Khi khủng hoảng xảy ra, NHTW các nước đã đưa ra các biện pháp cứu giúp nền kinh tế như cắt giảm lãi suất xuống mức gần 0 và thực hiện hàng loạt các biện pháp chính sách tiền tệ bất thườn
Trang 1NỚI LỎNG ĐỊNH LƯỢNG VÀ CÁC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ BẤT THƯỜNG
KHÁC : TÓM TẮT TỪ HỘI NGHỊ NGÂN HÀNG ANH
LỜI GIỚI THIỆU
Khủng hoảng tài chính toàn cầu khởi nguồn từ khủng hoảng tài chính tại Mỹ mùa hè năm 2007,
nó bùng phát dữ dội hơn sau sự sụp đổ của Ngân hàng Lehman Brothers và lan rộng ra nhiều nước do mối quan hệ chặt chẽ của hệ thống tài chính toàn cầu hiện nay Khủng hoảng đã gây đe dọa cho sự sụp đổ của các thể chế tài chính lớn toàn cầu, dẫn đến việc các ngân hàng trung ương (NHTW) ra sức giải cứu và thị trường chứng khoán trên toàn thế giới bị sụp giảm Nó là nguyên nhân trực tiếp gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu giai đoạn từ 2008 đến nay và góp phần gây khủng hoảng nợ công ở châu Âu
Khi khủng hoảng xảy ra, NHTW các nước đã đưa ra các biện pháp cứu giúp nền kinh tế như cắt giảm lãi suất xuống mức gần 0 và thực hiện hàng loạt các biện pháp chính sách tiền tệ bất thường (nới lỏng định lượng, nới lỏng tính dụng,đưa ra các tín hiệu)
Tháng 11/2011, Ngân hàng Anh đã tổ chức một hội nghị thảo luận về các bài học đã học được trong việc nới lỏng định lượng và các chính sách tiền tệ bất thường khác nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu Tại hội nghị này, các nhà kinh tế học của các NHTW và các viện hàn lâm đã trình bày các nghiên cứu của mình Hầu hết các bài nghiên cứu cùng nhau thống nhất rằng các chính sách tiền tệ bất thường đã giúp giảm thiểu tác động của khủng hoảng đến nền kinh tế vĩ mô Tuy nhiên cũng có những quan điểm khác biệt về độ lớn của các tác động và các
cơ chế chính mà các chính sách đã thực hiện
Bài làm dựa trên Bản tin hàng quý của Michael Joyce tại Bộ phận Phân tích Vĩ mô của Ngân hàng Anh
Trang 2I CÁC KHÁI NIỆM
1 Khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính, nói một cách đơn giản, là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính, dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính
Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính là:
- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền
- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định
Các loại khủng hoảng tài chính
● Khủng hoảng ngân hàng
Đây là tình trạng diễn ra khi các khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng Vì ngân hàng cho vay phần lớn số tiền gửi vào nên khi khách hàng đồng loạt rút tiền, sẽ rất khó để các ngân hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ Sự rút tiền ồ ạt có thể dẫn tới sự phá sản của ngân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiền gửi của mình, trừ phi họ được bồi thường nhờ bảo hiểm tiền gửi Nếu việc rút tiền ồ ạt lan rộng sẽ gây ra khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống Cũng có thể hiện tượng trên không lan rộng, nhưng lãi suất tín dụng được tăng lên (để huy động vốn) do lo ngại về sự thiếu hụt trong ngân sách Lúc này, chính các ngân hàng sẽ trở thành nhân tố gây ra khủng hoảng tài chính
● Khủng hoảng trên thị trường tài chính
Khủng hoảng trên thị trường tài chính thường xảy ra do hai nguyên nhân chính: do các chính sách của Nhà nước và do sự tồn tại của các “bong bóng” đầu cơ
