1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Hướng dẫn quản lý trường hợp bảo vệ trẻ em

83 362 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 836,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀI LIỆU Tài liệu hướng dẫn quản lý trường hợp bảo vệ trẻ em sẽ cung cấp những nội dung cơ bản nhất về các bước trợ giúp trẻ em bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng và c

Trang 1

HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP BẢO VỆ TRẺ EM

n¨m 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Phần I NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT, CHÍNH SÁCH BVTE VÀ MỘT

SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1 Những quy định pháp luật và các chính sách nhằm BVTE ở Việt Nam

11 2.3 Khái niệm trẻ em bị xâm hại

11 2.4 Bảo vệ trẻ em

13 2.5 Quản lý trường hợp

Trang 3

3 Chuyển tuyến những trường hợp nghiêm trọng

24

4 Thực hiện kế hoạch an toàn cho trẻ

25 Biểu mẫu 1 BÁO CÁO TIẾP NHẬN THÔNG TIN, ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SƠ BỘ ĐỐI VỚI TRẺ EM

BỊ XÂM HẠI, BÓC LỘT, BẠO LỰC VÀ SAO NHÃNG 28

Sơ đồ tóm tắt bước 2 31

2 Đánh giá tổn hại và nguy cơ

Mẫu 2: THU THẬP THÔNG TIN, XÁC MINH VÀ ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ CỤ THỂ 53

Bước 3 Xây dựng kế hoạch trợ giúp

I KHÁI QUÁT VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

Trang 4

1.Đánh giá nhu cầu

1.1.xác định vấn đề trọng tâm của trẻ

TỔ CHỨC CÓ KHẢ NĂNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CHO TRẺ

Trang 5

MẪU 5: THEO DÕI, GIÁM SÁT TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ

3 Các nhiệm vụ cần thực hiện khi đánh giá lại tình trạng của trẻ 78

II Đánh giá của cán bộ QLC về hoạt động quản lý trường hợp 81

1 Một số chính sách trợ giúp thường xuyên và đột xuất đối với 88 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

4 Chính sách đối với trẻ em tàn tật và người chưa thành niên 89

5 Chăm sóc bảo vệ trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình 90

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em và ban hành Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 1991, sửa đổi năm 2004 Để tạo điều kiện tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu, các quyền cơ bản của trẻ em và ngăn chặn các nguy cơ xâm hại trẻ em, xây dựng môi trường an toàn và lành mạnh cho trẻ em, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt chương trình hành động quốc gia "vì trẻ em" giai đoạn 2001-2010 Một trong những mục tiêu quan trọng đó là bảo vệ trẻ em không bị xâm hại bởi các tệ nạn, bạo lực, tai nạn, giảm mức trẻ em bị HIV/AIDS

Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường cùng với quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá hiện nay ở Vệt Nam, bên cạnh những thành tựu về phát triển kinh

tế xã hội trong đó có việc chăm sóc và giáo dục cho trẻ em, vẫn tồn tại thậm chí gia tăng những hành vi xâm hại trẻ em Những hành vi này đã gây nên những hậu quả đáng tiếc làm ảnh hưởng tới sự an toàn và phát triển thể lực cũng như trí tuệ

và tinh thần của trẻ Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều trẻ em bị khủng hoảng tinh thần, hiện tượng trẻ em tự tử, phạm pháp, bị bạo hành và buôn bán Do vậy, công tác bảo vệ trẻ em là điều hết sức cần thiết Tuy nhiên chúng ta đang gặp khá nhiều khó khăn trong công tác này, ví dụ thiếu một hệ thống pháp lý và qui định hướng dẫn cụ thể công tác bảo vệ trẻ em, thiếu đội ngũ cán bộ làm việc chuyên nghiệp về bảo vệ trẻ em, thiếu các dịch vụ chuyên nghiệp về bảo vệ trẻ em, cơ chế phối kết hợp giữa các cấp và ban ngành trong việc thực hiện cung cấp các dịch vụ bảo vệ trẻ em này

Để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ bảo vệ trẻ em các cấp, và tăng cường sự phối hợp của các ban ngành, các đối tác trong việc bảo vệ trẻ em, trường Đại học Lao động- Xã hội, khoa Công tác Xã hội với sự trợ giúp của UNICEF, của các tổ chức quốc tế, của các chuyên gia các Bộ Ngành, đặc biệt là

Bộ Lao động_ Thương binh và Xã hội, cục bảo vệ trẻ em và các cơ quan địa

Trang 8

phương , tiến hành biên tập cuốn Tài liệu Hướng dẫn quản lý trường hợp bảo vệ

trẻ em khỏi bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng

Cuốn tài liệu sẽ cung cấp cho cán bộ bảo vệ trẻ em những kiến thức và kỹ

năng cơ bản về quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em khỏi bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng nhằm góp phần bảo vệ trẻ em tốt hơn và tiến tới chuyên môn hoá công tác này tại cơ sở

Trang 9

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀI LIỆU

Tài liệu hướng dẫn quản lý trường hợp bảo vệ trẻ em sẽ cung cấp những nội dung

cơ bản nhất về các bước trợ giúp trẻ em bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng và các nhóm có nguy cơ cho cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em, cán bộ xã hội và cán bộ

là tình nguyện tham gia công tác bảo vệ trẻ em (được gọi chung là cán bộ bảo vệ

trẻ em, viết tắt CBBVTE)

Mục đích của tài liệu

Tài liệu cung cấp những nội dung kiến thức và kỹ năng cơ bản về BVTE và quản

lý trường hợp nhằm giúp cán bộ BVTE:

- Nắm được quy trình quản lý trường cho các đối tượng có nguy cơ hay bị tổn hại

do các hành vi xâm hại, bóc lột và sao nhãng;

- Nắm đựơc nhiệm vụ/ hoạt động cụ thể mà cán bộ BVTE cần thực hiện trong mỗi bước quản lý trường hợp;

- Có được những kỹ năng cơ bản để tiến hành can thiệp và trợ giúp trẻ em có nguy

cơ hay bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng

Kết cấu nội dung tài liệu

Tài liệu được thiết kế với 3 phần:

I Giới thiệu chung, hướng dẫn sử dụng và một số khái niệm cơ bản

II Các bước trong quy trình quản lý trường hợp bảo vệ trẻ em

Phần này gồm các nội dung:

Bước 1: Tiếp nhận, đánh giá sơ bộ mức độ tổn thương và nguy cơ

Bước 2: Xác minh và Đánh giá toàn diện

Bước 3: Xây dựng kế hoạch trợ giúp

Bước 4: Triển khai kế hoạch trợ giúp

Trang 10

Đối tượng sử dụng là những cán bộ quản lý nhà nước về công tác bảo vệ trẻ

em, cán bộ xã hội hay các cộng tác viên

Để sử dụng thuận tiện như một cuốn cẩm nang cho nhiều đối tượng ở trình

độ khác nhau, tài liệu đề cập tới những thông tin cơ bản nhất trong mỗi bước và được trình bày một cách ngắn gọn và đơn giản Nếu cần nội dung chi tiết người sử dụng có thể tham khảo thêm một số tài liệu chuyên sâu khác

