1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên

109 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những đặc điểm hoạt động thu - chi của NSNN và sự phân tích trên, có thể hiểu NSNN một cách khái quát như sau: NSNN là một phạm trù kinh tế, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHẠM THỊ NGỌC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TIẾN LONG

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễn ta ̣i đi ̣a bàn nghiên cứ u dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Tiến Long

Kết quả tính toán trong luận văn là trung thực, các số liê ̣u, tài liê ̣u trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Một lần nữa tôi xin được khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Học viên

Phạm Thị Ngọc

Trang 4

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến lãnh đạo cơ quan và các đồng nghiệp trong lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong công tác để có đủ thời gian và hoàn thành khoá học, thực hiện thành công luận văn này

Tuy đã có sự nỗ lực, cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy (cô) và đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Phạm Thị Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 2

4 Những đóng góp của đề tài 2

5 Kết cấu của đề tài 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4

1.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước 4

1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước 4

1.1.2 Bản chất của ngân sách nhà nước 5

1.1.3 Chức năng của ngân sách nhà nước 9

1.1.4 Vai trò của ngân sách nhà nước 10

1.1.5 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước và phân cấp ngân sách nhà nước 11

1.2 Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước 18

1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước 18

1.2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước 19

1.2.3 Quy trình quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước 20

1.2.4 Phương pháp quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước 20

1.2.5 Nội dung của quản lý nhà nước về Ngân sách nhà nước 21

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý ngân sách nhà nước 27

1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước của một số tỉnh ở Việt Nam 29

1.3.1 Kinh nghiệm tại tỉnh Thái Bình 29

1.3.2 Kinh nghiệm tại tỉnh Bắc Ninh 31

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho quản lý nhân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên 33

Trang 6

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu 35

2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu và xử lý số liệu 35

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 35

2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 36

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 36

2.3.1 Những chỉ tiêu phản ánh quản lý ngân sách nhà nước tỉnh Thái Nguyên 36

2.3.2 Những chỉ tiêu phản ánh nhân tố tác động tới quản lý ngân sách nhà nước cấp tỉnh 37

Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 38

3.1 Khái quát về tỉnh Thái Nguyên 38

3.1.1 Đặc điểm địa lý - tự nhiên 38

3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 39

3.1.3 Khái quát về mô hình quản lý ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên 40

3.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên 41

3.2.1 Nội dung quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 41

3.2.2 Quản lý ngân sách nhà nước tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011-2015 53

3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên 69

3.3 Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên 73

3.3.1 Kết quả đạt được 73

3.3.2 Những hạn chế, bất cập 74

3.3.3 Nguyên nhân hạn chế 77

Chương 4 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 79

4.1 Mục tiêu, quan điểm cơ bản về quản lý NSNN ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 79

4.1.1 Quan điểm cơ bản về quản lý NSNN ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 79

4.1.2 Mục tiêu 79

Trang 7

4.2.3 Dự báo thu chi ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 80

4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với NSĐP ở tỉnh Thái Nguyên tầm nhìn đến năm 2020 81

4.3.1 Nhóm giải pháp về quy trình lập, chấp hành, quyết toán NSĐP 83

4.3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSĐP 88

4.3.3 Nhóm giải pháp về quản lý chi ngân sách nhà nước 91

4.3 Kiến nghị đối với các bên có liên quan 93

4.3.1 Đối với Chính phủ, Bộ Tài chính 93

4.3.2 Đối với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Nguyên 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu cơ bản của tỉnh Thái Nguyên năm 2015 39

Bảng 3.2: Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo từng lĩnh vực, giai đoạn 2011 - 2015 59

Bảng 3.3: Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2011 - 2015 60

Bảng 3.4: Kết quả thực hiện phân cấp quản lý chi giữa các cấp 61

Bảng 3.5: Tổng hợp chi NSĐP năm 2011-2015 62

Bảng 3.6: Kết quả thực hiện chi ngân sách các cấp giai đoạn 2011 - 2015 63

Bảng 3.7: Cơ cấu chi ngân sách theo sự nghiệp, giai đoạn 2011-2015 64

Bảng 3.8: Khả năng cân đối ngân sách các cấp giai đoạn 2011-2015 67

Bảng 3.9: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên, giai đoa ̣n 2011 - 2015 70

Bảng 4.1: Dự báo thu chi NSNN tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 81

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Biểu đồ:

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu chi ngân sách các cấp tỉnh Thái Nguyên 65

Biểu đồ 3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên 70

Sơ đồ: Sơ đồ 1.1 Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam 12

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý ngân sách nhà nước tỉnh Thái Nguyên 41

Sơ đồ 3.2 Quy trình lập dự toán ngân sách 42

Sơ đồ 3.3 Quy trình chấp hành ngân sách 44

Sơ đồ 3.4 Quy trình quyết toán ngân sách nhà nước 47

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, kể từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đã dần dần làm biến đổi các yếu tố cấu thành của nền kinh tế, đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ, chính sách tài chính tiền tệ, đặc biệt là chính sách quản lý ngân sách nhà nước Điều này góp phần khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường thông qua việc sử dụng bàn tay hữu hình, chủ yếu là chính sách tài chính nhằm điều tiết nền kinh tế có hiệu quả

Nhà nước nói chung, chính quyền tỉnh Thái Nguyên nói riêng có thể thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển nền kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo Điều này phụ thuộc vào việc quản lý các nguồn thu của ngân sách nhà nước Để huy động đầy đủ nguồn thu vào ngân sách nhằm thực hiện chi tiêu của tỉnh đã đề ra thì những hình thức thu ngân sách phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nhà nước và đất nước Trong tiến trình đổi mới nền kinh tế, các hình thức thu ngân sách nhà nước (NSNN) ở tỉnh Thái Nguyên đã từng bước thay đổi, điều chỉnh để thực hiện nhiệm vụ tập trung nguồn thu cho NSNN, công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của chính quyền tỉnh Thái Nguyên Cùng với quá trình quản lý thu NSNN thì việc quản lý chi NSNN cũng có vị trí quan trọng trong quản lý điều hành của chính quyền tỉnh Thái Nguyên góp phần ổn định phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập kinh tế thế giới Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quản lý NSNN vẫn còn nhiều hạn chế bất cập với tình hình thực tế của tỉnh Thái Nguyên, cũng như của cả nước, cần phải tiếp tục điều chỉnh, bổ sung Cụ thể như: Thu ngân sách vẫn chưa bao quát các nguồn thu trên địa bàn, còn tình trạng thất thu, nguồn thu ngân sách còn hạn chế Các khoản chi ngân sách chưa có quan điểm rõ ràng về các khoản chi sai quy định của Nhà nước, chi đầu tư còn dàn trải chưa tập trung đúng mức về quản lý chi NSNN,

Như vậy, có rất nhiều việc cần phải làm trong việc quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên Xuất phát từ những yêu cầu thực tế, tôi

Trang 12

quan tâm và muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề này Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài:

“Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên” nhằm góp

phần giải quyết vấn đề nêu trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với

ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng: Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên

và các yếu tố tác động tới quản lý nhà nước đối với NSNN ở tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi về thời gian: Số liệu phục vụ phân tích đánh giá thực trạng trong

giai đoạn 2011-2015 và giải pháp đến năm 2020

- Phạm vi về nội dung: Các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước đối với

Ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên góp phần phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước với tầm nhìn đến năm 2020

- Đóng góp về ứng dụng: Kết quả đề tài có giá trị tham khảo cho tỉnh Thái Nguyên và các nhà quản lý cơ quan Nhà nước nói chung Ngoài ra có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý đảm bảo hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với NSNN, tránh được rủi ro ở mức cao nhất có thể giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước tồn tại

và phát triển

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 04 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với

Ngân sách nhà nước

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với Ngân sách nhà nước ở tỉnh