Yếu tố đầu tiên phải nói đến, đó chính là các chính sách của Nhà nước Khi nhà nước phát hành tiền nhằm trang trải cho các khoản thâm hụt ngân sách, điều này sẽ gây ảnh hưởng tới tỷ giá cố định Người dân sẽ mất lòng tin vào nội tệ và chuyển sang tích trữ bằng các loại ngoại tệ Khi đó
dự trữ ngoại tệ của Nhà nước sẽ cạn dần, Nhà nước buộc phải từ bỏ tỷ giá cố định và tỷ giá sẽ tăng
Thêm vào đó, trên thị trường lại luôn tồn tại những “bong bóng” đầu cơ, ẩn chứa nguy cơ đổ vỡ Khi hầu hết những người tham gia thị trường đều đổ xô đi mua một loại hàng hóa nào đó trên thị trường tài chính (chẳng hạn như cổ phiếu, bất động sản), nhưng không nhằm mục đích đầu tư lâu dài, mà chỉ mua với mục đích đầu cơ, với hi vọng sẽ bán ra với giá cao hơn và thu lợi nhuận, điều này đẩy giá trị của các hàng hóa này lên cao, vượt quá giá trị thực của nó Tình trạng này xảy ra sẽ kéo theo những nguy cơ đổ vỡ trên thị trường tài chính, do các nhà đầu tư ngắn hạn
Trang 3người cùng mua, tạo những cơn sốt ảo trên thị trường và bán ra khi có nhiều người cùng bán, gây tình trạng rớt giá, họ không cần hiểu biết nguyên do khi nào cần mua vào, khi nào cần bán ra nên gọi là “tâm lý bầy đàn”
● Khủng hoảng tài chính thế giới
Khi một quốc gia có đồng tiền mạnh đột ngột phá giá đồng tiền của mình hoặc khi một nước mất
đi khả năng hoàn trả các khoản nợ quốc gia, gây khủng hoảng tiền tệ
● Khủng hoảng tài chính trong các tập đoàn Kinh tế
Các tập đoàn thường vướng vào khủng hoảng tài chính do 2 lý do chủ yếu: do các kế hoạch đầu
tư không đúng đắn, không thu hồi được vốn đầu tư, dẫn tới việc không thanh toán được các khoản vay để đầu tư dẫn tới phá sản Do bị hiệu ứng dây chuyền từ khủng hoảng chung, khi đó các doanh nghiệp không vay được vốn để đầu tư hoặc các dự án đầu tư không thu hồi được vốn
do tình trạng khủng hoảng
2 Chính sách tiền tệ và chính sách tiền tệ bất thường
Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ (monetary policy) là quá trình quản lý
cung tiền (money supply) của cơ quan quản lý tiền tệ (có thể là ngân hàng trung ương), thường là hướng tới một lãi suất mong muốn (targeting interest rate) để đạt được những mục đích ổn định
và tăng trưởng kinh tế - như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối
Chính sách tiền tệ có thể chia làm: chính sách mở rộng và chính sách thu hẹp Chính sách mở rộng là tăng cung tiền lên hơn mức bình thường
Các dạng chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ: Biến số tác động: Mục tiêu dài hạn:
Mục tiêu lạm phát Lãi suất của nợ qua đêm Cố định tỷ lệ lạm phát
Mục tiêu mức giá Lãi suất của nợ qua đêm Cố định mức giá
Tổng cung tiền Tốc độ tăng cung tiền Cố định tỷ lệ lạm phát
Bàn vị vàng Giá vàng Lạm phát thấp đo bằng giá vàng
Chính sách tổng
hợp Thường là lãi suất Thường là tỷ lệ thất nghiệp + Lạm phát
Các công cụ của chính sách tiền tệ
Gồm có 6 công cụ sau:
Trang 4+ Công cụ tái cấp vốn
+ Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
+Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
+Công cụ lãi suất tín dụng
+Công cụ hạn mức tín dụng
+Tỷ giá hối đoái
Cơ quan hữu trách về tiền tệ (NHTW) sử dụng chính sách tiền tệ nhằm hai mục đích: ổn định kinh tế và can thiệp tỷ giá hối đoái.