Trang 11

Phần I NHỮNG QUY ĐỊNH, CHÍNH SÁCH BVTE Ở VIỆT NAM VÀ MỘT

SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN

1 Những quy định pháp luật và chính sách BVTE ở Việt Nam

Trên cơ sở phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990, Việt Nam đã xây dựng luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi năm 2004 nhằm thể chế hoá việc thực hiện các quyền của trẻ em tại Việt nam Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ bao gồm 5 chương, 60 điều quy định các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong việc đảm bảo thực hiện các quyền

cơ bản của trẻ em Các quy định được nêu trong Luật: Mọi trẻ em đều được bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật; Gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện các quyền của trẻ em; Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện, mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ đều bị nghiêm trị theo quy định pháp luật; Luật nghiêm cấm các hành vi để trẻ em rơi vào các hoàn cảnh đặc biệt, bóc lột, lạm dụng trẻ em như: trẻ lang thang, trẻ bị xâm hại tình dục, trẻ bị bóc lột sức lao động, trẻ bị xâm phạm tính mạng, nhân phẩm

Để triển khai việc thực hiện Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Đảng và chính phủ đã có các chỉ thị, chính sách và chương trình cụ thể quy định rõ vai trò và trách nhiệm của các ban ngành trong việc thực hiện quyền của trẻ em: Chỉ thị 55 – CT/TW ngày 28/06/2000 của Bộ Chính Trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng tại cơ sở đối với công tác BVCSGDTE; Chỉ thị số 1408/CT-TTG ngày 03/9/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường công tác bảo vệ

và chăm sóc trẻ em; và các Chương trình Hành động Quốc gia vì Trẻ em Việt Nam giai đoạn 1991-2000, giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra những định hướng nhằm hỗ trợ các ngành xây dựng các chương trình cụ thể về chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em

Trang 12

Riêng với lĩnh vực bảo vệ trẻ em, nhà nước đã có những chính sách cụ thể như sau:

- Thông tư liên bộ số 09/TT-LB-BLĐTBXH-BYT ngày 13/4/1955 của liên

Bộ LĐ-TB & XH và Bộ Y tế quy định các điều kiện lao động có hại và các công việc cấm sử dụng lao động chưa đến tuổi thành niên;

- Thông tư số 21/1999/TT-BLĐTBXH ngày 11/9/1999 của Bộ LĐTB&XH quy định danh mục nghề, công việc và điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc;

- Quyết định 138/1998/QD-TTg ngày 31/7/1998 về việc phê duyệt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm trong đó có phòng chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên;

- Quyết định 130/2005/QD-TTg về việc thực hiện Chương trình phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em giai đoạn 2004-2010;

- Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/2/2004 về việc thực hiện Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại nguy hiểm giai đoạn 2004-2010;

- Nghị Định 67/2007/NĐ-CP và Nghị Định13/2010/NĐ-CP quy định mức trợ cấp xã hội cho các đối tượng yếu thế trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học và nhiễm HIV/AIDS; và

- Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 hướng dẫn trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi

2 Một số khái niệm liên quan

2 1 Khái niệm trẻ em

Khái niệm trẻ em theo quan niệm của quốc tế: trẻ em là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp nước đó áp dụng quy định độ tuổi với trẻ em sớm hơn (Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em)

Trang 13

Theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của Việt Nam trẻ em là

“công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”

Tài liệu Hướng dẫn này hướng tới việc cung cấp dịch vụ Quản lý trường hợp cho trẻ có nguy cơ hay bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng từ dưới 18 tuổi Tuy nhiên ở một số cơ sở dịch vụ công, đối tượng được tính từ dưới 16 tuổi theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em

2.2 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB) là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng1

Nhóm đối tượng TECHCĐB bao gồm:

1 Trẻ mồ côi, không nơi nương tựa , trẻ em bị bỏ rơi;

Hiện nay còn có những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác, nhưng chưa được

đề cập đến trong Luật như trẻ em bị buôn bán và trẻ em là nạn nhân của bạo lực, ngược đãi…

2.3 Khái niệm xâm hại trẻ em

1

Luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, sửa đổi 2004, chương 4

Trang 14

Xõm hại trẻ em là thuật ngữ chung để diễn tả cỏc hành vi liờn quan đến xõm hại thể chất, tõm lý, tỡnh cảm và tỡnh dục Trong tài liệu này đề cập đến một số dạng xõm hại cơ bản như sau:

* Xõm hại tinh thần/tỡnh cảm

Là việc khụng đỏp ứng cỏc nhu cầu về yờu thương, quan tõm, chăm súc, an

ủi của trẻ trong một khoảng thời gian kộo dài và lặp đi lặp lại

Xõm hại tỡnh thần/tỡnh cảm cũn là những hành vi bạo lực tõm lý/tỡnh cảm bao gồm việc sử dụng lời lẽ chửi rủa, mắng nhiếc, nhạo bỏng, kiểm soỏt khụng cho làm, ngăn cấm, cụ lập trẻ khỏi bạn bố, gia đỡnh hay những hành vi chối bỏ trẻ em hoặc trẻ phải chứng kiến bạo lực gia đỡnh Những hành vi này gõy ra tổn hại tức thời hay tiềm ẩn đến thỏi độ, hành vi tỡnh cảm và sức khoẻ tõm thần, thể chất của của trẻ em2

* Xõm hại tỡnh dục trẻ em

Là hành vi của một người lớn hơn trẻ sử dụng vũ lực để ép buộc hoặc mưu mẹo để lôi kéo trẻ vào hoạt động tình dục (dự trẻ cú đồng ý hay khụng đồng ý) như giao cấu với trẻ, cưỡng hiếp, phụ dõm, mại dõm với trẻ Những hành vi xõm hại tỡnh dục trẻ em cũn bao gồm cỏc hành động khiờu dõm như đụng chạm, sờ nắn

bộ phận sinh dục của trẻ hay sử dụng cỏc tranh ảnh khiờu dõm trẻ em

2.4 Khỏi niệm sao nhóng trẻ em

Là sự thiếu chỳ ý hoặc thiếu quan tõm của người chăm súc trong việc cung cấp cỏc nguồn lực sẵn cú cho sự phỏt triển toàn diện của trẻ về: dinh dưỡng, sức khỏe,

2Hart, Goomain &Brassard, 1987, Tr.6

Trang 15

học vấn, phát triển tình cảm, chỗ ở và các điều kiện sống an toàn hoặc gây nên những tổn hại cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, đạo đức hay xã hội

