Một sốnơi, di tích bịlấn chiếm, khai thác bừa bãi, chưa được chăm lo gìn giữ, phục hồi nên có nguy cơ bịmai một.Trướcnhững cảnh báo trên, công tác bảo tồn và phát huy những giá trịhiện c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH HUYỀN
VẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT
NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH HUYỀN
VẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬTTHỂĐƯỢCUNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn ThịMinh Thái
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập Các kết quả, sốliệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng chính xác của các cơ quan chức năng
đã công bố Những kết luận khoa học trong luận văn là mới và chƣa có tác giảcôngbốtrong bất kì công trình khoa học nào
Tác giảluận vănNguyễn Thanh Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đềtài, tôi đã nhận được sựgiúp đỡtận tình của các thầy
cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn sựgiúp đỡquý báu đó.Trước hết, tôi xin được bày tỏlòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn ThịMinh Thái, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cũng như định hướng vềphương pháp làm việc, phương pháp nghiên cứu và tạo mọi điều kiện đểtôi hoàn thành luận văn này.Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong chuyên ngành Báo chí học, các thầy cô trong Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt những năm học vừa qua.Tôi xin cảm ơn sựgiúp đỡ, tạo điều kiện lãnh đạo Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, ông Nguyễn Sự-Nguyên Bí thư TP Hội An, lãnh đạo, ban biên tập Báo điện tửĐất Việt, các phóng viên của báo điện tửVnExpress, báo điện tửVietNamNet Cuối cùng, tôi xin bày tỏlòng biết ơn với gia đình, người thân và bạn bè vềsựđộng viên giúp đỡtrong suốt quá trình học tập và hoànthành luận văn
Hà Nội, ngày 10tháng 4 năm 2017
Học viên Nguyễn Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
CÁC TỪVIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC BẢNG
BIỂUMỞĐẦU
11 Lý do chọn đềtài 1
2 Lịch sửnghiên cứu đềtài 4
3 Mục đích và nhiệm vụnghiêncứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sởlý luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đềtài 12
7 Kết cấu của luận văn 13
CHƯƠNG 1 CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 14
1.1 Hệthống khái niệm liên quan đến đềtài 14
1.1.1 Các khái niệm vềdi sản văn hóa và di sản văn hóa vật thể 14
1.1.2 Các khái niệm vềdi sản trong Công ước bảo vệdi sản văn hóa và thiên nhiên thếgiới năm 1972 của UNESCO 15
1.1.3 Các khái niệm di sản văn hóa được sửdụng trong Luật di sản văn hóa Việt Nam 2001 18
1.1.4 Khái niệm Bảo tồn và phát huy 20
1.1.5 Khái niệm báo điện tử 20
1.2 Di sản vănhóa được UNESCO công nhận tại Việt Nam 22
1.2.1 Tổchức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc –UNESCO 22
Trang 61.2.2 Tiêu chí bình chọn di sản văn hóa vật thểcủa UNESCO 24
1.2.3 Những di sản văn hóa vật thểUNESCO công nhận được lựa chọn khảo sát trong luận văn 26
1.3 Vai trò của báo chí với vấn đềbảo tồn và pháthuy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam 32
1.4 Quan hệtruyền thông giữa loại hình báo điện tửvới vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam 34
1.4.1 Ngôn ngữloại hình của báo điện tử 34
1.4.2 Ưu thếvềloại hình của báo điện tửtrong truyền thông vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam.35 Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG TRÊN BÁO ĐIỆN TỬVỀVẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM 42
2.1 Vài nét vềcác báo điện tửđược khảo sát 42
2.1.1 Báo điện tửVnExpress 42
2.1.2 Báo điện tửVietNamNet 43
2.1.3 Báo điện tửĐất Việt 43
2.2 Thực trạng truyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa: Quần thểdi tích cốđô Huế, PhốcổHội An trên báo điện tửVnExpress, VietNamNet, Đất Việt (từ01/2014-12/2015) 44
2.2.1 Tiêu chí chọn bài báo điện tửkhảo sát 44
2.2.2 Sốlượng bài của 3 báo điện tửvềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa: Quần thểdi tích cốđô Huế, PhốcổHội An (01/2014 -12/2015)45 2.2.3 Nội dung các bài báo điện tửvềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịcủa 2 di sản văn hóa: Quần thểdi tích cốđô Huế, PhốcổHội An trên 3 báo điện tửkhảo sát 47
Trang 72.2.4 Hình thức thểhiện tác phẩm báo chí điện tửcủa VnExpress, VietNamNet, Đất Việt vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trị2 di sản văn hóa: Quần thểdi tích cốđô
Huế, PhốcổHội An 56
2.3 Thực trạng truyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản thiên nhiên: Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha -KẻBàngtrên báo điện tửVnExpress, VietNamNet, Đất Việt (từ01/2014-12/2015) 62
2.3.1 Sốlượng bài của 3 báo điện tửvềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản thiên nhiên: Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha -KẻBàng 62
2.3.2 Nội dung các bài báo điện tửvềvấn đềbảo tồnvà phát huy giá trịcủa 2 di sản thiên nhiên: Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha -KẻBàng trên 3 báo điện tửkhảo sát 65
2.3.3 Hình thức thểhiện tác phẩm báo chí điện tửcủa VnExpress, VietNamNet, Đất Việt vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trị2 di sản thiên nhiên: Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha -KẻBàng 69
2.4.So sánh thực trạng truyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịhai di sản văn hóa và hai di sản thiên nhiên trên 3 báo điện tửkhảo sát 72
2.4.1 Vềsốlượng tác phẩm 72
2.4.2 Vềnội dung 73
2.4.3 Vềhình thức thểhiện 74
2.5 Đánh giá chung vềthực trạng truyền thông vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận trên 3 báo điện tửVietNamNet, VnExpress, Đất Việt 75
2.5.1 Thành công vềnội dung và hình thức 75
2.5.2 Hạn chếvềnội dung và hình thức 82
Tiểu kết chương 2 90
CHƯƠNG 3.BÀI HỌC VÀ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG VỀVẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 92
Trang 83.1 Bài học truyền thông rút ra từvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử 92
3.2 Mô hình truyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử 107
Tiểu kết chương
3 119
KẾT
LUẬN 120TÀI LIỆU THAM KHẢO 123PHỤLỤC 126
Trang 91 Lý do chọn đề tàiLà đất nước có bềdày truyền thống lịch sử, văn hóa và điều kiện tựnhiên đặc sắc, vì vậy, tài sản văn hóa ởViệt Nam rất phong phú, đa dạng Cho đến tháng 11/2004, BộVăn hóa -Thông tin Việt Nam đã xếp hạng 2829 di tích lịch sửvăn hóa và danh lam thắng cảnh, ngoài ra còn cảngàn di tích do các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương xếp hạng theo tinh thần của Luật di sản văn hóa2001 (Luật có hiệu lực thi hành năm 2002) Trong các di sản đó, có một sốtiêu biểumang giá trịđộc đáo nổi bật toàn cầu, đã được UNESCO ghi vào Danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thếgiới theo Côngước vềviệc bảo vệdi sản văn hóa và thiên nhiên thếgiới năm 1972, như: Quần thểdi tích cốđô Huế(1993), Vịnh HạLong (1994, 2000), PhốcổHội An (1999), Khu di tích Chăm MỹSơn (1999), Vườn Quốc gia Phong Nha -KẻBàng (2003); Hoàng thành Thăng Long (2010); Thành nhà Hồ(2011).Tồn tại song hành với các di sản văn hóa và thiên nhiênlà một kho tàng di sản văn hóa phi vật thểphong phú, không kém phần đa dạng, bao gồm nhiều loại hình của các dân tộc sống trên lãnh thổViệt Nam, trong
đó Âm nhạc cung đình Việt Nam -Nhã nhạc (triều Nguyễn) đã được UNESCO đưa vào tuyên bốcác kiệt tác vềvăn hóa phi vật thểvà truyền khẩu của nhân loại năm 2003 Qua đây có thểthấy rõ UNESCO chia thành 2 dòng: di sản văn hóa và thiên nhiên; di sản văn hóa phi vật thể Dựa theo cách chia này, Luật di sản văn hóaViệt Nam chỉchia thành 2 dạng: di sản văn hóa vật thểvà di sản văn hóa phi vật thể.Tới cuốinăm 2015, thời điểm luận văn nghiên cứu, Việt Nam đã có 17 di sản được UNESCO ghi danh vào hạng mục di sản văn hóa vật thểvà di sản văn hóa phi vật thể Trong đó, những di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận có vai trò
và ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất, toàn vẹn nhất vềđặc trưng văn hóa và cội nguồn dân tộc, là niềm tựhào vềgiá trịvăn hóa nghìn đời của Việt Nam trên trường quốc tế.Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 cũng cho thấy rõ vai trò quan trọng của các di sản văn hóavật thểtạiViệt Nam, đồng thời chứng minh được tính nhất quán trong sựnghiệp bảo vệvà phát triển di sản văn hóa vật thểcủa Đảng và Nhà nước ta, thểhiện nguyện vọng,
ý chí chung của toàn dân tộc trong sựnghiệp đầy khó khăn và thửthách này.Với những giá trịquan trọng như vậy, thếnhưng,với Việt Nam, trong thời gian gần đây, UNESCO cũng đã có những cảnh báo vềtình trạng ô nhiễm ởVịnh HạLong, những cảnh báo tham vọng khai thác du lịch quá đà tại Quần thểdi tích Cốđô
Huế,PhốcổHội An Tại không ít địa phương, di tích sau khi được xếp hạng,tiếp tụcởtrong tình trạng hoang hóa, khôngcó kếhoạch bảo tồn, phát huy giá trịdi sản đểhỗtrợcho sựphát triển địa phương Nói cách khác, nguồn tài nguyên này vẫn
Trang 10bịlãng phí Một sốnơi, di tích bịlấn chiếm, khai thác bừa bãi, chưa được chăm lo gìn giữ, phục hồi nên có nguy cơ bịmai một.Trướcnhững cảnh báo trên, công tác bảo tồn và phát huy những giá trịhiện có của các di sản văn hóa vật thểđược
UNESCO công nhận tại Việt Namđã trởthành một trong những nhiệm vụtrọng tâm không chỉcủa ngành văn hóa mà còn là của toàn xã hội.Chính vìthế, việc
truyền thông vềcác giá trịdi sản cũng như biện pháp bảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam là cần thiết Trong cácloại hình báo chí, báo điện tử, với lợi thếcông nghệ, tính cập nhật, tính tương tác
và tính đa phương tiện, đã góp phần to lớn trong việc quảng bá rộng rãi hình ảnh các di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam tới đông đảo công chúng trong nước và quốc tếdưới nhiều góc nhìn đa dạng.Bên cạnh đó, bản thân tác giảluậnvăn cũng đang là phóng viên, biên tập viên tại báo điện tửĐất Việt,cũng đã từng trực tiếp thực hiện những tác phẩm báo chí liên quan đến vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam Cho nên, bản thân tác giảluận văn cũng tựnhận thức được việc bảo tồn và phát huy giá trịnhững di sản này là vô cùng quan trọng Trong đó luận văn tập trung tìm hiểu và phân tích những thông tin có liên quan đến 2 Di sản văn hóa: Quần thểDi tích Cốđô Huế, PhốcổHội An Bởi trong khoảng thời gian khảo sát củaluận văn, có rất nhiều sựkiện liên quan đến 2 di sản này như chùa Cầu Hội An có nguy cơ đổsập; PhốcổHội An tăng giá vé, thu phí người đi bộkhiếndu khách bức xúc; xuất hiện dựán casino 4 tỷUSDởphía Nam Hội An; một góc Phu Văn Lâu trước kinh thành Huếbịsập, Quần thểdi tích cốđô Huếđối diện với nhiều thách thứccủa thời gian cần tu bổ được báo chí thông tin, đặc biệt là báo điện tử Đây cũng
là nhữngsựkiện minh chứng rõ nét nhất cho việc di sản văn hóa vật thểđược
UNESCO công nhận tại Việt Nam đang bịđe dọa bởi sựphát triển của kinh tế, khai thác du lịch và trải qua sựbàomòn của thời gian cũng như sựtàn phá của chiến tranh, các di sảnnày hiện đã bịxuống cấp khá nhiều Thếnhưng, không chỉcó Di sản văn hóa thếgiới đang đối diện với các nguy cơ bịphá hủy, mà các Di sản thiên nhiên thếgiới cũng như vậy Trao đổi với tác giảluận văn, ông Nguyễn Xuân
Thắng -Chủtịch Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam -Tổng thư ký Liên hiệp Hội UNESCO thếgiớinói rõ: "Trong Công ước bảo vệdi sản văn hoá và thiên nhiênthếgiới UNESCO 1972 có nêu rõ: có hai dạng di sản văn hóa và thiên nhiên Thiên nhiên là do tựnhiên kiến tạo lên, văn hóa là do bàn tay con người làm nên, cảhai disản đều quý, nhưng mỗi di sản lại đang đối diện với những nguy cơ khác nhau, nhất là trong thời đại bảo vệmôi trường, nên cũng có cách bảo tồn khác
