MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1.Lí do chọn đề tài 1 2. Mục tiêu nghiên cứu 2 3.Nội dung nghiên cứu 2 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3 1.1. Tổng quan về phế phẩm nông nghiệp 3 1.1.1.Khái niệm và phân loại phế phẩm nông nghiệp 3 1.1.2. Nguồn gốc phát sinh 5 1.1.3 Thành phần phế phẩm nông nghiệp 6 1.2.Hiên trạng về công tác thu gom,xử lý và sử dụng phế phẩm nông nghiệp trên Thế Giới và Việt Nam 8 1.2.1.Tình hình trên Thế Giới 8 1.2.2. Tình hình ở Việt Nam 11 1.3.Điện kiện tự nhiên ,kinh tế xã hội của huyện Thanh Hà 14 1.3.1. Điều kiện tự nhiên huyện Thanh Hà 14 1.3.2.Điều kiện kinh tế xã hội 17 1.4. Một số thông tin chung về tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn hai xã Thanh Thủy và Hợp Đức. 21 CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.1. Đối tượng nghiên cứu 24 2.2. Phạm vi nghiên cứu 24 2.3. Phương pháp nghiên cứu 24 2.3.1.Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 24 2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 24 2.3.3. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc 25 2.3.4.Phương pháp tính lượng phát thải khí nhà kính 26 2.3.5.Phương pháp xử lý số liệu 27 CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28 3.1. Lượng phát sinh phế phụ phẩm nông nghiệp tại xã Thanh Thủy và xã Hợp Đức. 28 3.2. Hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp 30 3.2.1. Hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm từ lúa 30 3.2.2. Hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm từ cây Ngô 36 3.2.3.Các biện pháp xử lý phế thải nông nghiệp đã được áp dụng ở địa phương 39 3.3.Tính toán lượng phát thải từ hoạt động sử dụng phế phẩm nông nghiệp 40 3.4. Giải pháp sử dụng phế phẩm nông nghiệp hiệu quả. 44 3.4.1.Giải pháp sử dụng rơm ra hiệu quả 44 3.4.2.Giải pháp sử dụng trấu 47 3.4.3.Giải pháp sử dụng lõi ngô 49 3.4.4.Giải pháp sử dụng thân và lá ngô 50 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53 1.Kết luận 53 2. Kiến nghị 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
TRỊNH VĂN HOÀNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ PHẾ PHẨM NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
TRỊNH VĂN HOÀNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ PHẾ PHẨM NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã ngành : 52850101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.S TẠ THỊ YẾN
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đồ án: "Đánh giá hiện trạng phát sinh và đề xuất giải phápsử dụng hiệu quả phế phẩm nông nghiệp tại huyện Thanh Hà- tỉnh Hải Dương " làkết quả nhiên cứu của bản thân, chưa từng được thực hiện trước đây Những phầnsử dụng tài liệu tham khảo trong đồ án là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịutrách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của Khoa và Nhà trường
Sinh viên
Trịnh Văn Hoàng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện đồ án này, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận đượcnhiều sự giúp đỡ từ phía các cá nhân, cơ quan
Đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu TrườngĐại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, quý thầy, cô trong khoa Môi trường,phòng thí nghiệm khoa Môi trường đã tận tình truyền đạt kiến thức, tạo mọi điềukiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp của mình
Xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - Th.S Tạ Thị Yến đã dànhnhiều thời gian, chỉ dẫn, sữa chữa, tạo mọi điều kiện thuận lợi về phương pháp thựchiện và cách thức thực hiện, để tôi có thể hoàn thành đồ án
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình làm đồ án này
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Trịnh Văn Hoàng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3.Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về phế phẩm nông nghiệp 3
1.1.1.Khái niệm và phân loại phế phẩm nông nghiệp 3
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh 5
1.1.3 Thành phần phế phẩm nông nghiệp 6
1.2.Hiên trạng về công tác thu gom,xử lý và sử dụng phế phẩm nông nghiệp trên Thế Giới và Việt Nam 8
1.2.1.Tình hình trên Thế Giới 8
1.2.2 Tình hình ở Việt Nam 11
1.3.Điện kiện tự nhiên ,kinh tế - xã hội của huyện Thanh Hà 14
1.3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Thanh Hà 14
1.3.2.Điều kiện kinh tế- xã hội 17
1.4 Một số thông tin chung về tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn hai xã Thanh Thủy và Hợp Đức 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1.Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 24
2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 24
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc 25
2.3.4.Phương pháp tính lượng phát thải khí nhà kính 26
2.3.5.Phương pháp xử lý số liệu 27
Trang 6CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Lượng phát sinh phế phụ phẩm nông nghiệp tại xã Thanh Thủy và xã Hợp Đức 28
3.2 Hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp 30
3.2.1 Hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm từ lúa 30
3.2.2 Hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm từ cây Ngô 36
3.2.3.Các biện pháp xử lý phế thải nông nghiệp đã được áp dụng ở địa phương 39
3.3.Tính toán lượng phát thải từ hoạt động sử dụng phế phẩm nông nghiệp 40
3.4 Giải pháp sử dụng phế phẩm nông nghiệp hiệu quả 44
3.4.1.Giải pháp sử dụng rơm ra hiệu quả 44
3.4.2.Giải pháp sử dụng trấu 47
3.4.3.Giải pháp sử dụng lõi ngô 49
3.4.4.Giải pháp sử dụng thân và lá ngô 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
1.Kết luận 53
2 Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
UBND Ủy ban nhân dân
BVTV Bảo vệ thực vật
VSV Vi sinh vật
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
GTNT Giao thông nông thôn
ATTP An toàn thực phẩm
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change (Ban liên chính phủ về
Biến đổi Khí hậu)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần chất thải trong trồng trọt 6
Bảng 1.2 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở Trung Quốc 10
Bảng 2 1: Hệ số phát thải mặc định của các loại nhiên liệu (kg /TJ) 26
Bảng 2.2: Nhiệt trị của nhiên liệu 27
Bảng 3.1: Một số cây trồng chính của 2 xã Thanh Thủy và Hợp Đức năm 2015 22
Bảng 3.2 : Số hộ trồng lúa và ngô ở xã Thanh Thủy và xã Hợp Đức 23
Bảng 3.3: Khối lượng các loại phụ phẩm nông nghiệp tại điểm nghiên cứu năm 2015 29
Bảng 3.4: Các hình thức quản lý và sử dụng rơm rạ ở xã Thanh Thủy 31
và Hợp Đức 31
Bảng 3.5: Các hình thức quản lý và sử dụng trấu ở xã Thanh Thủy 34
và Hợp Đức 34
Bảng 3.6: Các hình thức quản lý và sử dụng thân và lá ngô ở xã 36
Bảng 3.7: Các hình thức quản lý và sử dụng lõi ngô ở xã Thanh Thủy và Hợp Đức 38
Bảng 3.8 Hình thức xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp của xã Thanh Thủy và Hợp Đức 39
Bảng 3.9 : Hệ số phát thải mặc định của các loại nhiên liệu (kg /TJ) 41
Bảng 3.10: Nhiệt trị của nhiên liệu 41
Bảng 3.11 : Lượng Ceq tương đương phát thải trong hoạt động sử dụng phế phẩm nông nghiệp 44
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Các loại bã nông nghiệp 4
Hình 1.2 Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn nông nghiệp 5
Hình 1.3.Bản đồ huyện Thanh Hà 15
Hình 3.1 : Các phụ phẩm cây lúa sau khi thu hoạch 30
Hình 3.2.Biểu đồ thể hiện các hình thức sử dụng rơm rạ tại 2 xã 31
Hình 3.3 Các hình thức sử dụng rơm rạ 33
Hình 3.4.Biểu đồ thể hiện các hình thức sử dụng trấu tại 2 xã 35
Hình 3.5 Các phụ phẩm cây ngô sau khi thu hoạch 36
Hình 3.6.Biểu đồ thể hiện các hình thức sử dụng thân và lá ngô tại xã Thanh Thủy và Hợp Đức 37
Hình 3.7.Biểu đồ thể hiện các hình thức sử dụng lõi ngô tại xã 38
Hình 3.8.Biểu đồ thể hiện các hình thức sử dụng phế phẩm nông nghiệp 39
Hình 3.9.Thu hoạch nấm rơm……….47
Hình 3.10.Nấm rơm sau khi làm sạch 45
Hình 3.11 Máy ép củi trấu…………
……….50 Hình 3.12.Thanh củi trấp sau khi ép… 48
Hình 3.13 Sản phẩm làm từ vỏ trấu 48