2.5 Khái niệm Bóc lột trẻ em

Là việc sử dụng trẻ em vào các hoạt động để đem lại lợi ích cho người khác, bao gồm lợi ích về tài chính, tình dục hay chính trị Trong trường hợp này, các hoạt động gây ra tổn thương về mặt thể chất và tâm lý cho trẻ, thậm chí ảnh hưởng đến an toàn và sự sống của trẻ, bao gồm buôn bán trẻ em, lao động trẻ em, mại dâm trẻ em, khiêu dâm trẻ em, ép buộc hôn nhân với trẻ em và buộc trẻ em tham gia vào các hoạt động vũ trang

2.6 Khái niệm trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng

Là trẻ em chưa bị tác động bởi các hành vi xâm hại, bóc lột và sao nhãng, nhưng có thể sẽ bị tổn thương về mặt thể chất, tinh thần, tình cảm, đạo đức

và xã hội nếu không có hoạt động phòng ngừa, can thiệp bảo vệ trẻ kịp thời

2.7 Khái niệm Bảo vệ trẻ em

Cụm từ Bảo vệ trẻ em được sử dụng để nói đến việc bảo vệ tất cả trẻ em khỏi các hình thức xâm hại, bóc lột và xao nhãng Bảo vệ trẻ em bao gồm phòng ngừa không cho các hành vi, sự việc này xảy ra với trẻ em và cả việc giải quyết khi vấn đề xảy ra Bảo vệ trẻ em còn đề cập đến trách nhiệm của cả cha mẹ, người chăm sóc, cộng đồng và chính phủ trong việc đảm bảo mọi trẻ em trong xã hội

được sống trong một môi trường an toàn

2.8 Quản lý trường hợp

Quản lý trường hợp là một loại dịch vụ BVTE đặc biệt, được tổng hợp từ nhiều loại dịch vụ BVTE liên quan khác nhằm đáp ứng tối ưu nhất nhu cầu được phòng ngừa, bảo vệ và phục hồi của trẻ em có nguy cơ hay bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng Quản lý trường hợp được chia 5 bước và cần có sự tham gia của nhiều

cơ quan chức năng và cá nhân trong quá trình tiếp nhận thông tin, đánh giá nguy

cơ, tổ chức hỗ trợ, huy động nguồn lực và duy trì một mạng lưới hỗ trợ Tuy nhiên, trong quy trình quản lý trường hợp cần có một cán bộ chuyên nghiệp được

đào tạo thực hiện vai trò ‟người quản lý trường hợp’ (QLTH) Người QLTH này

Trang 16

có trách nhiệm thiết lập hoàn thiện hồ sơ và báo cáo theo đúng quy định; kết nối

và điều phối các nguồn lực trong quá trình thực hiện kế hoạch can thiệp và hỗ trợ; thực hiện cung cấp các dịch vụ cần thiết cho trẻ em và gia đình; hay chuyển tuyến đến các dịch vụ phù hợp Tại Việt nam người QLTH có thể là cán bộ LĐTBXH hay cán bộ do UBND quyết định Người quản lý trường hợp có thể làm việc tại cấp xã, huyện hay tỉnh, tùy theo cấu trúc bảo vệ trẻ em do Bộ LĐTB&XH xây dựng

Quản lý trường hợp còn được coi là hoạt động của một nhóm người bao gồm các công việc như tổ chức, phối hợp, duy trì một mạng lưới trợ giúp để đáp ứng nhu cầu của trẻ

Phần II QUY TRÌNH QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP

Ở một số tài liệu quốc tế, quy trình quản lý trường hợp được chia thành 7 bước với những hướng dẫn kỹ thuật chi tiết cho từng giai đoạn tiếp nhận thông tin, đánh giá, lập kế hoạch, thực hiện Nhằm phù hợp hóa bối cảnh và năng lực của cán

bộ làm công tác bảo vệ trẻ em hiện nay ở Việt Nam, tài liệu này được đơn giản hóa tối đa với quy trình 5 bước Tuy nhiên, 5 bước này vẫn đảm bảo được những nội dung cơ bản trong quy trình quản lý trường hợp nói chung với các nhiệm vụ, các hoạt động và thao tác kĩ thuật cần thiết để có thể giúp các các bộ làm công tác bảo vệ trẻ em thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

Bước 1 TIẾP NHẬN THÔNG BÁO, ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ TỔN HẠI VÀ NGUY CƠ

I TIẾP NHẬN THÔNG BÁO

Bất cứ ai cũng có thể thông báo về các trường hợp trẻ em có nguy cơ hay bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng

Khi nhận được thông báo, người cán bộ QLTH phải làm những việc sau đây:

- Khai thác những thông tin cần thiết về trẻ và gia đình;

- Khai thác những thông tin về tình trạng bị tổn thương hay nguy cơ của trẻ;

Trang 17

- Khai thác những thông tin về môi trường sống và các điều kiện bảo vệ trẻ;

- Cung cấp thông tin cho người thông báo biết cách liên lạc với người đang nhận thông báo hay người có thể giúp đỡ khác:

+ Địa điểm liên lạc;

+ Tên người cần liên lạc (liên lạc với ai?);

+ Cách thức liên lạc (liên lạc như thế nào? có thể là trực tiếp với cơ quan có trách nhiệm hoặc cung cấp số máy liên lạc)

- Để người thông báo không phải lo lắng về việc tiết lộ thông tin của họ, không yêu cầu người thông báo phải cho biết tên và địa chỉ của họ nếu họ không muốn;

- Trấn an người thông báo rằng họ không phải chịu trách nhiệm về việc xác định xem trẻ em đó đã bị ngược đãi hay chưa;

- Hướng người thông báo vào việc cung cấp những thông tin cần thiết bằng các câu hỏi đóng/ ngắn theo thứ tự trong biểu mẫu ghi chép Giai đoạn này, người tiếp nhận thông báo phải hành động nhanh: đặt câu hỏi tập trung vào vấn đề chính, tránh đặt câu hỏi rườm rà, khó hiểu khiến người thông báo phải suy nghĩ lâu hoặc trả lời không chính xác Các câu hỏi bao gồm:

+ Trẻ bị tổn thương hoặc có nguy cơ bị tổn thương là ai?

+ Trẻ bao nhiêu tuổi?

+ Giới tính của trẻ?

+ Chuyện xảy ra với trẻ như thế nào?

+ Nơi ở của trẻ?

+ Tình trạng của trẻ hiện nay?

+ Người chăm sóc trẻ hiện nay là ai?

+ Nơi ở của người chăm sóc trẻ?

+ Theo người thông báo nếu không có các trợ giúp thì điều gì sẽ xảy ra?