nhau".Đểlàm sáng tỏđiều này, tác giảcòn tìm hiểu thêm vềthực trạng truyền thông trên báo điện tửvềdi sản thiên nhiên thếgiới cụthểlà vịnh HạLong, Vườn quốc gia
Trang 11Phong Nha -KẻBàng, đểso sánh với hai di sản văn hóa: Quần thểdi tích cốđô Huế, PhốcổHội An.Xuất phát từtình hình thực tếtrên, tác giảchọn đềtài “Vấn đềbảo tồn
và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử” làm đềtài luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu đề tàiViệt Nam là một đất nước có lịch sử4000 năm xây dựng và phát triển, qua đó đểlại nhiều di sản văn hóa vật thểvà phi vật thểtrên các vùng miền tổquốc Cùngvới đó làrất nhiều công trình, sách nghiên cứu vềdi sản văn hóa, công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa.Tuy nhiên, ởnước ta, nghiêncứu vềdi sản văn hóa trước tiên phải kểđến công trình "Việt Nam Văn hóa
sửcương"của học giảĐào Duy Anh từnăm 1938 với quan điểm: "Ta muốn
trởthành một nước cường thịnh vềvật chất, vừa vềtinh thần thì phải giữvăn hóa cũ(di sản) làm thể(gốc, nền tảng); mà lấy văn hóa mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh túy của văn hóa phương Đông với những điều sởtrường vềkhoa học của văn hóa phương Tây" [2, tr 31-32].Năm 1997, GS.TS Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách "Một sốvấn đềvềbảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc",trên cơ sởnhững quan niệm di sản văn hóa của quốc tếvà Việt Nam, tác giảđưa ra một hệthống lý luận vềDSVH, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVH nước
ta [33] Năm 2002, Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành được coi làvăn bản pháp quy vềDSVH.Tác giảNgô Phương Thảo trong bài “Bảo vệdi sản, cuộc chiến từnhững góc nhìn”đã đềcập trực tiếp đến vấn đềbảo vệdi sản văn hóa hiện nay Theo tác giảthì “Mỗi ngày, di sản văn hóa càng đối mặt với nhiều nguy
cơ, xuất phát từnhững hệlụy của cuộc sống hiện đại Cũng mỗi ngày, ý thức
vềtrách nhiệm phải gìn giữcác giá trịvăn hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toảsâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng đểdẫn tới những chương trình dựán ngày càng có hiệu quảhơn trong việc gìn giữcác giá trịvăn hoá vật thểvà phi vật thể" [30].Năm 2006, trên Tạp chí di sản văn hóa số1 có đăng tải bài viết: "Bảo tồn, phát huy giá trịcác di sản văn hóa -thiên nhiên thếgiới phục vụphát triển ởnước ta"của tác giảNguyễn Quốc Hùng đềcập đến việc, tính đến năm 2006, Việt Nam ta đã có năm di sản văn hóa và thiên nhiên được UNESCO ghi vào Danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thếgiới và hai di sản phi vật thểđược UNESCO đưa vào Công bốnhững kiệt tác văn hóa phi vật thểvà truyền khẩu của nhân loại [43].Trong bài viết tác giảcũng nêu rõ, ởnước ta, quần thểdi tích kiến trúc Huế, Vịnh HạLong, Khu di tích Chăm MỹSơn, PhốcổHội An, Vườn Quốc gia Phong Nha -KẻBàng ngay sau khi trởthành di sản thếgiới đã trởthành những điểm
du lịch quan trọng của quốc gia Có thểnói rằng, các di sản thếgiới nước ta đã đónggóp ngày càng tích cực cho sựphát triển kinh tếtrên nhiều mặt Thếnhưng, nhận
Trang 12thức và sựtham gia của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trịdi sản chưa thực sựđồng đều, vững chắc và có lợi cho sựnghiệp bảo tồn và phát huy giá trịdi sản Còncác nghiên cứu vềviệc bảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận có thểkểđến cuốn sách: "Di sản văn hóa Hội An -Nhìn lại một chặng đường"của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội
An, cuốn sách giới thiệu khái quát vềmột chặng đường với những khó khăn, thuận lợi không thểquên 10 năm kểtừngày Đô thịcổHội An được Ủy ban di sản Thếgiới (UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa Thếgiới (04/12/1999-
04/12/2009) Trong cuốn sách đã nêu rõ được những thành quảchủyếu mà các ngành, các cấp, cùng cán bộvà nhân dân Hội An đã nỗlực đạt được trong lĩnh vực quản lý, bảo tồn, phát huy di sản của tiền nhân Đồng thời cũng rút ra những bài học kinh nghiệm, bài học cần thiết nhằm hiểu rõ hơn và thực hiện hiệu
quảhơn công tác quản lý, bảo tồn, phát huy di sản và đểcủng cốvững chắc vào sựphát triển bền vững của Di sản trong tương lai Tuy nhiên, tất cảcũng mới chỉlà những đánh giá, nhìn nhận từphía các cơ quan quản lý, thiếu sựđánh giá, ý kiến phản hồi của công chúng, du khách.Các đềtài nghiên cứu như "Phát triển du lịch Hội An trong thời kỳtoàn cầu hóa–tiềm năng và thách thức",năm 2015, của tác giảVõ ThịÁnh Tuyết, Đào Vĩnh Hợp-Giảng viênTrườngĐại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM,phân tích rõ các tiềm năng đểphát triển
du lịch Hội An và những thách thức trong sựphát triển du lịch Hội An trong thời kỳtoàn cầu hóa.Riêng với mảng đềtài nghiên cứu báo chí với công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cũng đã có khá nhiều công trình Với các tên gọi khác nhau, rất nhiều luận văn, khóa luận của sinh viên ngành báo chí cũng đã tiếp cận đềtài này theo từng mảng đềtài với các mức độkhác nhau Đáng kểcó các công trình sau: Luận văn "Công tác tuyên truyền vềbảo tồn và phát huy giá trịcác di tích lịch sửvăn hóa ởhuyện Thanh Oai -Thành phốHà Nội hiện nay",củaThạc sĩ Lưu ThịHuyền Trang, năm 2016, do PGS.TS Phạm Ngọc Trung hướng dẫn, Học viện Báo chí và tuyên truyền; Luận văn "Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thểHà Nội trên báo in" của Thạc sĩ Ngô ThịHà, năm 2015, do TS ĐỗThịQuyên -Trường Đại học Văn Hóa hướng dẫn; Luận văn “Báo chí với vấn đềbảo tồn và phát huy di sản văn hoá Hà Nội”của Thạc sĩ Hoàng Hương Trà (năm 2007), do GS
Hà Minh Đức-Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn hướng dẫn; Luận văn "Quá trình truyền thông hai di sản văn hóa phi vật thểđược UNESCO công nhận: Hát xoan (2011) và tín ngưỡng thờcúng vua Hùng (2012) (Khảo sát báo: Phú Thọ, Văn hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệthuật từ2010 đến 2013)",của Thạcsĩ Nguyễn ThịHồng Nga, năm 2014, do PGS.TS Nguyễn ThịMinh Thái, Trường Đại họckhoa học xã hội và nhân văn hướng dẫn; "Vấn đềbảo tồn và phát huy di
Trang 13sản văn hóa phi vật thểtrên Báo và Đài PT –TH Thừa Thiên Huế",năm 2015, của Thạc sĩ Trần ThịPhương Nhung, do PGS.TS Đinh Văn Hường -Đại học quốc gia
Hà Nội hướng dẫn.Luận văn:
"BáođiệntửvớiviệcquảngbácácdisảnvănhóavậtthểđượcUNESCOcôngnhận(KhảosátQuầnthểditíchCôđôHuê, PhôcôHôiAn,
ThánhđịaMỹSơn,KhuditichtrungtâmHoangthanhThăng Long,
ThànhnhàHồtrênVnExpress, Dântri, VietNamNet trong năm 2013)", của Thạc sĩ Triệu Thúy Hà, do PGS TS HoàngAnhhướng dẫn Luận văn: "Mối quan hệgiữa văn hóa và phát triển với việc bảo tồn, phát huy các giá trịdi sản văn hóa
Huế",năm 2015, của thạc sĩ Nguyễn ThịNgân, do PGS.TS Lê Văn Đính hướng dẫn.Luận văn“Vấn đềtruyền thông bốn di sản văn hóa phi vật thểcủa Việt Nam được UNESSCO công nhận: Nhã nhạc cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù trên báo in và báo điện tử”,của Thạc sĩ Lương ThịQuỳnh Chi -Khoa Báo chí và truyền thông, PGS.TS Nguyễn ThịMinh Thái hướng dẫn, TrườngĐại học khoa học xã hội và nhân văn
Khóa luận "Việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trên báo chí Việt Nam thời kỳđổi mới"(báo Văn hóa, Sài Gòn giải phóng 93 -96) năm 1996 củasinh viên Nguyễn Nguyên Vũ do TSKH Đoàn Hương hướng dẫn; “Báo chí với việc bảo tồn và phát huy dân ca Xoan-Ghẹo”,luận văn tốt nghiệp của Nguyễn ThịThu Hà -Khoa Báo chí và truyền thông, TrườngĐại học khoa học xã hội và nhân văn; “Vấn đềbảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thểcủa Việt Nam trênbáo chí”, luận văn của Lê Vũ Điệp, do GS Hà Minh Đức hướng dẫn,Khoa Báo chí
và truyền thông, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn; “Quá trình truyền thông vềdân ca Quan họBắc Ninh -Di sản văn hóa phi vật thểcủa
thếgiới(UNESCO phong tặng năm 2009 trên báo in)”, luận văn của Võ Biên Thùy, do PGS.TS Ngô ThịMinh hướng dẫn -Khoa Báo chí và truyền thông,
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn.Ngoài các luận văn trong nước, còn
có một sốluận án tiến sĩ nước ngoài cũng nghiên cứu vềvấn đềtrên, tiêu biểu cóLuận án Tiến sĩ: "Intangible" and "Tangible" Heritage -A topology of culture
in contexts of faith", năm 2006, của Tiến sĩ Britta Rudolff, Đại học Mainz, Đức Luận văn được chia làm 5 phần chính, phần 1 được mô tảlà nghiên cứu lý thuyết mang tính mởđầu, đưa ra các khái niệm và phân loại di sản Các phần tiếp theo chủyếu là dẫn giải các cuộc làm việccủa UNESCO, các tổchức nghiên cứu vềdi sản có nội dung đềcập đến di sản văn hóa vật thểvà di sản văn hóa phi vật thể.Đối với luận văn:
"BáođiệntửvớiviệcquảngbácácdisảnvănhóavậtthểđươcUNESCOcôngnhân(Khảosát
Trang 14QuầnthểditichCôđôHuê, PhôcôHôiAn, ThánhđịaMỹSơn,
KhuditichtrungtâmHoangthanhThăngLong, ThànhnhàHồtrên VnExpress, Dântri, VietNamNet trong năm 2013)", của Triệu Thúy Hà, qua
khảosátnộidungvàhìnhthứccủacáctácphâmbaochitrênbabaođiêntưVnExpress, Dântri, VietNamNet, luânvănlamrohiêuquaquảng bá disanvănhoatrong năm 2013; đanhgiađiêmmanh, hạnchếtrongviệcquảngbátrênbabáođiệntư,
tưđokhaiquatnhưngđăcđiêmquantrongcuaviêcquangbahinhanhcacdisảnvănhóaViệtNamtrênbáođiệntửnóichung Tưthưctêkhaosatđo,
đưarađêxuâtnângcaohiêuquaquangbahinhanhcacdisanvănhoavâtthêViêtNamtrênbáođiêntư.Tuy nhiên luận văn mới chỉchú ý đến công tác quảng bá các di sản văn hóa, chứchưa đi sâu vào vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật
thểđược UNESCO công nhận.Đối với luận văn “Báo chí với vấn đềbảo tồn và pháthuy di sản văn hoá Hà Nội”của Thạc sĩ Hoàng Hương Trà, luận văn này là đã đưa
ra một hệthống khái niệm khá hoàn chỉnh vềdi sản văn hóa Luận văn cũng nêu ra được quan điểm của Đảng và nhà nước đối với vấn đềbảo tồn và phát huy di sản văn hóa ởViệt Nam Ngoài ra luận văn cũng nêu ra được hướng đi và giải pháp phát triển di sản văn hóa ởHà Nội Vềvai trò của báo chí đối với công tác này, luận văn đã nêu lên được báo chí với nhiệm vụtruyền bá văn hóa, toàn cảnh văn hóa HàNội.Bên cạnh những việc đã làm được,luận văn này nghiên cứu vềdi sản văn hóa
Hà Nội nói chung nhưng chưa đi sâu vào một loại hình di sản văn hóa vật thểhay phi vật thể, nên chưa có yếu tốchuyên sâu.Mặc dù tên đềtài luận văn là "Báo chí với vấn đềbảo tồn và phát huy di sản văn hoá Hà Nội " nhưng chương 3 của tác giảđềcập đến hướng đi và giải pháp cho bảo tồn và phát triển di sản văn hóa Hà Nội thì hầu như chỉđềcập đến chính sách và giải pháp văn hóa nói chung chứchưa đưa ra được ưu điểm, hạn chếcũng như giải pháp riêng dành cho báo chí trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Hà Nội Qua các công trình nghiên cứu liên quan đến di sản văn hóa vật thể, có thểthấy các nghiên cứu vềdi sản văn hóa vật thểnói chung và các di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam nói riêng rất đa dạng nhưng ít tài liệu nghiên cứu chuyên sâu Hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay đều tập trung vềcác di sản văn hóa vật thểnóichung, hoặc di sản văn hóa vật thểtại một địa phương nào đó trên loại hình báo
in là chủyếu Xuất phát từviệc đánh giá những điểm đã làm được và chưa làm được của các công trình trước đó, tác giảsẽcó tham khảo, kếthừa và vận dụng những điểm cần thiết đểnghiên cứu và khảo sát quá trình truyền thông bảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử Thông qua đềtài tác giảmong muốn có thểgóp phần nào đó dù nhỏbé cho việc nâng cao hiệu quảquá trình truyền thông vềvấn đềnày trên báo điện tử