Trang 10MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Từ xưa đến nay, nông nghiệp là một lợi thế to lớn của nước ta, với trên 9triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có hai vùng đồng bằng phì nhiêu đó là vùng đồngbằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng Hai vùng này là những vùng trồnglúa được xếp vào loại tốt nhất của thế giới Năm 2015, giá trị sản lượng của nôngnghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng ,tăng 1,32% so với năm 2014 Nền nông nghiệp
chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước(Theo tổng cục thống kê Việt Nam) Chính
vì thế nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam hiện nay Trongnăm 2010, có khoảng 60% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản Sản lượng nông nghiệp xuất khẩu chiếm khoảng 30% trong năm 2010.Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Namlà nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Ngoài ra còn có những nông sảnquan trọng khác như cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường và trà
Bên cạnh mức tăng trưởng xuất khẩu nông sản còn đọng lại vấn đề về các bãichứa, đầu ra cho các phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch như rơm rạ, vỏ trấu, thâncây chuối, vỏ dừa, bã mía, … Số liệu hàng trăm ngàn tấn nông sản xuất khẩu hàngnăm, tương ứng với con số gấp nhiều lần như thế về phế phẩm nông nghiệp thải ramôi trường sẽ là vấn nạn đe dọa ô nhiễm môi trường cho các tỉnh đang có thế mạnhvề sản xuất nông nghiệp Đây chính là một trong những vấn đề gây ô nhiễm môitrường đang được công chúng và các nhà quản lý môi trường quan tâm tìm cách xửlý
Thanh Hà là một huyện của tỉnh Hải Dương, đất đai do phù sa bồi tụ, sôngngòi nhiều nên rất màu mỡ, phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp,nổi tiếng với đặc sản vải thiều Nằm ở phía Đông Nam tỉnh, phía đông giáp huyệnKim Thành, phía Nam giáp huyện An Lão (thành phố Hải Phòng), phía Bắc và phíaTây giáp thành phố Hải Dương Là một huyện có nguồn lao động dồi dào phát triểnkinh tế nông nghiệp nhưng vẫn theo hướng lạc hậu dẫn đến tác động về môi trườngtương đối lớn
Trang 11Chính vì thế mà cần có những phương pháp những nghiên cứu khả thi và
hiệu quả để tận dụng nguồn phế thải nông nghiệp dồi dào hiện nay và đề tài " Đánh giá hiện trạng phát sinh và đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả phế phẩm nông nghiệp tại huyện Thanh Hà- tỉnh Hải Dương" được chọn làm đề tài đồ án tốtnghiệp của tôi để nghiên cứu đánh giá tính khả thi của nó trong thực tế và nhằm sửdụng nguồn nhiên liệu này một cách hiệu quả, bền vững, tạo điều kiện phát triểnvùng nông thôn, cũng như cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường do các phế phẩmnày gây ra
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phát sinh phế phụ phẩm nông nghiệp tại huyện ThanhHà
- Đề xuất phương pháp sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp thích hợp
3.Nội dung nghiên cứu
- Thu thập các dữ liệu về cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyệnThanh Hà
- Tính toán lượng phát sinh phế phẩm nông nghiệp tại huyện Thanh Hà
- Đánh giá hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Đánh giá tác động môi trường từ thải bỏ phế phẩm nông nghiệp
- Đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả nhằm tiết kiệm năng lượng và bảo vệmôi trường
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về phế phẩm nông nghiệp
1.1.1.Khái niệm và phân loại phế phẩm nông nghiệp
a.Khái niệm
Phụ phế phẩm là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụngvà thải ra[5] Trong cuộc sống, phế phẩm được hình dung là những chất không cònđược sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng
Phụ phế phẩm nông nghiệp là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt độngnông nghiệp,vật liệu không sử dụng được, chất lỏng hoặc rắn, là kết quả của hoạtđộng nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, dư lượng cây trồng (như vườn cắt tỉa)và phân gia súc [15] Những người khác xem chất thải nông nghiệp bao gồm nhữngthứ như chất thải thuốc trừ sâu, thùng chứa thuốc trừ sâu bị loại bỏ, nhựa như bọcthức ăn ủ chua, túi xách và lá, chất thải bao bì, máy móc cũ, dầu, thuốc thú y thải.Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào chất thải nông nghiệp là các phụ phế phẩm từsản xuất nông nghiệp
Phụ phẩm nông nghiệp là những chất hữu cơ, có thể còn non, xanh; có thể đã
xơ cứng vì silic hoá như trấu hay lignin hoá như gỗ Chúng còn có thể được xemnhư là một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trình quang tổng hợp vàcác quá trình sinh học khác trong sản xuất nông nghiệp[6] Là những sản phẩm phụthu được từ cây trồng như: rơm lúa, thân ngô, thân lạc, ngọn mía, bã mía, cỏ khô, bãsắn
b.Phân loại
*)Bã nông nghiệp
Chất thải nông nghiệp là các chất dư thừa sau các vụ thu hoạch Chúng cóthể được thu gom với các thiết bị thu hoạch thông thường cùng lúc hoặc sau khi gặthái Các chất thải nông nghiệp bao gồm thân và lá bắp, rơm rạ, vỏ trấu, mía, Ởmột số nơi, đặc biệt những vùng khô, các chất bã cần phải được giữ lại nhằm bổsung các chất dinh dưỡng cho đất cho vụ mùa kế tiếp Tuy nhiên, đất không thể hấpthu hết tất cả các chất dinh dưỡng từ cặn bã, các chất bã này không được tận dụngtối đa và bị mục rữa làm thất thoát năng lượng
Trang 13Hình 1.1 Các loại bã nông nghiệp.
*)Chất thải từ chăn nuôi gia súc
Chất thải từ chăn nuôi gia súc, như phân trâu, bò, heo và gà, có thể đượcchuyển thành gas hoặc đốt trực tiếp nhằm cung cấp nhiệt và sản xuất năng lượng.Phần lớn phân gia súc có hàm lượng methane khá cao nên các bánh phân được dùngnhư nhiên liệu cho việc nấu nướng Tuy vậy, phương pháp này khá nguy hiểm vìcác chất độc hại sinh ra từ việc đốt phân là nguy hại đối với sức khỏe người tiêudùng, là nguyên nhân gây ra 1,6 triệu người chết mỗi năm ở các nước đang pháttriển[16] Các chất thải gia súc có thể được sử dụng để sản xuất ra nhiều loại sảnphẩm và tạo ra điện năng thông qua các phương pháp tách methane và phân hủyyếm khí
Để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm của con người, ngành chăn nuôi thế giới
đã phát triển rất nhanh và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Ngành chăn nuôi thếgiới hiện chiếm 70% diện tích đất nông nghiệp và 30% diện tích đất tự nhiên(không kể diện tích đất bị băng bao phủ) Chăn nuôi đóng góp khoảng 40% tổngGDP nông nghiệp toàn cầu Tuy nhiên, bên cạnh việc sản xuất và cung cấp mộtlượng lớn sản phẩm quan trọng cho nhu cầu của con người, ngành chăn nuôi cũng
đã gây nên nhiều hiện tượng tiêu cực về môi trường Ngoài chất thải rắn và chất thảilỏng, với các khí thải gây hiệu ứng nhà kính như: CO2, CH4, N2O… chăn nuôi hiệnđang đóng góp tới 18% hiệu ứng nóng lên của trái đất, và theo dự đoán các loại chấtthải này sẽ tăng lên trong thời gian tới [16]
Trang 141.1.2 Nguồn gốc phát sinh
Nguồn gốc phát sinh phế thải nông nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau vàđược thể hiện qua sơ đồ sau :
Hình 1.2 Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn nông nghiệp
(Nguồn : Nguyễn Đinh Hương và CS',2006) [9]
Phế phẩm nông nghiệp phát sinh trong quá trình chế biến các loại cây côngnghiệp, cây lương thực, cây hoa màu, sản xuất hoa quả, thực phẩm, sinh ra từ hoạtđộng chăn nuôi
Phế thải nông nghiệp phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như trong quá trìnhtrồng trọt, thu hoạch nông sản, quá trình sử dụng thuốc BVTV, quá trình bón phân,kích thích sinh trưởng Trong quá trình trồng trọt, phế phẩm nông nghiệp chính làcành lá bị cắt tỉa,các loại cỏ dại bị con người loại bỏ khi chống sâu hại con người đãsử dụng các loại phân bón hoá học, các loại thuốc BVTV nhưng bao bì và chai lọđựng các hóa chất, túi nilon túi giấy đựng phân bón đó lại bị vứt bừa bãi trên đồngruộng trở thành phể thải nông nghiệp có tính nguy hại cao cần phải có biện pháp thu
Trang 15gom và xử lý thích hợp Ngoài ra phế thải nông nghiệp còn phát sinh trong quá trìnhthu hoạch nông sản như; rơn rạ, trấu, thân lá lõi ngô, bã mía Đây là nguồn phế thảichính và hiện đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường nếu không được xử lý kịpthời.
