Abstract: SnO2gC3N4 composites as photocatalysts with various weight ratios of SnO2 and gC3N4 were synthesized using a facile method through heating of mixtures of Sn6O4(OH)4 and melamine. The asprepared samples are denoted as MSC1:n where n = 5, 6, 7 corresponding to the weight ratios of Sn6O4(OH)4 and gC3N4. The samples were characterized by Xray diffraction, scanning electron microscopy, infrared, and the thermogravimetricdifferential scanning calorimetry analysis thermal gravimetric analysis. The results show that the composites containing SnO2 covered by gC3N4 sheets. All the samples exhibit good photocatalytic activity in degradation of rhodamine B under visible light. Among them, the MSC1:6 sample possesses the best one. A synergistic effect between SnO2 and gC3N4 in the composites for the photodegradation of rhodamine B was observed. Keywords: gC3N4, SnO2, rhodamin B, photocatalysis.
Trang 1NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC QUANG CỦA COMPOSIT
SnO2/g-C3N4 Preparation and photocatalytic activity of SnO2/g-C3N4
Huỳnh Thị Phụ1, Phạm Văn Nhanh1, Nguyễn Ngọc Phi1, Đào Thị Kim Thoa1, Nguyễn Thị Kim Thoa1,
Võ Viễn1,2*
1Khoa Hóa học, 2Viện Nghiên cứu ứng khoa học và công nghệ Trường Đại học Quy Nhơn, 170 An Dương Vương, Quy Nhơn, Bình Định
*vovien@qnu.edu.vn
Abstract: SnO 2 /g-C 3 N 4 composites as photocatalysts with various weight ratios of SnO 2 and
g-C 3 N 4 were synthesized using a facile method through heating of mixtures of Sn 6 O 4 (OH) 4 and melamine The as-prepared samples are denoted as MSC-1:n where n = 5, 6, 7 corresponding
to the weight ratios of Sn 6 O 4 (OH) 4 and g-C 3 N 4 The samples were characterized by X-ray diffraction, scanning electron microscopy, infrared, and the thermogravimetric-differential scanning calorimetry analysis thermal gravimetric analysis The results show that the composites containing SnO 2 covered by g-C 3 N 4 sheets All the samples exhibit good photocatalytic activity in degradation of rhodamine B under visible light Among them, the MSC-1:6 sample possesses the best one A synergistic effect between SnO 2 and g-C 3 N 4 in the composites for the photodegradation of rhodamine B was observed.
Keywords: g-C 3 N 4 , SnO 2 , rhodamin B, photocatalysis.
2. Ô nhiễm môi trường là vấn đề
hiện đang đặt ra rất bức thiết đối với
hầu hết các quốc gia trên thế giới Việc
gia tăng dân số và phát triển công
nghiệp đã dẫn đến việc ngày càng
nhiều các chất độc hại được thải vào
môi trường Các chất độc hại này có
thể gây nên các bệnh tật liên quan đến
ô nhiễm và làm ấm lên khí hậu toàn
cầu Các chất thải có thể ở dạng rắn,
lỏng hoặc khí Tuy nhiên, đáng chú ý là
những chất hữu cơ độc hại có trong
dung dịch nước Do vậy, việc nghiên
cứu xử lý triệt để các hợp chất hữu cơ
độc hại trong môi trường nước bị ô
nhiễm luôn là mối quan tâm của nhiều
nhà khoa học Để xử lý các hợp chất
hữu cơ độc hại, thời gian gần đây người
ta quan tâm đến quá trình xúc tác
quang do chúng có ưu điểm như sử
dụng năng lượng ánh sáng mặt trời và
chất oxi hóa là oxi không khí Đối với
quá trình xúc tác quang, thông thường
người ta sử dụng chất xúc tác là các
chất bán dẫn, trong đó các oxit kim
loại được quan tâm nhiều nhất Tuy
nhiên, các oxit kim loại thường chỉ hoạt
động trong vùng ánh sáng tử ngoại,
hơn nữa hiện tượng tái tổ hợp
electron-lỗ trống quang sinh cao khi dùng dạng
nguyên chất Vì thế đã có nhiều nghiên
cứu nhằm khắc phục hiện tượng này
3. Thời gian gần đây, một loại vật liệu bán dẫn không kim loại, dạng polyme của carbon nitride có cấu trúc lớp như graphit (g-C3N4 ) (hình 1) rất được quan tâm Vật liệu này ưu điểm là
có năng lượng vùng cấm bé, khoảng 2,7 eV có thể hoạt động dưới vùng ánh sáng mặt trời, có thể tổng hợp lượng lớn, bền hóa [1] Tuy nhiên ở dạng nguyên chất, g-C3N4 có nhược điểm là
dễ tái tổ hợp electron và lỗ trống quang sinh, dẫn đến hiệu suất xúc tác kém [2] Một số công trình nghiên cứu chỉ ra rằng pha tạp g-C3N4 với các nguyên tố phi kim như O, S, B, P [3] hay gắn với một chất bán dẫn khác [4,5] có thể làm giảm tốc độ tái kết hợp electron - lỗ trống quang sinh, dẫn đến cải thiện hoạt tính xúc tác quang
do tăng khả năng hấp thụ ánh sáng khả kiến và giảm tốc độ tái kết hợp electron-lỗ trống quang sinh
4.