Về ổn định kinh tế vĩ mô, nguyên lý hoạt động chung của chính sách tiền tệ là cơ quan hữu trách
về tiền tệ (ngân hàng trung ương hay cục tiền tệ) sẽ thay đổi lượng cung tiền tệ Các công cụ để đạt được mục tiêu này gồm: thay đổi lãi suất chiết khẩu, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, và các nghiệp vụ thị trường mở
Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ nhắm vào hai mục tiêu là lãi suất và lượng cung tiền Thông thường, không thể thực hiện đồng thời hai mục tiêu này Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh tế ở tình trạng bình
thường, thì mục tiêu lãi suất được lựa chọn Còn khi kinh tế quá nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó là lượng cung tiền
Chính sách tiền tệ bất thường
Trong tình trạng nền kinh tế bị tổn thương nghiêm trọng, thì khả năng chấp nhận rủi rõ cũng giảm đi đáng kế, do đó, tính hiệu quả các chính sách tiền tệ truyền thống sẽ bị hạn chế mạnh mẽ Trong môi trường như vậy, lãi suất qua đêm giảm mạnh, thậm chí có thế bằng 0, hạn chế phạm
vi cho việc tăng cường nới lỏng thông qua các biện pháp chính sách tiền tệ truyền thống
Bên cạnh đó, tăng vốn cho hệ thống ngân hàng là cách làm hiệu quả nhất và vô cùng quan trọng
để phục hồi nền kinh tế, nhưng việc này sẽ tốn rất nhiều thời gian Việc bơm tiền nhà nước vào các định chế tài chính yếu kém là không thể tránh khỏi để ổn định hệ thống tài chính, nhưng về mặt chính trị mà nói thì không được dân chúng ủng hộ
Với hoàn cảnh như vây, các NHTW cần phải nỗ lực tối đa trong việc đối phó với một cuộc khủng hoảng tài chính là duy trì sự ổn định của các thị trường tài chính và hệ thống tài chính Và điều cần thiết là việc áp dụng các chính sách tiền tệ bất thường như QE (nới lỏng định lượng) hay CE ( nới lỏng tín dụng) hoặc mua chứng khoán, để góp phần làm cho hệ thống và thị trường tài chính ổn định thông qua việc cunng ứng một khối lượng thanh khoản lớn
Trang 5Trong nỗ lực chống đỡ cơn suy thoái kinh tế, thì việc hạ lãi suất là một trong các biện pháp truyền thống Ví dụ cụ thể như việc mua các Trái phiếu kho bạc – một dạng nợ ngắn hạn của chính phủ – từ các ngân hàng Việc làm này sẽ khiến cho lãi suất các khoản nợ chính phủ hạ xuống; nhà đầu tư tìm kiếm lợi suất cao sẽ chuyển tới các tài sản khác, làm cho các lãi suất khác cũng hạ theo; và thường những lãi suất thấp này sẽ dẫn tới những hồi phục của nền kinh tế
Nhưng khi lãi suất là 0%, là mức tối thiểu, không thể khiến cho lãi suất xuống dưới mức 0, bởi ở mức tiệm cận 0, nhà đầu tư sẽ đơn thuần nắm giữ tiền mặt hơn là cho vay chúng Do đó, với mức lãi suất mà về cơ bản các nhà kinh tế vĩ mô gọi là “hạn mức dưới không” (zero lower bound) thì khi cuộc suy thoái tiếp tục dấn sâu hơn, chính sách tiền tệ theo lệ thường đã mất toàn bộ sức điều chỉnh
Trong thời gian khủng hoảng, để đối phó với việc lạm phát cao, NHTW cần thực thi chính sách
"lãi suất âm" với mức lãi suất huy động danh nghĩa rất cao, nhằm thu hút mạnh tiền vào hệ thống ngân hàng, từ đó giảm bớt tổng phương tiện thanh toán để ổn định và giữ vững giá trị đồng tiền, đồng thời duy trì lãi suất cho vay ở mức độ hợp lý, các doanh nghiệp có thể chịu đựng được nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi cơn suy thoái
Với chính sách này, lý thuyết tiền tệ sẽ có một thay đổi căn bản khi NHTW không còn chỉ quản