1.1.3 Thành phần phế phẩm nông nghiệp
Phế thải nông nghiệp bao gồm nhiều chủng loại khác nhau, phần lớn là cácthành phần có thể phân hủy sinh học và một phần là các chất khó phân hủy và độchại
Thành phần chính của chất thải nông nghiệp bao gồm :
+ Phế phụ phẩm từ trồng trọt : rơm rạ, trấu, cám, lá cây, vỏ, lõi ngô, bã mía,thân lá khoai lang, khoai tây
+ Phân động vật: phân gia súc ( trâu, bò, lợn ), phân gia cầm ( gà, vịt, ngan.)+ Bao bì đóng gói, chai lọ đựng BVTV, đựng thuốc trừ sâu, lọ đựng thuốcthú y, túi đựng hóa chất nông nghiệp, túi đựng phân bón
+Các bệnh phẩm, xác động thực vật chết như gà toi, lở mồm long móng, bòđiên chứa các vi trùng gây bệnh, lông gia súc
Bảng 1.1 Thành phần chất thải trong trồng trọt
(Phế phụ phẩm phát sinh để thu được 1 tấn nông sản sau thu hoạch)
Tên nông sản Phế phụ phẩm Khối lượng (kg)
( Nguồn: Nguyễn Đinh Hương và CS,2006)[9]
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp hay chế biến nông sản, bên cạnhnhững sản phẩm chính, dù muốn hay không chúng ta cũng còn có những sản phẩmphụ khác Chẳng hạn khi trồng lúa, ngoài gạo ta còn có tấm, cám, trấu, bụi Khichăn nuôi gia súc, ngoài sản phẩm chính là thịt, trứng hay sữa, sức kéo ta còn có
Trang 16Phụ phẩm nông nghiệp đều là những chất hữu cơ, có thể còn non, xanh; cóthể là sơ cứng vì silic hóa như trấu hay lignin hóa gỗ Chúng còn có thể được xemnhư một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trình quang tổng hợp và cácquá trình sinh học khác trong sản xuất nông nghiệp.
Các phụ phẩm nông nghiệp thường cồng kềnh, ít giá trị dinh dưỡng trực tiếphơn chính phẩm và do đó giá trị kinh tế hiện tại cũng thường thấp hơn; muốn sửdụng chúng cần thêm phí tổn vận chuyển và các biện pháp kỹ thuật khác Việc cânnhắc chi phí và lợi ích là rất cần thiết; đôi khi nhờ chế biến mà lợi nhuận thu được
từ phụ phẩm lại nhiều hơn chính phẩm Sự phát triển của xã hội và tiến bộ khoa họccông nghệ có thể giúp con người sử dụng tốt hơn nguồn phụ phẩm nông nghiệp vàqua đó làm thay đổi nhìn nhận về sản phẩm nông nghiệp
Với đặc điểm là những chất hữu cơ, các loại phụ phẩm nông nghiệp có thể sửdụng theo những mục đích sau:
+ Sản xuất thức ăn chăn nuôi
Trang 171.2.Hiện trạng về công tác thu gom,xử lý và sử dụng phế phẩm nông nghiệp trên Thế Giới và Việt Nam
Bên cạnh mức tăng trưởng xuất khẩu nông sản thì các phụ, phế phẩm trongquá trình chế biến các loại cây công nghiệp, sản xuất hoa quả, thực phẩm, phân giasúc, gia cầm cũng rất đa dạng về chủng loại và phong phú về số lượng Và đócũng là nỗi lo về các bãi chứa, đầu ra cho các phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạchnhư rơm rạ, vỏ trấu, thân cây chuối, xơ dừa, bã mía, lõi ngô, phân gia súc,… Số liệuhàng trăm ngàn tấn nông sản xuất khẩu hàng năm, tương ứng với con số gấp nhiềulần như thế về phế phẩm nông nghiệp thải ra môi trường sẽ là vấn nạn về rác, đedọa ô nhiễm môi trường cho các tỉnh đang có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp
Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp của nước ta hiện nay vẫn mang tínhnhỏ lẻ, phân tán, nên việc thu gom, phân loại phụ, phế thải rất khó khăn Còn các cơsở chế biến nông sản, thực phẩm thì chủ yếu tập trung đầu tư cho dây chuyền sảnxuất chính, ít quan tâm tận thu, tái chế sử dụng lại phụ, phế phẩm trong quá trìnhsản xuất Nhiều doanh nghiệp còn sản xuất trong điều kiện không bảo đảm vệ sinhmôi trường, huống chi nói đến đầu tư công đoạn xử lý sản phẩm phụ, phế thải để táichế Các phụ, phế phẩm sau khi sử dụng thường được xử lý bằng các biện phápchôn lấp, đốt bỏ, đổ xuống hồ, ao, sông, suối vừa lãng phí, vừa gây ô nhiễm môitrường Chỉ một phần nhỏ trong số đó được sử dụng làm nhiên liệu đốt, thức ăn giasúc, phân bón, còn phần lớn đổ ra các hồ ao, cống rãnh làm ảnh hưởng không nhỏđến môi trường sinh thái Việc sử dụng các phế thải nông nghiệp trong sinh hoạtnông thôn ngày càng giảm và dần dần được thay thế bằng các nguồn nhiên liệuthuận lợi hơn như gas, điện, Trong khi đó, các cơ sở sản xuất và chế biến nôngsản lại cần rất nhiều nguồn năng lượng mà hiện đang phải sử dụng các nhiên liệuhoá thạch đắt như than, dầu, gas Vì vậy, việc nghiên cứu tận dụng phế thải nôngnghiệp tạo ra nguồn năng lượng, nguyên vật liệu phục vụ công nghiệp, xây dựng,đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân là việc làm hết sức cần thiết và cấpbách hiện nay
Trang 181.2.1.Tình hình trên Thế Giới
Trước đây nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp không được con người quantâm nhiều, cứ sau vụ thu hoạch một phần nhỏ được con người sử dụng làm chất độnchuồng, giá trồng nấm nhưng hầu như được đốt hết Vậy mà nó chính là một trongnhững mặt hàng xuất khẩu tiềm năng mà trước đây chúng ta đangbỏ phí Hiện nayvới nền kinh tế phát triển cao nhiều nước trên thế giới đã thu được lợi nhuận rất cao
từ phế phụphẩm này,họ sử dụng vào những mục đích khác nhau Ở các nước côngnghiệp phải tìm cách nhập khẩu phụ phẩm nông nghiệp như: Nhật Bản, Đài Loan,Trung Quốc để tái chế, tiết kiệm chi phí, làm giàu và thúc đẩy kinh tế nông nghiệpphát triển mạnh hơn
Trên nhiều vùng đất nước Liên Xô,đặc biệt là vùng thảo nguyên có nhiềurơm, rạ, vỏ trấu và các loại phế thải khác nhau của trồng trọt chưa được sử dụng Từnhững chất phế thải này có thể chế biến thành công một loại phân bón có giá trị caobằng cách tăng lượng rác chuồng gia súc bằng các chất này, cũng như xếp rơm rạxen kẽ với lớp phân chuồng ở nhà chứa phân Phương pháp này được sử dụng chủyếu vào mùa xuân và mùa thu, khi mà trời mưa nhiều và độ ẩm phân chuồng vượtmức bình thường Rơm, rạ sẽ hút được lượng nước thừa của phân và trong điều kiện
có đủ đạm và các chất dinh dưỡng khác trong phân chuồng thì rơm, rạ sẽ phân giảinhanh chóng hơn
Đăc biệt có giá trị là việc dùng rơm rạ dọn lót cho gia súc trong những ổ nhốttạm ban đêm vào thời kỳ chăn thả trên đồng cỏ Ổ nhốt tạm được rào quanh và lótmột lớp rơm rạ dày 20-30 cm Rơm rạ sẽ hút nước giải, trộn lẫn với phân và đượcnén khá chặt Vì bịngăn cách không cho nước phân ngấm xuống đất mà rơm, rạ bắtđầu phân hủy nhanh và chỉ khoảng 1,5-2 tháng sau đã hình thành một lớp phân cógiá trị cao ở trong chuồng nhốt tạm gia súc Sau đó người ta chuyển hàng rào sangchỗ khác và dòn phân lại thành đống nén chặt, để phân tiếp tục phân giải nhanh hơn
và hầu như không bị mất đạm nhiều (Nguồn: I.P MAMCHENCOP,1981) [7]
Theo Đào Châu Thu, (2006)[4] , cho biết: Ở các nước phát triển như EU
-Mỹ - Nhật Bản - Singapo đều có hệ thồng thu gom và phân loại rác tại gia đình, nơicông cộng và các vùng miền nông thôn Sau đó tái chế phần rác thải hữu cơ thànhphân bón hữu cơ bón cho cây trồng
Tại các nước phát triển của Châu Á như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia cũng
Trang 19có chương trình giáo dục và nghiên cứu khoa học về thu gom rác thải hữu cơtại giađình và nơi công cộng của thị trấn,thành phố, góp phần làm sạch môi trường và tạonguồn phân hữu cơ bằng công nghệ sinh học cho sản xuất nông nghiệp.