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích-Trên cơ sởđánh giáthực trạng truyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử, luận văn sẽchỉra những bài học và mô hình truyền thông đểgóp phần nâng cao chất lượng thông tin vềvấn đềbảo tồn và phát huy các giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử
3.2 Nhiệm vụĐểđạt được mục đích trên, tác giảthực hiện các nhiệm vụsau:-Luận văn sẽtìm hiểu và nghiên cứu những vấn đềlý luận chungvềdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận, loại hình báo điện tử; vai trò và ưu thếcủa báo điện tửtrong việc truyền thông vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam.-Lựa chọn những tác phẩm trên 3 tờbáo điện tửVnExpress, VietNamNet, Đất Việt với tiêu chí có nội dung liên quanđến vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam.Qua đó sẽphân tích và so sánh thực trạng truyền thông trên ba tờbáo,sẽđưa ra những đánh giá nhận xét khách quan và chính xác vềưu điểm và hạn chếcủa báo điện tửtrong công tác bảo tồn và phát huy các giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam.-Rút ranhững bài họckinh nghiệm,phác thảomô hìnhtruyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhậntại VIệt Nam trên báo điện tử
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng truyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử
4.2 Phạm vi nghiên cứu-Luận văn tập trung nghiên cứu những bài báotrên 3 báo điện tử: VietNamNet, VnExpress, Đất Việt,từ01/01/2014 đến 30/12/2015 có nội dung vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam, quahai di sản văn hóa:Quần thểdi tích cốđô Huế,
PhốcổHội An; hai di sản thiên nhiên: Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha KẻBàng.Đềtài không đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu vềdi sản văn hóa vật
-thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam, mà tập trung vào quá trình truyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịvăn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam của báo điện tử, từ01/01/2014-30/12/2015.-Nhằm đưa ra nhữngđánh giá khái quát nhất, những giải pháp phù hợp nhất với vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử, tác giảluận văn lựa chọn khảo sát 3 báo điện tửVietNamNet, VnExpress,
Trang 16Đất Việt từ01/01/2014-30/12/2015.Có thểnói VietNamNet, VnExpress, Đất Việt là ba trong sốcác trang báo điện tửlớn,có uy tín tại Việt Nam và thu hút một lượng lớn độc giảtrong cảnước -Trong quá trình thực hiện, tác giảcũng tham khảo các tờbáo điện tửkhác của nước ngoài đểso sánh và có cái nhìn toàn diện hơn.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận-Đềtài tiếp cận một cách có hệthống những tiền đềlý luận vềdi sản văn hóa (DSVH), vềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa.-Vậndụnglý luậnvềdi sản văn hóanói chung và di sản văn hóa vật thểvào thực tiễn nghiên cứu như: + Quan niệm của UNESCO vềvăn hoá và di sản văn hóa nói chung, vềdi sản văn hóa vật thểnói riêng, vềkếthừa, bảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóavật thể.+ Giá trịcủa di sản văn hóanói chung và di sản văn hóa vật thểnói riêng đối với việc lựa chọn mô hình phát triển của văn hoá mỗi dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứuĐểthực hiện luận văn này, tác giảsẽsửdụng các phương pháp cụthể:-Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sưu tầm, tra cứu và đọc, nghe, xem các tài liệu bằng văn bản, hình ảnh, băng từ, đĩa compac, internet vềkhoa học báo chí nói chung, báo điệntửnói riêng Tổng hợp các khuynh hướng, nội dung nghiên cứuvềvấn đểbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa nói chung
và di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam nói riêng
đãđượcthưchiêntrong nhữngcông trình khoa học của những người đi trước Tìm hiểu tác phẩm trên báođiệntửcụthểlàbáođiệntửVnExpress, VietNamNet, Đất Việt đểkhai thác những tư liệu cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu.-Phươngphápphân tích nội dung:Bằngcáchtập hợp, thống kê, phân tích, chứng minh, đánh giá các tácphẩmbáochíđăng tảitrên 3 tờbáo điệntửVnExpress, VietNamNet, ĐấtViệt vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trong thờigian khảosáttừtháng01/01/2014 -30/12/2015 đểlàm rõ nội dung nghiên cứu.-Phương pháp phỏng vấn sâu:Tác giảluận văn tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu đối vớicác phóng viên, nhà báo và lãnh đạo báo điện tửđược khảo sát, nhà khoa họcnhằm tìm hiểu những đánh giá của các đối tượng vềhiệu quảcủa thông tin vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử.Có thểkểđến những cánhân tiêu biểu như ông Nguyễn Xuân Thắng -Chủtịch Liên hiệp các Hội UNESCOViệt Nam, Tổng thư ký Liên hiệp Hội UNESCO thếgiới, Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, ông Nguyễn Sự-Nguyên Bí thư TP Hội An, ông Trần Quang Hải -Tổng thư ký tòa soạn báo điện tửĐất Việt, bà Nguyễn Hoàng Hạnh -Thư ký tòa soạn báo điện tửĐất Việt Cùng với các phóng viên, nhà báo trực tiếp truyền
Trang 17thôngvềvấn đềbảo tồnvà phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO côngnhận tại Việt Nam như nhà báo Vũ Lanbáo điện tửĐất Việt, nhà báo Trịnh Kim Anhbáo điện tửVnExpressvà nhà báo Lê Thúy Tìnhbáo điện tửVietNamNet.-Một phương pháp khác được tác giảluận vănlựa chọn là phương pháp làm việc nhóm Tác giảsẽcốgắng trong phạm vi có thểtạo lập một nhóm bao gồm đầy đủcác thành phần: chuyên gia, phóng viên các tờbáođiện tử Sau khi thu thập phân tích sốliệu, kết thúc việc phỏng vấn sâu, tác giảsẽlàm việc cùng với nhóm trên đểcùng nhau phân tích, đưa ra những thành công và hạn chếhiện nay của các tờbáo điện tửtrong việc truyền thông vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam Từđó, nhóm sẽcùng nhau thảo luận và đưa
ra những kiến nghịvà giải pháp tối ưu nhất đểnâng cao chất lượng các bài viết, chuyên mục trên các tờbáo điện tửđểcó thểlàm tốt hơn nữa việc tham gia vào công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại
ViệtNam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận-Hệthống hóa và làm rõ các vấn đềlý luận vềdi sản văn hóa, đồng thời góp phần xây dựng phương pháp luận khi nghiên cứu thực trạngtruyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Namtrên một loại hìnhtruyền thông cụthểđó là báo điện tử.6.2 Ý nghĩa thựctiễn-Luận văn này sẽlà cơ sởkhoa họcđểgiúp các cá nhân, tổchức
có liên quan,quan tâm đến vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam,trong việc hoạch định chiến lược truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung và báo điệntửnói riêng -Qua việc khảo sát, tìm hiểu thực trạng truyền thôngtrên báo điện tửkhi viết vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam, luận văn sẽchỉra những ưu điểm và những hạn chếđểtừđó rút ra bài học kinh nghiệm, xây dựng mô hình truyền thông phù hợp, nhằm nâng caochất lượng các tác phẩm Đồng thời nâng caochất lượng báo điện tửnói chung
và các báo điện tửVietNamNet, VnExpress, Đất Việtnói riêng -Kết quảnghiên cứu của luận văn có thểthành tài liệu tham khảo hữu ích cho những người quantâm vềvấn đềnày,là tài liệu tham khảo hữu ích cho các phóng viên, các sinh viên báo chí, các nhà quản lý và các cơ sởđào tạo báo chí.Đồng thời, phục vụcho việc nghiên cứu, giảng dạy, quản lý vềbảo tồn và phát huy giá trịcác di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam
Trang 187 Kết cấu của luận vănNgoài phần Mởđầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụlục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương chính:
Chương 1: CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCOCÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG TRÊN BÁO ĐIỆN TỬVỀVẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM (Khảo sát 4di sản : Quần thểdi tích cốđô Huế, PhốcổHội An,Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha -
KẻBàngtrên 3 báo điện tử)
Chương 3: BÀI HỌC VÀ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG VỀVẤN ĐỀBẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCO
CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
Trang 19CHƯƠNG 1CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰCTIỄN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
1.1 Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.Các khái niệm vềdi sản văn hóavà di sản văn hóavật thểVăn hóa là kháiniệm bao quát một phạm vi rộng lớn Trong đời sống, khái niệm văn hóa được sửdụng với nhiều nghĩa khác nhau Theo thống kê, trên thếgiới hiện có gần một nghìn địnhnghĩa khác nhau vềvăn hóa.Tuy có nhiều cách hiểu với nội dung khác nhau song các khái niệm vềvăn hóa đều xoay quanh các điểm chính: Văn hóa là các giá trị; Những giá trịđó phải do con người sáng tạo ra; sựsáng tạo đó là cảmột quá trình lịch sửliên tục; những giá trịđó phải làm thành một hệthống chặt chẽ.Theo cách chia truyền thống,văn hóa có cấu trúc 2 phần rất đơn giản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (hay văn hóa vật thểvà văn hóa phi vật thể) Chính cách cấu trúcnày đã dẫn tới việc phân chia các bộphận khác của văn hóa thành hai dạng: vật chất và tinh thần như: di sảnvăn hóa vật thểvà di sản văn hóa phi vật thể Đây cũng là cách cấu trúc cơ sởđểtừđó người ta tìm ra những cách cấu trúc mới vềvăn hóa Song chính sựđơn giản lại là nhược điểm của cách cấu trúc này bởi đôi khi với một hiện tượng văn hóa, người ta khó lòng có thểphân chia rạch ròi cái nào là giá trịvật chất, cái nào là giá trịtinh thần và ngược lại.Cũng giống như khái niệm văn hóa, hiện có rất nhiều những định nghĩa khác nhau vềdi sản văn hóa.Nhà nghiên cứu Lưu Trần Tiêu cho rằng: Di sản văn hóa là toàn bộnhững sản phẩm vậtchất (hay còn gọi là vật thể) và tinh thần (hay còn gọi là phi vật thể), có giá trịlịch
sử, văn hóa, khoa học, do con người sáng tạo và tiếp nhận trong điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế-xã hội của mình, được lưu truyền từbthếhệnày sang thếhệkhác [31, tr.2].Năm 2001, Việt Nam ban hành Luật Di sản văn hóa (sửa đổi năm 2009) trong đó khẳng định: Di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộcViệt Nam và là bộphận của di sản văn hóa nhân loại có vai trò to lớn trong sựnghiệp dựng nước và giữnước của nhân dân ta Tại điều 1: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thểvà di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từthếhệnày
sangthếhệkhác” [23, tr.12].Thông thường, theo cách nhìn nhận vềhình thái tồn tại,
di sản văn hóa được chi thành hai loại: di sản văn hóa vật thểvà di sản văn hóa phi vật thể Tuy có sựphân biệt nhưng hai loại hình này luôn có mối quan hệhữu cơ và biệnchứng, chúng song song tồn tại và có tác động qua lại lẫn nhau Mỗi một di tích do tiền nhân sáng tạo đều liên quan một nhu cầu hoạt động tinh thần nào đó Cũng có rất nhiều khái niệm vềdi sản văn hóa vật thể, tuy nhiên đều chung một
Trang 20đánh giá là một bộphận của văn hóa nhân loại, thểhiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quảcủa hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồvật có giá trịsửdụng và thẩm mỹnhằm phục vụcuộc sống con người.Di sản văn hóa vật thểquan tâm nhiều đếnchất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thểvà chất liệu tựnhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống con người.Trong di sản văn hóa vật thể, người ta sửdụng nhiều kiểu phương tiện: tài nguyên năng lượng, dụng cụlao động, công nghệsản xuất, cơ sởhạtầng sinh sống của con người, phương tiệngiao thông, truyền thông, nhà cửa, công trình xây dựng phục vụnhu cầu ăn ở, làm việc và giải trí, các phương tiện tiêu khiển, tiêu dùng, mối quan hệkinh tế Tóm lại, mọi loại giá trịvật chất đều là kết quảlao động của con người.