lý cơ sở tiền nữa mà còn có ảnh hưởng trực tiếp lên số nhân tiền Một hệ quả quan trọng, theo Robert Hall và Susan Woodward, là Fed có thể sẽ có chiến lược giải thoát vừa tránh được lạm phát vừa không làm thị trường hoảng sợ khi phải thắt chặt chính sách tiền tệ theo cách thông thường (tăng Fed funds rate - lãi suất vốn liên bang)
II HỘI NGHỊ NGÂN HÀNG ANH
1 NHTW đối phó với khủng hoảng
Ngay sau khi khủng hoảng nổ ra vào mùa hè năm 2007, các NHTW đã tập trung vào việc tăng cường tính thanh khoản cho nền kinh tế thông qua các hoạt động hỗ trợ thanh khoản nhằm cởi trói cho thị trường liên ngân hàng và nới lỏng các điều kiện cho vay bằng nhiều các phương tiện sẵn có như mở rộng các hoạt động cho vay bình thường cho các ngân hàng, tăng thời gian vay và
mở rộng các điều kiện thế chấp Bên cạnh đó còn có những chương trình tăng thanh khoản khác như việc Ngân hàng Anh giới thiệu Chương trình Thanh khoản Đặc biệt giúp hoán đổi các tài sản chất lượng cao của ngân hàng lấy trái phiếu chính phủ Cục Dự trữ Liên bang còn tung ra hàng loạt các chương trình tăng cường thanh khoản cho nhiều đối tượng hơn và mở rộng hơn các điều kiện thế chấp Các NHTW hàng đầu còn cùng nhau tạo nên một cơ sở chuyển đổi với Cục
Dụ trữ Liên bang nhằm giúp các ngân hàng vay đồng Đô-la một cách dễ dàng hơn
Sau khi sự sụp đổ của Ngân hàng Lehman Brothers, khủng hoảng trở nên nặng nề hơn, các NHTW bắt đầu can thiệp một cách trực tiếp hơn vào các thị trường tín dụng riêng biệt như việc Cục Dự trữ Liên bang mua các thương phiếu và các thương phiếu đảm bảo bằng tài sản, và đưa
ra các phương tiện hỗ trợ cho các quỹ tương hỗ đầu tư trên thị trường tiền tệ; Ngân hàng Anh
Trang 6mua các thương phiếu và trái phiếu doanh nghiệp; Ngân hàng TW châu Âu mua các trái phiếu đảm bảo
Bên cạnh việc giảm lãi suất xuống mức thấp, các NHTW còn đưa ra các phương tiện nhằm nới lỏng hơn nữa các điều kiện tiền tệ như Ủy ban Thị trường mở Liên bang vào cuối tháng 11/2008 công bố chính sách mua tài sản quy mô lớn (các khoản nợ của các doanh nghiệp được chính phủ tài trợ, các chứng khoán được đảm bảo bằng thế chấp đảm bảo bởi doanh nghiệp và sau đó chứng khoán kho bạc dài hạn) Tháng 3/2009, Ủy ban Chính sách Tiền tệ Ngân hàng Anh
(Monetary Policy Committee – MPC) giảm lãi suất ngân hàng xuống còn 0.5% và công bố chương trình mua tài sản (chủ yếu là trái phiếu chính phủ dài hạn) nhằm nâng mức lạm phát CPI lên mức mục tiêu 2% trong trung hạn Cuối chương trình mua tài sản đầu tiên vào tháng 1/2010, Ngân hàng Anh đã mua được 200 tỷ bảng tài sản (tương đương 14% GDP của Anh)
Kết quả của các phương tiện bất thường này đều dẫn đến sự gia tăng bảng cân đối của các NHTW Từ thời điểm bắt đầu khủng hoảng giữ năm 2007 đến đầu năm 2012, tài sản của Ngân hàng Anh và Cục Dự trữ Liên bang tăng gấp ba trong khi NHTW châu Âu tăng gấp đôi Tài sản Ngân hàng Anh và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ lần lượt xấp xỉ 20% GDP của Anh và Mỹ, trong khi NHTW châu Âu là khoảng 30% GDP toàn châu Âu trong năm 2011
Bên cạnh đó, còn có một chính sách bất thường khác gọi là “chính sách bảng cân đối” Theo chính sách này, các NHTW tập trung vào việc phát ra tín hiệu về chính sách lãi suất trong tương lai với mục tiêu giảm lãi suất trong các hạn dài hơn Cụ thể trong cuối năm 2008, Ủy ban Thị trường mở Liên bang bắt đầu gợi ý rằng các điều kiện kinh tế sẽ giúp đảm bảo lãi suất chính sách