- Theo người thông báo vấn đề là nghiêm trọng thì trấn an họ rằng cơ quan hoặc cán bộ có trách nhiệm sẽ có hành động hỗ trợ ngay lập tức

- Khẳng định lại thông tin tiếp nhận được bằng việc hỏi xem người thông báo đã cung cấp hết thông tin họ muốn thông báo chưa? Đồng thời cũng cần làm cho họ

Trang 18

yên tâm khi họ tỏ ra ngần ngại không dám cung cấp thông tin quan trọng nhất vì

có thể sợ dính dáng đến cơ quan pháp luật, hoặc lo lắng cho sự an toàn của bản thân và gia đình họ

- Tóm tắt lại những thông tin mà người thông báo cung cấp để khẳng định tính chính xác của thông tin sẽ được lưu hồ sơ

- Hướng dẫn người thông báo biết cách thức để liên lạc với cơ quan có trách nhiệm khi cần thiết:

+ Tên người/ cơ quan

+ Địa điểm

+ Thời gian

+ Số máy điện thoại để liên lạc

II GHI CHÉP THÔNG TIN VÀ LƯU HỒ SƠ

Ghi chép lại thông tin nhận được vào mẫu hồ sơ đã chuẩn bị sẵn là công việc bắt buộc để giúp cán bộ QLTH không quên những thông tin quan trọng Đặc biệt, đây là chính là hồ sơ mang tính pháp lý về một dịch vụ bảo vệ trẻ em chính thức

Viết vào biểu mẫu hồ sơ những thông tin được cung cấp, không nên bỏ sót thông tin gì vì mọi thông tin đều quan trọng dù là rất nhỏ vì ngay lúc đầu chưa

có đủ điều kiện để đánh giá mức độ quan trọng của các thông tin

Những thông tin nhận được từ người thông báo cần được điền vào biểu mẫu tiếp nhận thông báo (biểu mẫu 1), nó là một phần trong Hồ sơ của trẻ

Hồ sơ của trẻ bao gồm các thông tin được sắp xếp theo trình tự thời gian liên quan đến hoàn cảnh, sự việc của trẻ và các hình thức trợ giúp trẻ đã nhận được Những quan điểm cá nhân của cán bộ bảo vệ trẻ em không được lưu trong

hồ sơ này

Để đảm bảo tính bảo mật trong lưu giữ hồ sơ, chỉ những cán bộ có trách nhiệm, có thẩm quyền mới được tiếp cận hồ sơ của trẻ Tránh để lộ cho những

Trang 19

người không có trách nhiệm, không có thẩm quyền biết đến những thông tin đã được tiếp nhận liên quan đến trẻ và gia đình hay thông tin của người thông báo

Để thuận lợi cho việc tìm kiếm và sử dụng hồ sơ, cần có một cặp đựng tài liệu riêng cho mỗi một trường hợp và viết tên của trẻ lên đó hoặc đánh mã số

Trong trường hợp theo thông báo có nhiều trẻ là nạn nhân, nên lập từng hồ

sơ riêng biệt cho mỗi trường hợp

Cất hồ sơ của trẻ vào nơi an toàn tại văn phòng

Các thông tin cần thu thập và lưu trong hồ sơ:

+ Các thông tin nhân khẩu về trẻ như:

Tên của trẻ

Tuổi trẻ

Giới tính của trẻ

Nơi ở của trẻ

+ Thông tin về gia đình và môi trường chăm sóc của trẻ:

Tên cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng trẻ;

Nghề nghiệp của cha mẹ trẻ hoặc người nuôi dưỡng

Nơi ở của gia đình trẻ hoặc nơi ở của gia đình người nuôi dưỡng

bao gồm cả địa điểm và thời gian vấn đề xảy ra

+ Các dạng tổn thương của trẻ: một trẻ có thể có một hoặc hơn một các dạng tổn hại sau:

Thân thể: Trẻ bị đánh đập, tát, bóp cổ, làm cho bị bỏng, đầu độc, dìm xuống nước hoặc bị bỏ rơi không được chăm sóc đầy đủ về thể chất Tình cảm: trẻ bị suy sụp về tinh thần khi không được thương yêu, quan tâm một cách thích hợp hoặc trẻ bị mắng chửi, kỳ thị, lăng nhục…

Tâm lý: trẻ bị tổn thương hoặc bị giảm nhận thức về cái tôi, giá trị và năng lực bản thân từ đó tác động tiêu cực đến trí tụê của trẻ

Tình dục: Động chạm vào cơ thể trẻ hoặc sờ mó cơ thể trẻ hoặc giao cấu với trẻ

Trang 20

Chứng kiến bạo lực trong gia đình: Trẻ bị tổn thương khi phải chứng kiến hành vi bạo lực của các thành viên trong gia đình

Bị bóc lột vì mục đích thương mại: Trẻ bị bắt lao động nặng nhọc, độc hại hoặc trong những hoạt động khác nhằm làm lợi cho người khác

Bị bỏ rơi, sao nhãng: trẻ không được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ, bao gồm ăn mặc, học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi và thiếu đời sống tình cảm

+ Các hình thức nguy cơ trẻ đang gặp phải: một trẻ có thể có một hoặc hơn một các dạng nguy cơ sau:

 Trẻ có nguy cơ không được chăm sóc đầy đủ về thể chất và tình cảm

 Trẻ có nguy cơ bị bạo hành về thể chất và tinh thần

 Trẻ có nguy cơ bị bóc lột sức lao động và/hoặc bóc lột tình dục

 Trẻ có nguy cơ vi phạm pháp luật, bao gồm cả việc sử dụng và vận chuyển

ma túy

 Trẻ sống trong một môi trường thường xuyên có bạo lực và phải chứng kiến bạo lực

+ Thông tin tiền sử:

Trước đó trẻ đã bao giờ bị tổn thương hay gặp nguy cơ như vậy chưa? Dạng tổn thương nào và nguy cơ nào?

Đã có sự can thiệp như thế nào?

+ Quá trình dịch vụ can thiệp:

Trẻ đã nhận được sự hỗ trợ can thiệp nào?

Số lần nhận được sự hỗ trợ can thiệp?

Tác động của sự hỗ trợ can thiệp?

Lưu ý: Những thông tin trong hồ sơ của trẻ cần đảm bảo:

+ Được kiểm tra về tính chính xác trước khi đưa vào hồ sơ;

+ Có tính chuyên môn;

+ Thể hiện sự tôn trọng;

+ Có liên quan tới trẻ và tình trạng bị xâm hại hay nguy cơ của trẻ

Trang 21

III ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG VÀ NGUY CƠ

Dựa trên thông tin của người thông báo, cán bộ QLTH phải tự đánh giá sơ

bộ mức độ trẻ bị tổn thương hay nguy cơ của các dạng xâm hại, bóc lột và sao nhãng Cán bộ QLTH cần trả lời các câu hỏi sau:

- Liệu hiện nay trẻ đã bị tổn thương hoặc có nguy cơ bị tổn thương nếu không có

- Đánh giá về người/yếu tố gây ra tổn thương cho trẻ:

 Thủ phạm/yếu tố có còn khả năng gây tổn thương đến trẻ hay không?