1.1.2 Các khái niệm vềdi sản trong Công ước bảo vệdi sản văn hóa và thiên nhiên thếgiới năm 1972của UNESCOTại Công ước quốc tếvềviệc bảo vệdi sản văn hóa và thiên nhiên của thếgiới (đã được thông qua tại kỳhọp thứ17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16/11/1972), có hiệu lực vào năm 1978, đã đưarađịnh nghĩavềdi sản văn hóa và di sản thiên nhiên:Di sản văn hoá là:-Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạhoành tráng, các yếu tốhay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tốcó giá trịquốc tếđặc biệt vềphương diện lịch sử, nghệthuật hay khoa học.-Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụcó giá trịquốc tếđặc biệt vềphương diện lịch sử, nghệthuật hay khoa học, do kiến trúc, sựthống nhất của chúng hoặc sựnhất thểhoá của chúng vào cảnh quan.-Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tựnhiên, cũng như các khu vực, kểcảcác di chỉkhảo cổhọc, có giá trịquốc tếđặc biệt vềphương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc họchoặc nhân chủng học.Di sản thiênnhiên là:-Các di tích tựnhiên được tạo thành bởi những cấu trúc hình thểvà sinh vật học hoặc bởi các nhóm cấu trúc như vậy, có một giá trịđặc biệt vềphương diện thẩm mỹhoặc khoa học.-Các cấu trúc địa chất học và địa lý tựnhiên và các khu vực có ranh giới đã được xác định là nơi cư trú của các giống động vật và thực vật có nguy cơ bịtiêu diệt, có giá trịquốc tếđặc biệt vềphương diện khoa học bảo tồn.-Các cảnh vật tựnhiên hoặc các khu vực tựnhiên có ranh giới đã được xác định cụthể, có giá trịquốc tếđặc biệt vềphương diện khoa học,bảo tồn hoặc vẻđẹp thiên nhiên.Trao đổi với tác giảluận văn, ông Nguyễn Xuân Thắng -Chủtịch Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam -Tổng thư ký Liên hiệp Hội UNESCO thếgiớikhẳng định: "Công ước quốc tếvềBảo vệDi sản Văn hóa và
Trang 21Thiên nhiên của Thếgiới cĩ hiệu lực vào năm 1978, chỉcĩ giá trịđối với các di sản văn hĩa và thiên nhiên hiện hữu mang tính vật thể.Đến cuối thập kỷ90, các nước quan tâm nhiều đến các giá trịvăn hĩa tinh thần quý giá đang cĩ nguy cơ bịbiến mất (chủyếu qua đường truyền khẩu, truyền nghề như nghềthủcơng, các làn điệu dân ca, các loại hình nghệthuật đang bịmai một) và một sốbằng chứng mang tính văn hĩa và lịch sửđang cĩ nguy cơ bịhư hại (các loại văn bản in lên da, lên giấy, khắc gỗ ) Năm 2004, UNESCO quyết định đưa khái niệm Di sản văn hĩa phi vật thểvào nội dung Cơng ước quốc tếBảo vệDi sản Văn hĩa và Thiên nhiên thếgiới.Kèm theo đĩ cơng nhận các hình thức xếp hạng khác như “Ký ức thời gian” Xét vềngơn ngữthì Di sản văn hĩa là bao hàm:di sản hữu hình (vật thể) và phi vật thể Tiếng Anh dùng từTangible và Intangilbe Khi đã sửdụng khái niệm phi vật thểthì đương nhiên những cơng trình kiến trúc, các vật chứng văn hĩa hiện hữu bằng vật chất đều phải dùng thuật ngữ“vật thể” đểphân biệt với di sản phi vật thể Tuy văn bản cơng ước cĩ hiệu lực từnăm 1978, khơng đưa khái niệm vật thểgắn với tên di sản, nhưng hiện nay cảthếgiới đều phải dùng khái niệm này đểkhỏi lẫn với “phivật thể”.Cĩ nghĩa, trước năm 2004, khái niệm di sản văn hĩa đều là vật thể(là các cơng trình do bàn tay và khối ĩc con người làm ra, đo đạc được, cĩ khối lượng và chiếm một khơng gian nhất định), cịn Di sản Văn hĩa Phi vật thểlà khơng nhìn thấy được, khơng đĩng khung được Di sản Văn hĩa Phi vật thểcĩ thểlàđiệu múa, bài ca, sản phẩm truyền thống, nhưng giá trịvăn hĩa là kinh nghiệm, là tay nghề, là bí quyết phải được truyền dạy, nếu khơng cĩ sựtruyền dạy sẽbịmất đi.Khi Cơng ước phải dùng đến ba chữ"phi vật thể" cũng đã là cĩ sựphân định nĩ với những loại hình khác: "Vật thể" cũng là một nội dung quan trọng của Cơng ước" [Trích Biên bản phỏng vấn số6, Phụlục 7].Trong báo cáo của ơng Kọchiro Matsuura -Tổng giám đốc UNESCO hiện nay vềcác hoạt động của tổchức tronghai năm 2002-2003, ơng viết:"Cơng ước của UNESCO vềbảo vệDi sản Văn HĩaPhi vật thểđược nhất trí thơng qua vào tháng 10/2003, do đĩ, bổsung cho Cơng ước quốc tếvềBảo vệDi sản Văn Hĩa và Thiên nhiên năm 1972 vềDi sản văn hĩa vật thểvà Di sản thiên nhiên" [38] Việctác giảluận văn sửdụngkhái niệm "Di sản Văn hĩa Vật thể" từnăm 2004 đƣợc ơng Nguyễn Xuân Thắng -Chủtịch Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam -Tổng thƣ ký Liên hiệp Hội UNESCO thếgiới và ơng Kọchiro Matsuura -Tổng giám đốc UNESCO đã chỉrõ, đểphân định hai loại disản văn hĩa Vật thểvà di sản văn hĩa Phi vật thể Bởi luận văn của tơi chỉgiới hạn các loại di sản nằm trong phạm vi là các cơng trình văn hĩa, kiến trúc cĩ giá trị, tiêu biểu, cĩ thểsờthấy, nhìn thấy, đo đạc đƣợc, tức cĩ khối lƣợng và khơngcĩ khối lƣợng Và nếu khơng nêu rõ khái niệm vật thểthì tơi sẽphải khảo cứu cảcác giá trịDi sản văn hĩa Phi vật thể.
Trang 221.1.3 Các khái niệm di sản văn hóa được sửdụng trong Luật di sản văn hóa Việt Nam 2001Thôngqua các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực văn hóa với UNESCO, Việt Nam nhận thức được đầy đủhơn vềcác khái niệm, loại hình văn hóa và đó cũng là những cơ sởkhoa học quan trọng đểxây dựng Luật Di sản Văn hóa năm
2001 Nếu như năm 2003, khi Công ước của UNESCO vềbảo vệDi sản văn hóa Phi vật thểra đời, thì hai khái niệm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên đều là di sản thếgiới và đều là di sản văn hóa vật thể Nói một cách ngắn gọn, theo cách chiacủa các nhà nghiên cứu, các chuyên gia văn hóa chúng đượcgói gọn vào thành Di sản văn hóa vật thểđểphân biệt rõ với Di sản văn hóa Phi vật thể Thì đến năm 2001,trongLuật di sản văn hóa Việt Nam cũng chỉkhái quát và chia thành 2 dạng:
Di sản văn hóa vật thể(bao gồm di sản văn hóa -di sản thiên nhiên) và Di sản văn hóa phi vật thể Năm 2001, Việt Nam thông quaLuật Di sản văn hóa (có hiệu lực thi hành năm 2002, sửa đổi năm 2009), trong đó, di sản văn hóa đã được nhìn nhận là: “Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể
và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa
và khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.Điều 4, khoản 1 trong điều luật này định nghĩa: “Di sảnvăn hóa phi vật thể:là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân ca, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về văn hóa truyền thống dân tộc và
những tri thức dân gian khác.Di sản văn hóa vật thể:là sản phẩm vật chất có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổvật, bảo vật quốc gia.” [37] Trong đó, di tích lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổvật, bảo vật quốc gia thuộc côngtrình, địa điểm đó có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học.Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sựkết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trịlịch sử, thẩm mỹ, khoa học.Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học.Cổvật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trịtiêu biểu vềlịch sửvăn hóa, khoa học, có từmột trăm năm tuổi trởlên.Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trịđặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước vềlịch sử, văn hóa, khoa học.Như vậy, theo Luật di sản văn hóa Việt Nam, tất cả chỉ được chia thành 2 dạng di sản văn hóa vật thể và
di sản văn hóa phi vật thể Trong đó di sản văn hóa vật thể bao gồm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh và trong danh mục các di sản văn hóa vật
Trang 23thểcủa Việt Nam bao gồm cả: Quần thểdi tích cốđô Huế, PhốcổHội An, Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha -KẻBàng Nghiễm nhiên, tại Việt Nam cácchuyêngia, các nhà văn hóa vẫn chia theo hai dòng di sản văn hóa, còn UNESCO thì chia theo từng tiêu chí cụthểgắn liền với từng loại di sản, nhưng cả4 di sản trên đều nằm trong dòng Di sản văn hóa vật thể.Trong luận văn, tác giảsửdụng khái niệm di sản văn hóa vật thểcho cả4 di sản trên và trong quá trình phân tích tác giảsẽsửdụng tên gọi cụthểhơn là di sản văn hóa và di sản thiên nhiên theo đúng tiêu chí được UNESCO công nhận theo Công ước bảo vệdi sản văn hóa và thiên nhiên năm 1972của UNESCO.
1.1.4 Khái niệm Bảo tồn và phát huy Thực sự, từkhi ra đời, Luật Di sản văn hóa Việt Nam 2001 đã thực sựđi vào đời sống, trởthành cơ sởpháp lý quan trọng giúp tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã hội trong việc bảo tồn và phát huykho tàng disản văn hóa của dân tộc Trong Luật nêu rõ: "Bảo tồn là bảo vệvà
giữgìn sựtồn tại của sựvật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là giữlại, không đểmất đi, không đểbịthay đổi, biến hóa hay biến thái.Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nởtừít đến nhiều, từhẹp đến rộng, từđơn giản đến phức tạp Có thểnói, phát huychính là việc khai thác, sửdụng sản phẩm một cách có hiệu quả" Mục đích quan trọng nhất của hoạt động phát huy giá trịdi sản văn hóa là làm cho các ý nghĩa văn hóa, tinh hoa các giá trịvăn hóa truyền thống tốt đẹp lan tỏa vào cộng đồng, tiếp tục duy trì sức sống của nó trong đời sống tinh thần cộng đồng.Bảo tồn và pháthuy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽbiện chứng Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữgìn tài sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trịvăn hóa Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóa tốtnhất (lưu giữgiá trịdi sản trong ý thức cộng đồng xã hội)
1.1.5 Khái niệm báo điện tửỞViệt Nam, thuật ngữ“báo điện tử” đã được sửdụng trong Điều 3, luật báo chí ( luật báo chí năm 1989 được sửa đổi, bổsung tại kỳhọp thứ5 Quốc hội khoá X) quy định: “Báo điện tửlà loại hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máy tính” Còn Luật báo chí năm 1999, định nghĩa “báo điện tửlà loại hình báo chí được thực hiện trên hệthống máy tính”.Dựthảo Luật Báo chí trình Quốc hội cũng định nghĩa “báo điện tửlà loại hình báo chí thực hiện trên mạng Internet”.Điều 12 Nghịđịnh số55/2001/NĐ-CP của Chính phủvềquản lý và cung cấp dịch vụInternet xác định: Dịch vụthông tin trên Internet là một loại hình dịch vụứng dụng Internet, bao gồm dịch vụphát hành báo chí (báo in, báo hình, báo điện tử) phát hành, xuất bản phẩm trên Internet và dịch vụcung cấp các
Trang 24loại hình điện tửkhác trên Internet.Theo từđiển tiếng Việt của Trung tâm từđiển học, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2008, thì báo điện tửlà: “Loại hình báo chí mà tintức, tranh ảnh, được hiển thịqua màn hình máy tính thông qua kết nối trực tuyến với mạng Internet; phân biệt với báo ảnh, báo hình, báo nói, báo viết” Trong luận văn này, chúng tôi sửdụng Khái niệm Báo điện tửtheo Luật Báo chí (sửa đổi năm 2016).Khoản 6, Điều 3, Chương 1, Luật báo chí (sửa đổi năm 2016) quy định:
“Báo điện tửlà loại hình báo chí sửdụng chữviết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tửvà tạp chí điện tử”.Tuy là loại hình báo chí rađời muộn nhất, một loại hình báo chí đặc thù trong 4 loại hình báo chí tại Việt Nam, nhưng lại có tầm ảnh hưởng và mức độquan trọng nhất hiện nay Với khảnăng tích hợp, cung cấp thông tin sống động bằng chữviết, hình ảnh và âm thanh báo điện tửđã phá vỡtính phi định kỳcủa báo chí Ngay từkhi ra đời báo điện tửđã nhanh chóng trởthành một trong những phương tiện truyền thông hiện đại, có nhiều ưu thếhơn so với các loại hình báo chí truyền thống vềkhảnăng