sẽ ở mức thấp trong thời gian kéo dài tới
Trang 72 Nới lỏng định lượng và các chính sách tiền tệ bất thường khác hoạt động như thế nào
Một ý nghĩa nổi tiếng của mô hình học thuyết Keynes mới cho rằng, khi lãi suất chính sách ở mức thấp, hoạt động mua tài sản của các NHTW chỉ có thể tác động đến kinh tế vĩ mô trong việc cung cấp tín hiệu về chính sách trong tương lai như các kỳ vọng về lạm phát và lãi suất trong
Trang 8tương lai Chính vì vậy, có nhiều gợi ý cho chính sách chỉ thực hiện việc đưa ra các cam kết duy trì mức lãi suất thấp trong một khoảng thời gian nhất định thay vì thực hiện việc mua tài sản Kết quả của việc nới lỏng định lượng theo các mô hình này cho rằng, nếu NHTW thực hiện việc mua trái phiếu chính phủ thì khối tư nhân (trong một số trường hợp nhất định) có thể dự đoán rằng các khoản thuế trong tương lai của họ sẽ phải đối mặt với rủi ro lãi suất và do đó họ giảm nhu cầu của mình đối với trái phiếu chính phủ (lượng cầu giảm) bằng chính xác một lượng mà chính phủ đã mua (lượng cung giảm) Do vậy, về lý thuyết thị trường ở mức cân bằng mà giá trái phiếu vẫn không đổi (chỉ lượng cân bằng giảm) Nhưng giả thuyết này không đúng trong mọi trường hợp, cho nên việc nới lỏng định lượng vẫn có khả năng gây ra sự thay đổi giá trái phiếu dưới tác động của thay đổi lượng
Các tài liệu trước đây của Tobin (1963) và Brunner & Meltzer (1973) và những người khác về hiệu ứng cân đối danh mục cho rằng sự thay đổi về lượng có ảnh hưởng đến giá tài sản dựa trên tính chất thay thế tài sản không hoàn toàn Nếu một tài sản không thể thay thế hoàn toàn thì khi
có sự thay đổi về lượng (các điều kiện khác không đổi) sẽ dẫn đến sự thay đổi về lãi suất kỳ vọng tuyệt đối và tương đối Ví dụ như có những nhà đầu tư “trú ẩn ưa thích” (preferred habitat) chỉ yêu thích đầu tư vào những tài sản nhất định (thường là trái phiếu với đáo hạn nhất định) hơn là đầu tư vào các tài sản khác, thì các tài sản này thay thế với nhau không hoàn toàn
Tài liệu của Andrés, López-Salido và Nelson (2004) cũng chỉ ra mối quan hệ của việc mua tài sản đến kinh tế vĩ mô Tài liệu xây dựng mô hình cân bằng gồm các hộ gia đinh bị giới hạn chỉ
có thể đầu tư vào trái phiếu dài hạn (giống với các nhà đầu tư “trú ẩn ưa thích”) và các hộ gia đình không bị giới hạn đầu tư vào cả trái phiếu dài và ngắn hạn Khi các hộ gia đình không bị giới hạn gặp ma sát (chi phí giao dịch) trong việc mua bán trái phiếu dài hạn thì họ sẽ xem trái phiếu dài hạn là thay thế không hoàn toàn đối với tiền Do vậy, nới lỏng định lượng có thể gây ảnh hưởng đến lãi suất trái phiếu từ đó ảnh hưởng đến tổng cầu Vasco Cúrdia cũng trình bày một mô hình tương tự nhằm định lượng ảnh hưởng của chính sách mua tài sản quy mô lớn của Cục Dự trữ Liên bang
Một mô hình lý thuyết mới cũng được đề xuất bởi Joe Gagnon Ý nghĩa của mô hình này là nếu