Ở Hoa Kỳ: Là quốc gia có nền công nghệ khoa học kỹ thuật phát triển hiệnđại nên họ cũng đã tiến hành xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất và lập mô hìnhnhà ở bằng ván ghép rơm Sản phẩm ván ép làm từ rơm rạ có khả năng chịu nhiệt,chồng cháy, chống thấm và tiết kiệm
Ngày nay, do dịch bệnh phát triển ngành chăn nuôi đang có xu hướng tậptrung vào những vùng xa dân cư, đó lại là điều kiện tập trung nguồn chất thải từ giasúc để sản xuất Biogas và phát điện,vừa giải quyết vấn đề môi trường, vừa tăng thunhập cho người chăn nuôi
Với tốc độ tăng trưởng dân số và kinh tế nhanh chóng, Trung Quốc đangphải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí nghiêm trọng trong nhiều thập kỉ, đặcbiệt là trong khu vực đô thị với nồng độ bụi cao Kết quả ô nhiễm chủ yếu từ đốtphế phụ phẩm nông nghiệp trên đồng ruộng , điều này dẫn đến một số hậu quảnghiêm trọng như nhiều sân bay và đường cao tốc phải ngừng hoạt động do sươngkhói dày đặc Hơn nữa khí thải CO, NOx còn làm giảm nồng độ của OH- ở tầng đốilưu Để hạn chế vấn đề này, chính phủ Trung Quốc đã ban hành các luật và quyđịnh cấm đốt phế phụ phẩm nông nghiệp Nông dân được khuyến khích là vùi phụphẩm vào đất để tạo ra nguồn phân bón hữu cơ Tuy nhiên hoạt động này làm tănglao động, chi phí và một số tác dụng phụ lên cây trồng Do đó, nó không được thôngqua bởi hầu hết nông dân và một tỉ lệ lớn các phế phụ phẩm nông nghiệp vẫn bị đốtcháy trên đồng ruộng Tại Trung Quốc phân bón VSV cố định đạm làm tăng năngsuất cây trồng từ 7-15% tiết kiệm 20% phân khoáng, phân VSV phân giải lân tăngnăng suất cây trồng từ 5-30%, phân hỗn hợp vi sinh tăng năng suất cây lương thực10-30%, cây ăn quả trên 40%
Bảng 1.2 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở Trung Quốc
Chủng loại phân vi sinh
vật
Hiệu quả sử dụng
% tăng năng suất % tiết kiệm phân vô cơ
Trang 20Phân giải lân 5- 30 10-15
( Nguồn: Pan jianrong Lin Min, 2000) [21]
1.2.2 Tình hình ở Việt Nam
Việt Nam là nước nhiệt đới và là một nước nông nghiệp quanh năm cây tráitốt tươi, cây trồng, vật nuôi khá phong phú Trong những năm gần đây, ngành trồngtrọt nước ta phát triển khá mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Trên đồng ruộngnương rẫy hàng năm để lại hàng triệu tấn phế thải là rơm rạ, lõi ngô, cây sắn, thân láthực vật Tất cả các nguồn phế thải này một phần đem đốt, còn lại trở thành rácthải, phế thải gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường và nguồn nước, trong khi đấtđai lại thiếu nghiêm trọng nguồn dinh dưỡng cho cây và hàng năm chúng ta lại bỏ
ra hàng triệu dola để mua phân hóa học ở nước ngoài
Ước tính mỗi năm nước ta có 32,2 triệu tấn rơm rạ, 5,2 triệu tấn thân lá ngôsau thu hoạch; 1,5 triệu tấn lá khoai lang; 2,15 tấn thân lá cây lạc; 1,7 triệu tấn ngọn
lá sắn Hàng năm có khoảng 11,203 triệu tấn rơm của miền Bắc và 21,007 triệu tấnrơm của miền Nam thu được qua các mùa vụ Phụ phẩm nông nghiệp đang đượckhai thác theo nhiều hướng như: làm giá để trồng nấm, bổ sung chế phẩm sinh họclàm phân bón, làm chất đốt, làm chất đệm lót hàng, độn chuồng, lót ổ, sản xuất phânbón, phân vi sinh, năng lượng điện, thức ăn chăn nuôi, vật liệu xây dựng.[8]
Thông thường, các phế phẩm nông nghiệp được người dân tận dụng tối đa đểlàm chất đốt, làm giá nấm, làm thức ăn gia súc, vật liệu độn chuồng hoặc vùitrở lạiđất,do đó khả năng tồn lưu gây ô nhiễm môi trường cũng giảm bớt
Việc đốt rơm rạ chẳng những lãng phí nguồn nguyên liệu mà còn gây ônhiễm môi trường, mất an toàn giao thông Theo các nhà y học, khói bụi khi đốtrơm rạ làm ô nhiễm không khí, gây tác hại lớn đối với sức khỏe con người Trẻ em,người già và người có bệnh hô hấp, bệnh mãn tính dễ bị ảnh hưởng nhất
Vài năm trở lại đây người dân tiếp cận khoa học, học hỏi được nhiều côngnghệ có thể tăng thu nhập từ phế phẩm nông nghiệp như: dùng làm nấm, sản xuấtphân bón hữu cơ, rơm rạ còn dùng làm vật liệu xây dựng; làm bê tông siêu nhẹ, đệmlót vận chuyển hàng hóa dễ vỡ, vận chuyển hoa quả Việc sử dụng rơm, rạ cho sản
Trang 21xuất năng lượng gồm nhiên liệu sinh khối rắn; nhiên liệu sinh học; sản xuất bột giấy.là phương pháp tận dụng tối ưu Song thu gom, vận chuyển là rào cản lớn từ nghiêncứu triển khai đến sản xuất.