 Người chăm sóc chính hiện nay có cam kết đủ nguồn lực và khả năng bảo

vệ và chăm sóc trẻ trong lúc này không?

- Đánh giá về môi trường chăm sóc trẻ:

 Có ai là người thân (gia đình, họ hàng) có khả năng và muốn bảo vệ hay chăm sóc trẻ trong lúc này không?

- Đưa ra kết luận cán bộ QLTH về việc trẻ có ở trong nguy cơ bị tổn thương hay không nếu không có sự giúp đỡ

Dựa trên cơ sở đánh giá sơ bộ về tình trạng tổn thương nói trên, cán bộ QLTH cần phải đưa ra những kết luận về nhu cầu bảo vệ và chăm sóc của trẻ Có hai trường hợp xảy ra: một là, trẻ đang ở trong tình trạng khẩn cấp cần có biện

Trang 22

pháp can thiệp ngay; hai là, trẻ cần được trợ giúp nhưng không khẩn cấp Với các trường hợp cần được can thiệp khẩn cấp, cán bộ QLTH phải viết rõ trong hồ sơ (Mẫu 1) các nhu cầu cần can thiệp là gì? Biện pháp can thiệp như thế nào? Ai thực hiện các biện pháp này? và Thời gian thực hiện biện pháp là bao lâu?

Trên kinh nghiệm thực tế, các trường hợp cần được can thiệp khẩn cấp là các trường hợp sau đây:

 Trẻ bị xâm hại tình dục và trẻ bị xâm hại nghiêm trọng về thể chất đều được hiểu là có đe doạ đến sự an toàn của trẻ Trẻ bị xâm hại nghiêm trọng về tâm lý và tình cảm;

Đối với trường hợp trẻ bị xâm hại nghiêm trọng bởi thành viên của gia đình,

để đảm bảo an toàn cho trẻ tại gia đình, cán bộ QLTH cần phối hợp ngay với chính quyền để:

 Tách thủ phạm ra khỏi gia đình

 Hỗ trợ gia đình đủ khả năng bảo vệ trẻ

 Hỗ trợ trẻ có đủ khả năng để tự bảo vệ mình (trẻ đủ lớn)

Trang 23

Khi không đủ điều kiện để thực hiện kế hoạch đảm bảo an toàn cho trẻ tại gia đình thì có thể đưa trẻ vào một môi trường chăm sóc thay thế tạm thời Để thực hiện kế hoạch an toàn cho trẻ ngoài gia đình cần:

Tìm kiếm người thân gần gũi có thể đảm nhiệm việc chăm sóc trẻ trong khoảng thời gian ngắn nhưng cần phải đánh giá khả năng của người đó về việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ trẻ và duy trì sự an toàn cho trẻ với những yêu cầu sau đây:

 Người đó không có tiền sử về tệ nạn xã hội (ma tuý, mại dâm, cờ bạc ) hoặc rượu;

 Người đó không có tiên sử gây tổn hại cho trẻ em;

 Gia đình không tiến sử về bạo lực;

 Người đó hiểu được các nhu cầu chăm sóc, bảo vệ trẻ;

 Có khả năng tài chính phù hợp để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ trẻ;

 Chấp nhận việc giám sát của Cán bộ QLTH trong thời gian nhận chăm sóc trẻ

Nếu không tìm được người thân với các điều kiện trên thì cần tìm kiếm một gia đình thay thế trong cộng đồng thoả mãn các điều kiện như đã trình bày ở trên và có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ

Trường hợp không tìm được một gia đình thay thế tại cộng đồng thì

có thể đưa trẻ vào một cơ sở chăm sóc tập trung gần nhất với nơi ở cũ của trẻ

Trường hợp điển cứu:

Lan hiện 10 tuổi Khi Lan 6 tuổi, bố cô bé chết vì bệnh ung thư Lan cùng hai em gái của mình, 4 tuổi và 2 tuổi phải chăm sóc mẹ Một năm sau mẹ Lan tái giá Gần đây, giáo viên của Lan nhận thấy một sự thay đổi đáng kể trong tính cách, hành vi

và việc đi học của em Người giáo viên nói rằng có những thời gian dài Lan không đến trường Khi đến thì em thường mặc quần áo bẩn, quá bé và mỏng không đủ

ấm Lan không còn cười hay chơi với những bạn gái khác Lan thường ngồi một

Trang 24

mình và không trả lời khi người lớn hỏi chuyện Trước đó một tháng, Lan còn là một cô bé vui vẻ và hạnh phúc rất được các bạn gái khác yêu mến Khi người giáo viên hỏi có chuyện gì xảy ra thì Lan bắt đầu khóc nhưng vẫn nói rằng không có gì đáng lo cả Lan rất lo lắng và đã cầu xin khi người giáo viên tỏ ý muốn gặp và nói chuyện với bố mẹ em Sau đó Lan kể rằng em rất đau khổ khi ở nhà Bố dượng đã chộp lấy và sờ vào người em khi mẹ em đi chợ Bố dượng thường xuyên đánh, đá

em ngay cả khi người mẹ ở nhà Lan phải làm tất cả việc nhà, nấu ăn và chăm sóc đứa em gái Em nói là mẹ em uống rất nhiều rượu, còn bố dượng thì nghiện ma túy và bán ma túy ngay tại nhà Khi em nói với mẹ việc bố dượng chạm vào người mình thì mẹ em lại buộc tội em nói dối và muốn phá vỡ cuộc hôn nhân của bà Lan

kể với cô giáo rằng bố dượng nói mẹ em không hề thương em và nếu em kể mọi chuyện thì ông ta sẽ giết ba chị em Lan nói hai đứa em bị cấm không được nói chuyện với chị nếu không sẽ bị đánh… Lan chỉ biết khóc khi bị bố dượng đánh đập, sờ vào người, cười và nói em là đứa ngu ngốc Lan kể bố dượng còn làm cho

mẹ em tin rằng em rất hư và ăn cắp đồ của ông ta Mẹ em tin người bố dượng Lan bảo mẹ thường không cho em ăn và nói “không được cho những đứa con gái hư đốn ăn”, vì thế Lan thường xuyên bị đói Khi được ăn thì thức ăn toàn là đồ ăn kém chất lượng so với những gì cả gia đình ăn Thỉnh thoảng buổi đêm bố dượng lại đẩy em ra khỏi nhà và nói “ con bé này không ngoan nên không được ở cùng gia đình” Lan cầu xin cô giáo đừng kể chuyện này cho bất kỳ ai

Trang 25

Mẫu 1: TIẾP NHẬN THÔNG TIN VÀ ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ MỨC ĐỘ TỔN