chuyển tải thông tin.Việt Nam chính thứchòa mạng Internet vào ngày 19/11/1997
và ngay sau đó tạp chí Quê hương lần đầu ra mắt bạn đọc trên mạng internet và được coi như là mốc son đánh dấu những bước đi đầu tiên trong lịch sửcủa báo điện tửViệt Nam Tiếp đó lần lượt các tờ: Nhân dân, Lao độngrồi đến Đài truyền hình Việt Nam, Đài
Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các trang web như VnExpress, VDCMedia, VASC (sau này là VietNamNet) ra đời Mãi sau đó, hàng loạt các trang TintucVietnam (tiền thân của trang Dân trí); 24h.com.vn; VnExpress.nethay Vietnamnet.vn Đặc biệt VietNamNet và VnExpress bắt đầu nởrộgiai đoạn 2001-2003 Đặc biệt VietNamNet và VnExpress được công nhận như là một trong những báo điện tửra đời sớm nhất tại Việt Nam và hiện ngày càng phát triển 1.2.Di sản văn hóa được UNESCO công nhận tại Việt Nam1.2.1 Tổchức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc –UNESCOTổchức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) được thành lập ngày
16/11/1945 với mục đích “Góp phần duy trì hoà bình và an ninh quốc tếbằng cách thắt chặt sựhợp tác giữa các quốc gia vềgiáo dục, khoa học và văn hoá đểđảm bảo sựtôn trọng của tất cảcác nước vềcông lý, pháp luật, quyền con người và tựdo cơ bản cho tất cảmọi người không phân biệt chủng tộc, namnữ, ngôn ngữ, tôn giáo
mà Hiến chương Liên Hợp Quốc đã công nhận đối với tất cảcác dân tộc”.Riêng vềlĩnh vực văn hóa, UNESCO chú trọng vấn đềbảo tồn và phát huy các giá trịdi
Trang 25sản văn hoá (vật thểvà phi vật thể), thiên nhiên thếgiới (UNESCO đã công nhận
830 Khu di sản thếgiới ( trong đó có 644 di sản văn hóa, 162 di sản thiên nhiên và
24 di sản hỗn hợp văn hóa-thiên nhiên của 184 quốc gia) và 90 Kiệt tác di sản phi vật thểvà truyền khẩu của nhân loại): Hỗtrợcác quốc gia thực hiện tốt công tác nàytheo Công ước quốc tếvềBảo vệDi sản Văn hoá và Thiên nhiên (thông qua năm1972) và Công ước Bảo vệDi sản Văn hoá Phi vật thể(thông qua năm
2003).UNESCO có 5chức năng cơ bản sau:-Là cơ sởthí nghiệm các ý tưởng mà nhiệm vụtrí tuệlà dựđoán và xác định những vấn đềquan trọng nhất đang phát sinh trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình, tiếp đó nhận dạng những chiến lược và chính sách thích hợp.-Là tổchức soạn thảo quy chuẩn nơi xây dựng những hiệp định chung vềđạo đức, chuẩn mực và tri thức mang tính sống còn trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền
23Vấn đềnày đã đưa UNESCO vào những tiến trình trao đổi tri thức liên ngành phức tạp và vào quá trình đàm phán với các chuyên gia và các quốc gia thành viên.-Là trung tâm chỉdẫn, giao dịch nơi đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp, chuyển giao, truyền bá và chia sẻcác thông tin, tri thức và những kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất.-Là tổchức tạo dựng năng lực cho các quốc gia thành viên, UNESCO giúp các nước thành viên xây dựng năng lực vềthểchếvà nhân lực trongcác lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá, truyền thông và thông tin.-Là nhân tốxúctác cho hợp tác quốc tế Chức năng này được thực hiện thông quatất cảbốn chức năng nêu trên.Năm chức năng cơ bản này là những phương cách chủyếu
đểUNESCO thực hiện nhiệm vụcủa mình.Quan hệhợp tác Việt Nam Ngày 15/6/1977, Chính phủViệt Nam đã thành lập Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam, đặt dưới sựchỉđạo trực tiếp của BộNgoại giao, đểđảm nhiệm việc thực hiện các nghĩa vụ, quyền hạn thành viên UNESCO của Việt Nam và thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước ta trong UNESCO -Trong lĩnh vực văn hóa, quan hệhợp tác giữa Việt Nam và UNESCO đã tác động hết sức tích cực đối với sựphát triển cân đối, hài hòa của đất nước Thập kỷquốc tếphát triển văn hóa (1988-1997) do Liên Hợp Quốc và UNESCO phát động đã mang lại nhận thức đúng đắn cho mọi người, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách quốc gia vềvai trò của văn hóa trong phát triển: “Văn hóa là nguồn nội sinh, vừa là độnglực vừa là mục tiêu và hệđiều tiết của phát triển kinh tế-xã hội” Với Việt Nam, hoạt động trong thập kỷnày đã có những đóng góp thiết thực cho việc đổi mới cảvềlý luận và nhận thức cũng như một sốchủtrương chính sách vềvăn hóa Nội dung Nghịquyết Trung ương 5, khóa VIII về: “Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” thểhiện tầm cao mới vềlý luận của Đảng đối với vai trò
Trang 26-UNESCO-của văn hóa trong phát triển, có sựđóng góp không nhỏ-UNESCO-của “Thập kỷquốc tếPhát triển Văn hóa”.UNESCO cũngđặc biệt chú ý đến công tác bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị
24những di sản văn hóa vật thểcũng như phi vật thểcó giá trịquý báu đối với toàn thểnhân loại Việc UNESCO công nhận các di sản văn hóa và thiên nhiên thếgiới (Quần thểdi tích Cốđô Huế, PhốcổHội An, Di tích MỹSơn, Vịnh HạLong và VườnQuốc gia Phong Nha-KẻBàng, Hoàng Thành Thăng Long) và cácdi sản văn hóa phi vật thểkhông chỉlà một kênh quan trọng giới thiệu văn hóa Việt Nam ra cộng đồng thếgiới mà còn tạo ra các “thương hiệu” quốc tế, tạo ra các nguồn thu không nhỏtừdu lịch, làm biến đổi bộmặt đời sống tinh thần, xã hội của người dân và địa phương nơi có di sản Nhưng cái lớn nhất mà UNESCO mang lại là làm dấy lên ý thức tôn trọng, yêu quý và bảo vệdi sản của cảxã hội, từlãnh đạo các cấp đến
người dân bình thường Từý thức dẫn đến các hành vi ứng xử, hành động thực tếbảo vệdi sản Điều này cũng được thểhiện cụthểcảtrong các chính sách qui hoạch phát triển của quốc gia và các địa phương, phản ánh qua những tính toán cân nhắc hợp lý giữa công tác bảo tồn và phát triển Cũng nhờthông qua các hoạt động trong lĩnh vực UNESCO chúng ta nhận thức được đầy đủhơn vềcác khái niệm, loại hình văn hóa và đó cũng là những cơ sởkhoa học quan trọng đểxây dựngLuật Di sản Văn hóa năm 2001.1.2.2 Tiêu chí bình chọn di sản văn hóa vật thểcủa UNESCOĐối với các di sản văn hóa vật thểthì tiêu chí được nêu rõ trong Điều 1 của Công ước bảo vệdi sản văn hóa và thiên nhiên thếgiới vào ngày 16 tháng 11 năm 1972 (Công ước Di sản Thếgiới 1972).Một di tích, một quần thểcác công trình xây dựng hoặc một di chỉnếu đềnghịđược đưa vào danh sách Di sản thếgiới sẽđược coi là có “giá trịtoàn cầu nổi bật” phù hợp với mục tiêu của Công ước khi
Ủy ban thấy rằng chúng đáp ứng một hoặcnhiều tiêu chí sau đây, và chứng minh được tính nguyên bản của chúng Vì vậy, tiêu chuẩn đối với Di sản văn hóa -
Cultural (C):(i)Là một kiệt tác cho thấy thiên tài sáng tạo của con người; hoặc;(ii) Biểu hiện sựgiao lưu các giá trịcủa con người, trong một thời gian dài hoặc trong một khu vực văn hóa của thếgiới, vềnhững bước phát triển trong kiến
25trúc, nghệthuật tượng đài hoặc quy hoạch thành phốvà thiết kếcảnh quan;
hoặc(iii)Là minh chứng độc đáo hoặc chí ít cũng là hiếm có cho truyền thống văn hóa hoặc cho một nền văn minh còn đang tồn tại hoặc đã mất; hoặc(iv) Là một mẫu hình nổi bật của một loại công trình xây dựng hoặc quần thểkiến trúc hay cảnhquan minh họa cho một (các) giai đoạn trong lịch sửloài người; hoặc(v) Là một mẫu hình nổi bật vềnơi sinh sống truyền thống hoặc sửdụng đất đai của con người đại diện cho một (hoặc nhiều) nền văn hóa, đặc biệt khi nó trởnên dễbịtổn
Trang 27thương do tác động của những biến đổi không cưỡng lại được; hoặc(vi) Liên quantrực tiếp hoặc đích thực tới các sựkiện hay truyền thống đang còn tồn tại, với những ý tưởng hoặc niềm tin, với các tác phẩm nghệthuật hoặc văn học có ý nghĩa toàn cầu nổi bật (tiêu chuẩn này chỉđược xem xét trong những hoàn cảnh đặc biệt hoặc liên quan đến các tiêu chí văn hóa hoặcthiên nhiên khác khi Ủy ban xem xét
có đưa vào danh sách Di sản thếgiới hay không).Tiêu chí đối với Di sản thiên nhiên -Natural (N): (i) là những mẫu hình nổi bật tiêu biểu cho các giai đoạn lớn của lịch sửtrái đất, bao gồm hồsơ vềsựsống, các tiếntrình địa chất có ý nghĩa đang diễn ra trong sựphát triển của địa hình hoặc các đặc điểm địa mạo hay địa văn có ý nghĩa; hoặc(ii) là những mẫu hình nổi bật tiêu biểu cho các quá trình sinh thái và sinh học đang diễn ra trong sựtiến hóa và phát triển của các hệsinh thái đất, nước ngọt, vùng duyên hải ven biển và của các cộng đồng động thực vật; hoặc(iii) chứa đựng những hiện tượng tựnhiên siêu phàm hoặc những khu vực có vẻđẹp tựnhiên kiệt xuất có tầm quan trọng vềthẩm mỹ; hoặc(iv) chứa đựng những khu cư trú tựnhiên quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với việc bảo toàn tại chỗtính đa dạng sinh học, bao gồm cảcác loài có giá trịtoàn cầu nổi bật có nguy cơ tuyệt chủng theoquan điểm khoa học và bảo toàn.Trao đổi với tác giảluận văn, ông Nguyễn Xuân Thắng -Chủtịch Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam -Tổng thư ký Liên hiệp Hội UNESCO thếgiớicho biết: "Đối với di sản văn hóa có 6 tiêu chuẩn, chỉcần đạtmột trong 6 tiêu chuẩn là có thểđược Công ước xếp hạng là di sản văn hóa thếgiới, hiện nay chúng ta vẫn gọi với khái niệm di sản văn hóa vật thểvà di sản văn hóa phi vật thể Đối với di
26sản thiên nhiên có 4 tiêu chuẩn, chỉcần đạt một trong 4 tiêu chuẩn đó là có thểđược Công ước xếp hạng là di sản thiên nhiên thếgiới".[Trích Biên bản phỏng vấn số6, Phụlục 7].1.2.3 Những di sản văn hóa vật thểUNESCO công nhận được lựa chọn khảo sát trong luận vănTheo Trang thông tin UNESCO của Tiểu ban Thông tin -Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, đến 30/12/2015, có 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận tạiViệt Nam Trong đó có Quần thểdi tích cốđô Huế(được công nhận ngày 11/12/1993); Khu di tích Chăm MỹSơn (được công nhận ngày 1/12/1999); PhốcổHội An (được công nhận ngày 4/12/1999); Khutrung tâm Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội (được công nhận ngày 31/07/2010);
Di tích Thành nhà Hồ(được công nhận ngày 27/06/2011) Có 2 di sản thiên nhiên được UNESCO công nhận: Vịnh HạLong (1994,2000); Vườn quốc gia Phong Nha-KẻBàng (2003,2015)[44].Trong luận văn, tác giảlựa chọn 2 di sản văn hóa: Quần thểdi tích cốđô Huế, PhốcổHội An, được đánh giá cao và du khách trong, ngoài nước rất yêu thích.+ Quần thểdi tích Cốđô Huế:hay được gọi là Quần thểdi tích
Trang 28Huế, là những di tích lịch sử-văn hoá do triều Nguyễn chủtrương xây dựng trong khoảng thời giantừđầu thếkỷ19 đến nửa đầu thếkỷ20 trên địa bàn kinh đô Huếxưa; nay thuộc phạm vi thành phốHuếvà một vài vùng phụcận thuộc tỉnh Thừa Thiên -Huế, Việt Nam Nơi đây từng là Thủphủcủa 9 đời chúa Nguyễn ởĐàng Trong, là Kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến Kinh đô của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn Nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến những thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổtựtrầm tư u tịch, những thắng tích thiên nhiên thợtrời khéo tạc
