành trên bề mặt SnO2 [5] Kết

quả này cũng có thể khẳng định thêm

rằng chúng tôi đã thành công trong

việc tạo composit giữa SnO2 và g-C3N4

37.

38.Hình 5 Hình ảnh SEM mẫu SnO2

(a), MSC-1:5 (b), MSC-1:6 (c),

MSC-1:7 (d) và g-C3N4 (e)

39.

40.Hình 6 Phổhồng ngoại của g-C3N4 (a)

và SnO2 (b)

41. Để thêm thông tin về thành phần cũng như cấu tạo của các vật liệu, các mẫu còn được đặc trưng phổ hồng ngoại IR Để so sánh, phổ IR của g-C3N4 và SnO2 cũng được trình bày trong hình 6 Chúng ta dễ dàng nhận thấy trong hình 6a, các pic có số sóng

804 cm-1, vùng 1250-1650 cm-1 và

3200 cm-1 Theo tài liệu [5], các pic này tương ứng là mode dao động của các đơn vị triazine, C-N của vòng dị thể và liên kết N-H, đặc trưng cho g-C3N4 Hình 6b chỉ ra phổ IR của SnO2, ở đó, xuất hiện pic có số sóng 628,8 cm-1, đây là pic đặc trưng của Sn-O [5] Riêng pic ở 3439 cm-1 có thể là nước hấp phụ vật lý

42. Phổ IR của các mẫu MSC-1:5, MSC-1:6, MSC-1:7 được trình bày trong hình 7 Tuy có sự sai lệch ở các pic của

3 mẫu vật liệu nhưng đều có xuất hiện các pic có số sóng 808,2 cm-1, vùng 1245-1650 cm-1, vùng 3000-3600 cm-1 Kết quả này minh chứng cho sự có mặt g-C3N4 trong các vật liệu Bên cạnh đó, các mẫu tổng hợp còn xuất hiện pic trong khoảng 605 cm-1 là tín hiệu của liên kết Sn-O [5] Dễ dàng nhận thấy rằng cường pic này tương đối rõ trong mẫu MSC-1:6, sau đó là MSC-1:7 và cuối cùng là MSC-1:5 Kết quả này có thể do hàm lượng SnO2 trong MSC-1:6 lớn Riêng đối với mẫu MSC-1:5 pic này

Trang 5

không rõ ràng Nhìn chung, kết quả phổ

IR của các mẫu đều chứng minh sự có

mặt của SnO2 và g-C3N4 trong các

composit SnO2/g-C3N4

43.

44. Hình 7 Phổ hồng ngoại

của các mẫu vật liệu composit

MSC-1:6 (a), MSC-1:7 (b) và

MSC-1:5 (c)

45. Kết quả đặc trưng TG-DTA của

một mẫu đại diện (MSC-1:6) cũng được

đo và kết quả được trình bày ở hình 8

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy

rằng, quá trình mất trọng lượng có thể

chia làm 3 giai đoạn: thứ nhất từ nhiệt

độ phòng đến khoảng 150oC, tương

ứng với mất nước vật lý; giai đoạn thứ

hai trong khoảng 500oC, khoảng này có

thể ngưng tụ melamin còn lại trong

mẫu thành g-C3N4, giai đoạn này kèm

theo một pic thu nhiệt mạnh ở 485oC;

giai đoạn thứ ba từ 500 đến 650oC,

tương ứng với phân hủy g-C3N4 Tất cả

các hiện tượng này phù hợp với sự

phân hủy g-C3N4 trên SnO2 trong

composit

46

47

48

49.

50.

51.

52.

53.

54.

55.

56.

57.Hình 8 Giản đồ phân tich nhiệt của

MSC-1:6

58. Tóm lại, các kết quả đặc trưng chứng

minh rằng SnO2/g-C3N4 đã được tổng hợp thành

công bởi một phương pháp mới bằng cách nung

trực tiếp hỗn hợp melamin và Sn6O4(OH)4 Hy vọng vật liệu này sẽ cải thiện hoạt tinh xúc tác quang so với dùng các cấu tử riêng lẻ

59.3.2 Đánh giá hoạt tính xúc tác quang

60. Hoạt tinh xúc tác quang của các mẫu được đánh giá bởi khả năng phân hủy RhB trong dung dịch nước (hình 9) Để so sánh, hoạt tinh xúc tác của SnO2 và g-C3N4 riêng rẻ cũng được trình bày

61.