có cấp đại lý khác nhau, ngay cả khi không có trở ngại thị trường nào, thì kết luận của mô hình học thuyết Keynes mới không còn đúng nữa Trừ phí nó thõa mãn yêu cầu quan trọng là các ảnh hưởng của việc mua nới lỏng định lượng lên ngân sách chính phủ không hoàn toàn chuyển đến các đại lý (các nguồn bán tài sản), còn không lợi nhuận và thua lỗ cùng chuyển đến một cá thể vậy thì không có gì thay đổi cả Gagnon cũng cân nhắc các tác động tài khóa của các chương trình mua tài sản tiếp theo với mục tiêu đưa Mỹ trở lại xu hướng phát triển và lạm phát sau 3 năm Để nghiên cứu vấn đề này, Gagnon đã mô hình việc mua thêm trái phiếu dài hạn trị giá 13% GDP (khoảng 2 ngàn tỷ đô) đạt được trong vòng 7 năm Sau đó ông ấy quan sát mỗi đợt mua lại và phân tích ảnh hưởng của nó đến dòng tiền của Cục Dự trữ Liên bang và thâm hụt ngân sách chính phủ hợp nhất Ông ấy đã chỉ ra rằng chương trình nới lỏng định lượng này sẽ
Trang 9không gây ra một thiệt hại tài khóa đáng kể, thậm chí trong một kịch bản trái ngược rằng lạm phát tăng rất nhanh và Cục Dự trữ Liên bang phải tăng lãi suất để chống chọi lạm phát
Ricardo Reis trình bày về việc bơm thanh khoản vào đâu trong khủng hoảng tài chính Ông ấy bắt đầu mô hình thị trường tài chính thực không ma sát (không chi phí giao dịch) (gồm các hộ gia đình, doanh nghiệp và chính sách tài khóa) và từ từ thêm vào các ma sát và các đại lý khác nhau (NHTW, ngân hàng thường và ngân hàng bóng tối) Một mô hình với 2 loại ngân hàng (cho vay dài và ngắn hạn) cho rằng nếu các nhà điều hành chính sách gặp phải một cú sốc tài chính tạm thời thì nó chỉ nên bơm tiền vào thị trường có vấn đề Còn đối với cú sốc tài chính dai dẳng, thì ngược lại nó lây lan rất nhanh, và do đó NHTW cần phải can thiệp vào mọi thị trường, dù chỉ
có 1 thị trường gặp vấn đề Reis kết luận rằng chính sách bất thường là cần thiết trong một hệ thống tài chính phức tạp và nó cũng thừa nhận độ bao phủ của chính sách từ việc mua chứng khoán đến việc cho vay các doanh nghiệp và ngân hàng bóng tối
3 Ảnh hưởng kinh tế của các chính sách bất thường
Ảnh hưởng lên thị trường trái phiếu chính phủ
Hầu hết các tài liệu thực nghiệm nghiên cứu về nới lỏng định lượng cho đến nay tập trung vào lãi suất trái phiếu chính phủ (một số về giá) Thông thường, có 3 kênh chính giải thích mối quan hệ của việc mua tài sản và lãi suất :
1 Kênh phát tín hiệu - Ảnh hưởng của việc mua đến các mong đợi của thị trường về lãi suất ngắn hạn trong tương lai
2 Kênh cung ứng khan hiếm hoặc cục bộ - Có vài nhà đầu tư có nhu cầu đặc biệt đối với một loại trái phiếu nhất định, nên các trái phiếu đó không thay thế hoàn toàn với nhau được
3 Kênh thời lượng – Khi tổng thời lượng được gỡ bỏ khỏi thị trường, các nhà đầu tư yêu cầu bồi thường thấp hơn cho việc đối mặt với rủi ro lãi suất
Kênh 2 và 3 thường được gọi chung là kênh cân đối danh mục
Hầu hết các bằng chứng thực nghiệm về việc mua tài sản đã kết luận rằng nó chủ yếu gây ảnh hưởng lãi suất dài hạn thông qua giảm kỳ hạn hoặc thưởng rủi ro, cho nên các kênh chính là thông qua khan hiếm hoặc thời lượng
Trong trình bày của Stefania D’Amico về ảnh hưởng của chương trình mua tài sản quy mô lớn của Cục Dự trữ Liên bang lên lãi suất kho bạc Các tác giả sử dụng dữ liệu từ trước khi chương trình mua tài sản bắt đầu, đầu tiên họ ước lượng các phương trình liên quan lãi suất kho bạc và tỷ
lệ thưởng kỳ hạn đến tổng thời lượng cũng như các yếu tố điều khiển khác Họ tìm thấy các ảnh hưởng đáng kể từ biến khan hiếm và thời lượng, với kết quả rằng chương trình mua tài sản ảnh hưởng chính đến lãi suất thông qua sự vận động của các yếu tố thưởng kỳ hạn thực của lãi suất