+Bình Giang là huyện trọng điểm lúa của Hải Dương, lượng rơm rạ sau thuhoạch rất lớn Người ta dùng men vi sinh tạo ra nguồn phân ủ, giảm được một nửachi phí đầu vào cho nông dân, cải tạo đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hướng tớimột thương hiệu gạo an toàn, chất lượng.[9]
+ Hội làm vườn tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với công ty TNHH Thái Việt Mỹsản xuất và ứng dụng thành công loại phân bón hữu cơ vi sinh học từ các phế phẩmnông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, giảm thiểu ônhiễm môi trường nông thôn Ứng dụng này được triển khai ở 150 hộ của huyện MêLinh, Tam Dương,Tam Đảo đại diện cho ba vùng đồng bằng trung du và miền núi
Nguyên lệu chủ yếu để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh là phân trâu, bò,lợn, gà, phân xanh, bèo hoa râu, rơm, rạ, nước thải từ chăn nuôi được phối trộn vớichế phẩm Bioplant, tạo ra loại phân hữu cơ vi sinh có thể thay thế phân hóa học.Phân bón hữu cơ vi sinh có chứa 4 nhóm VSV có ích và chủng loại nấm đối kháng,khi bón vào đất sẽ phân giải các chất hữu cơ, làm tan biếncácchất độc hại,giúp giảmthiểuô nhiễmmôitrườngđất,nước,không khí.[19]
+ Năm 2007, Viện công nghệ môi trường - Viện khoa học và công nghệ ViệtNam đã tổ chức mô hình ứng dụng chế phẩm vi sinh vật xử lý phế thải nông nghiệpthành phân bón hữu cơ vi sinh, làm sạch môi trường tại 2 xã Đại Đồng và Kim Xá,huyện Vĩnh Tường quy mô 20 ha Trong đó, tại thôn Hoàng Tân, xã Kim Xá xử lý 6
ha dây bí đỏ + phân gia súc, gia cầm; thôn Phú Nông xã Kim Xá xử lý 9 ha cây lạc+ phân gia súc, gia cầm; xã Đại Đồng xử lý 5 ha phế thải nông nghiệp (rơm rạ, phângia súc, gia cầm )
Kết quả các phế thải nông nghiệp sau khi trộn với chế phẩm vi sinh vật, đem
ủ, sau thời gian từ 40-60 ngày đã tạo ra một loại phân bón hữu cơ tốt, không có mùi,sử dụng để bón cho lúa và rau màu vụ đông rất tốt, được nông dân hưởng ứng
+ Tỉnh Đắc Lắc là địa phương có diện tích, sản lượng ngô, cà phê lớn nhấtnước, bình quân mỗi năm đạt từ 500.000 tấn ngô hạt, 350.000-400.000 tấn cà phêtrở lên, nên thải ra môi trường hàng trăm ngàn tấn vỏ ngô, vỏ cà phê gây ô nhiễm
Trang 22môi trường Từ năm 2006 trở lại đây, được sự hướng dẫn, giúp đỡ của sở Khoa họcCông nghệ tỉnh Đắc Lắc, Trung tâm nghiên cứu Đất- Phân bón và Môi trường TâyNguyên về các quy trình sử dụng men VSV ủ với các phụ phẩm trong sản xuất nôngnghiệp như vỏ lõi ngô, vỏ cà phê, rơm, rạ, phân chuồng, phân xanh để sản xuất phânbón hữu cơ vi sinh tiết kiện chi phí sản xuất, nhưng hiệu quả kinh tế khá cao
( Văn Hân, 2009) [17]
+ Ở Bến Tre gần đây do sản xuất các ngành phát triển nên kéo theo các phếphụ liệu như “mụn dùa, bã mía rơm rạ” thải ra nhiều làm ô nhiễm môi trường ngàycàng trầm trọng Để giải quyết vấn đề trên, một số cơ quan chức năng đã tìm đếnTrung tâm sinh học ứng dụng, nhờ chuyển giao cho Bến Tre quy trình trồng vàchăm sóc nấm bào ngư trên “mụn dừa, bã mía rơm rạ” rồi làm tiếp nấm rơm- nuôitrùng và sau cùng là phân bón hữu cơ Qua thời gian thử nghiệm, kết quả bước đầucho thấy nông dân có điều kiện, sớm tổ chức sản xuất, có thể làm gia tăng thêm thunhập, làm giảm bớt nạn ô nhiễm môi trường Nấm bào ngư ( nấm sò, nấm dai ) làloại có giá trị rất cao lại có ưu điểm là mọc được trên nhiều loại phế phụ phẩm khácnhau (cấu tạo xenluloza, lignhin).[20]
+ Ở Nghệ An, phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã bị suy thoái, xói mòn vàmất dần khả năng canh tác Nguyên nhân chính là do người dân quá lạm dụng cácloại phân bón hóa học, thiếu nguồn phân bón hữu cơ bổ sung thường xuyên
Mặt khác, lượng phế thải từ sản xuất nông nghiệp (rơm rạ, cây xanh ) và từcác nhà máy chế biến (bùn, bã mía.) do không xử lý kịp thời đã gây ô nghiễm môitrường nghiêm trọng
Quy trình sản xuất phân bón sinh học Compost Maker gồm các chủng VSV:VSV phân giải xenlulo; VSV phân giải lân; VSV cố định đạm và VSV hỗ trợ trênnền than bùn có mật độ các chủng VSV từ 108-109 CFU/g
Việc sản xuất vi sinh vật từ phụ phẩm khá đơn giản và dễ thực hiện: xử lýthô nguồn nguyên liệu phế phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp và các nhà máy chếbiến phối trộn với chế phẩm Compost Maker và một vài phụ liệu khác như đạm, rỉmật độ ẩm cuối cùng của hỗn hợp cần đạt từ 45-50 %
Ủ hỗn hợp với chiều cao tối đa của đống ủ 0,5 mét ( nơi ủ có mái che đểtránh mưa),sản phẩm phân bón hữu cơ thu được tơi xốp,đạt mật độ các chủng VSVđưa vào xử lý lớn hơn hoặc bằng 106CFU/g, không chứa các chủng VSV gây hại
Trang 23( như các loại nấm Fusarium, Aspergillus niger và vi khuẩn gây bệnh héo xanh trêncây họ cà ), hàm lượng nitơ, kali, photpho hữu hiệu đạt tiêu chuẩn về phân bón.
Chế phẩm Compost Maker và phân bón hữu cơ vi sinh đã rút ngắn thời gianxử lý các hợp chất hữu cơ các chủng VSV phân giải nhanh; rút ngắn thời gian xử lýphế phụ phẩm; nhiệt độ sinh học ủ tăng sau 1-2 ngày và đạt cực đại 45-700C sau 7-
10 ngày
Sản phẩm tạo ra các chất giàu cacbon chuyển hóa màu và dễ bị mùn, khửđược mùi hôi, an toàn đối với cây trồng, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môitrường,tạo ra nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ bền vững
Hiện nay, chế phẩm sinh học đã được triển khai thực hiện trên các mô hìnhtrồng trè ở xã Hùng Sơn (huyện Anh Sơn), trồng rau ở xã Quỳnh Liên (QuỳnhLưu); trồng cam ở nông trường Xuân Thành( Quỳ Hợp)
+ Tại xã Tân Cương - TP Thái Nguyên, Trường Đại học Nông Lâm đã thựchiện quá trình nghiên cứu sản xuất phân hữu cơ sinh học và vi lượng đất
hiếm, bước đầu đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ sinh học trên khía cạnhnăng suất, chất lượng của cây chè Qua khảo nghiệm tại các hộ trồng chè cho thấy,chỉ sau một thời gian sử dụng phân hữu cơ sinh học,cây chè phát triển
tốt, lá chè xanh non, tỷ lệ búp dày, mập, cao, giảm được một số sâu bệnh hại,không ảnh hưởng tới môi trường, sản phẩm sản xuất ra an toàn, chất lượng tốt,trung bình 1 tháng cho thu hoạch 1 lứa, năng suất tăng từ 10 -15% so với các loạiphân bón khác (PhạmVănNgọc).[12]
1.3.Điện kiện tự nhiên ,kinh tế - xã hội của huyện Thanh Hà[11]
1.3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Thanh Hà
a.Vị trí địa lý;
Huyện Thanh Hà nằm ở phía đông nam tỉnh Hải Dương, trung tâm huyện lỵ cách trung tâm của tỉnh (Thành phố Hải Dương) khoảng 20 km và có địa giới hành
chính của huyện bao gồm:
- Phía bắc giáp thành phố Hải Dương và huyện Kim Thành
- Phía đông giáp huyện Kim Thành và Thành phố Hải Phòng
- Phía nam giáp huyện Tứ Kỳ
- Phía tây giáp huyện Tứ Kỳ và Thành phố Hải Dương
Trang 24Hình 1.3.Bản đồ huyện Thanh Hà (Nguồn: UBND huyện Thanh Hà)
b.Địa hình, địa mạo;
Nằm trong vùng đồng bằng Bắc bộ nên Thanh Hà có địa hình thấp dần từbắc xuống nam và từ đông sang tây nhưng nhìn chung khá bằng phẳng Do hệ thốngsông ngòi bao bọc và chia cắt đã tạo nên nhiều tiểu vùng địa hình có tính chất thổnhưỡng khác nhau
c.Khí hậu, thời tiết;
Huyện Thanh Hà nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưngcủa khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, mưa ít; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; có gióđông nam thổi mạnh từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm với tốc độ trung bình 20 m/s
Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 83 - 85%
d.Tài nguyên đất;
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Thanh Hà là: 25.908,74 ha chiếm 9,63%tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Hải Dương Đất đai của huyện Thanh Hà đượchình thành do sự bồi lắng phù sa của hệ thống sông Thái Bình
Trang 25e.Tài nguyên nước;
- Nguồn nước mặt: Huyện Thanh Hà có 72,15 km sông tự nhiên bao bọc là sông Thái Bình và sông Rạng, sông Văn úc và có 20 km sông Hương chạy suốt 10
xã khu Hà Bắc, khu Hà Tây và khu Hà Nam Ngoài ra các ao hồ trong khu dân cư, các mặt nước trong các vùng chuyển đổi được quản lý sử dụng tương đối tốt Toàn
bô hê thống sông ngòi, ao hồ đó đã làm phong phú nguồn nước mặt trên địa bàn huyện
- Nguồn nước ngầm: Trữ lượng lớn song chất lựợng còn hạn chế và đang có dấu hiệu bị ô nhiễm
f.Thực trạng môi trường.