THƯƠNG VÀ NGUY CƠ TRẺ BỊ XÂM HẠI, BÓC LỘT VÀ SAO NHÃNG

A Tiếp nhận thông tin ban đầu

1 Nhận được thông tin:

Thông qua (điện thoại/gặp trực tiếp/người khác báo): ……… Thời gian (mấy giờ)……… Ngày…… tháng……… năm………… …… Cán bộ tiếp nhận ……… Địa điểm ………

Số hiệu tạm thời của trường hợp………

2 Thông tin về trẻ

Họ tên (nếu được biết) ………Tuổi……… (hoặc ước lượng tuổi) Giới tính: Nam………Nữ………Không biết……… Địa điểm (trẻ đang ở đâu vào thời điểm nhận được thông báo?)……… ………

Họ tên cha của trẻ……… Họ tên mẹ của trẻ……… Hoàn cảnh gia đình………

……… Tình trạng hiện tại của trẻ: ………

………

………

Trang 26

Những hành động can thiệp đã được thực hiện đối với trẻ trước khi thông báo:

………

………

3 Thông tin về người báo tin - nếu đồng ý cung cấp

Họ tên……… Số điện thoại ……… Địa chỉ……… Ghi chú thêm………

Cán bộ tiếp nhận thông tin (ký tên)

Trang 27

B Đánh giá sơ bộ và thực hiện các biện pháp can thiệp khẩn cấp

Ngày, tháng, năm tiến hành đánh giá:………

Chỉ số đánh

phục hồi và bảo vệ của trẻ

Mức độ: Cao, Trung bình, Thấp

Cao (trẻ có khả năng tự phục hồi

được những tổn thương); Trung bình (trẻ có ít khả năng tự phục hồi được những tổn thương);

có cơ hội nhưng không thường xuyên tác động đến

có nguy cơ

Cao ( Trẻ có khả năng tìm được

người bảo vệ/giúp đỡ hữu hiệu);

Trung bình (Trẻ có ít khả năng

tìm được người bảo vệ/giúp đỡ

hữu hiệu); Thấp (Trẻ không có

khả năng tìm người bảo vệ/giúp đỡ)

Trang 28

Kết luận về tình trạng của trẻ:

- Trường hợp chỉ số "Mức độ tổn thương và nguy cơ" ở mức độ Cao và chỉ số về

"Khả năng tự phục hồi và bảo vệ" ở mức độ Thấp: Trẻ đang trong tình trạng cần can

thiệp khẩn cấp - cần thực hiện ngay các biện pháp can thiệp khẩn cấp cho trẻ trước khi

thực hiện bước tiếp theo

- Trường hợp khác, có thể tiếp tục các bước tiếp theo của quy trình

2 Các biện pháp can thiệp khẩn cấp cho trẻ:

Nhu cầu khẩn

cấp của trẻ

Biện pháp/Dịch vụ cung cấp

Đơn vị thực hiện/cung cấp dịch vụ

Thời gian thực hiện

Thực hiện trong vòng 24 tiếng

Nơi nhận: Cán bộ thực hiện

- Chủ tịch UBND xã (thay báo cáo); (ký tên)

- Lưu hồ sơ

Trang 29

Bước 2: XÁC MINH VÀ ĐÁNH GIÁ TOÀN DIỆN

1.2 Ghi chép tổng hợp thông tin về trẻ: :

thông tin về trẻ, thông tin về tình hình

chăm sóc, thông tin về ngươi nghi ngờ gay

nguy cơ (đánh giá dựa

trên cho điểm)

Error! Objects cannot be created from editing field codes

1 Không có bằng chứng

về xâm hại xảy ra với

trẻ

2 Không có bằng chứng về xâm hại xảy ra với t rẻ

3 Chưa có đầy đủ thông tin và không kết luận

được trẻ đã

bị xâm hại hay chưa

4 Có bằng chứng về xâm hại xảy ra với trẻ

Không cần cung cấp thêm sự hỗ trợ/giúp đỡ

Có chứng

cớ cho thấy gia đình có

vấn đề khác

Chuyể

n đến nơi có

trách nhiệ

m xem xét

Tiến hành điều tra thêm

Kết luận về xâm hại

Thu thập thông tin, tìm bằng

cớ về

sự xâm hại

Nội dung: Hiện trạng

xâm hại, tình hình chăm sóc hiện nay, tình hình chăm sóc trẻ trước đây

Trang 30

A XÁC MINH

I XÁC MINH LÀ GÌ?

Xác minh là quá trình thu thập thông tin và bằng chứng để đưa ra kết luận

về việc trẻ có bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay có nguy cơ không Việc xác minh

sẽ được thực hiện khi các thông tin thông báo cho thấy trẻ đang ở trong tình trạng tổn thương hoặc có nguy cơ hay tiếp tục bị tổn thương Công việc này được tiến hành bởi cán bộ QLTH

II CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA XÁC MINH

Để thực hiện tốt bước công việc xác minh, người cán bộ cần thực hiện ba hoạt động sau:

1 Hoạt động 1: Thu thập thông tin

Thu thập thông tin là quá trình cán bộ QLTH sẽ liên lạc, gặp gỡ những

người có liên quan để tìm hiểu thông tin về trường hợp trẻ em được báo bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hoặc có nguy cơ bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng Cầnthu thập thông tin liên quan trẻ em từ thời điểm trước đây cho đến hiện tại, bao gồm: + Hoàn cảnh gia đình

+ Điều kiện sống

+ Cách thức chăm sóc, đối xử của các thành viên trong gia đình đối với trẻ

1.1 Liên lạc, gặp gỡ với những người có liên quan đến vụ việc

Tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng vụ việc xảy ra với trẻ mà cán bộ sẽ liên lạc với những người có liên quan, đặc biệt là những người có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của trẻ Để quá trình liên lạc, gặp gỡ diễn ra xuôn sẻ và không

để sót những người có liên quan, người cán bộ lên danh sách một bản liệt kê tất cả những người liên quan, như:

1) Bản thân trẻ;

2) Cha mẹ/người nuôi dưỡng/người bảo hộ của trẻ;

3) Anh/chị/em của trẻ;

Trang 31

4) Người đã xâm hại/người bị tình nghi xâm hại trẻ em

- Nếu trong trường hợp vụ việc cho thấy có hành vi phạm tội, thì cần để công an tiếp xúc với người có hành vi phạm tội trước nhằm phỏng vấn, thu thập những bằng chứng cho thủ tục tố tụng sau này

- Đối với người bị nghi vấn đã xâm hại trẻ em, cần thông báo cho họ biết về mục đích của việc xác minh là để xác định xem người đó có gây ra những tổn hại cho trẻ hay không

5) Những người họ hàng có liên quan đến việc chăm sóc trẻ hoặc biết rõ về

quá trình chăm sóc của trẻ

6) Những người có liên quan tại cộng đồng (hàng xóm, giáo viên, nhân viên

y tế); có thể những người này đã chứng kiến việc xâm hại, bóc lột hay sao nhãng xảy và biết rõ về tình hình chăm sóc trẻ và có khả năng sẽ trở thành người chăm sóc trẻ trong tương lai