5. Hình 1 Cấu tạo một lớp g-C3N4
hoàn hảo [1]
6. Trong bài báo này, chúng tôi kết hợp SnO2 với g-C3N4 nhằm kết hợp ưu điểm của hai vật liệu riêng lẻ, đó là
Trang 2tăng khả năng hấp thụ ánh sáng khả
kiến bởi g-C3N4 và giảm tốc độ tái tổ
hợp bởi kết hợp hai chất bán dẫn Đặc
biệt hệ xúc tác này được điều chế bằng
một phương pháp mới chưa được công
bố
7
10. Các hóa chất chính sử dụng
trong nghên cứu này là melamin,
SnCl2.2H2O, NaOH, rhodamin B, cồn
tuyệt đối có xuất xứ từ Trung Quốc
12.2.2.1 Tổng hợp g-C 3 N 4
13. Cho 6 gam bột melamin vào
cốc sứ, bọc kỹ bằng giấy nhôm (nhằm
ngăn cản sự thăng hoa của tiền chất
cũng như làm tăng cường sự ngưng tụ
tạo thành g-C3N4), đặt cốc vào lò nung
Nung nóng ở nhiệt độ 520°C trong 1
giờ Sau đó, lò được làm nguội tự nhiên
đến nhiệt độ phòng Sản phẩm thu
được là chất bột màu vàng nhạt, kí
hiệu g-C3N4
14.2.2.2 Tổng hợp SnO 2
15. Cho 6,768 gam SnCl2.2H2O vào
cốc có sẵn 50 mL H2O và 20 mL etanol,
khuấy cho hỗn hợp cho đến tan, thu
được dung dịch A Tiếp theo, cho 2,807
gam NaOH vào trong 30mL H2O thu
được dung dịch B Cho dung dịch B vào
dung dịch A cho đến hết thu được kết
tủa trắng Sau đó, tiếp tục khuấy trong
2 giờ, ly tâm, rửa nhiều lần bằng nước
và etanol để loại Cl- và Na+ Kết tủa
vàng nâu Sn6O4(OH)4 thu được được
sấy ở 80°C trong vòng 12h, nghiền mịn
bằng cối mã não thu được sản phẩm
Sn6O4(OH)4 Cho 4 gam mẫu vào cốc sứ
có nắp đậy, bọc kín bằng giấy nhôm và
nung ở 520°C trong 1 giờ Để nguội ở
nhiệt độ phòng, nghiền mịn thu được
sản phẩm là chất bột màu trắng xám,
kí hiệu là SnO2
16.2.2.3 Tổng hợp composit
SnO 2 /g-C 3 N 4
17. Trộn lần lượt hỗn hợp gồm
Sn6O4(OH)4 và melamin với các tỉ lệ
1/5, 1/6 và 1/7 vào cối mã não và
nghiền mịn Cho 3 mẫu vào 3 cốc sứ và
bọc kín bằng giấy nhôm Sau đó, nung
3 mẫu ở cùng một nhiệt độ 520°C
trong 1h Để nguội đến nhiệt độ
thường và nghiền mịn thu được sản phẩm là chất bột màu vàng nâu, kí hiệu lần lượt là MSC-1:5, MSC-1:6, MSC-1:7
19. Nhiễu xạ tia X (XRD) của các mẫu được đo trên nhiễu xạ kế Bruker D8 Advance, ống phát tia X bằng Cu có bước sóng λ (CuKα) = 1,5406 Å, công suất 40 kV, dòng 40 mA Góc quét từ
100 đến 80o Góc mỗi bước quét là 0,008o và thời gian mỗi bước quét 0,6 giây Ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) được chụp trên máy Nova NanoSEM
450 Phổ hồng ngoại được ghi trên phổ
kế IRAffinity-1S (Shimadzu) trong khoảng 400 đến 4000 cm-1 Dữ liệu TGA-DTA được ghi trên SETRAM LABSYS TG tư nhiệt độ phòng đến 700oC với tốc độ nâng nhiệt độ 10oC/phút dưới điều kiện dòng không khi