Thái Nguyên

Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với Ngân sách

nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước

1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước

Khi Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn tài lực để đáp ứng các khoản chi tiêu của mình, hay nói cách khác đó là điều kiện để xuất hiện NSNN Như vậy, khái niệm NSNN xuất hiện sau khái niệm Nhà nước Song khái niệm NSNN ra đời trong lịch sử chỉ khi quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển mạnh Đó chính là điều kiện đủ

để xuất hiện NSNN

Luật NSNN năm 2015 đã xác định: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán và được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

Từ khái niệm chung về NSNN trên có thể hiểu NSNN trên các khía cạnh:

Thứ nhất, NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản, hay rõ hơn là bản dự toán thu,

chi tài chính của Nhà nước trong một khoáng thời gian nhất định

Thứ hai, NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính

Thứ ba, NSNN là quỹ tiền tệ của Nhà nước hay còn gọi là quỹ ngân sách -

phục vụ việc thực hiện chức năng của Nhà nước

Các quan niệm trên đã thể hiện được mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN nhưng chưa thể hiện được nội dung kinh tế - xã hội của NSNN

Trong thực tế, hoạt động NSNN nhìn bề ngoài là hoạt động thu, chi tài chính của Nhà nước Hoạt động này rất đa dạng, phong phú, được tiến hành trên hầu hết các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội.Tuy vậy, chúng cũng có những đặc điểm chung:

- Các hoạt động thu - chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định

- Những hoạt động thu, chi tài chính đó đều chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định

Trang 15

Với quyền lực tối cao của mình Nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có

để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết Song cơ sở để tạo lập các nguồn lực Tài chính lại xuất phát tư sản xuất,

mà chủ thể là các thành viên trong xã hội, mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế đó.Nghĩa là Nhà nước không thể dựa vào quyền lực của mình để huy động sự đóng góp của xã hội dưới bất kỳ hình thức nào, bằng mọi giá mà phải có giới hạn hợp lý,

đó chính là việc giải quyết một cách hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xã hội Nếu chỉ chú trọng đến lợi ích của Nhà nước mà không chú ý đến lợi ích của xã hội thì quan hệ giữa Nhà nước và xã hội trở nên căng thẳng không phù hợp dẫn đến sản xuất đình trệ, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Do

đó, việc khẳng định NSNN là sự thể hiện các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội có ý nghĩa quan trọng không chỉ đơn thuần về mặt lý luận mà còn thực sự cần thiết trong quá trình quản lý và điều hành NSNN

Mọi hoạt động thu - chi của NSNN đều nhằm tạo lập và sự dụng các nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội: Đó là mối quan hệ giữa phần nộp vào NSNN và phần để lại cho các chủ thể kinh tế Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được phân phối nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung

Từ những đặc điểm hoạt động thu - chi của NSNN và sự phân tích trên, có thể hiểu NSNN một cách khái quát như sau: NSNN là một phạm trù kinh tế, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do Nhà nước tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính quốc gia nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước

1.1.2 Bản chất của ngân sách nhà nước

Những khái niệm hoặc định nghĩa trên về NSNN chỉ thể hiện về tính pháp lý hoặc hình thức hoạt động của NSNN, mà chưa đi sâu vào nội dung khoa học của NSNN với tư cách nó là phạm trù kinh tế, lịch sử và gắn với bản chất, chức năng của Nhà nước đương quyền Dựa trên cơ sở phân tích khoa học về quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của tài chính và ngân sách, hầu hết các nhà khoa học tài

Trang 16

chính đều thừa nhận tài chính nói chung và ngân sách nói riêng là phạm trù kinh tế - lịch sử Là phạm trù kinh tế, nó gắn với sự phát triển kinh tế - hàng hóa; là phạm trù lịch sử nó gắn với sự ra đời và phát triển của Nhà nước và là công cụ kinh tế của Nhà nước Thông qua Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng việc huy động một bộ phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và các hình thức động viên khác để đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước Việc thực hiện các quan hệ phân phối nói trên, chủ yếu thông qua quyền lực chính trị của Nhà nước, bằng thể chế hóa của pháp luật, để động viên các nguồn tài chính có tính chất bắt buộc và hình thành quỹ tiền tệ tập trung, phục vụ cho các chức năng của Nhà nước đương quyền

Do vậy, nếu nhìn về hình thức hoạt động của NSNN, chắc chắn có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của NSNN

Để có cách nhìn nhận đầy đủ hơn về bản chất của NSNN một cách toàn diện

cả về phương diện khoa học và thực tiễn Đồng thời với tư cách là công cụ kinh tế của Nhà nước; theo tôi cần phải xem xét trên các góc độ sau:

- Thứ nhất, trên góc độ khoa học - ngân sách là phạm trù kinh tế - lịch sử (như đã đề cập trên)

- Thứ hai, nhìn từ góc độ kinh tế - xã hội - ngân sách phản ảnh tổng thể các quan hệ kinh tế - xã hội thông qua quan hệ động viên các nguồn lực tài chính và phân phối các nguồn lực tài chính đó cho các mục tiêu kinh tế - xã hội

- Thứ ba, trên góc độ nội dung vật chất - ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, được sử dụng để thực hiện các chức năng của Nhà nước

- Thứ tư, nhìn trên góc độ quản lý - ngân sách là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước hay là bảng cân đối thu - chi chủ yếu của Nhà nước

- Thứ năm, từ góc độ pháp lý - NSNN là đạo luật tài chính cơ bản trong năm tài chính

Từ cách tiếp cận đó, có thể rút ra về bản chất sâu sa của NSNN: Ngân sách nhà nước là hệ thống (tổng thể) các quan hệ kinh tế, gắn liền với quá trình phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời

kỳ nhất định

Trang 17

Các quan hệ kinh tế thuộc phạm trù ngân sách nói trên bao gồm:

- Thứ nhất, quan hệ giữa NS (Nhà nước) với các tổ chức kinh tế (các doanh nghiệp) - Thông qua việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dưới hình thức động viên thuế, phí để hình thành nguồn lực tài chính của Nhà nước Ngược lại, NSNN thực hiện việc đầu tư và tài trợ hoạt động của các doanh nghiệp như: Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, trợ giá, trợ vốn, bao tiêu để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh phát triển Quan hệ giữa NSNN với các doanh nghiệp có thể được coi như mối quan hệ trung tâm của hệ thống tài chính, và đó là quan hệ giữa khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính ngân sách và khâu cơ sở của hệ thống tài chính (Tài chính doanh nghiệp)

Quan hệ giữa NSNN và tài chính doanh nghiệp là đầu mối trong phân phối các nguồn lực tài chính, quyết định đến quan hệ giữa tích tụ, tập trung vốn và ảnh hưởng đến cả quy mô và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính Mặt khác, suy cho cùng, mối quan hệ giữa hai khâu này có tính chất quyết định đến việc hình thành cơ chế quản lý tài chính và trực tiếp tác động tích cực đến quá trình kinh tế Thông qua mối quan hệ đó, Nhà nước còn thực hiện kiểm tra thường xuyên, toàn diện các hoạt động kinh doanh, môi trường kinh doanh và tuân thủ pháp luật tài chính Trên cơ sở

đó, Nhà nước thực hiện điều chỉnh, hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính ngân sách thích ứng với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế

- Thứ hai, quan hệ giữa ngân sách (Nhà nước) với các cơ quan chức năng của Nhà nước (các cơ quan quản lý Hành chính sự nghiệp hay các lĩnh vực không sản xuất vật chất) Các cơ quan này tuy không trực tiếp sản xuất và tạo ra nguồn lực tài chính trong gián tiếp cũng góp phần phát triển kinh tế thông qua các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội và an ninh - quốc phòng Quan hệ ngân sách

và các cơ quan chức năng của Nhà nước thông qua việc cấp phát kinh phí của ngân sách cho các đơn vị dự toán từ trung ương đến nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội,… Các hoạt động này sẽ tạo ra các nguồn lực tài chính tiềm ẩn và tạo ra những tiềm năng cho phát triển kinh tế và khai thác gián tiếp các nguồn lực tài chính Điều đó được giải thích khi mà tri thức và