7) Những cơ quan, tổ chức và các cá nhân giúp đỡ khác (các tổ chức đoàn

thể, Ủy ban Nhân dân, phóng viên báo chí ) có thể biết về hoàn cảnh của trẻ và gia đình; các cơ quan, bộ ngành khác; và các tổ chức có chương trình, dự án tham gia giúp đỡ trẻ tại cộng đồng

Lưu ý: Khi lập danh sách những người cần liên hệ để thu thập thông tin,

người cán bộ nên ghi càng cụ thể, chi tiết (tên, địa chỉ, số điện thoại ) của người cần gặp càng tốt Có nhiều cách thức liên lạc gặp gỡ thu thập thông tin:

(1) gặp trực tiếp

(2) trao đổi qua điện thoại, thư đề nghị

Trong mỗi trường hợp cụ thể tùy vào điều kiện mà người cán bộ sử dụng cách thức liên lạc phù hợp

Khi liên hệ hẹn gặp, người cán bộ cần lưu ý 5 vấn đề sau:

(1) giới thiệu mình là cán bộ QLTH

(2) trình bày rõ lý do cần gặp gỡ để tìm hiểu thông tin về trẻ

(3) trình bày nội dung cần tìm hiểu (hoàn cảnh của trẻ, sự việc xảy ra như thế nào, quá trình chăm sóc trẻ từ trước đến nay )

Trang 32

(4) xin lịch hẹn vào giờ, ngày, tháng năm nào và địa điểm gặp gỡ

(5) sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc và cách thức xưng hô phù hợp

1.2 Thu thập thông tin

Khi thực hiện thu thập thông tin về các sự việc có liên quan đến vụ việc xảy

ra với trẻ, cán bộ phải tìm kiếm thông tin liên quan đến ba nội dung sau:

- Hiện trạng trẻ bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay có nguy cơ

- Tình hình chăm sóc trẻ hiện nay

Trẻ đã lần nào bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng chưa? Trẻ bị xâm hại, bóc lột,

sao nhãng như thế nào? (bị

đánh, không cho ăn uống,

mắng nhiếc…)

Ai là người chăm sóc trẻ?

Trước đây ai là người chính chăm sóc trẻ?

Ai/yếu tố nào gây tổn

đủ về các mặt thể chất, tinh thần…)

Việc xâm hại, bóc lột, sao

nhãng trẻ có chủ ý hay

không có chủ ý trước?

Trẻ đã được chăm sóc như thế này đã được bao lâu?

Trong quá khứ trẻ sống ở đâu?

Việc xâm hại, bóc lột, sao Trẻ được đáp ứng các Người chăm sóc trước đây

Trang 33

nhãng đã xảy ra bao lâu

rồi và ở đâu?

nhu cầu chăm sóc như thế nào?

có thể hiện đủ khả năng và mong muốn bảo vệ trẻ không?

Đã có người nào cố gắng

bảo vệ/giúp đỡ trẻ không?

Hiện nay, những ai thể hiện vai trò bảo vệ/giúp

đỡ trẻ ?

Có vấn đề gì trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc trẻ trước đây không?

Tại sao trẻ không được

bảo vệ/giúp đỡ?

Những người khác trong cộng đồng có biết đến

vụ việc của trẻ không?

Còn có trẻ em nào khác bị

xâm hại, bóc lột, sao

nhãng hay có nguy cơ như

vậy không?

Người/yếu tố gây tổng thương có dễ tác động đến trẻ không?

Có thể thu thập thông tin thông qua những cách sau:

(1) Phỏng vấn những người đóng vai trò quan trọng chăm sóc trẻ;

(2) Quan sát:

- Những người gần gũi, chăm sóc trẻ;

- Mối quan hệ giữa những người gần gũi, chăm sóc trẻ

(3) Thăm quan thực tế điều kiện sống, vật chất nơi nuôi dưỡng trẻ;

(4) Đọc các tài liệu, văn bản có liên quan đến trẻ

Phỏng vấn:

Trang 34

Thực hiện phỏng vấn với những người quan trọng liên quan đến vụ việc Đây là cách thức chính để thu thập được thông tin Cán bộ QLTH sẽ gặp gỡ, trò chuyện một cách khéo léo và tế nhị để lấy thông tin Để làm được việc này trong cuộc phỏng vấn, người cán bộ cần:

- Trình bày mục đích của buổi phỏng vấn – để xác định xem việc xâm hại, bóc lột, sao nhãng đã xảy ra hay chưa và để điều tra tình hình hoàn cảnh chăm sóc của trẻ;

- Thể hiện sự tôn trọng, thân thiện và đưa ra những câu hỏi phù hợp với người được phỏng vấn;

- Tạo dựng mối quan hệ tin tưởng;

- Nói rõ thẩm quyền và thể hiện tinh thần của cán bộ với công tác bảo vệ trẻ em đảm bảo sự an toàn và vì mục đích tốt nhất của trẻ;

Quan sát:

Trong quá trình thu thập thông tin, người cán bộ QLTH quan sát thái độ, hành vi, biểu hiện thực tế của những người này đối với sự việc xảy ra với trẻ Việc quan sát và những ghi chép là tư liệu quan trọng giúp người cán bộ có minh chứng

về vụ việc xảy ra và mức độ quan tâm của những người được phỏng vấn

Thăm quan thực tế các điều kiện sống, vật chất:

Người cán bộ xuống tận địa bàn/gia đình để xem xét điều kiện vật chất, điều kiện sống của trẻ Ví dụ như nơi ở của trẻ có được sạch sẽ, an toàn cho trẻ không? Trẻ có được chỗ nằm an toàn, đủ quần áo mặc không? Hoặc, có thể tiếp xúc nói chuyện với những người hàng xóm xung quanh để hiểu hơn về cuộc sống hàng ngày của trẻ cũng như thái độ và mức độ quan tâm chăm sóc của người nuôi dưỡng

Đọc các tài liệu, văn bản có liên quan đến trẻ:

Bên cạnh các hình thức thu thập thông tin trực tiếp, người cán bộ cần thu thập thông tin gián tiếp thông qua các nguồn tài liệu, văn bản có liên quan đến trẻ Nguồn tài liệu này là: những ghi chép của những đồng nghiệp trước đây; các bản

tự khai của trẻ/người chăm sóc trẻ; tài liệu, hồ sơ cá nhân, gia đình, báo cáo thực

Trang 35

trạng chăm sóc trẻ em được lưu trữ tại thôn/xã/phường; đơn từ tố cáo xâm hại trẻ em…

Lưu ý:

- Khi tìm kiếm thông tin, người cán bộ chỉ được tìm kiếm, khai thác từ người khác những thông liên quan trực tiếp đến tình hình chăm sóc trẻ em không được tận dụng cơ hội này để tìm kiếm thông tin về những khía cạnh khác trong cuộc sống của trẻ và gia đình

- Người cán bộ cần đảm bảo tuân thủ quy định giữ bí mật của thông tin như không được tiết lộ thông tin của trẻ và gia đình trẻ ra ngoài cho những người không liên quan, người cán bộ có trách nhiệm bảo mật những ghi chép thông tin

về trẻ và gia đình để tránh người không liên quan có được thông tin đó

2 Hoạt động 2: Ghi chép, tổng hợp thông tin

Trong quá trình thu thập thông tin người cán bộ cần ghi chép tất cả thông tin

có liên quan đến tình hình chăm sóc trẻ cần để lưu lại với mục đích:

- Thu thập bằng chứng cho những kết luận điều tra về việc trẻ đã bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay chưa?