20.2.4 Khảo sát hoạt tính xúc tác quang
21. Hoạt tính xúc tác quang của các vật liệu được đánh giá dựa trên khả năng phân hủy rhodamin B (RhB) trong dưới tác dụng của đèn sợi tóc (220V-100W) Quy trình thực hiện như sau: cho 0,05 g xúc tác vào cốc 100 mL, sau đó cho tiếp 80mL dung dịch RhB (20 mg/L) vào cốc, bọc kín cốc bằng giấy nhôm và khuấy đều cốc trên máy khuấy từ trong 2h (giai đoạn khuấy trong bóng tối) để cho quá trình hấp phụ - giải hấp phụ cân bằng Sau đó, hỗn hợp phản ứng được khuấy dưới điều kiện chiếu sáng bởi đèn dây đốt vonfram (220V-100W) qua kính lọc tia
UV Dùng pipet hút hỗn hợp phản ứng
ra (mỗi lần hút 10 mL) theo thời gian phản ứng (1 giờ hút 1 lần) Sau đó ly tâm 2 lần, mỗi lần 10 phút, tách lấy phần dung dịch để phân tích nồng độ rhodamin B còn lại Nồng độ RhB trong các mẫu được xác định bằng phương pháp đo quang trên máy UV-Vis (Jenway 6800 của Anh) Ngoài ra, để khảo sát tính chất hấp phụ của các mẫu vật liệu, thực hiện một quy trình tương tự như đánh giá hoạt tính xúc tác chỉ khác là khuấy hỗn hợp trong bóng tối
22.
24.
25.3.1 Đặc trưng vật liệu
Trang 326. Để xác định cấu trúc và độ tinh
khiết, các mẫu vật liệu đã được đặc
trưng bởi kỹ thuật nhiễu xạ tia X và kết
quả được trình bày trong các hình 2, 3
và 4 Hình 2 trình bày kết quả nhiễu xạ
tia X của g-C3N4 cho thấy có một pic có
cường độ nhỏ ở 2θ = 13,4o và một pic
có cường độ lớn hơn có 2θ = 27,4o
Theo các tài liệu đã công bố [1,2], hai
pic này tương ứng với cấu trúc carbon
nitride dạng lớp như graphit (g-C3N4)
Như đã đề cập trong phần tổng quan,
g-C3N4 có cấu trúc dạng lớpnhư graphit
với pic thứ nhất có 2θ = 13,49o tương
ứng với mặt (100) và pic thứ hai tương
ứng với mặt (002) Theo phương trình
Vulf-Bragg: 2dsinθ =λ với bậc nhiễu xạ
bằng 1, ta tính được giá trị d002 ứng với
2θ = 27,4olà d002 = 2sin
λ
θ = 3,3 Å Giá trị này chính là bề dày của một tấm
Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các
số liệu đã công bố
27.
28.Hình 2 Giản đồ nhiễu xạ tia X của
g-C3N4
29. Kết quả nhiễu xạ tiaX của mẫu
SnO2 tinh khiết được trình bàyở hình 3,
cho thấy rằng pic thứ nhất có cường độ
mạnh ở 2θ = 26,6° tương ứng với mặt
(110) ba pic tiếp theo ở 2θ =33,9°, 2θ
=38,0°, 2θ =51,8° tương ứng với các
mặt (101), (211) và (301) của cấu trúc
tinh thể SnO2 (JCPDS 72-1147), điều
này phù hợp với các số liệu nhiễu xạ
chuẩn cho bốn mặt tứ diện của SnO2
Kết quả này phù hợp với các tài liệu đã
được công bố [5]
30.