Trang 18

khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp Do vậy, có thể coi đây cũng là quan hệ kinh tế của NSNN Trong cơ chế kinh tế thị trường có quan hệ sau: Quan

hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tổ chức xã hội Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tầng lớp dân cư Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trên thị trường tài chính

- Thứ ba, quan hệ giữa ngân sách với các tầng lớp dân cư thông qua nghĩa vụ nộp thuế, phí đối với các thể nhân; các hình thức tín dụng nhà nước (trái phiếu, tín phiếu,…) và các nguồn đóng góp tự nguyện của người dân (Nhà nước và nhân dân cùng làm, xổ số kiết thiết, đóng góp tự nguyện tiền, tài sản) Về phía Nhà nước quan hệ này được hoàn trả gián tiếp bằng các công trình phúc lợi công cộng về kinh

tế - văn hóa - xã hội Ngoài ra, Nhà nước còn thực hiện các khoản trợ cấp xã hội từ ngân sách như: chính sách thương binh xã hội, học bổng, cứu tế xã hội, trợ cấp cho những người không nơi nương tựa và các chương trình phúc lợi an sinh như: nước sạch, vệ sinh môi trường, trường học, bệnh viện, trạm xá và các công tác xã hội nhân đạo khác Tất cả những mặt trên suy cho cùng cũng là quan hệ kinh tế, vì mục đích kinh tế và hướng tới an sinh cho mọi tầng lớp dân cư

- Thứ tư, quan hệ giữa Nhà nước với các định chế tài chính quốc tế với các Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ Những quan hệ nói trên thể hiện rõ nội dung kinh tế - xã hội của NSNN, nhìn trên góc độ NSNN là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế trọng yếu của Nhà nước

Ngoài ra trong tư cách là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế của Nhà nước; do vậy, khi xem xét bản chất của NSNN một cách đầy đủ và sâu sắc hơn, cũng cần gắn nó với các yếu tố sau:

- Thứ nhất, với các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước đương quyền, với chính sách kinh tế - xã hội đó thể hiện rõ bản chất của Nhà nước đề ra các chính sách đó và bản chất của Nhà nước thẩm thấu vào bản chất của NSNN, với ngân sách là công cụ đắc lực của chính sách Nhà nước đó

- Thứ hai, với phương thức sản xuất tương ứng cốt lõi là quan hệ sản xuất Bởi phương thức sản xuất nào sẽ quyết định việc hình thành thể chế kinh tế, cơ chế tài chính, cũng như cơ chế quản lý tài chính và ngân sách

Trang 19

Tóm lại: Những phân tích trên đã hình thành những yếu tố quan trọng để nhìn nhận một cách toàn diện, khoa học, thực tiễn về bản chất của NSNN, trong tư cách vừa là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế của Nhà nước Trên cơ sở đó, vận dụng nó để xây dựng các chính sách và cơ chế quản lý tài chính, ngân sách thích ứng, nhằm thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách hiệu quả và bền vững Bản chất của NSNN còn được thể hiện trong hoạt động thực tiễn thông qua các chức năng của NSNN

1.1.3 Chức năng của ngân sách nhà nước

Một là, chức năng phân phối NSNN

Bộ máy Nhà nước muốn thực hiện được sự hoạt động của mình một cách bình thường và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ là quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải có nguồn NSNN đảm bảo

Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, các biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết Nhưng cơ sở để hình thành nguồn lực tài chính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh Vì vậy, muốn động viên được nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải được phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao

Vì vậy, Nhà nước trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội phải nắm được quy luật kinh tế và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan Đồng thời phải bảo đảm hài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinh tế

Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của nó đảm bảo được sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nuôi dưỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng được thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên

Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối và quản

lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả Nhà nước sử dụng khối lượng tài chính từ nguồn NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội và chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước Như vậy, chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả Đó cũng là một tất yếu khách quan

Trang 20

Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu được bản chất của NSNN - đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế -

xã hội của Nhà nước Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nước

Hai là, chức năng giám đốc quá trình huy động các nguồn thu và thực hiện các khoản chi tiêu

Thực hiện chức năng này, Nhà nước thông qua NSNN để biết được nguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó có những giải pháp

để làm tốt thu - chi Nhà nước định ra cơ cấu thu - chi hợp lý; theo dõi các phát sinh

và những nhân tố ảnh hưởng đến thu - chi

Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản - chức năng phân phối và chức năng giám đốc NSNN không thể cân đối được nếu như không thực hiện đầy đủ hai chức năng đó, bởi vì: nếu không có sự giám đốc trong việc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu và do đó sẽ dẫn đến tình trạng thất thu dưới nhiều hình thức Nếu không thực hiện tốt chức năng phân phối thì cũng không thể động viên được nguồn thu cho NSNN

1.1.4 Vai trò của ngân sách nhà nước

Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của

nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước Trong nền kinh tế thi ̣ trường

có sự định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, NSNN có các vai trò chủ yếu sau:

Một là, với chức năng phân phối, NSNN có vai trò huy động nguồn tài chính để

đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi mô hình kinh tế, gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

Hai là, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng

trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải

Trang 21

quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định KT-XH Muốn thực hiện tốt vai trò này, NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội

Ba là, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của

kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của

nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó Mặt trái của nó là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Bên cạnh đó do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa công cộng Do đó, nếu để kinh tế thi ̣ trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách thuế và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

1.1.5 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước và phân cấp ngân sách nhà nước

1.1.5.1 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước

Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu

cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách Việc xây dựng hệ thống NSNN của nước ta hiện nay dựa trên các nguyên tắc sau:

Một là: Đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia Đó là điều kiện

quan trọng để đưa mọi hoạt động thu chi của NSNN ở các cấp đi đúng quỹ đạo quản

lý kinh tế, tài chính của Nhà nước, tạo nên mối liên hệ gắn bó hữu cơ giữa các cấp ngân sách làm cho hoạt động ngân sách phù hợp với sự vận động của các phạm trù kinh tế tài chính khác

Hai là: Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hệ thống NSNN, vừa

phát huy sức mạnh của cả hệ thống vừa đảm bảo tính năng động sáng tạo của mỗi cấp cơ sở trong việc xử lý các vấn đề của ngân sách Trong hệ thống NSNN, ngân

Trang 22

sách Trung ương đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn quốc Hoạt động thu chi của NSTW có ảnh hưởng lớn đến các mặt cân đối lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính quan trọng giúp chính quyền nhà nước thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội, khai thác tốt các thế mạnh của nhà nước đồng thời là công cụ góp phần thực hiện sự giám sát của Nhà nước đối với các mặt hoạt động kinh tế - xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định

Ở nước ta tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hệ thống ngân sách ở nước ta bao gồm 4 cấp: Ngân sách Trung ương, ngân sách cấp Tỉnh, ngân sách cấp Huyện và ngân sách cấp Xã (Hình 1.1)

Như vậy hệ thống NSNN gồm: NSTW và ngân sách các cấp chính quyền nhà nước (ngân sách nhà nước)

Ngân sách nhà nước bao gồm: Ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND Điều này phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền nhà nước ta hiện nay Trong đó, NSĐP bao gồm các cấp ngân sách:

- Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuôc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh)

- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuôc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện)

- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)

Sơ đồ 1.1 Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam

Trang 23

Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: + Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền nhà nước được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;

+ Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các nhà nước Số bổ sung này

là khoản thu của ngân sách cấp dưới;

+ Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;

+ Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi vừa nêu trên, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác

Cả 4 cấp ngân sách này hợp chung thành NSNN, trong đó ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo; ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp

xã lồng ghép vào nhau và hợp chung lại thành NSĐP Theo hiến pháp năm 1992 của Việt Nam thì Quốc hội quyết định và phân bổ NSNN, tức là quyết định cả NSTW và ngân sách các cấp chính quyền nhà nước Đây là điểm khác biệt cần lưu

ý so với nhiều nước trên thế giới và cũng là điểm khó khăn trong việc quyết định phân bổ ngân sách hàng năm

1.1.5.2 Nguyên tắc phân cấp ngân sách nhà nước

Để việc phân cấp quản lý NSNN có hiệu quả, đạt được các mục tiêu đề ra thì phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Nguyên tắc 1: Phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp và đồng bộ với phân

cấp tổ chức bộ máy hành chính, quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn

Việc tổ chức bộ máy hành chính thường được qui định trong hiến pháp Do

đó, để đảm bảo cơ sở pháp lý cho cơ chế phân cấp quản lý NSNN phải triệt để tôn trọng những quy định trong hiến pháp có liên quan tới lĩnh vực này

Phân cấp quản lý NSNN ở các cấp chính quyền nhà nước không tách rời với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội Mỗi đơn vị hành chính có chức năng và nhiệm vụ

Trang 24

quản lý kinh tế - xã hội theo phân cấp phù hợp với đặc điểm của mỗi cấp chính quyền Do đó, cần phải xem xét về chức năng thực tế và quy mô, nhiệm vụ từng cấp hành chính để có quy định phân thành một cấp ngân sách hay chỉ là một đơn vị dự toán phân cấp quản lý NSNN phải gắn với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, phải phù hợp và tương xứng với mô hình tổ chức các cơ quan công quyền, gắn với thực trạng nền kinh tế và phải được đánh giá trên các khía cạnh chủ yếu như cơ cấu kinh

tế, cơ cấu ngành nghề, tối độ tăng trưởng, năng suất, hiệu quả thu nhập và phân phối thu nhập Thực trạng kinh tế mỗi nhà nước sẽ quyết định đến nguồn lực tài chính ở nhà nước đó Phân cấp nguồn lực tài chính ở mỗi nhà nước phải quan hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn Phân cấp chi phải gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cấp chính quyền nhà nước, đặc biệt là những vấn đề liên quan mật thiết đến đời sống dân cư trên địa bàn

Phân cấp quản lý NSNN còn cần phải chú ý đến quan hệ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ Kết hợp giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ là một trong nhưng nguyên tắc quan trọng trong quản lý nhà nước về kinh

tế - xã hội

Yêu cầu quản lý theo ngành đòi hỏi không được nhận thức một cách lệch lạc

là Nhà nước, Chính phủ và các Bộ ở trung ương quản lý các công việc của trung ương còn chính quyền nhà nước và các sở thì quản lý các công việc của nhà nước Cần xoá bỏ sự phân biệt một cách máy móc về kinh tế trung ương và kinh tế nhà nước và cho rằng có cơ cấu kinh tế trung ương riêng, cơ cấu kinh tế nhà nước riêng dẫn đến nhưng quyết định đi ngược lại cơ cấu kinh tế thống nhất có tính chiến lược của quốc gia

Yêu cầu quản lý theo lãnh thổ đảm bảo sự phát triển tổng thể các ngành, các lĩnh vực, các mặt hoạt động chính trị - khoa học, văn hoá - xã hội trên một đơn vị hành chính lãnh thổ nhằm thực hiện sự quản lý toàn diện và Khai thác tối đa, có hiệu quả cao nhất mọi tiềm năng trên lãnh thổ, không phân biệt ngành, thành phần kinh tế - xã hội, cấp nhà nước quản lý trực tiếp

Sự quản lý theo ngành hay lĩnh vực và sự quản lý theo lãnh thổ tất yếu phải được kết hợp và thống nhất với nhau theo luật pháp nhà nước và dưới sự điều hành

Trang 25

thống nhất của hệ thống nhà nước.Chính sách phân cấp quản lý NSNN, nhất là những quy định có tác động trực tiếp đến phân bổ ngân sách cho các ngành, các nhà nước cần phải chú ý tôn trọng nguyên tắc này

Nguyên tắc 2: Đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW và đồng thời tạo vị trí

độc lập của ngân sách nhà nước trong hệ thống NSNN thống nhất

NSNN là công cụ quan trọng phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm

vụ của chính quyền nhà nước các cấp Trong đó, các nhiệm vụ, mục tiêu chung của đất nước lại chủ yếu được tập trung cho bộ máy nhà nước ở trung ương Vì thế trung ương phải được dành một phần ngân sách thích đáng cho việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp bao trùm trên phạm vi cả nước

Đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW là một đòi hỏi khách quan bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ương trong việc cung cấp những hành hoá và dịch

vụ công công có tính chất quốc gia Hơn nữa nó còn có vai trò điều tiết, điều hoà đảm bảo công bằng giữa các nhà nước Một NSTW giữ vai trò chủ đạo phải là một ngân sách nắm giữ các nguồn thu quan trọng, đủ để nhà nước thông qua đó thực hiện việc điều tiết các mặt hoạt động của nền kinh tế thông qua chính sách tài khoá

Bên cạnh đó, tạo cho nhà nước sự độc lập tương đối là việc làm hết sức cần thiết Phân cấp, trao quyền cho nhà nước về ngân sách một cách hợp lý sẽ giúp cho nhà nước có thể chủ động và tích cực phát huy trách nhiệm trong việc xây dựng, phát triển nhà nước, đáp ứng được yêu cầu nguyên vọng của dân

Làm cho NSĐP có khả năng độc lập nhất định trước hết là việc trao cho nhà nước quyền tạo lập nguồn thu, quyền hưởng những nguồn thu tương xứng với nhiệm vụ của mình Tính độc lập của NSĐP thể hiện ở chỗ sau khi được phân cấp nhiệm vụ thu và chi thì chính quyền nhà nước phải được toàn quyền quyết định ngân sách của mình (lập ngân sách, chấp hành và quyết toán ngân sách), chỉ chịu sự rằng buộc vào cấp trên ở nhưng vấn đề có tính nguyên tắc lớn để không ảnh hưởng đến cân băng tổng thể Như vậy, nên tránh sự can thiệp quá sâu của chính quyền cấp trung ương vào vấn đề xây dựng và quyết định ngân sách của cấp nhà nước Nói như vậy không có nghĩa là chính quyền nhà nước thoát lý khỏi sự chỉ đạo của trung ương, NSĐP thoát khỏi hệ thống NSNN Trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải

Trang 26

đảm bảo sự thống nhất của hệ thống NSNN Sự thống nhất này thể hiện ở chỗ: Loại chế độ, chính sách, tiêu chuẩn định mức về thu, chi NSNN nhất thiết phải thi hành thống nhất trong cả nước để đảm bảo công bằng thì trung ương ban hành; loại nào

có thể cho nhà nước vận dụng thì trung ương ban hành khung; loại nào chỉ thực hiện do đặc điểm riêng có ở nhà nước thì giao nhà nước ban hành

Nguyên tắc 3: Phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo tính hiệu quả, hạn chế

những khâu trung gian không cần thiết

Đảm bảo tính hiệu quả là việc tìm kiếm mối quan hệ phù hợp nhất giữa mục đích cần đạt được và các nguồn lực được sử dụng

Nguyên tắc về tính hiệu quả bao hàm hai nội dung là tính kinh tế và tính hiệu suất Tính kinh tế đòi hỏi phải đạt được kết quả cụ thể với đầu vào nguồn lực nhỏ nhất Tính hiệu suất thì yêu cầu đạt được kết quả tốt nhất có thể với nguồn lực đầu vào định trước

Tính hiệu quả trong phân cấp quản lý NSNN thể hiện ở hai khía cạnh là hiệu quả chung do những quy định về phân cấp tạo ra và hiệu quả khi xem xét nhưng phí tổn do thực hiện phân cấp gây ra