Thanh Hà cơ bản vẫn là một huyện thuần nông nghiệp Trên địa bàn huyệnkhông có khu công nghiệp lớn mà chỉ có các điểm tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nhỏ
lẻ nên mặt trái của công nghiệp hoá, đô thị hoá - nguy cơ ô nhiễm môi trường - tácđộng không lớn
Bên cạnh đó, sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp, các ngành, các địa phươngtrong huyện và đặc biệt là nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trườngđược nâng cao là một trong những nguyên nhân góp phần làm hạn chế ô nhiễm môitrường
Tuy nhiên, ở bất cứ địa phương nào áp lực của các vấn đề xã hội lên đát đaivà môi trường là không thể không có Chính vì vậy, không thể khẳng định huyệnThanh Hà không tiềm ẩn những nguy cơ ô nhiễm môi trường Những nguy cơ ô
nhiễm môi trường thể hiện ở một số lĩnh vực sau:
- Tập quán dùng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp chưa đúng, chưa khoa học Hiện tượng dùng lạm phát thuốc, dùng thuốc không đúng theo hướng dẫncủa cơ quan BVTV vẫn còn xảy ra phổ biến gây dư thừa hàm lượng thuốc BVTV trong đất, trong nông sản phẩm
- Việc quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa ở một số ít địa phương chưa được tốt Quy cách của các nghĩa trang, nghĩa địa về khoảng cách với khu dân
cư, về độ cao của khu hung táng, về phân bố các khu trong nghĩa địa đa phần là chưa phù hợp
- Việc hoạch định và bảo vệ hệ thống tiêu thoát nước trong khu dân cư ỏ một
Trang 26số địa phương chưa tốt.
- Một số mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tự phát trong khu dân cư với số lượng lớn, không có biện pháp xử lý chất thải triệt để đã gây ô nhiễm nguồn nước, không khí ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng, rất nguy hiểm đặc biệt là trong giai đoạn cả thế giới phòng chống dịch cúm gia cầm như hiện nay
1.3.2.Điều kiện kinh tế- xã hội
a.Thực trạng phát triển kinh tê
*) Tốc độ tăng trưởng kinh tế và dich chuyển cơ cấu kinh tê
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 9%/năm Giá trị sản xuất (theo giá hiệnhành) ước đạt 2.118 tỷ đồng, tăng 2,6 lần so với năm 2013 Thu nhập bình quân đầungười đạt 13,71 triệu đồng Cơ cấu kinh tế kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ theohướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm trọng nông nghiệp: tỷ trọng nôngnghiệp - Công nghiệp xây dựng - Dịch vụ là 36% - 32,80% - 31,20%
*)Thực trạng phát triển của các ngành kinh tế
1.Kinh tế nông nghiệp
a Ngành trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng thực hiện là 17.236 ha, trong
đó: cây lương thực 7.776 ha Năng suất lúa 2 vụ ước đạt 119,6 tạ/ha; Đối với cây vải diện tích 5.950 ha, sản lượng quả đạt 29.350 tấn Diện tích cây ăn quả khác 3.510 ha, sản lượng đạt khoảng 45.500 tấn Diện tích gieo trồng cây vụ đông 1000
ha Hệ số sử dụng đất bình quân đạt khoảng 2,5 lần
b Ngành chăn nuôi: Theo số liệu điều tra đàn lợn: 66.000 con; đàn trâu: 419
con; đàn bò: 779 con; gia cầm: 765.000 con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 13.200 tấn
c Ngành thuỷ sản: Khai thác có hiệu quả diện tích ao hồ, đầm, mặt nước để
phát triển thủy sản, cụ thể diện tích nuôi thả cá trong toàn huyện năm 2014 là 650
ha, sản lượng cá thu được là 2.700 tấn
2.Kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng.
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện chủ yếu từ lĩnhvực công nghệ chế biến (chế biến nông sản, thực phẩm, may mặc, xay sát lươngthực, các ngành nghề cơ khí, dịch vụ sửa chữa cơ khí, ) Giá trị sản suất của côngnghiệp chế biến chiếm tới 96,6% toàn ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 27Công tác đầu tư xây dựng cơ bản tiếp tục được quan tâm Triển khai cáccông trình: cải tạo công trình phụ trợ Nhà làm việc Huyện ủy, sửa chữa nhà làmviệc HĐND&UBND huyện, xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu dân cư phía Đông thịtrấn Thanh Hà Các công trình, dự án do cấp xã quản lý, triển khai cơ bản đảm bảotiến độ theo kế hoạch.
3 Kinh tế Dịch vụ - Thương mại
Hoat đông thương mại - dịch vụ được duy trì và mở rộng; các doanh nghiệp,
hộ gia đình kinh doanh đã phát huy sự năng động, mở rộng giao lưu hàng hóa, dịchvụ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
b.Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Dân số toàn huyện là 154.500 người, trong đó dân số đô thị 7.416 người, dân
số nông thôn 147.084 người Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 0,5%
Tổng số lao động là 94.399 người, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chiếm
61 10% dân số của huyện Lao động trong độ tuổi có việc làm là 86.504 người,chiếm 89,8% số người trong độ tuổi lao động
Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 13,7 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèogiảm xuống còn 6,8%/năm
c.Thực trạng phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn
*)Thực trạng phát triển đô thị
Tổng diện tích đất đô thị là 526,86 ha, chiếm 3,31% diện tích tự nhiên củahuyện, trong đó đất ở tại đô thị là 107,91 ha Dân số đô thị là 7.416 người, chiếm4,80% tổng dân số toàn huyện Bình quân diện tích đất ở đô thị là 68,99 m2/ngườidân đô thị
*)Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn
Toàn huyện có 24 xã thuộe vùng nông thôn, với 87 thôn và điểm dân cư,bình quân 3,63 thôn, khu/xã Nhìn chung, cơ sở vật chất của các thôn, khu dân cưnhư: đường giao thông, điện, nước sạch, hệ thống tiêu thoát nước, các thiết chế vănhoá, giáo dục, thể thao được quan tâm phát triển và phục vụ có hiệu quả nhu cầucủa nhân dân
Trang 28d Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
*)Giao thông
Trong những năm qua huyện Thanh Hà đã nâng cấp 3 tuyến đường huyệnlên đường tỉnh quản lý, 2 tuyến đường xã lên đường huyện quản lý; hoàn thành đưavào sử dụng tuyến đường nhánh số 5 thị trấn Thanh Hà; cơ bản hoàn thành dự ánxây dựng đường nút giao lập thể tại điểm giao cắt giữa đường sắt Hà Nội - HảiPhòng, quốc lộ 5 với đường tỉnh 390, huyện Thanh Hà; triển khai dự án xây dựngcải tạo,nâng cấp đường 390 (đoạn chợ Nứa- nhà máy nước) Xây dựng được59,2km đường GTNT Tiếp tục triển khai đề án phát triển GTNT giai đoạn 2011-2015
*)Thuỷ lợi và đê điều
Công tác tu bổ đê điều và các công trình thủy lợi trên địa bàn được coi trọng,
đã nạo véc được 64.160 m3 kênh dẫn, mương nội đồng; triển khai xây dựng tuyến
đê điểu mẫu thuộc tuyến đê tả sông Thái Bình, với tổng chiều dài 17,6 km
*)Giáo dục và đào tạo:
Tổng số trường đạt chuẩn toàn huyện là 36 trường; công tác vệ sinh ATTPcủa bếp ăn bán trú tại các trường học được đảm bảo an toàn; trang thiết bị dạy họchiện đại được quan tâm đầu tư Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dụcTHCS, phổ cập giáo dục Tiếu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục mầm non chotrẻ 5 tuổi Hoạt động khuyến học, khuyến tài từ huyện tới cơ sở tiếp tục được duytri
*)Y tế
Công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện tốt nên không có dịch bệnhlớn, bệnh dịch nguy hiểm xảy ra Các chương trình y tế quốc gia được triển khai cóhiệu quả, 100% trẻ em trong độ tuổi được tiêm phòng đầy đủ
*)Văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Các công trình văn hóa từng bước được đầu tư xây dựng, mức hưởng thụ vănhóa của các tầng lớp nhân dân ngày một nâng lên Phong trào Thể dục thể thao quầnchúng được củng cố, duy trì Công tác phát thanh, truyền thanh tiếp tục được đôimới về nội dung chương trình; kịp thời tuyên truyền, truyền tải các chủ trương chỉthị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
Trang 29e.Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên,kinh tế-xã hội huyện Thanh Hà
*)Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường.