62. Hình 9 Đồ thị biểu diễn

sự phụ thuộc C/Co của RhB theo thời gian phản ứng t trên các vật

liệu

63. Từ kết quả thu được ở hình 9 cho thấy, trong 2 giờ hấp phụ thì nồng

độ RhB giảm không đáng kể, điều đó

có nghĩa là quá trình hấp phụ đối với các vật liệu trên là không đáng kể Đồ thị chỉ ra rằng, khi so sánh 3 mẫu trên thì mẫu MSC-1:6 có hoạt tính xúc tác tốt nhất so với mẫu còn lại là MSC-1:5

và MSC-1:7, và tốt hơn nhiều so với mẫu SnO2 và g-C3N4 tinh khiết Trong khoảng 6h chiếu sáng, độ chuyển hóa RhB của mẫu MSC-1:6 đã đạt hiệu suất 74,22% Kết quả đánh giá hoạt tính xúc tác chỉ rằng mẫu MSC-1:6 tốt nhất

và sau đó là hai mẫu MSC-1:5, MSC-1:7 cho hiệu suất gần như nhau Đối với mẫu MSC-1:5 có một lượng g-C3N4 ít, trong lúc đó trong mẫu MSC-1:7 có một lượng lớn g-C3N4 Như vậy một tỉ lệ phù hợp giữa g-C3N4 và SnO2 sẽ cho composit có hoạt tính tốt Thêm vào

đó, chỉ có SnO2 hay g-C3N4 nguyên chất thì hoạt tính xúc tác không cao Điều này chứng tỏ có một hiệu ứng cộng hợp giữa hai vật Hiệu ứng này cũng có thể được quan sát đối với các vật liệu composit bao gồm hai chất bán dẫn, ở

đó các electron kích thích của vùng dẫn chất bán dẫn này nhảy sang vùng

Trang 6

dẫn chất bán dẫn kia làm giảm hiệu

ứng cộng hợp

64. Để nghiên cứu động học quá

trình phản ứng, chúng tôi áp dụng mô

hình Langmuir-Hinshelwood và kết quả

thu được như sau (hình 10)

65. Qua các đồ thị được thiết lập, chúng ta

có thể thấy rằng các giá trị gần như nằm trên

đường thẳng và mối quan hệ ln(Co/C) theo thời

gian gần như tuyến tinh với hệ số hồi quy R2 khá

cao Do đó, có thể khẳng định rằng các vật liệu

trên tham gia quá trình xúc tác quang tuân theo

mô hình Langmuir-Hinshewood Tư các đồ thị,

chúng ta dễ dàng xác định được hằng số tốc độ

phản ứng k (bảng 1)

66.

67. Hình 10 Đồ thị mô phỏng

mô hình Langmuir-Hinshelwood

của các mẫu vật liệu ở 520oC

68. Bảng 1 Bảng tổng kết số

liệu hằng số tốc độ theo mô hình

Langmuir-Hinshewood

69.Mẫu

vật 70.Hằng

số

độ k hồiqu

y

R2

72.MS C 1:5

73.0.20

539 74.0

95 47 1

75.MS C 1:6

76.0,22

99 12 0

78.MS C 1:7

79.0.21

122 80.0

97 63 1

81.MS C 1:7

82.0.21

122 83.0

97 63 1

84. Kết quả trên cho thấy rằng, hằng số tốc độ phản ứng có sự khác biệt nhau giữa các vật liệu và mang tính đặc trưng Hằng số tốc độ giảm

dần theo thứ tự: MSC-1:6 > MSC-1:7>

MSC-1:5

85. Tóm lại, các kết luận đánh giá hoạt tính xúc tác ở trên chỉ ra rằng vai trò của việc kết hợp SnO2 với g-C3N4

đã tạo nên vật liệu cải thiện hoạt tính xúc tác quang của SnO2 Kết quả này

có thể mở ra việc gắn SnO2 lên trên các chất nền khác nhau để làm tăng hoạt tính xúc tác quang và một số ứng dụng khác