27Quần thểdi tích cốđô Huế Ảnh: Trung tâm bảo tồn di tích cốđô HuếHiện tại, cốđô Huếđã được thủtướng chính phủViệt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23
di tích quốc gia đặc biệt quan trọng Tổng thểkiến trúc của Cốđô Huếđược xây dựng trên một mặt bằng với diện tích hơn 500ha và được giới hạn bởi ba vòng thành: Kinh Thành, Hoàng Thành và TửCấm Thành.Tại phiên họp lần thứ17 của Uỷban Di sản thếgiới, Colombia từngày 6 đến 11/12/1993, UNESCO đã công nhận quần thểdi tích Cốđô Huếlà di sản văn hoá thếgiới với tiêu chí (iii): là biểu trưng cho sựnổi bật vềuy quyền của một đếchếphong kiến đã mất của Việt Nam vào thời kỳhưng thịnh nhất của nó đầu thếkỷ19; và tiêu chí (iv): là một điển hình nổi bật của một kinh đô phong kiến phương Đông, gồm 16 hạng mục, trong đó đáng chú ý là hệthống Cung điện trong tửcấm thành, Hoàng Thành, Kinh Thành, các lăng tẩm, đàn Nam Giao, Văn Miếu, Võ Miếu, Chùa Thiên Mụ,
HồQuyền Năm 1993, UNESCO đã công nhận quần thểdi tích Cốđô Huếlà di sản văn hoá thếgiới, là biểu trưng cho sựnổi bật vềuy quyền của một đếchếphong kiến
đã mất của Việt Nam vào thời kỳhưng thịnh nhất của nó đầu thếkỷXIX.+
PhốcổHội An(hay còn gọi là Đô thịcổHội An):Nằm trong thịxã Hội An, PhốcổHội
An là điển hình đặc biệt vềmột cảng thịtruyền thống ởĐông Nam Á được
28bảo tồn nguyên vẹn Hội An cũng là phốcổduy nhất ởViệt Nam được giữgìn nguyên trạng, là một tài sản quý của nhân loại Từlâu Hội An đã được nhắc đến ởnhiều tài liệu trong, ngoài nước, với những tên gọi như: Fayfo, Faifo, Haifoo, Faicfo, Hoài Phổ, Hội An Trước thếkỷXV, nơi đây là một cửa cảng trọng yếu của Chămpa và sau đó, từcuối thếkỷXVI đến đầu thếkỷXIX, với sựkết hợp của nhiều yếu tố, Hội An trởthành một trung tâm giao lưu kinh tế-văn hoá của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á Thuyền buôn và thương nhân của nhiều nước Á -
Âu đã đến đây buôn bán, lập thương điếm và xây dựng phốphường Đồng thời, đây cũng là nơi hình thành chữquốc ngữvà hội nhập của Thiên chúa giáo, Phật giáoởĐàng Trong vào thếkỷXVII.Trong quá trình giao thương, cảng thịHội An luôn mởrộng cửa giao thoa, giao tiếp và hội nhập, tạo nên một sắc thái văn hoá riêng, đa
Trang 29dạng và phong phú trên cảhai phương diện văn hoá vật thểvà phi vật thể Sựhình thành và phát triển của đô thịthương cảng Hội An có ý nghĩa quyết định đến diện mạo di tích, kiến trúc ởđây ỞHội An, các công trình di tích khảo cổ, kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo, làng nghềtruyền thống khá phong phú vềsốlượng, loại hình; được phân bốđều khắp địa bàn.Di sản văn hóa vật thểPhốcổHội An Ảnh: Tác giảThùy Trang
29Khu phốcổlà một thếgiới biệt lập Cảkhông gian và thời gian đều lắng đọng trong những nếp nhà gỗcổxưa Ngoài hình ảnh chiếc cầu Nhật Bản được coi là biểu tượng, Hội An còn chứa đựng một kho di sản văn hoá lịch sửvô giá với 160 ngôi nhà cổ, 20 giếng cổcùng một sốlượng lớn chùa, cầu, miếu đình, nhà thờtộc, hội quán như miếu Quan Công, Hội quán Quảng Đông, hội quán Phước Kiến, chùa Phúc Chánh Phần lớn nhà cửa ởHội An là những kiến trúc có niên đại
từthếkỷ17 đến thếkỷ19 Nhà cửa được phân bốtheo cách kết hợp của hiệu buôn bán, các công trình kiến trúc, tín ngưỡng: đình, chùa, hội quán, miếu, nhà thờtộc, cầu và bến, sông, chợ tạo thành các Phốtheo chiều dọc (Đông-Tây) ởcác phố: Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học, Trần Phú, Phan Chu Trinh, Nguyễn ThịMinh Khai
và một sốđường cắt ngang: Trần Quý Cáp, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Huệ Mặt khác, hạt nhân khu phốcổđược bao bọc xung quanh (trong bán kính 3-5 km) bởi môi trường sinh thái nhân văn độc đáo và phong phú bao gồm: các làng nghềtruyền thống, môi trường sông -nước -biển -bờbiển -đảo -cồn bãi.Chính vì thế, đô thị-Thương cảng Hội An với hạt nhân Phốcổlà di tích lịch sử,
là di sản văn hóa vô giá thuộc loại quý hiếm trên thếgiới đã được Chính phủCHXHCN Việt Nam công nhận và xếp hạng di tích Quốc gia (năm 1985), được dư luận trong nước và thếgiới trân trọng đánh giá cao Ngày 01/12/1999, UNESCO công nhận Khu PhốcổHội An làDi sản Văn hoá Thếgiới đã là khẳng định vịtrí và sựgóp mặt của Di sản Văn hoá Hội An trong kho tàng Di sản Văn hoá nhân loại.Bên cạnh đó, tác giảluận văn lựa chọn thêm 2 di sản thiên nhiên: Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha -KẻBàng đểkhảo sát:+ Vịnh HạLong:Vịnh HạLong nằm ởvùng Đông Bắc Việt Nam, là một phần phía tây Vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phốHạLong, thành phốCẩm Phảvà một phần của huyện đảo Vân Đồn Năm 1962, vịnh HạLong được BộVăn hóa-Thông tin xếp hạng là di tíchdanh thắng cấp quốc gia với diện tích 1.553 km² bao gồm 1.969 hòn đảo
Ngày 17/12/1994, trong Kỳhọp thứ18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di sản thếgiới đã công nhận Vịnh HạLong vào danh mục di sản thiên nhiên thếgiới, với giá trịngoại hạng vềmặt thẩmmỹtheo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tếvềbảo vệDi sản văn hóa và thiênnhiên thếgiới.Vịnh HạLong nổi bật với hệthống đảo đá và
Trang 30hang động tuyệt đẹp Ảnh Ban quản lý vịnh HạLongTháng 7/2000, kỳhọp giữa năm của Trung tâm Di sản thếgiới tại Paris đã chính thức đềnghịỦy ban Di sản Thếgiới công nhận vịnh HạLong là Di sản thếgiới bởi giá trịtoàn cầu vềđịa chất, địa mạo, theo tiêu chuẩn (viii)của UNESCO "là ví dụnổi bật đại diện cho các giai đoạn của lịch sửTrái Đất, bao gồm bằng chứng sựsống, các tiến triển địa chất đáng kểđang diễn ra trong quá trình diễn biến của các kiến tạo địa chất hay các đặc điểm địa chất và địa văn".Ngày 2/12/2000, căn cứCông ước Quốc tếvềbảo vệDi sản văn hóa và thiên nhiên thếgiới và kết quảxét duyệt hồsơ địa chất vịnh HạLong, tại Hội nghịlần thứ24 của Hội đồng Di sản Thếgiới tại thành
phốCairns, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản Thếgiới đã công nhận vịnh
HạLong là di sản thếgiới lần thứ2 theo tiêu
31chuẩn (viii) vềgiá trịđịa chất với hai giá trịnổi bật toàn cầu vềlịch sửđịa chất và địa mạo caxtơ.Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xúc tiến đệtrình UNESCO công nhận Vịnh HạLong là Di sản thếgiới lần thứ3, dựa trên những giá trịvềkhảo cổhọc
và đa dạng sinh học trong vùng vịnh.Vào ngày 12/11/2011, vịnh HạLong được tổchức New7Wonders tuyên bốlà một trong bảy kỳquan thiên nhiên thếgiới mới sau cuộc kiểm phiếu sơ bộ.+ Vườn quốc gia Phong Nha -KẻBàng:Ngày
03/07/2003, UNESCO công nhận Phong Nha -KẻBàng là Di sản Thiên nhiên thếgiới với tiêu chí vềđịa chất -địa mạo, “là ví dụnổi bật đại diện cho các giai đoạn của lịch sửTrái Đất, bao gồm bằng chứng sựsống, các tiến triển địa chất đang diễn
ra đáng kểđang diễn ra trong quá trình diễn biến của các kiến tạo địa chất hay các đặc điểm địachất và địa văn”.Năm 2007, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia Việt Nam đã thống nhất đềnghịThủtướng cho phép BộVHHT&DL ký trình hồsơ gửi UNESCO công nhận vườn quốc gia Phong Nha-KẻBàng là Di sản thiên nhiên thếgiới lần 2 vềtiêu chí đa dạng sinh học Bộhồsơ trình lần này đã được bổsung các
tư liệu quý vềhệđộng thực vật tại vườn quốc gia này Hồsơ trình UNESCO lần nàycũng đã nêu rõ tính nổi bật toàn cầu vềđa dạng sinh học, và tính toàn vẹn của vườn quốc gia Phong Nha-KẻBàng.Sau đó 4 năm, vào ngày 3/7/2015, Vườnquốc gia Phong Nha đã được UNESCO công nhận lần 2 là Di sản thiên nhiên thếgiới với hai tiêu chí: hệsinh thái " là ví dụnổi bật đại diện cho các tiến trình sinhthái trong sựtiến hóa và phát triển của các hệsinh thái trên cạn" và đa dạng sinh học
"sởhữu môi trường sống tựnhiên có ý nghĩa nhất đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học", trởthành vườn quốc gia thứba châu Á và đầu tiên trong khu vực đạt 3 trong số4 tiêu chí
32Vườn quốc gia Phong Nha –KẻBàng Ảnh: Báo Quảng BìnhĐặc biệt, gần đây, đoàn thám hiểm người Anh mới phát hiện ra một trong những hang mới nhất
Trang 31đó là Sơn Đoòng Hang Sơn Đoòng –tọa độ17°27‟25.88′′Bắc 106°17‟15.36′
′Đông , tại xã Sơn Trạch huyện BốTrạch tỉnh Quảng Bình–là hang động tựnhiên lớn nhất thếgiới Hang này nằm trong quần thểhang động Phong Nha –KẻBàng.Việc tìm ra hang Sơn Đoòng được ví như việc tìm thấy đỉnh núi Everest dưới lòng đất Nhờvậy, Sơn Ðoòng vượt qua hang Deer, Vườn quốc gia Gunnung Mulu ởMalaysia đểtrởthành hang động lớn nhất thếgiới.1.3 Vai trò của báo chí vớivấn đề bảo tồn và pháthuy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhậntại Việt NamBáo chí có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, là phương tiện chủlực đểthông tin, tuyên truyền, giáo dục, tổchức, vận động quần chúng thực hiện nhiệm vụtrong thực tiễn Một trong những chức năng quan trọng của báo chí là góp phần nâng cao dân trí, khai sáng dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần cho công chúng.Hiện nay, cảnước có 838 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh, truyềnhình, 92 báo, tạp chí điện tửvà 01 hãng thông tấn quốc gia Với vai trò là
phương tiện thông tin
33nhanh nhạy, kịp thời và rộng khắp, công tác thông tin, tuyên truyền, quảng
bá, giới thiệu công cuộc bảo tồn và phát huy giá trịcác di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam được đẩy mạnh ởtất cảcác loại hình báo chí củacác cơ quan, tổchức, đoàn thểtừTrung ương đến địa phương Thông qua việc truyền thông vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịcác di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam đã làm cho bạn bè quốc tếthấy được những đóng góp to lớn của nền văn hóa Việt Nam vào kho tàng văn hóa nhân loại, phát huy những giá trịtốt đẹp của văn hóa dân tộc trong giao lưu, hội nhập vềvăn hóa với các quốc gia, dân tộc trên thếgiới Đồng thời các cơ quan, tổchức, các nhà quản lý, chuyên gia vềvăn hóa có thêm cơ hội, điều kiện và kinh nghiệm đểtăng cường sựhợp tác trong việc bảo tồn, gìn giữcác di sản văn hóa vật thểđược
UNESCO công nhận tại Việt Nam.Bên cạnh việc tuyên truyền giá trịcủa các di sảnvăn hóa, báo chí còn thông tin vềnhững mặt trái, những nguy cơ đe dọa hủy hoại môi trường tài nguyên di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam; kêu gọi cộng đồng bảo vệ, giữgìn giá trịcủa di sản văn hóacũng như sựứng xửcủa con người đối với công tác bảo vệmôi trường cảnh quan xung quanh các di sản văn hóa này.Thực tếnhững năm qua, báo chí đều đềcập đến nội dung bảo tồn
và phát huy giá trịdi sản văn hoá vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam Không dừng lại đó, báo chí truyền thông còn phát hiện ra những việc làm sai trái như lợi dụng di sản văn hóa đểtrục lợi kinh tế, bất hợp pháp, hay góp phần đưa ra công luận những tổchức cá nhân vi phạm đến di sản văn hóa Những phát hiện này đã góp cho cơ quan quản lý nhà nước ra các văn bản thích hợp đểlàm cho mọi