Thanh Hà có vị trí địa lý tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội như:gần Quốc lộ 5, tiếp giáp với trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Hải Dương, có đườngcao tốc Hà Nội - Hải Phòng chạy qua
Huyện tiếp giáp với 3 mặt là các sông: sông Thái Bình, sông Rạng, SôngVăn Ưc với chiều dài khoảng 72 km và cổ hệ sông Hương dài khoảng 20 km chạysuốt 10 xã trong huyện Đây là yếu tố thuận lợi để phát triển giao thông đường thủyvới các cách vận chuyển hàng hóa, khai thác và vận chuyển vật liệu
Đất đai hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Thái Bình, phùhơp với trồng lúa và một số loại cây ăn quả, đặc biệt là vải thiều Khu vực Hà Đông,đất đai bị nhiễm mặn nhẹ, ảnh hưởng tới việc trồng lúa nhưng lại rất thích hợp vớiviệc nuôi trồng, bảo vệ một số loại thủy sản nước lợ như: Rươi, cáy, cà ra
Chất lượng môi trường vẫn còn tương đối tốt song đã tiềm ẩn những nguy cơgây ô nhiễm
*)Đánh giá chung về điều kiện kinh tế, xã hội.
Trong những năm qua, tốc độ phát triển kinh tế của huyện đã tăng đáng kểnhưng đánh giá chung Thanh Hà vãn là huyện nghèo trong tỉnh Cơ cấu kinh tế đãchuyển dịch đúng hướng Mặc dù cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch đúnghướng nhưng tốc độ chuyển dịch vẫn còn chậm Nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếuvào nông nghiệp và thủy sản, đóng góp của khối ngành công nghiệp và xây dựngvẫn còn thấp
Thanh Hà là huyện có dân số và mật độ dân số ở mức trung bình của tỉnh,thấp hơn so với một số huyện lân cận Tỷ lệ tăng dân số hàng năm tương đối thấp
(khoảng 0,79%) Đây là một lợi thế rất lớn của huyện sức ép của dân số lên đất đai
và các Yấn đề xã hội không quá gay gắt
Lực lượng lao động tương đối dồi dào chiếm khoảng 61% dân số Tỷ lệ laođộng có việc làm thường xuyên đạt xấp xỉ 90% Mặc dù huyện chưa có các khu,cụm công nghiệp song trong những năm vừa qua, sự chuyển dịch cơ cấu lao động từlao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch vụ là rất mạnh mẽ Tuynhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của các
Trang 30doanh nghiệp dẫn đến sức cạnh tranh của lao động trong huyện thấp hơn so vớinhiều địa phương khác trong tỉnh.
Do chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của huyện nên thu nhập củangười dân vẫn còn thấp so với bình quân chung của tỉnh và so với các huyện lâncận
1.4 Một số thông tin chung về tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn hai
xã Thanh Thủy và Hợp Đức.
Thanh Thủy và Hợp Đức là hai xã thuộc huyện Thanh Hà, một trong nhữnghuyện đồng bằng của tỉnh Hải Dương Đây là 2 vùng có hoạt động sản xuất nôngnghiệp phát triển mạnh, đặc biệt sản xuất lúa, hoa màu và được xem là những vựalúa lớn của huyện Sau khi thu hoạch, một lượng rơm rạ thường được đánh đốngdùng dần làm chất đốt trong gia đình và làm thức ăn dự trữ cho trâu bò Tuy nhiên,vẫn còn một lượng lớn rơm rạ gần 65% không được hộ sử dụng vào mục đích khácmà chủ yếu chất đống ngoài đồng, đường làng, ngỏ xóm chờ đốt khi thời tiết thuậnlợi và xem như một biện pháp thuận lợi nhất Việc đốt rơm rạ ngay trên đồng ruộnggây nhiều bất lợi, như phá tầng canh tác Các chất hữu cơ trong rơm rạ và trong đấtbiến thành các chất vô cơ do nhiệt độ cao Đồng ruộng bị chai cứng do lượng lớnnước bị bốc hơi do nhiệt độ hun đốt trong quá trình cháy rơm rạ Quá trình đốt rơmrạ, các phụ phế phẩm và rác nông nghiệp ngoài trời không kiểm soát được lượngdioxit cacbon (CO2) phát thải vào khí quyển cùng với cacbon monoxit (CO); khímetan (CH4); các oxit nitơ (NOx hoặc N2O); và một ít dioxit sunfua (SO2) Ngoài
ra, nếu điều kiện thời tiết không thuận lợi thì rơm rạ được người dân thải xuống cáckênh mương nội đồng hoặc sông khi đêm xuống Đây chính là nguyên nhân tạo nênchất khí CH4 do rơm được phân hủy trong môi trường yếm khí Không những thế,rơm rạ nhiều sẽ làm tắc dòng chảy của kênh mương và sông gây ô nhiễm môitrường, đặc biệt ảnh hưởng đến nguồn nước cung cấp cho hoạt động sản xuất nôngnghiệp và nuôi trồng thủy sản của xã Một loại rác thải mà người dân ít quan tâmđến việc xử lý đó là bao bì thuốc bảo vệ thực vật, nông dân theo thói quen sử dụngxong là thải ngay ở bờ ruộng Những loại bao bì này làm bằng giấy kẽm, chai nhựa,chai thủy tinh bị vứt bừa bãi ra đồng ruộng, là loại chất thải nguy hại, khó phân hủy.Vài năm trở lại đây, lượng rác thải trên địa bàn nghiên cứu ngày một tăng do người
Trang 31dân chưa có hình thức quản lý phù hợp ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sứckhỏe con người Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, nghiên cứu được tiến hành tại 2
xã Thanh Thủy và Hợp Đức huyện Thanh Hà,tỉnh Hải Dương
Tình hình sản xuất trồng trọt ở địa bàn nghiên cứu được tìm hiểu chủ yếu ởcác thông tin về loại cây trồng, diện tích và năng suất của các loại cây trồng Theocác báo cáo thống kê của hai xã thì cơ cấu cây trồng không biến động nhiều qua cácnăm và cơ cấu sản xuất các loại cây trồng ở hai xã được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 1.3: Một số cây trồng chính của 2 xã Thanh Thủy và Hợp Đức năm 2015
DT (ha) NS (tạ/ha) DT (ha) NS (tạ/ha)
(Nguồn: UBNB xã Thanh Thủy và Hợp Đức, 2016)
Kết quả bảng 1.3 cho thấy, trong cơ cấu đất nông nghiệp của cả 2 xã thì diệntích đất trồng lúa chiếm tỉ lệ cao nhất, xã Thanh Thủy là 225,1 ha chiếm 74,54% và
xã Hợp Đức 257,5 ha chiếm 70,63% tổng diện tích đất nông nghiệp của xã Từ năm
2013, một số thôn ở xã Hợp Đức như Bá Nha, Nhân Hiền diện tích lúa đang có xuhướng giảm do chuyển đổi một phần diện tích lúa sang nuôi trồng thủy sản, điểnhình nuôi các nước ngọt trong ao hồ Nhờ chủ trương của xã phát triển cây lúa theohướng thâm canh tăng năng suất cây trồng, chuyển đổi giống lúa phù hợp với điềukiện thời tiết như giống lúa HT1 đã đưa lại hiệu quả cao hơn so với trước đây Năngsuất bình quân lúa năm 2015 ở Thanh Thủy đạt 50,2 tạ/ha; Hợp Đức năng suất đạt47,9 tạ/ha Diện tích cây trồng sau lúa là diện tích rau màu, tại 2 xã đã hình thànhnên các vùng trồng rau màu chuyên canh, cung cấp lượng rau xanh cho các vùnglân cận Diện tích tại 2 xã lần lượt là 14,7 ha và 11,7 ha; nhu cầu sử dụng rau xanhcủa con người ngày càng cao, đã đưa lại nguồn thu nhập lớn cho người sản xuất,một sào thu được 3-5 triệu đồng/năm Diện tích trồng sắn và ngô tại Hợp Đức caohơn Thanh Thủy, là do Hợp Đức có vùng chuyên canh trồng rau khoai, sắn, ngô…,với diện tích hơn 90 ha, còn Thanh Thủy các cây trồng như khoai, sắn, ngô được
Trang 32trồng trong đất vườn, nên diện tích không nhiều Hầu hết, ngô, sắn và lạc trồng xenvới nhau để giảm sâu bệnh hại và cải tạo đất Khoai lang là cây trồng có diện tíchkhông lớn nhưng đây là nguồn thức ăn quan trọng cho ngành chăn nuôi Nên hầuhết người dân tận dụng hết các sản phẩm của khoai lang, ít hoặc không có phụ phẩm
dư thừa
Sản xuất nông nghiệp là ngành mang lại thu nhập chính cho người dân.