31. Hình 3 Giản đồ nhiễu xạ
tia X của SnO2
32. Hình 4 trình bày kết quả đo nhiễu xạ tia X của các mẫu vật liệu đã tổng hợp Nhìn chung, mặc dù được tổng hợp với các tỉ lệ khác nhau nhưng hình dạng các phổ gần như nhau và cùng xuất hiện các pic đặc trưng của SnO2 và g-C3N4 Cụ thể, trong phổ biểu diễn các pic đặc trưng của SnO2 ở 33,8° và 51,8° Riêng pic ở 26,6o có thể
bị chồng với pic 27,3o của g-C3N4 tạo thành pic có cường độ mạnh ở 27,1o Ngoài ra, điều đáng lưu ý là mẫu này còn xuất hiện một pic ở vị trí 2θ = 13,1° đặc trưng cho sự có mặt của
g-C3N4 trong vật liệu Theo nhiều tài liệu
đã công bố [1,2], g-C3N4 còn có một pic
ở 27,3o Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, pic này có thể bị chồng với pic của g-C3N4 Pic này có cường độ khác nhau ở các mẫu MSC-1:5, MSC-1:7 và MSC-1:6, trong đó cường độ cao nhất
là ở mẫu MSC-1:6
33.
34.Hình 4 Giản đồ nhiễu xạ tia X của các mẫu vật liệu MSC-1:5 (a), MSC-1:6
(b) và MSC-1:7 (c)
35. Như vậy, kết quả XRD minh chứng rằng chúng tôi đã tổng hợp thành công mẫu vật liệu composit SnO2/g-C3N4, trong đó mẫu MSC-1:6 có
độ tinh thể cao nhất, điều đó có thể dự
Trang 4đoán rằng mẫu này có khả năng hoạt
tính xúc tác tốt hơn hai mẫu còn lại
36. Để kiểm tra hình thái, các vật
liệu cũng được đặc trưng bởi SEM
Trong hình 5 là hình ảnh SEM của các
mẫu vật liệu MSC-1:n và của SnO2 tinh
khiết Có thể nhận thấy rằng đối với
mẫu SnO2 tinh khiết có các hạt dạng
hình cầu đồng đều có đường kính
khoảng 50 nm Tuy nhiên đối với các
composit có dạng các khối lớn bao
gồm các tấm, có thể do các lớp g-C3N4
hình thành trên bề mặt SnO2 [5] Kết
quả này cũng có thể khẳng định thêm
rằng chúng tôi đã thành công trong
việc tạo composit giữa SnO2 và g-C3N4
37.
38.Hình 5 Hình ảnh SEM mẫu SnO2
(a), MSC-1:5 (b), MSC-1:6 (c),
MSC-1:7 (d) và g-C3N4 (e)
39.
40.Hình 6 Phổhồng ngoại của g-C3N4 (a)
và SnO2 (b)
41. Để thêm thông tin về thành phần cũng như cấu tạo của các vật liệu, các mẫu còn được đặc trưng phổ hồng ngoại IR Để so sánh, phổ IR của g-C3N4 và SnO2 cũng được trình bày trong hình 6 Chúng ta dễ dàng nhận thấy trong hình 6a, các pic có số sóng
804 cm-1, vùng 1250-1650 cm-1 và
3200 cm-1 Theo tài liệu [5], các pic này tương ứng là mode dao động của các đơn vị triazine, C-N của vòng dị thể và liên kết N-H, đặc trưng cho g-C3N4 Hình 6b chỉ ra phổ IR của SnO2, ở đó, xuất hiện pic có số sóng 628,8 cm-1, đây là pic đặc trưng của Sn-O [5] Riêng pic ở 3439 cm-1 có thể là nước hấp phụ vật lý
42. Phổ IR của các mẫu MSC-1:5, MSC-1:6, MSC-1:7 được trình bày trong hình 7 Tuy có sự sai lệch ở các pic của
3 mẫu vật liệu nhưng đều có xuất hiện các pic có số sóng 808,2 cm-1, vùng 1245-1650 cm-1, vùng 3000-3600 cm-1 Kết quả này minh chứng cho sự có mặt g-C3N4 trong các vật liệu Bên cạnh đó, các mẫu tổng hợp còn xuất hiện pic trong khoảng 605 cm-1 là tín hiệu của liên kết Sn-O [5] Dễ dàng nhận thấy rằng cường pic này tương đối rõ trong mẫu MSC-1:6, sau đó là MSC-1:7 và cuối cùng là MSC-1:5 Kết quả này có thể do hàm lượng SnO2 trong MSC-1:6 lớn Riêng đối với mẫu MSC-1:5 pic này
Trang 5không rõ ràng Nhìn chung, kết quả phổ
IR của các mẫu đều chứng minh sự có
mặt của SnO2 và g-C3N4 trong các
composit SnO2/g-C3N4
43.