86

88. 1 Chúng tôi đã tổng hợp được 3 mẫu vật liệu composit SnO2/g-C3N4

bằng phương pháp đơn giản khi đi từ melamin và Sn6O4(OH)4 ở các tỉ lệ khối lượng khác nhau, kí hiệu là MSC-1:n với

n = 5, 6, 7 tương ứng với các tỉ lệ

Sn6O4(OH)4:melamin là 1:5, 1:6, 1:7 ở

520°C Bằng các phương pháp đặc trưng nhiễu xạ như IR, nhiễu xạ tia X, phân tích nhiệt đã cho thấy sự hình thành của cấu trúc g-C3N4 và SnO2 với những số liệu phù hợp của các công bố trước đó về SnO2 và g-C3N4

89. 2 Tất cả các mẫu thu được đều thể hiện tính chất xúc tác quang trong vùng ánh sáng khả kiến và quá trình xúc tác tuân theo mô hình

Trang 7

Langmuir-Hinshelwood Trong 3 mẫu thu

được, mẫu MSC-1:6 có hoạt tính

xúc tác quang tốt nhất

90

91.Lời cảm ơn: Công trình này

được tài trợ thông qua đề tài

cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo

mang mã số B2016-DQN-01.

92

94.[1] A Thomas, A Fischer, F

Goettmann, M Antonietti, J O

Muller, R Schlogl and J M

Carlsson, Graphitic carbon

nitride materials: variation of

structure and morphology and

their use as metal-free catalysts,

J Mater Chem 18 (2008) 4893–

4908

95.[2] G Dong, Y Zhang, Q Pan, J

Qiu, A fantastic graphitic carbon

nitride (g-C3N4) material:

Electronic structure,

photoelectronic properties,

Journal of Photochemistry and

Photobiology C: Photochemistry Reviews 20 (2014) 33-50

96.[3] Y Wang, J Zhang, X Wang,

M Antonietti, and H Li, Boron-and Fluorine-Containing Mesoporous Carbon Nitride Polymers: Metal-Free Catalysts for Cyclohexane Oxidation, Angew Chem Int Ed 49 (2010) 3356-3359

97.[4] Y Hou, A B Laursen, J Zhang, G Zhang, Y Zhu, X Wang, S Dahl, and I Chorkendorff, Layered Nanojunctions for Hydrogen-Evolution Catalysis, Angew Chem Int Ed 52 (2013) 3621 – 3625

98.[5] Y He, L Zhang, M Fan, X Wang, M L Walbridge, Q Nong,

Y Wu, L Zhao, Z-scheme SnO2 -x/g-C3N4 composite asanefficient

photocatalytic CO2 reduction, Solar Energy Materials & Solar Cells 137 (2015) 175–184

Ngày đăng: 04/07/2017, 09:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Và 4. Hình 2 trình bày kết quả nhiễu xạ - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
4. Hình 2 trình bày kết quả nhiễu xạ (Trang 3)
28. Hình 2. Giản đồ nhiễu xạ tia X của g- - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
28. Hình 2. Giản đồ nhiễu xạ tia X của g- (Trang 3)
Hình   cầu   đồng   đều   có   đường   kính - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
nh cầu đồng đều có đường kính (Trang 4)
40. Hình 6. Phổ hồng ngoại của g-C 3 N 4  (a) - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
40. Hình 6. Phổ hồng ngoại của g-C 3 N 4 (a) (Trang 4)
44. Hình 7. Phổ hồng ngoại - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
44. Hình 7. Phổ hồng ngoại (Trang 5)
57. Hình 8. Giản đồ phân tich nhiệt của - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
57. Hình 8. Giản đồ phân tich nhiệt của (Trang 5)
62. Hình 9. Đồ thị biểu diễn - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
62. Hình 9. Đồ thị biểu diễn (Trang 5)
66. 67. Hình 10. Đồ thị mô phỏng - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
66. 67. Hình 10. Đồ thị mô phỏng (Trang 6)
Hình Langmuir-Hinshelwood và kết quả - Bài báo về NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT SnO2gC3N4.
nh Langmuir-Hinshelwood và kết quả (Trang 6)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w