Theo thống kê của UBND xã Thanh Thủy và Hợp Đức năm 2015 :
Bảng 1.4 : Số hộ trồng lúa và ngô ở xã Thanh Thủy và xã Hợp Đức
(Nguồn: UBND xã Thanh Thủy và Hợp Đức,2016)
Từ số liệu thông kê từ UBND hai xã ta thấy cây lúa vẫn đóng vai trò chủ đạotrong sản xuất nông nghiệp Nắm được thế mạnh này nên huyện chủ trương dựa vàođặc thù của từng xã mà tìm một loại cây trồng thích hợp để phát triển kinh tế
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch (rơm rạ,trấu, thân lá và lõi ngô) trên địa bàn 2 xã Thanh Thủy và Hợp Đức thuộc huyện Thanh Hà
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện tại 2 xã Thanh Thủy
và Hợp Đức huyện Thanh Hà,tỉnh Hải Dương
- Phạm vi về thời gian: Các phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch (rơm
rạ,trấu, thân lá và lõi ngô) tại địa bàn 2 xã Thanh Thủy và Hợp Đức trong năm 2015
- Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian:từ ngày 01/04/2016 đến ngày01/06/2016
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Phương pháp này là một công việc quan trọng cần thiết cho bất kỳ hoạt độngnghiên cứu khoa học nào.Giúp cho người nghiên cứu nắm được phương pháp củacác nghiên cứu đã thực hiện trước đây,làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình vàtránh trùng lập với các nghiên cứu trước đây, vì vậy đở mất thời gian, công sức vàtài chính
*Trong đề tài này sử dụng phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp để thu thập các thong tin về:
- Báo cáo định kỳ về tình hình kinh tế xã hội của huyện
- Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Thanh Hà-tỉnh Hải Dương
- Hiện trạng phế phẩm nông nghiệp tại địa phương
*Phương pháp thu thập qua: Các sách, báo, các văn kiện, các tài liệu công trình nghiên cứu khoa học có liên quan và đã được công bố
2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Đây là một phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu môi trường nhằm kiểm tra độ chính xác, độ tin cậy của các thông tin, số liệu thu thập được, đồng thời bổ sung thêm nguồn tư liệu vào các bài báo cáo
-Phỏng vấn nhanh theo một bảng câu hỏi được chuẩn bị chu đáo từ trước
Trang 34Các thông tin cần thu thập được liệt kê, sắp xếp trước trong bảng hỏi.
- Từ quá trình khảo sát thực địa ở các hộ gia đình nông dân đã bổ sung đượcnhững số liệu mới cập nhật phục vụ cho tính toán trong đề tài Tiến hành thăm quancác khu vực sản xuất lúa trên địa bàn huyện, và tiếp xúc với cán bộ hợp tác xã để nắm bắt thông tin về tình hình sản xuất và phát thải khí thải của hoạt động đốt rơm rạ giúp có cái nhìn thực tế hơn về ảnh hưởng khí thải đến môi trường và sức khỏe của người dân
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
-Là phương pháp đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để thu thập thôngtin
-Thu thập các ý kiến người dân về tình hình sản xuất nông nghiệp và sử dụngphế phẩm hiện nay trên địa bàn huyện
+ Phỏng vấn nông hộ
Mẫu được chọn bao gồm 60 hộ ở 2 xã Thanh Thủy và Hợp Đức Đây lànhững vùng có hoạt động sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh, đặc biệt sản xuấtlúa, hoa màu và được xem là những vựa lúa lớn của huyện Là những hộ được chọn
có hoạt động sản xuất nông nghiệp Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiênkhông lặp lại
Điều tra hộ được tiến hành bằng cách phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc.Nội dung của bảng hỏi về tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ, các loại phụ phếphẩm nông nghiêp của hộ; khối lượng các loại phụ phế phẩm; tình hình quản lý phụphế phẩm nông nghiệp theo mùa vụ…
+ Phỏng vấn cán bộ quản lý: phỏng vấn cán bộ các cấp là những người
cung cấp thông tin nồng cốt Gồm 1 phó Chủ tịch xã, 1 chủ nhiệm Hợp tác xã củathôn, 1 cán bộ khuyến nông cơ sở của xã , 3 cán bộ nông nghiệp của huyện
Nội dung phỏng vấn gồm tình hình quản lý phụ phế phẩm nông nghiệp trênđịa bàn, các những hình thức quản lý phụ phế phẩm, hình thức quản lý phù hợp nhấtvới đặc điểm sản xuất hiện nay; các chính sách quy định về quản lý phụ phế phẩmnông nghiệp của các cấp; biện pháp để quản lý tốt nhất đảm bảo nền nông nghiệpbền vững
Trang 352.3.4.Phương pháp tính lượng phát thải khí nhà kính
Ta có công thức tính CO2eq của các khí nhà kính:
E C-eq = E CO2 + 25 x E CH4 + 298 x E N2O
Trong đó:
EC-eq:Tổng lượng CO2 tương đương phát thải
ECO2: Lượng CO2 phát thải (kg)
E CH4: Lượng CH4 phát thải (kg)
EN2O: Lượng N2O phát thải (kg)
E khí nhà kính = Năng lượng tiêu thụxHệ số phát thải nhiên liệu
(Nguồn: Công thức 2.1, IPCC 2006, vol 2, chương 2)
Trong đó: ECO2: Lượng khí nhà kính phát thải (kg)
Lượng nhiên liệu tiêu thụ (TJ)
Hệ số phát thải mặc định của nhiên liệu (kg/TJ),Tra bảng 2.1
Bảng 2 1: Hệ số phát thải mặc định của các loại nhiên liệu (kg /TJ)
Nhiên liệu Hệ số phát thải (kg/ TJ)
Công thức tính năng lượng tiêu thụ (TJ)
Năng lượng tiêu thụ = q x m /10 3 (3)
Trong đó:
q: Nhiệt trị của nhiên liệu (GJ/tấn)
m: Khối lượng nhiên liệu (tấn)
TJ = 103 GJ