Trang 10Bằng việc sử dụng các ước lượng này, họ đã tính toán được tác động của chương trình mua tài sản của Cục Dự trữ Liên bang Họ đã ước lượng được rằng chương trình mua tài sản đầu tiên của Cục Dự trữ Liên bang kết thúc vào tháng 3/2010 đã hạ thấp lãi suất dài hạn 35 điểm cơ bản, 2/3 của sự thay đổi này là do cung ứng cục bộ, 1/3 là do thời lượng Còn đối với chương trình mua trị giá 600 tỷ đô vào tháng 11/2010 hoàn thành vào tháng 6/2011, họ ước lượng mức ảnh hưởng đến lãi suất dài hạn là 55 điểm cơ bản, hầu hết là do sư khan hiếm, vậy nên có thể kết luận rằng chương trình 2 có sự ảnh hưởng của tổng thời lượng khiêm tốn hơn so với chương trình 1
Matthew Tong trình bày nghiên cứu về ảnh hưởng của chương trình mua tài sản đầu tiên của Ngân hàng Anh đến thị trường trái phiếu chính phủ Bài nghiên cứu cho rằng các phản ứng của thị trường đối với mỗi đợt công bố chương trình có độ trễ và thay đổi đáng kể suốt cấu trúc kỳ hạn, dù có bằng chứng chỉ ra rằng chương trình đã làm giảm lãi suất trái phiếu tổng thể khoảng
100 điểm cơ bản.Tác giả cũng tìm thấy các bằng chứng ảnh hưởng của cung ứng cục bộ (lãi suất trái phiếu chính phủ được mua bởi Ngân hàng Anh giảm nhiều hơn) và thời lượng (lãi suất trái phiếu đáo hạn dài hơn giảm nhiều hơn) Bên cạnh đó, bảng hồi quy dữ liệu từ các phiên đấu giá của Ngân hàng cho thấy lãi suất giảm theo các giao dịch mua thực tế, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của chương trình Vài tác động vào ngày đấu giá khá dai dẳng và có thể do những người tham gia nhận thức được ảnh hưởng của nới lỏng định lượng Trong suốt giai đoạn mua bán, lãi suất trái phiếu chính phủ nhìn chung là không đổi, có thể là do những tiến triển tài khóa hoặc vĩ
mô rộng hơn đã bù đắp những tác động ban đầu của chương trình nới lỏng định lượng
Ảnh hưởng lên vĩ mô
Chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của các chính sách bất thường lên vĩ mô Các nghiên cứu cũng chưa phù hợp, có độ trễ lớn trước khi các tác động được phản ánh đầy đủ trong các biến vĩ mô và còn có nhiều yếu tố khác cần quan tâm đến Do vậy các phân tích dựa trên việc xây dựng các mô hình đối chứng chính sách và không chính sách, nhưng nó khá phức tạp Vì vậy, kết quả của các phân tích này cũng khó chắc chắn hơn Có 2 hướng chính để xác định các tác động vĩ mô là : thứ nhất, ước lượng mô hình VAR dựa trên xây dựng các dự báo theo các kịch bản chính sách và không chính sách; thứ hai, ước lượng mô hình cân bằng tông thể kết hợp hiệu ứng “cu trú ưa thích”
Michele Lenza trình bày nghiên cứu của mình về các ảnh hưởng của biện pháp chính sách bất thường của NHTW châu Âu nhằm hỗ trợ thị trường cho vay sau sự sụp đổ của ngân hàng
Lehman Brothers Bài nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu của bảng cân đối của ngân hàng chứa đựng thông tin khối lượng khoản vay liên ngân hàng và khoản vay của hệ thống châu Âu cho các ngân hàng Sử dụng VAR học thuyết Bayes chứa các biến vĩ mô và tài chính, tác giả đã nhận thấy rằng khối lượng cho vay của NHTW lớn hơn nhiều so với số lượng mong đợi Sau đó, tác giả xây dựng các kịch bản xa hơn và nhận thấy rằng sản lượng công nghiệp của khu vực chau Âu lớn hơn 2% và tỉ lệ thất nghiệp nhỏ hơn 0.6% so với ước tính