Trang 32người hiểu hơn những giá trịvềdi sản, từđó tạo được những hành lang pháp lý tác động tích cực trong công tác bảo tồn phát huy di sản.Cụthể, rất nhiều tờbáo đã lên tiếng, chỉra được nguy cơ bịbào mòn do thời gian của di sản văn hóa vật thểQuần thểdi tích cốđô Huế, tham vọng khai thác du lịch quá đà dẫn đến hiệu ứng ngược của di sản văn hóa vật thểPhốcổHội An.Tại PhốcổHội An(Quảng Nam), rất nhiều tin bài phản ánh vềviệc du khách trong và ngoài nước bức xúc khi đi bộcũngbịthu phí, nhiều di tích trong khu đô thịcổHội An cũng đang trong tình trạng xuốngcấp nghiêm trọng, trong đó có di tích Chùa Cầu Các di tích khác cũng có nhiều biến động xấu, như: tình trạng cải tạo, cơi nới; xu
34hướng xây kiến trúc mới của người dân Từnăm 1999 đến nay có hơn 83 trường hợp chuyển nhượng nhà, 181 trường hợp cho những người từcác địa phương khác thuê nhà, 264 trường hợp chủnhà di dời khỏi chỗởcũ.Việc tu bổ, sửa chữa di tích không đúng nguyên tắc, vi phạm quy chế; sửdụng di tích còn sai chức năng.Mặt khác, do công tác quản lý của một sốphòng ban thành phốkhông theo kịpsựphát triển nóng du lịch tại Cẩm Thanh và Cù Lao Chàm đã trởthành thách thức lớn mà Hội An chưa thểgiải quyết dứtđiểm.Trong khi, năm 2009, Cù Lao Chàm –Hội An được công nhận là Khu dựtrữsinh quyển Thếgiới, tất cảnhững vấn đềtrên đều được báo điện tửtruyền thông, phản ánh.Trong 4 loại hình báo chí: báo in, báo truyền hình, báo phát thanh, báo điện tửcùng đưa vềvấn đềnày, thì báo điện tửdù ra đời sau vẫn thểhiện được các ưu thếcủa mình với thông tin nhanh nhạy, chính xác, độphủsóng thông tin rất rộng với lượng độc giảlớn, cập nhật từng giây,từng phút các sựkiện, vấn đề Ví dụnhư ngày 22/04/2014, sau khi một sốngười dân
có thông tin Hội An tiến hành thu phí vào phốcổ, thì các tờbáo điện tửnhư Đất Việt, VietNamNet, VnExrpress đã có tin bài ngay lập tức như "Khách du lịch thất vọng việc Hội An thu phí đi dạo (Đất Việt, ngày 22/4/2014)"; "Thăm Hội
An chịu phí đắt: Khách Tây nổi nóng (VietNamNet, ngày 23/4/2014)" Trong khi
đó, các tờbáo in Nhân Dân, Lao động phải đến sáng ngày 24/4/2014 mới có tin trêntrang báo 1.4.Quan hệ truyền thông giữa loại hình báo điện tử với vấn đề bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO côngnhận tại Việt
Nam1.4.1 Ngôn ngữloại hình của báo điện tửMỗi loại hình báo chí đều có một ngôn ngữloại hình khác nhau với những đặc điểm riêng biệt, đểthểhiện nội dung thông tin đểchuyểntải đến côngchúng và báo điện tửcũng có một ngôn ngữloại hình riêng của mình.Đối với báo điện tửngôn ngữcủa nó luôn mang những đặc điểm sau:Thứnhất,báo điện tửsửdụng ngôn ngữđa phương tiện, điều này có
thểdễdàng nhận thấy khi người đọc tìm đến báo điện tửkhông chỉdừng lại ởviệc
Trang 33đọc thông tin như trên báo in,chỉnghe như trên phát thanh,hay xem và nghe như trên
35truyền hình mà ngôn ngữcủa báo điện tửlà kết hợp của tất cả, là loại ngôn ngữđa phương tiện,công chúng đến với nó có thểsửdụng hầu hếtcác giác quan của mình.Và như thếtất nhiên việc cảm nhận và chiếm lĩnh thông tin sẽtrởnên thuận tiện, dễdàng và khắc sâu hơn.Đó là điều mà cho đến nay không một loại hình báo chí nào chiếm vịtrí của nó được Thứhai,ngôn ngữbáo điện tửcó sựkếthợp nhiều phong cách trong nhiều lớp thông tin.Cụthểtrong tiếp nhận thông tin báo điện tử,người ta không chỉdừng lại ởviệc tiếp nhận thông tin ởmột tờbáo mà còn có thểliên kết với nhiều tờbáo,trang báo khác với lượng thông tin khổng lồhơn Đồng thời còn có thểđược minh họa sinh động bằng các các tệp âm thanh hay các clip truyền hình mà công chúng chỉcần nhấp chuột là họsẽhoàn toàn làm chủmọi thông tin liên quan đến sựviệc mà họquan tâm.Thứba,ngôn ngữbáo điện tửít mang dấu ấn cá nhân Bởi lẽnó là loại ngôn ngữđa phương tiện sửdụng rất nhiều
phương tiện truyền tải như chữviết, hình ảnh, âm thanh và có thểdo nhiều người thểhiện Thêm vào đó là trong một văn bản còn có nhiều lớp thông tin được chứa đựng với nhiều phong cách thểkhác nhau, hòa quyện vào nhau nên phong cách riêng của nhà báo khó lòng được thểhiện rõ nét.Thứtư,cũng giống như các loại hình báo chí khác,ngôn ngữbáo điện tửcũng giàu bản sắc dân tộc và có tính quốc tế.Bởi lẽnó được viết ra nhằm phục vụtất cảcông chúng,ngôn ngữđại chúng đểhiện tinh thần dân tộc Báo điện tửcũng là nơi có sựgiao lưu thông tin với các nước khác,các nền văn hóa khác trên thếgiới.Ngôn ngữtrong các loại hình báo chí nói chung và báo điện tửnói riêng luôn có cách thểhiện riêng của mình và điều quan trọng là các nhà báo phải biết sửdụng một cách phù hợp,hiệu quả,thực hiện chức năng báo chí của mình.1.4.2 Ưu thếvềloại hình của báo điện tửtrong truyền thông vấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđượcUNESCO công nhận tại Việt Nam Theo xu hướng truyền thông hiện nay, báo điện tửđang “lên ngôi” vì
là một trong sốnhững kênh truyền thông đạt hiệu quảcao; thông tin nhanh, rộng khắp,
36thiết thực trong việc giáo dục nâng cao nhận thức của người dân và khảnăng thu hút sựchú ý cũng như tính tương tác cao với độc giả Giải thích hiện tượng này có thểdễhiểu bởi Việt Nam là một quốc gia đang phát triển đặc biệt là sựphát triển đến chóng mặt của ngành công nghệthông tin và truyền thông Tính tới tháng 3/2015, dân sốViệt Nam đã chạm mốc gần 91 triệu người Cùng với xu hướng phát triển của công nghệ, việc người dùng tiếp xúc với Internet ngày càng tăng Người Việt Nam online 5 giờđồng hồbằng các thiết bịvi tính đểbàn và gần 3 tiếng
Trang 34với thiết bịdi động Trung bình việc truy cập và sửdụng các trang mạng xã hội chiếm gần 2 giờthời gian sửdụng Với 45% dân sốsửdụng Internet tức là 41 triệu người dùng Trong đó, có khoảng 30 triệu người sửdụng các trang mạng xã hội, sốngười dùng các mạng này trên thiết bịdi động là 26 triệu người Hầu hết
khoảng thời gian này đều được dùng vào các mạng xã hội Tổng thời gian trungbình mà một người Việt Nam truy cập vào mạng xã hội trong ngày là 2 tiếng (tríchdẫn báo cáo từWeAresocial vềthói quen và hành vi sửdụng Internet hiện nay của người Việt Nam) Qua đây, có thểnhận thấy tiềm năng rất lớn của công chúng báo điện tử Với thếmạnh không một loại hình báo chí, một kênh truyền thông nào có thểcó được, cộng với vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội hiện đạivà một khối lượng công chúng vô cùng lớn, chúng ta có thểhoàn toàn khẳng định được vai trò đặt biệt quan trọng của hoạt động truyền thông vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử Báo điện tửsẽlà một kênh truyền thông và hiệu quảthiết thực nhất khi thông tin vềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam nếu như phát huy hết tiềm năng và thếmạnh của nó Với đặc trưng chuyển tải thông tin tức thời, có tính tương tác cao, hội tụyếu tốđa phương tiện bao gồm chữviết, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, đồhọa, video khảnăng liên kết lớn, báo điện tửcó sốlượng độc giảtruy cập ngày càng tăng Vì thế, báo điện tửcó ưu thếrất lớn trong công cuộc truyền thông vềvấn đề
37bảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam hiện nay Và cũng do đó, chúng tôi lựa chọn thực trạng truyền thông vềvấn đềtrên, không phải trên báo in, báo nói, báo hình mà trên báo điện tử, với đối tượng khảo sát là 3 tờbáo điện tửVietNamNet, VnExpress, Đất Việt Bởi vì đây là những tờbáo có uy tín và có sốlượng độc giảtruy cập lớn, do đó trên 3 tờbáođiện tửnày có rất nhiều tin, bài phản ánh vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trong suốt thời gian qua (từtháng 01/2014 đến tháng 12/2015).Đầu tiên phải kểđến tính đa phương tiện, báođiện tửlà một loại hình báo chí tổng hợp, tích hợp nhiều công
nghệ(multimedia).Trên một tờbáo điện tử, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo điện tửcó thểtích hợp cảbáo viết, báo phát thanh và báo hình Một sản phẩm báo chí đa phương tiện phải bao gồm những thành phần sau: văn bản , hình ảnh tĩnh
và đồhọa, âm thanh, hình ảnh động, các chương trình tương tác Hay nói cách khác, đa phương tiện trên báo điện tửlà việc sửdụng nhiều phương tiện ( ngôn ngữvăn tựvà phi văn tự) đểthực hiện 1 sản phẩm báo chí Chính vì vậy khi đọc báo điện tử, người truy cập có thểchủđộng xem những tác phẩm mình quan tâm ởbất kì
Trang 35trang nào giống như báo in Đồng thời cũng được trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hềbịphụthuộc vào các yếu tốthời gian, không gian Sựtích hợp đa dạng này giúp cho báo điện tửcóđược những yếu tốhấp dẫn của các loại hình báo chí khác, vì thếmà trởnên sinh động hơn, hấp dẫn hơn Ví dụ, các bài viết vềdi sản văn hóa Quần thểdi tích cốđô Huế, PhốcổHội An trên báo điện tửchủyếu là tin ảnh, kèm video lột tảsựchân thực trong vẻđẹp của di sản Như hàng loạt các bài viết: 'Vấn vương phốHội' trong mắt nhiếp ảnh gia Pháp (Đất Việt, ngày 14/07/2015); Ngắm vẻđẹp của điểm đến lãng mạn nhất thếgiới ởViệt Nam (Đất Việt, ngày 10/03/2015); PhốcổHội An lung linh hoa đăng tết Nguyên tiêu (VnExpress, ngày 14/2/2014); Cao cao đèn lồng Hội An(VnExpress, ngày 6/8/2015) Những tin, bài này đều dùng các hình ảnh đểmiêu tảvẻđẹp của di sản và tất nhiên hiệu quảcủa việc phát huy giá trịdi sản bằng cách quảng bá hình ảnh cho
nhiều người biết là chắc chắn So với báo in thì hình ảnh mờ, không thểdùng nhiềuảnh, còn báo phát thanh thì không thểcó hình ảnh đểđộc giảxem.Báo điện tửcòn cóđặc trưng rõ nét là tính tức thời và phi định kì, loại hình này vượt qua rào cản màcác loại hìnhbáo chí khác vướng phải, nội dung thông tin không bịgiới hạn bởi khuôn khổcủa trang báo, thời lượng phát sóng hay thời gian tuyến tính Thông tin trên báo điện tửcó thểsống động, nóng hổi đến từng giờ, từng phút, thậm chí là từng giây Chỉcó báo điện tửmới có khái niệm “bài báo mở” nghĩa là: sau khi phát hành vẫn có thểtiếp tục được cập nhật.Thêm một ưu thếkhác của báo điện tửlà tínhtương tác cao: tương tác có vai trò rất quan trọng trong hoạt động truyền thông nói chung và trong hoạt động báochí nói riêng Tương tác là đặc điểm chính của công nghệmới, đòi hỏi mô hình đa chiều trong truyền thông.Người truy cập có thểchủđộng tìm kiếm và lựa chọn thông tin hơn chỉlà đơn thuần nhận thông tin từnhà báo Ngoài ra độc giảcòn tham gia vào quátrình cung cấp thông tin, vì
thếkhoảng cách giữa nhà báo, tờbáo và người đọc được rút ngắn lại, là động lực thúc đẩy sựphát triển và góp phần nâng cao hiệu quảtruyên thông Ngay sau mỗi tác phẩm báo chí đăng trên trang báo điện tửđều có mục phản hồi,ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác khác như feedback, vote, email, forum tiện cho độc giảdễdàng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy.Tính tương tác của báo điện tửđược hiểu ở3 góc độsau: tính tương tác có định hướng -là sựđịnh vịtrên các văn bản giúp công chúng chủđộng và di chuyển dễdàng trong một trang hoặc giữa các trang báo với nhau ; tương tác chức năng -là sựlinh hoạt của các đường dẫn cho phép người đọc khảnăng tham chiếu tới các nội dung khác; tương tác tùy biến -là tính thông minh ởcác công cụcá nhân,
Trang 36ởcác site nội dung chia sẻvà thảo luận.Tính tương tác trên báo điện tửcó nhiều ưu điểm như nhận sựphản hồi nhanh qua hệthống thư điện tử, là chiếc cầu nối thân thiện kết nối tòa soạn với độc giảthông qua thiết lập các cuộc giao lưu trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến ngoài