44. Hình 7 Phổ hồng ngoại
của các mẫu vật liệu composit
MSC-1:6 (a), MSC-1:7 (b) và
MSC-1:5 (c)
45. Kết quả đặc trưng TG-DTA của
một mẫu đại diện (MSC-1:6) cũng được
đo và kết quả được trình bày ở hình 8
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy
rằng, quá trình mất trọng lượng có thể
chia làm 3 giai đoạn: thứ nhất từ nhiệt
độ phòng đến khoảng 150oC, tương
ứng với mất nước vật lý; giai đoạn thứ
hai trong khoảng 500oC, khoảng này có
thể ngưng tụ melamin còn lại trong
mẫu thành g-C3N4, giai đoạn này kèm
theo một pic thu nhiệt mạnh ở 485oC;
giai đoạn thứ ba từ 500 đến 650oC,
tương ứng với phân hủy g-C3N4 Tất cả
các hiện tượng này phù hợp với sự
phân hủy g-C3N4 trên SnO2 trong
composit
46
47
48
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.Hình 8 Giản đồ phân tich nhiệt của
MSC-1:6
58. Tóm lại, các kết quả đặc trưng chứng
minh rằng SnO2/g-C3N4 đã được tổng hợp thành
công bởi một phương pháp mới bằng cách nung
trực tiếp hỗn hợp melamin và Sn6O4(OH)4 Hy vọng vật liệu này sẽ cải thiện hoạt tinh xúc tác quang so với dùng các cấu tử riêng lẻ
59.3.2 Đánh giá hoạt tính xúc tác quang
60. Hoạt tinh xúc tác quang của các mẫu được đánh giá bởi khả năng phân hủy RhB trong dung dịch nước (hình 9) Để so sánh, hoạt tinh xúc tác của SnO2 và g-C3N4 riêng rẻ cũng được trình bày
61.
62. Hình 9 Đồ thị biểu diễn
sự phụ thuộc C/Co của RhB theo thời gian phản ứng t trên các vật
liệu
63. Từ kết quả thu được ở hình 9 cho thấy, trong 2 giờ hấp phụ thì nồng
độ RhB giảm không đáng kể, điều đó
có nghĩa là quá trình hấp phụ đối với các vật liệu trên là không đáng kể Đồ thị chỉ ra rằng, khi so sánh 3 mẫu trên thì mẫu MSC-1:6 có hoạt tính xúc tác tốt nhất so với mẫu còn lại là MSC-1:5
và MSC-1:7, và tốt hơn nhiều so với mẫu SnO2 và g-C3N4 tinh khiết Trong khoảng 6h chiếu sáng, độ chuyển hóa RhB của mẫu MSC-1:6 đã đạt hiệu suất 74,22% Kết quả đánh giá hoạt tính xúc tác chỉ rằng mẫu MSC-1:6 tốt nhất
và sau đó là hai mẫu MSC-1:5, MSC-1:7 cho hiệu suất gần như nhau Đối với mẫu MSC-1:5 có một lượng g-C3N4 ít, trong lúc đó trong mẫu MSC-1:7 có một lượng lớn g-C3N4 Như vậy một tỉ lệ phù hợp giữa g-C3N4 và SnO2 sẽ cho composit có hoạt tính tốt Thêm vào
đó, chỉ có SnO2 hay g-C3N4 nguyên chất thì hoạt tính xúc tác không cao Điều này chứng tỏ có một hiệu ứng cộng hợp giữa hai vật Hiệu ứng này cũng có thể được quan sát đối với các vật liệu composit bao gồm hai chất bán dẫn, ở
đó các electron kích thích của vùng dẫn chất bán dẫn này nhảy sang vùng
Trang 6dẫn chất bán dẫn kia làm giảm hiệu
ứng cộng hợp
64. Để nghiên cứu động học quá
trình phản ứng, chúng tôi áp dụng mô
hình Langmuir-Hinshelwood và kết quả
thu được như sau (hình 10)
65. Qua các đồ thị được thiết lập, chúng ta
có thể thấy rằng các giá trị gần như nằm trên
đường thẳng và mối quan hệ ln(Co/C) theo thời
gian gần như tuyến tinh với hệ số hồi quy R2 khá
cao Do đó, có thể khẳng định rằng các vật liệu
trên tham gia quá trình xúc tác quang tuân theo
mô hình Langmuir-Hinshewood Tư các đồ thị,
chúng ta dễ dàng xác định được hằng số tốc độ
phản ứng k (bảng 1)
66.