Ở khía cạnh thứ nhất có liên quan chặt chẽ đến phạm vi phân giao quản lý nguồn thu và chi tiêu Đối với vấn đề phân định nguồn thu và phân cấp quản lý nguồn thu phải làm sao đạt được mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu theo luật pháp quy định với chi phí thấp nhất Vấn đề giao kinh phí cho nhà nước thực hiện những công việc gì cũng phải cân nhắc để công việc đó được thực hiện tốt nhất mà không tốn kém, lãng phí

Ở khía cạnh thứ hai thấy rõ ràng là thêm một cấp ngân sách là phát sinh thêm chi phí quản lý điều hành của bản thân cấp đó và cả các cấp khác có liên quan Cho nên cần thiết phải hạn chế đến mức thấp nhất các cấp ngân sách trung gian ít hiệu quả, thay thế bằng phương thức chuyển giao nguồn tài chính thích hợp hơn

Nguyên tắc 4: Phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo công bằng

Công bằng trong phân cấp được đặt ra bởi vì giữa các nhà nước trong một quốc gia có những đặc điểm tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển kinh tế khác nhau, nếu một cơ chế phân cấp như nhau được áp dụng cho tất cả các nhà nước thì

Trang 27

sẽ dẫn đến những bất công bằng và tạo ra khoáng cách chênh lệch ngày càng lớn giữa các nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội Những vùng đô thị có thể ngày cành phát triển hiện đại nhanh chóng, còn những vùng nông thôn, miền núi có nguy

cơ tụt hậu do thiếu nguồn lực đầu tư

Mặt khác, công bằng cần được đặt ra là vì: Phần lớn các nguồn lực tài chính của nhà nước có được là nhờ vào đóng góp bắt buộc của nhân dân (thông qua các phương thức khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp) Các khoán đóng góp đó của nhân dân nơi này đôi khi lại được nhà nước thu về ở một nơi khác, dẫn đến việc nguồn thu phát sinh ở một nhà nước nhất định không phản ánh đúng mức độ đóng góp của nhà nước đó cho nhà nước

Chính vì vậy nhiệm vụ thu, chi giao cho nhà nước phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung trong cả nước nhưng phải tránh tình trạng do kết quả phân cấp mà một số nhà nước được lợi một số nhà nước khác bị thiệt Nhiệm vụ của nhà nước là phải điều hoà được hệ thống NSNN, việc xây dựng một cơ chế phân cập nguồn thu

và chi NSNN giữa trung ương và nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện việc điều hoà đó.Nhà nước đóng vai trò là người điều phối thông qua NSNN

Nguyên tắc này rất khó thực hiện vì sự khác nhau rất lớn giữa các nhà nước

về nhiều mặt Để khắc phục, phải kết hợp các nguyên tắc trên, đặc biệt là nguyên tắc đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW Có 3 phương pháp điều hoà ngân sách giữa các cấp:

- Phân cấp nguồn thu: Khi phân cấp nguồn thu chú trọng khả năng đáp ứng nhu cầu chi tại chỗ, khuyến khích Khai thác thu phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm của tưng vùng Nguồn thu gắn liền với vai trò quản lý của cấp chính quyền nào thì phân cấp cho ngân sách cấp chính quyền đó

Trên cơ sở nguồn thu ngân sách các cấp được hưởng, các cấp chính quyền lập

dự toán thu NSNN trên địa bàn, và dự toán chi NSĐP Về nguyên tắc NSĐP không được bội chi nên khi cân đối NSĐP, nguồn thu NSĐP được hưởng không đáp ứng được yêu cầu chi của nhà nước thì sẽ áp dụng phương pháp bổ sung cân đôi

- Bổ sung cân đối: Bổ sung cân đối nhằm đảm bảo cho chính quyền cấp dưới cân đối nguồn thu ngân sách để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an

Trang 28

ninh được giao.Số bổ sung cân đối tư ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới ở nhà nước được xác định theo nguyên tắc xác định số chênh lệch giữa số chi và nguồn thi của ngân sách cấp dưới được hưởng

- Bổ sung có mục tiêu: Bổ sung có mục tiêu nhằm hỗ trợ ngân sách cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ:

+ Hỗ trợ thực hiện các chế độ, chính sách mới do cấp trên ban hành chưa được

bố trí trong dự toán ngân sách của năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, mức hỗ trợ cụ thể được xác định trên cơ sở khả năng cân đối của ngân sách các cấp có liên quan

+ Hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án quốc gia giao cho các cấp nhà nước thực hiện, mức hỗ trợ cụ thể thực hiện theo dự toán chi được cấp có thẩm quyền giao

+ Hỗ trợ thực hiện các mục tiêu, công trình, dự án có ý nghĩa lớn đối với yêu cầu phát triển - kinh tế xã hội của nhà nước, nằm trong quy hoạch và đã được cấp

có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định pháp luật về quản lý đầu tư, xây dựng

+ Hỗ trợ xử lý khó khăn đột xuất: Khắc phục thiên tai, hoả hoạn, tại nạn trên diện rộng với mức nghiêm trong, sau khi ngân sách cấp dưới đã sử dụng dự phòng, một phần quỹ dự trữ tài chính của nhà nước nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu

+ Hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ cần thiết, cấp bách khác

+ Số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định hàng năm Mức bổ sung cụ thể căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách cấp trên và yêu cầu về mục tiêu cụ thể của cấp dưới Việc sử dụng nguồn kinh phí bổ sung theo đúng quy định hiện hành

Với mục đích tập trung nghiên cứu vào vấn đề phức tạp nhất của việc phân cấp quản lý NSNN, sau đây đề tài đề cấp cụ thể hơn về phân cập nguồn thu và chi NSNN ở phần dưới

1.2 Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước

1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước

Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định Trong hoạt động quản lý, các

Trang 29

vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải xác định đúng đắn

Quản lý NSNN là một nội dung trọng yếu của quản lý tài chính, do Nhà nước điều hành và là một mặt của quản lý kinh tế - xã hội quan trọng, do đó trong quản lý NSNN cần được nhận thức đầy đủ

Chủ thể quản lý NSNN là Nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ NSNN Chủ thể trực tiếp quản lý NSNN là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan nhà nước

Đối tượng của quản lý NSNN là các hoạt động của NSNN Nói cụ thể hơn đó

là các hoạt động thu, chi bằng tiền của NSNN

Khái niệm tổng quát về quản lý NSNN như sau: Quản lý NSNN là hoạt động của các chủ thể quản lý NSNN thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của NSNN nhằm đạt được các mục tiêu đã định

1.2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước

Quản lý NSNN thực chất là quản lý thu, chi NSNN và cân đối hệ thống NSNN Quản lý thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước Quản lý chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc đã được xác lập

Về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào NS để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của xã hội Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu thuộc chức năng của Nhà nước Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào NS mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp

Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do đó, chi NSNN là những việc cụ

Trang 30

thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước

Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sử dụng là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN là các loại quỹ đã được hình thành trước khi đưa vào sử dụng

1.2.3 Quy trình quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước

- Quản lý NSNN là dùng để chỉ toàn bộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển sang ngân sách mới Một chu trình ngân sách gồm 3 khâu nối tiếp nhau, đó là: lập ngân sách; chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách

- Quy trình ngân sách thường bắt đầu từ trước năm ngân sách và kết thúc sau năm ngân sách Trong một năm ngân sách đồng thời diễn ra cả 3 khâu của chu trình ngân sách đó là: chấp hành ngân sách của chu trình ngân sách hiện tại; quyết toán ngân sách của chu trình ngân sách trước đó và lập ngân sách cho chu trình tiếp theo

- Quản lý NSNN là điều hành hoạt động của NS theo niên độ (Tài khóa) gồm

cả giai đoạn từ khâu lập dự toán NSNN, chấp hành NSNN và quyết toán NSNN Niên độ NSNN là 1 năm, năm NSNN Việt Nam bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 đến 31 tháng 12 năm dương lịch