- Làm bằng chứng cho những quyết định liên quan đến hành vi phạm tội hoặc quyết định tách trẻ khỏi môi trường chăm sóc gia đình và đưa vào môi trường chăm sóc mới

- Làm cơ sở cho việc lập kế hoạch cho trẻ một cách chính xác

Cán bộ có thể sẽ thu thập được rất nhiều thông tin về sự xâm hại, bóc lột, sao nhãng và tình hình chăm sóc trẻ Có hai „quy tắc‟ quan trọng khi ghi chép các thông tin thu thập được:

- Sắp xếp thông tin thu thập được theo các nội dung như:

+ thông tin về trẻ,

+ thông tin về cha, mẹ/người chăm sóc trẻ,

+ thông tin về đối tượng/yếu tố gây tổn thương

+ đánh dấu những thông tin quan trọng

Trang 36

- Thực hiện ghi chép theo một mẫu chuẩn, thống nhất

3 Hoạt động 3: Kết luận

Dựa trên thông tin đã thu thập đƣợc, cán bộ QLTH cần phải đƣa ra kết luận về việc trẻ có bị xâm hại, bóc lột hay sao nhãng hay không Để đƣa ra một kết luận, cần phải có những bằng chứng rõ ràng và những bằng chứng này phải đƣợc lấy từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo tính chính xác và khách quan Sau đây là một

số gợi ý về những biểu hiện làm căn cứ xác định các dạng xâm hại của trẻ:

Các dấu hiệu trên thân

thể Các dấu hiệu hành vi, thái độ Kết luận

- Thể hiện sự kinh hãi hoặc hoảng loạn

- Trẻ phải xin và ăn cắp thức ăn

- Trẻ trông mệt mỏi, bơ phờ và hay ngủ gật

Sao nhãng

Trang 37

- Trẻ hay tấn công gây sự với những trẻ em khác vì chúng có nhiều thứ hơn, ví dụ như thức ăn,

vùng ngoài cơ quan sinh

dục hay hậu môn

- Trẻ không có mối quan hệ tốt với bạn cùng tuổi

Xâm hại tình dục

hoảng loạng, sơ hãi…

- Trẻ đáp lại tình cảm của người khác không phù hợp

- Trẻ đòi hỏi tình cảm và bám víu người khác

- Trẻ không gắn kết về tình cảm với người khác

- Trẻ cư xử thô lỗ, không quan tâm đến tình cảm của người khác

- Trẻ không định hình được mình là

Xâm hại tình cảm/ tâm lý

Trang 38

ai

- Trẻ tự thấy bản thân mình không

có giá trị, vô ích, không quan trọng, đánh giá thấp bản thân

- Trẻ không cho là trẻ có năng lực

để hoạt động hiệu quả với thế giới xung quanh

Sau khi có được những bằng chứng cụ thể, người cán bộ cần đưa ra kết luận trẻ em đã bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay chưa và/hoặc có nguy cơ hay không Sau đây là bốn kết luận có thể có được từ những kết quả của quá trình xác minh:

3 Chưa có đầy đủ thông

tin và không kết luận được

trẻ đã bị xâm hại hay chưa

4 Có bằng chứng về

xâm hại xảy ra với trẻ

Không cần cung cấp thêm sự hỗ trợ/giúp đỡ

Có chứng cớ cho thấy gia đình có vấn đề khác

Chuyển đến nơi có trách nhiệm xem xét

Tiến hành điều tra thêm

Kết luận về xâm hại

Thu thập thông tin, tìm bằng cớ về

sự xâm hại

Đánh giá nguy cơ

Trang 39

Ghi chú: Trong quá trình xác minh, người cán bộ cần lưu ý đến những nhu cầu

cấp thiết đảm bảo sự an toàn cho trẻ bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng và có nguy cơ

để có biện pháp kịp thời hỗ trợ và đảm bảo an toàn cho trẻ

B ĐÁNH GIÁ TOÀN DIỆN

Sau khi đã có kết luận về việc trẻ bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay có nguy cơ, cán bộ QLTH cần tiến hành bước đánh giá mức độ tổn thương và nhu cầu của trẻ

để làm cơ sở xây dựng kế hoạch can thiệp Để đánh giá được toàn diện, cán bộ QLTH cần đánh giá cả trẻ, đối tượng chăm sóc, đối tượng xâm hại và môi trường

chăm sóc của trẻ Cán bộ QLTH sẽ đánh giá và cho điểm từng đối tượng theo

nguyên tắc:

Điểm +1 hoặc -1: Yếu tố đang đề cập đến diễn ra ở mức độ yếu

Điểm +2 hoặc -2: Yếu tố đang đề cập đến diễn ra ở mức độ trung bình

Điểm +3 hoặc -3: Yếu tố đang đề cập đến diễn ra ở mức độ cao

Đánh giá trẻ: Cần tập trung đánh giá các nội dung sau đây:

+ Sức khỏe thể chất hiện nay (chú ý đến độ tuổi, giới tính…)

+ Sức khỏe tinh thần (dấu hiệu về hành vi và thái độ có giống trẻ bình thường không…)

+ Nhận thức của trẻ (học lớp mấy, hiểu biết )

+ Khả năng tự khẳng định bản thân của trẻ

+ Các mối quan hệ xã hội của trẻ

+ Khả năng tự chăm sóc và bảo vệ bản thân của trẻ

+ Khả năng tiếp cận đến các dịch vụ bảo vệ trong trường hợp cần thiết

+ Khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản…

Ví dụ: Bảng tổng hợp đánh giá trẻ

Trang 40

trường hợp bé Lan

NHỮNG ĐIỂM TỐT +1 +2 +3

3 Trẻ có thể liên lạc được với người có

NHỮNG ĐIỂM XẤU TỚI TÌNH TRẠNG CỦA TRẺ

4 Mức độ xâm hại ảnh hưởng đến việc

5 Các yếu tố cản trở khả năng tự bảo

Ngày đăng: 03/07/2017, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w