67. Hình 10 Đồ thị mô phỏng
mô hình Langmuir-Hinshelwood
của các mẫu vật liệu ở 520oC
68. Bảng 1 Bảng tổng kết số
liệu hằng số tốc độ theo mô hình
Langmuir-Hinshewood
69.Mẫu
vật 70.Hằng
số
độ k hồiqu
y
R2
72.MS C 1:5
73.0.20
539 74.0
95 47 1
75.MS C 1:6
76.0,22
99 12 0
78.MS C 1:7
79.0.21
122 80.0
97 63 1
81.MS C 1:7
82.0.21
122 83.0
97 63 1
84. Kết quả trên cho thấy rằng, hằng số tốc độ phản ứng có sự khác biệt nhau giữa các vật liệu và mang tính đặc trưng Hằng số tốc độ giảm
dần theo thứ tự: MSC-1:6 > MSC-1:7>
MSC-1:5
85. Tóm lại, các kết luận đánh giá hoạt tính xúc tác ở trên chỉ ra rằng vai trò của việc kết hợp SnO2 với g-C3N4
đã tạo nên vật liệu cải thiện hoạt tính xúc tác quang của SnO2 Kết quả này
có thể mở ra việc gắn SnO2 lên trên các chất nền khác nhau để làm tăng hoạt tính xúc tác quang và một số ứng dụng khác
86
88. 1 Chúng tôi đã tổng hợp được 3 mẫu vật liệu composit SnO2/g-C3N4
bằng phương pháp đơn giản khi đi từ melamin và Sn6O4(OH)4 ở các tỉ lệ khối lượng khác nhau, kí hiệu là MSC-1:n với
n = 5, 6, 7 tương ứng với các tỉ lệ
Sn6O4(OH)4:melamin là 1:5, 1:6, 1:7 ở
520°C Bằng các phương pháp đặc trưng nhiễu xạ như IR, nhiễu xạ tia X, phân tích nhiệt đã cho thấy sự hình thành của cấu trúc g-C3N4 và SnO2 với những số liệu phù hợp của các công bố trước đó về SnO2 và g-C3N4
89. 2 Tất cả các mẫu thu được đều thể hiện tính chất xúc tác quang trong vùng ánh sáng khả kiến và quá trình xúc tác tuân theo mô hình
Trang 7Langmuir-Hinshelwood Trong 3 mẫu thu
được, mẫu MSC-1:6 có hoạt tính
xúc tác quang tốt nhất
90
91.Lời cảm ơn: Công trình này
được tài trợ thông qua đề tài
cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo
mang mã số B2016-DQN-01.
92
94.[1] A Thomas, A Fischer, F
Goettmann, M Antonietti, J O
Muller, R Schlogl and J M
Carlsson, Graphitic carbon
nitride materials: variation of
structure and morphology and
their use as metal-free catalysts,
J Mater Chem 18 (2008) 4893–
4908
95.[2] G Dong, Y Zhang, Q Pan, J
Qiu, A fantastic graphitic carbon
nitride (g-C3N4) material:
Electronic structure,
photoelectronic properties,
Journal of Photochemistry and
Photobiology C: Photochemistry Reviews 20 (2014) 33-50
96.[3] Y Wang, J Zhang, X Wang,
M Antonietti, and H Li, Boron-and Fluorine-Containing Mesoporous Carbon Nitride Polymers: Metal-Free Catalysts for Cyclohexane Oxidation, Angew Chem Int Ed 49 (2010) 3356-3359
97.[4] Y Hou, A B Laursen, J Zhang, G Zhang, Y Zhu, X Wang, S Dahl, and I Chorkendorff, Layered Nanojunctions for Hydrogen-Evolution Catalysis, Angew Chem Int Ed 52 (2013) 3621 – 3625
98.[5] Y He, L Zhang, M Fan, X Wang, M L Walbridge, Q Nong,
Y Wu, L Zhao, Z-scheme SnO2 -x/g-C3N4 composite asanefficient
photocatalytic CO2 reduction, Solar Energy Materials & Solar Cells 137 (2015) 175–184