Quản lý NSNN Việt Nam được lập từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên theo nguyên tắc tập trung dân chủ Theo thông lệ, để tiến hành quy trình NSNN, hàng năm Chính phủ đưa ra quyết định và các chỉ tiêu hướng dẫn lập, chấp hành và quyết toán NSNN (NSTW và NSĐP) theo niên khóa

1.2.4 Phương pháp quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước

Trong quản lý NSNN, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau như:

- Phương pháp tổ chức: được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của NSNN theo những khuôn mẫu đã định

và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó của quản lý NSNN

- Phương pháp hành chính: được sử dụng khi các chủ thể quản lý NSNN muốn các đòi hỏi của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính

Trang 31

- Phương pháp kinh tế: được sử dụng thông qua việc dùng các đòn bẩy kinh

tế để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và cá nhân đang tổ chức các hoạt động quản lý NSNN

- Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý NSNN: được sử dụng để quản lý

và điều hành các hoạt động quản lý NSNN được xem như một loại công cụ quản lý

có vai trò đặc biệt quan trọng

- Công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là các chính sách, cơ chế quản lý tài chính, các chế độ quản lý tài chính, kế toán, thống kê, các định mức, tiêu chuẩn về tài chính, mục lục NSNN,…

- Cùng với pháp luật, hàng loạt công cụ phổ biến khác được sử dụng trong quản lý NSNN như: các đòn bẩy kinh tế, tài chính; kiểm tra, thanh tra; các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý NSNN

Mỗi công cụ kể trên có đặc điểm khác nhau và được sử dụng khác nhau nhưng đều nhằm cùng một hướng là thúc đẩy nâng cao hiệu quả quản lý NSNN

1.2.5 Nội dung của quản lý nhà nước về Ngân sách nhà nước

Nội dung của quản lý NSNN có thể làm rõ hơn qua 3 khâu cơ bản: Lập, chấp hành và quyết toán NSNN

Một là, Lập dự toán NSNN

*) Ý nghĩa của việc lập dự toán NSNN

- Khâu mở đầu có tính chất quyết định đến hiệu quả trong quá trình điều hành, quản lý NSNN

- Cơ hội để thẩm tra tính đúng đắn hiện thực và cân đối của kế hoạch kinh tế

- xã hội

- Kiểm tra các bộ phận của kế hoạch tài chính khác

- Công cụ điều chỉnh quá trình kinh tế - xã hội của Nhà nước Lập dự toán NSNN thực chất là lập kế hoạch thu, chi ngân sách trong một năm ngân sách Kết quả của khâu này là dự toán ngân sách được các cấp thẩm quyền quyết định

*) Xây dựng dự toán NSNN

- Yêu cầu dự toán NSNN:

+ Dự toán NSNN được xây dựng trên cơ sở của kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội và có nội dung tích cực trở lại với kinh tế - xã hội

Trang 32

+ Dự toán NSNN góp phần phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển

- Căn cứ lập dự toán NSNN:

+ Căn cứ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh + Những nhiệm vụ cụ thể của các bộ, ngành, địa phương

+ Phân cấp quản lý NSNN, tỷ lệ phân chia các khoản thu và mức bổ sung của

NS cấp trên cho NS cấp dưới đã được quy định

+ Chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi NSNN hiện hành

+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NS năm sau, Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán NSNN và các văn bản hướng dẫn của các Bộ

+ Số kiểm tra về dự toán NS do cơ quan có thẩm quyền thông báo

+ Số kiểm tra về dự toán NS của các năm trước

- Trình tự lập dự toán NSNN:

+ Hàng năm trước ngày 10 tháng 6 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NS năm kế hoạch làm căn

cứ hướng dẫn việc lập dự toán NSNN

+ Bộ Tài chính hướng dẫn các cơ quan trung ương, các địa phương về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán NSNN và thông báo số kiểm tra về dự toán NSNN

+ Các cơ quan trung ương, UBND tỉnh hướng dẫn và thông báo số kiểm tra

về dự toán NS cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp dưới lập dự toán NS thuộc phạm vi quản lý

+ Các cơ quan, đơn vị dự toán và các doanh nghiệp nhà nước lập dự toán thu, chi NS thuộc phạm vi, nhiệm vụ được giao gửi cơ quan quản lý cấp trên

+ Các cơ quan Nhà nước trung ương ở trung ương và địa phương lập dự toán thu, chi NS thuộc phạm vi quản lý, xem xét dự toán do các đơn vị trực thuộc lập, tổng hợp và lập dự toán thu, chi NS thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan Tài chính cùng cấp, đồng thời gửi cơ quan liên quan

- Lập, quyết định, phân bổ, giao dự toán NSNN ở địa phương:

+ Sở Tài chính chủ trì cùng với Sở Kế hoạch đầu tư xem xét dự toán NS của các đơn vị thuộc tỉnh, dự toán do cơ quan Thuế, Hải quan lập dự toán thu, chi NS

Trang 33

của các huyện, lập dự toán thu NSNN trên địa bàn, dự toán thu, chi NS tỉnh (gồm

dự toán NS cấp tỉnh, cấp huyện và dự toán NS cấp xã), dự toán chương trình mục tiêu quốc gia, báo cáo UBND tỉnh để trình Thường trực HĐND tỉnh xem xét trước khi báo cáo về Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ quản lý lĩnh vực giáo dục

- đào tạo, khoa học công nghệ (đối với dự toán chi giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ), các cơ quan trung ương quản lý chương trình mục tiêu quốc gia (phần

dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia) chậm nhất vào ngày 25/7 năm trước

+ UBND tỉnh hướng dẫn cụ thể việc lập dự toán NS các cấp ở địa phương phù hợp với yêu cầu, nội dung và thời gian lập dự toán NS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Trên cơ sở Quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi NS cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Tài chính có trách nhiệm giúp UBND tỉnh trình HĐND tỉnh quyết định dự toán thu, chi NS tỉnh, phương án phân bổ ngân sách cấp tỉnh và mức bổ sung cho NS cấp dưới trước ngày 10 tháng 12 năm trước; UBND tỉnh có trách nhiệm báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch - Đầu tư dự toán NS tỉnh và kết quả phân bổ dự toán NS cấp tỉnh đã được HĐND tỉnh quyết định

Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Sở Tài chính trình UBND tỉnh quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh, nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa NSTW và NSĐP và giữa các cấp chính quyền địa phương, mức bổ sung từ NS cấp tỉnh cho

NS cấp huyện, dự toán chi từ nguồn kinh phí ủy quyền của TW

Hai là, Chấp hành dự toán NSNN

*) Ý nghĩa của việc chấp hành dự toán NSNN

- Chấp hành NSNN đúng đắn và có hiệu quả là tiền đề quan trọng bảo đảm điều kiện để thực hiện các khoản thu, chi đã ghi trong kế hoạch nhằm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

- Chấp hành NSNN là khâu quan trọng trong quá trình quản lý NSNN Chấp hành dự toán NSNN là khâu cốt yếu có ý nghĩa quyết định với một chu trình ngân sách Nếu khâu lập kế hoạch đạt kết quả tốt thì cơ bản cũng mới dừng ở trên giấy, nằm trong khả năng và dự kiến, chúng có thể biến thành hiện thực hay không là tùy

Trang 34

vào khâu chấp hành ngân sách Chấp hành ngân sách thực hiện tốt sẽ có tác động tích cực bảo đảm thăng bằng thu - chi ngân sách định kỳ (tháng, quý, năm)

*) Nội dung chấp hành dự toán NSNN

- Phân bổ và giao dự toán thu, chi NS ở địa phương: Sau khi được UBND giao dự toán NS, các cơ quan nhà nước ở địa phương, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ giao dự toán thu, chi NS cho các đơn vị trực thuộc theo quy định Sau khi phân bổ NS được các cơ quan Tài chính thống nhất, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phân bổ NS quyết định giao dự toán NS cho các đơn vị trực thuộc; đồng thời gửi cơ quan Tài chính, Thuế, Kho bạc Nhà nước cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để phối hợp thực hiện