39ra báo điện tửcòn có lợi thếtrong việc thiết lập các diễn đàn nhằm thu hút sựquantâm, trao đổi, tăng mối quan hệgiữa tòa soạn với độc giả, độc giảvớiđộc
giả.Khảnăng lưu trữvà tìm kiếm thông tincũng là một ưu thếcủa báo điện tửkhông bịgiới hạn bởi sốtrang, khuôn khổhay thời lượng, chương trình như các loại hình báo chí khác Ngoài ra, báo điện tửcó độlan toảcao, dễdàng đính chính, chi phí thấp do chỉphải post bài một lần duy nhất, đồng thời thông tin lại có giá
trịsửdụng cao hơn do được đọc theo nhu cầu của độc giả.Báo điện tửđã và đang cómột vịthếxứng đáng, trởthành món ăn tinh thần không thểthiếu được trong đời sống người dânbởi sức mạnh thực sựcủa nó Xu hướng phát triển của báo điện tửsẽnhư vũ bão trong thời gian tới, sốlượng người truy cập sẽngày càng tăng lên nhanh chóng, tạo ra sựcạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình truyền thông.Tuy vậy, báo điện tửcòn một vài hạn chế, đó là độtin cậy của thông tin còn thấp, muốn đọc được báo điện tửthì độc giảít nhất cũng phải có máy tính nối mạng, và biết những thao tác sửdụng đơn giản nhất Mặt khác, toàn bộnội dung thông tin gần như bịphụthuộc vào sựổn định của hệthống máy móc Khi gặp các sựcốnhư cháy, hỏng, virusphá hoại, tin tặc tấn công thì nội dung lưu trữcó thểbịchỉnh sửa, làm sai lệch hoàn toàn hoặc khó khôi phục lại được Do vậy, công tác quản lý thông tintrên báo điện tửcũng khó khăn hơn các loại hình báo chí khác Những hạn chếnày
đã gây trởngại không nhỏvà cũng đang là những tồn tại trong hoạt động truyền thông vềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận trên báo điện tử Chính vì thế, đểtận dụng được lợi thếvềloại hình, khắc phục những lỗi truyền thống của loại hình đang tồn tại, cần có một mô hình
truyền thông riêng cho báo điện tử, dù hiện nay đã có mô hình truyền thông cơ bản cho tất cảcác loại hình báo chí Mô hình trên sẽcó những thay đổi đểtận dụng lợi thếvà khắc phục những hạn chếđểphát huy trong khi truyền thông vềvấn đềbảo tồn
và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam.40Tiểu kết chương 1Di sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong mối tương tác giữa con người với môi trường tựnhiên và môi trường xã hội và được sửdụng phục vụcho chính đời sống của con người, từđó hình thành, khẳng định các giá trịcủa chúng vềlịch sử, văn hóa, khoa
học Theo UNESCO phân chia thành disản văn hóa và thiên nhiên; di sản văn hóaphi vật thể, dựa theo cách chia này Luật di sản văn hóa Việt Nam chỉchia thành 2
Trang 37dòng: Di sản văn hóa vật thểvà di sản văn hóa phi vật thể Ởtrong luận văn này chúng tôi chỉchú trọng nghiên cứu 1 trong 2 loại di sản văn hóa, đó là di sản văn hóa vật thể, cụthểhơn là dòng di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam Riêng vềdi sản văn hóa vật thểcó nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau, tuy nhiên theo quan điểm của UNESCO thì có thểkhái quát như sau: di sản văn hóa vật thểlà những sản phẩm văn hóa hữu hình, tồn tại dưới dạng vật thểcó hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc và kiểu dáng trong không gian và thời gian xác định Đồng thời, nó luôn chịu sựthách thức bào mòn của quy luật thời gian trong những tác động, chi phối của con
người Đặc biệt, các di sản văn hóa vật thểđang đối diện với những thách thức vềbảo tồn giá trịdi sản, đứng trước những mối đe dọa vềphát triển kinh tế, khai thác du lịch quá đà Vì thếmà cácdi sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam đang đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc Qua đó, đểthấy vấn đềbảo tồn, phát huy giá trịnhững di sản văn hóa vật thểđược UNESCO công nhậntại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, thách thức xuất phát từnguyên nhân chủquan và khách quan Do đó cần có sựchung tay góp sức của nhiều tổchức cá nhân nhằm lưu giữnhững giá trịvăn hóa tốt đẹp này, trong đó, báo chí là phương tiện truyền thông đóng vai trò quan trọng nhất Báo điện tửtuy ra đời muộn hơn so với các loại hình báo chí khác, thếnhưng theo xu hướng truyền thông hiện nay, báo điện tửđang “lên ngôi” vì là một trong sốnhững kênh truyền thông đạt hiệu quảcao và chứng kiến sự"chìm xuồng" của báo
41viết.Giải thích hiện tượng này có thểdễhiểu bởi Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, đặc biệt là sựphát triển đến chóng mặt của ngành công nghệthông tin và truyền thông Cùng với xu hướng phát triển của công nghệ, việc người dùng tiếp xúc với Internet ngày càng tăng Người Việt Nam online 5 giờđồng hồbằng các thiết bịvi tính đểbàn và gần 3 tiếng với thiết bịdi động Trung bình việctruy cập và sửdụng các trang mạng xã hội chiếm gần 2 giờthời gian sửdụng Với 45% dân sốsửdụngInternet tức là 41 triệu người dùng Trong đó, có khoảng 30 triệu người sửdụng các trang mạng xã hội, sốngười dùng các mạng này trên thiết bịdi động là 26 triệu người Trên thếgiới, tính đến ngày 26/6/2016 sốlượng người sửdụng Internet cũng khoảng3,4 tỷngười và sốlượng này ngày một gia tăng Cho nên với những lợi thếcủa mình báo điện tửsẽlà một kênh truyền thông hiệu quảthiếtthực nhất khi thông tin vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóa vật
thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam Thếnhưng, đểtận dụng được lợi thếvềloại hình, khắc phục những lỗi truyền thống của loại hình đang tồn tại, cần cómột mô hình truyền thông riêng cho báo điện tử.Đểbiết rõ hiện nay báo điện
Trang 38tửđang truyền thông như thếnào vềvấn đềbảo tồn và phát huy giá trịdi sản văn hóavật thểđược UNESCO công nhận tại Việt Nam trong chương 2, tác giảsẽphân tích sâu vềvấn đềnày
Trang 39CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG TRÊN BÁO ĐIỆN TỬVỀVẤN ĐỀBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊDI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM (Khảo sát 4di sản: Quần thểdi tích cốđôHuế, PhốcổHội An, Vịnh HạLong, Vườn quốc gia Phong Nha -KẻBàngtrên 3 báo điện tử)2.1 Vài nét về các báo điện tử được khảo sát2.1.1 Báo điện
tửVnExpressBáo VnExpress.net được thành lập bởi tập đoàn FPT vào ngày
26/2/2001 và được bộVăn hóa và Thông tin cấp Giấy phép số511/GP –
BVHTT ngày 25/11/2002 Tòa soạn có trụsởtại tầng 5, Tòa nhà FPT Cầu Giấy, phốDuy Tân, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Thành phốHà Nội Vănphòng đại diện Thành phốHồChí Minh ởsố408, đường Điện Biên Phủ, phường
11, quận 10 Hiện tại Tổng biên tập của tờbáo là ông Thang Đức Thắng.Ngày 26/2/2011, trang báo điện tửthuần túy (không có phiên bản in) Báo VnExpress.net
ra đời, không quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, không có lễkhai trương Nhưng 6 tháng sau, với 300.000 địa chỉIP thường xuyên truy cập, Báo VnExpress.net đã vươn lên vịtrí dẫn đầu trong sốcác website tiếng Việt trên toàn cầu.Ngày 25/11/2002, Báo VnExpress là báo đầu tiên của Việt Nam được cấp phép chuyên hoạt động trên Internet Cơ quan chủquản là BộKhoa học Công nghệ Báo phát triển với nguồn thu duy nhất là từquảng cáo Kểtừkhi được thành lập BáoVnExpress luôn giữvững và phát huy vịtrịbáo điện tửtiếng Việt có sốlượng độc giảtruy cập lớn nhất toàn cầu Tháng 6/2007, Báo VnExpress trởthành báo điện tửViệt Nam đầu tiên góp mặt vào Top 100 trong bảng xếp hạng các trang web có nhiều người đọc nhất thếgiới do trang web Alexa.com bình chọn, ghi dấu mốc quan trọng trong sựphát triển nội dung trực tuyến tại Việt Nam.Theo Google
Analytics, Báo VnExpress hiện có 13 triệu độc giảthường xuyên (unique visitors),với khoảng 30 triệu lượt truy cập (pageviews) mỗi ngày Trung bình mỗi ngàybáo cập nhật khoảng 150 đầu tin bài, trong đó 95% là sản phẩm do phóng viên, biên tập viên Báo VnExpress thực hiện Trong số14 trang nội
43dung chuyên đề, các trang: Xã hội, Văn hóa, Thểthao, Pháp luật, Thếgiới có lượng bạn đọc lớn hơn cả.Ngay từngày đầu thành lập, Báo VnExpress đã xây dựng và trung thành với đường lối đưa tin: nhanh nhạy, khách quan, thái độxây dựng Tháng 8/2008, sau 7 năm kểtừkhi ra đời, Báo VnExpress.net lần đầu tiên thay đổi giao diện Trong 3 năm (2005, 2006,2007), Báo VnExpress liên tiếp đạt Cup vàng công nghệthông tin và truyền thông do Hội Tin học Việt Nam tổchức Trong 3 năm (2003,2008,2010) Tạp chí Thếgiới Vi tính PCWorld bình chọn Báo VnExpress là sản phẩm Công nghệThông tin ưa chuộng nhất Báo VnExpress đã được nhiều Bằng khen củaBộThông tin và Truyền thông, Quốc
Trang 40phòng, Ngoại giao, Nông nghiệp -Phát triển nông thôn, Ủy ban Nhân dân thành phốHà Nội 2.1.2 Báo điện tửVietNamNetVietNamNet được cấp giấy phép hoạt động trên mới nhất vào ngày 23 tháng 1 năm 2003 (sốgiấy phép: 27/GP-BVHTT) Báo điện tửra hằng ngày bằng tiếng Việt và tiếng Anh Tờbáo có các chuyên mục như: quốc tế, công nghệthông tin, thểthao, âm nhạc, thời trang và trực tuyến phỏng vấn, nghe nhạc.Ngày 21 tháng 3 năm 2008, Thủtướng Chính phủđã có văn bản đồngý tách các báo điện tửVietNamNet thành Công ty Phần mềm và Truyền thông (VASC) theo đềnghịcủa VNPT.Ngày 15 tháng 5 năm 2008, BộThông tin & Truyền thông đềnghịvới VNPT tách VietNamNet ra khỏi VNPT vềtrực thuộc BộThông tin & Truyền thông Tổng Biêntập đầu tiên của VietNamNet là ông Nguyễn Anh Tuấn Và hiện tại là ông Phạm Anh Tuấn.TrụsởBáo VietNamNet: Tòa nhà C‟Land -156 Xã Đàn 2, Phường Nam Đồng -Quận Đống Đa, Hà Nội Văn phòng đại diện tại TP.HCM: Lầu 5, tòa nhà TF, 408 Điện Biên Phủ, P.11, Q.10, TP.HCM.Báo VietNamNet có những chuyên mục chính là Xã hội, Công nghệ, Kinh doanh, Chính trị, Sức khỏe, Giải trí, Thể thao, Đời sống, Xã hội, Quốc tế.2.1.3 Báo điện tửĐất ViệtBáo Đất Việt được thành lập từ1/12/ 2007 và có mặt trong làng báo Việt Nam gần 10 năm Dù khá non trẻnhưng Đất Việt đã thành công vềmặt thương hiệu,
44được nhiều bạn đọc biết đến và có thểso sánh với một sốtờbáo lâu năm trong lĩnh vực chính trị-xã hội Mảng khoa học, quốc phòng là thếmạnh của chúng tôi
và được dư luậnđánh giá cao Hiện tờbáo đã có thêm rất nhiều ấn phẩm phụnhưBóng đá toàn cầu, nguyệt san VIP Đất Việt, ấn phẩm Chuyện đời.Cơquan chủquản của Báo Đất Việt là Liên hiệp Các hội Khoa học -Kỹthuật Việt Nam, tòa soạn có trụsởtại Số27, Lô 4A, Trung Yên 10, Khu đô thịTrung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội Tổng biên tập của tờbáo là ông Vũ Hữu Nghị Với quan điểm "Đất Việt -kết nối sức mạnh Việt", báo Đất Việt đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc truyền tải các thông tin đến độc giả Đặc biệt, là diễn đàn của Liên hiệp các hội khoa học kỹthuật Việt Nam, là trang diễn đàn trí thức cho các nhà khoa học, báo Đất Việt đang ngày càng khẳng định được vịthếcủa mình trên làng báo Hầu hết các loạt bài khoa học của báo Đất Việt đều mang tính chất phản biện khách quan dưới dạng ý kiến, quan điểm của các nhà khoa học có tiếng trong từng lĩnh vực 2.2 Thực trạng truyền thông về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An trên báo điện tử VnExpress, VietNamNet, Đất Việt (từ 01/2014-12/2015)2.2.1 Tiêu chí chọn bài báo điện tửkhảo sát2.2.1.1 Nội dung thông tinTất cảcác bài báo trên 3 tờbáo điện
tửVnExpress, VietNamNet, Đất Việt có nội dung đềcập đến vấn đềbảo tồn và phát