- Tổ chức điều hành ngân sách quý: Trên cơ sở giao dự toán thu, chi cả năm được giao và yêu cầu nhiệm vụ phải thu, chi trong quý, các đơn vị sử dụng ngân sách lập nhu cầu chi NS quý (có chia ra từng tháng) gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch và cơ quan quản lý cấp trên trước ngày 20 của tháng cuối của quý trước Cơ quan Tài chính căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhu cầu chi trong quý, lập phương án điều hành ngân sách quý của NS cấp mình Bảo đảm nguồn để đáp ứng nhu cầu chi trong dự toán, đúng chế độ của các đơn vị sử dụng NS

- Nguyên tắc chi trả, thanh toán các khoản chi NSNN: Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi của đơn vị theo đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức, cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả, thanh toán các khoản chi NSNN

- Chi trả, thanh toán theo dự toán từ Kho bạc Nhà nước: Đối tượng chi trả, thanh toán theo dự toán KBNN bao gồm các khoản chi thường xuyên trong dự toán được giao của các cơ quan, đơn vị Hành chánh sự nghiệp của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, …

- Chi trả, thanh toán bằng hình thức lệnh chi tiền: Các khoản chi trả, thanh toán theo hình thức bằng lệnh chi tiền gồm: Chi cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội không có quan hệ thường xuyên với NS, chi cho vay, trả nợ trong và ngoài nước, chi bổ sung từ NS cấp trên cho NS cấp dưới và một khoản chi khác theo quyết định của thủ trưởng cơ quan Tài chính

Trang 35

- Thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Việc chuyển vốn Kho bạc Nhà nước để chi đầu tư XDCB và việc tạm ứng, thanh toán và quyết toán vốn đầu tư XDCB theo quy định của các văn bản pháp luật về đầu tư XDCB hiện hành

- Chi bằng hiện vật và ngày công lao động: Các khoản chi NSNN bằng hiện vật, ngày công lao động cơ quan Tài chính quy đổi ra tiền đồng Việt Nam để làm lệnh thu NS, đồng thời làm lệnh chi NS gửi KBNN để hạch toán thu, chi NSNN

- Chi bằng kinh phí ủy quyền: Cơ quan quản lý nhà nước cấp trên cấp kinh phí ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ NS cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ

đó Khi cấp trên giao kinh phí ủy quyền, UBND cấp dưới phân bổ và giao dự toán kinh phí ủy quyền cho từng đơn vị theo đúng mục tiêu chi ủy quyền, đúng chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi NS

- Chi ứng trước dự toán: Các trường hợp được chi ứng trước dự toán NS năm sau bao gồm:

+ Các dự án, công trình quốc gia và công trình XDCB thuộc nhóm A, đã có

đủ điều kiện thực hiện theo quy định của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng đang thực hiện, cần phải đẩy nhanh tiến độ

+ Một số nhiệm vụ quan trọng cấp bách phải thực hiện theo chế độ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định nhưng chưa được bố trí trong dự toán và nguồn

dự phòng không được đáp ứng được

Ba là, Quyết toán NSNN

*) Ý nghĩa của quyết toán NSNN Quyết toán NSNN

- Khâu cuối cùng xác định kết quả thực hiện các khoản thu, chi đã ghi trong

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình quản lý NSNN

- Cơ sở để phân tích, đánh giá việc thực hiện các khoản thu, chi ghi trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình quản lý NSNN

- Bài học kinh nghiệm quản lý, điều hành NSNN trong những năm tiếp theo Quyết toán ngân sách thực hiện tốt sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhìn nhận lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác lập ngân sách cũng như chấp hành ngân sách những chu trình tiếp theo

Trang 36

*) Nội dung quyết toán NSNN

Quyết toán NSNN phải đảm bảo thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, kiểm toán, báo cáo kế toán, quyết toán NSNN theo luật định Các đơn vị dự toán, cơ quan Tài chính, Thuế các cấp và Kho bạc Nhà nước phải tổ chức công tác kế toán, quyết toán

NS theo quy định của pháp luật về kế toán, cụ thể:

Hết kỳ kế toán (tháng, quý, năm) các đơn vị dự toán và NS các cấp chính quyền phải thực hiện công tác khóa sổ kế toán theo chế độ quy định

- Thực hiện chỉnh lý quyết toán NS trong thời gian chỉnh lý quyết toán là thời gian quy định cho NS các cấp thực hiện việc giải quyết các tồn đọng của năm báo cáo và đối chiếu, điều chỉnh những sai sót trong quá trình hạch toán kế toán, hoàn chỉnh số liệu để quyết toán NS năm báo cáo

- Quyết toán NSNN phải đảm bảo các nguyên tắc theo luật định, đảm bảo số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đầy đủ và kịp thời Nội dung báo cáo quyết toán NS phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao và chi tiết theo mục lục NSNN Đồng thời, thực hiện đúng trình tự lập, gửi xét duyệt báo cáo quyết toán NSNN năm theo quy định Sau đó, báo cáo quyết toán NS các cấp được thẩm định, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán NSNN hàng năm cho các cơ quan có thẩm quyền theo luật định

- Báo cáo quyết toán NS các cấp chính quyền phải đảm bảo đầy đủ các biểu, mẫu theo chế độ quy định và chấp hành đúng quy định về thời hạn báo cáo kế toán, thời hạn chỉnh lý quyết toán, thời hạn báo cáo quyết toán năm

- Kết dư NS cấp tỉnh được chuyển 50% vào quỹ dự trữ tài chính và 50% vào thu NS năm sau Trường hợp quỹ dự trữ tài chính đã đủ mức giới hạn theo quy định thì chuyển toàn bộ vào thu NS năm sau 100%

- Đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí ủy quyền của NS cấp trên phải lập báo cáo quyết toán năm theo biểu, mẫu quy định gửi cơ quan Tài chính nhận ủy quyền

và cơ quan quản lý chuyên ngành đồng cấp Cơ quan Tài chính nhận ủy quyền chủ trì phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành cùng cấp thẩm tra, xem xét quyết toán kinh phí ủy quyền của cơ quan Tài chính nhận ủy quyền và tổng hợp vào quyết toán chi NS cấp ủy quyền

Trang 37

- Cơ quan Tài chính, cơ quan thu ngân sách, cơ quan Kho bạc Nhà nước, đơn

vị dự toán các cấp theo chức năng nhiệm vụ được phân công có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán thường xuyên, định kỳ đối với các đơn vị, cá nhân

có nghĩa vụ thu nộp ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách các cấp

- Việc kiểm tra quyết toán năm của các đơn vị dự toán và ngân sách các cấp do

cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện theo quy định Khi nhận được kiến nghị của

cơ quan Kiểm toán Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét xử lý đúng theo quy định của pháp luật trước khi Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN, HĐND phê chuẩn quyết toán NSĐP và thông báo cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước

Bốn là, Kiểm tra thanh tra và xử lý vi phạm trong quản lý thu - chi NSNN

Việc kiểm tra “trong khi thu - chi” được cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và Kho bạc kiểm tra, xét duyệt nghiêm ngặt theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định

Việc kiểm tra, thanh tra “sau thu - chi” được cơ quan Thuế, Tài chính và Kho bạc tiến hành, xét duyệt một cách nghiêm ngặt theo định mức, quy định hiện hành Các cơ quan chức năng khác thanh tra, kiểm tra theo chức năng và nhiệm vụ được phân định

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý ngân sách nhà nước

1.2.6.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Ngân sách nhà nước là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế - xã hội, do vậy nó luôn chịu sự tác động của các yếu tố đó, cũng như các chính sách kinh tế - xã hội và

cơ chế quản lý tương ứng, cụ thể:

- Về kinh tế:

Như đã biết, kinh tế quyết định các nguồn lực tài chính và ngược lại các nguồn lực tài chính cũng tác động mạnh mẽ đối với quá trình đầu tư phát triển và hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế Kinh tế ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững là cơ sở đảm bảo vững chắc của nền tài chính, mà trong đó NSNN là khâu trung tâm, giữ vai trò trọng yếu trong phân phối các nguồn lực tài chính quốc gia Kinh tế càng phát triển nền tài chính càng ổn định

và phát triển, thì vai trò của NSNN càng ngày càng được nâng cao, thông qua các chính sách tài khóa, thực hiện việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển kinh tế và

ổn định xã hội Hai yếu tố này luôn vận động trong mối quan hệ hữu cơ

Trang 38

- Về mặt xã hội:

Xã hội ổn định bởi chế độ chính trị ổn định Sự ổn định về chính trị - xã hội

là cơ sở để động viên mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên quốc gia cho sự phát triển Mặt khác, chính trị - xã hội cũng hình thành nên môi trường và điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế; thúc đẩy 58 quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính Sự ổn định chính trị -

xã hội ở Việt Nam hiện nay đang là nhân tố tác động tích cực để kinh tế Việt Nam vượt qua khủng hoảng kinh tế và mở ra những cơ hội và điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu

1.2.6.2 Chính sách và thể chế kinh tế

Chính sách kinh tế - xã hội và thể chế kinh tế phù hợp với xu thế phát triển,

có ý nghĩa quyết định đến việc khai thông các nguồn lực và tiềm năng quốc gia cũng như thu hút nhiều nguồn lực từ bên ngoài Ở Việt Nam trong thời gian qua, tiếp theo sau chính sách đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính phủ đã liên tục thực hiện các chính sách kinh tế mở “Đa phương hóa, đa diện hóa”

đi đôi với hoàn thiện thể chế kinh tế, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô, đã thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế phát triển vượt bậc và đã đưa kinh tế Việt Nam từ nằm trong nhóm các nước nghèo nhất sang các nước có thu nhập trung bình của thế giới Theo đó nguồn lực gia tăng, chính sách tài khóa phát huy được hiệu lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững

1.2.6.3 Cơ chế quản lý ngân sách nhà nước

Đổi mới cơ chế quản lý hệ thống NSNN, mà trọng tâm là hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách, phân định thu - chi giữa các cấp ngân sách, mở rộng quyền chi phối quỹ dự trữ tài chính và quỹ dự phòng, nâng cao quyền tự quyết của NS cấp dưới trong hệ thống NSNN đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong quản lý hệ thống NS quốc gia Trong hơn 20 năm qua, việc liên tục đổi mới cơ chế quản lý NS,

đã đem lại những chuyển biến tích cực và hiệu quả trong quản lý hệ thống NS quốc gia Nhờ đó nguồn thu NS không ngừng tăng lên, đầu tư công ngày càng có vị thế, NSNN từng bước đi vào thế cân đối tích cực, trong quá trình phát triển kinh tế theo

xu thế hội nhập

Trang 39

1.2.6.4 Chính sách khuyến khích khai thác các nguồn lực tài chính

Hệ thống các chính sách trích thưởng thu vượt kế hoạch vào NS các cấp NSĐP, quyền chi phối kết dư NS cuối năm và sử dụng quỹ dự trữ tài chính, quỹ dự phòng đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho các cấp chính quyền địa phương, phát huy tính năng động sáng tạo trong khai thác các nguồn thu hiện hữu và các nguồn thu tiềm năng ở địa phương Đây là động lực rất quan trọng cho mở rộng nguồn thu, tăng thu NS và bảo đảm cân đối bền vững của hệ thống NS quốc gia

1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước của một số tỉnh ở Việt Nam

Nhìn chung công tác quản lý NSNN của các tỉnh gần giống nhau là đều dựa vào Luật NSNN như thực hiện quá trình NSNN: Lập, chấp hành và quyết toán ngân sách đều đảm bảo tính tích cực trong quản lý NSNN ở địa phương Bên cạnh đó, do đặc thù riêng của điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương cũng có khác nhau nên cũng có phần khác nhau trong việc khai thác nguồn thu để đảm nhu cầu chi của địa phương Cụ thể ở một số địa phương như:

1.3.1 Kinh nghiệm tại tỉnh Thái Bình

Giai đoạn 2011-2015, tỉnh Thái Bình đã thực hiện phân cấp tối đa nguồn thu, nhiệm vụ chi và mở rộng tỷ lệ (%) phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách ổn định trong 5 năm Nhờ đó đã góp phần khuyến khích và tạo điều kiện cho các cấp chính quyền địa phương tăng cường công tác quản lý, khai thác nguồn thu, tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển, đảm bảo nhiệm vụ chi được giao, từng bước đáp ứng nhu cầu chi tại chỗ, nâng cao tính chủ động trong quản lý điều hành ngân sách

và chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền

Trong quản lý thu ngân sách, tỉnh Thái Bình liên tục trong nhiều năm liền, tỉnh Thái Bình hoàn thành vượt mức các mục tiêu, nhiệm vụ thu ngân sách được giao, vào câu lạc bộ 2.000 tỷ đồng (năm 2011), vượt qua ngưỡng 3.000 tỷ đồng (năm 2013), về đích trước thời hạn 2 năm so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng

Trang 40

Trong quản lý chi thường xuyên UBND tỉnh Thái Bình đã ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên cho từng cấp ngân sách theo từng tiêu chí,

cụ thể như định mức phân bổ cho sự nghiệp giáo dục được tính theo số học sinh; định mức phân bổ cho sự nghiệp đào tạo tính theo số chỉ tiêu đào tạo được giao; định mức phân bổ sự nghiệp y tế tính theo giường bệnh; chi quản lý hành chính tính theo biên chế… Riêng sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khoa học - công nghệ, tài nguyên môi trường phân bổ trên cơ sở tổng mức chi do Trung ương giao và khả năng cân đối của NSĐP

Năm 2015 là năm cuối của thời kỳ ổn định ngân sách (2011-2015) nên không

có sự thay đổi về định mức chi thường xuyên Công tác quản lý và điều hành ngân sách của các đơn vị, các địa phương trên địa bàn tỉnh bám sát dự toán giao, không

có phát sinh lớn ngoài dự toán (trừ các nội dung bổ sung từ nguồn dự phòng ngân sách khắc phục hậu quả thiên tai và những vấn đề an sinh xã hội) UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo các địa phương, các ngành chức năng tăng cường công tác giám sát kiểm tra, kịp thời uốn nắn và xử lý nghiêm túc những trường hợp chi sai, vượt chế độ, định mức của chế độ chi tiêu tài chính hiện hành Đồng thời vẫn tiếp tục thực hiện khoán chi cho 100% các đơn vị thuộc các phòng ban quản lý nhà nước theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ, 100% các đơn vị sự nghiệp thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo sự chủ động và gắn trách nhiệm rất cao đối với thủ trưởng các đơn vị trong việc sắp xếp nội dung chi gắn với nhiệm vụ chuyên môn, do đó chi thường xuyên cho bộ máy đáp ứng kịp thời, sát với dự toán được giao Tiếp tục thực hiện phân cấp ngân sách xuống các đơn vị trường học để các đơn vị chủ động quản lý và

sử dụng ngân sách

Bằng việc mạnh dạn thực hiện phân cấp nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách địa phương tỉnh Thái Bình đã thu được những kết quả đáng khích lệ Kinh tế địa phương tăng trưởng, ổn định chính trị xã hội

Tuy nhiên công tác quản lý chi ngân sách tỉnh Thái Bình cũng vấp phải những khó khăn, hạn chế đó là về cán bô ̣quản lý ngân sách Khối huyện, xã còn thiếu cán bộ cho công tác chủ đầu tư, khối các đơn vị dự toán còn hạn chế về trình

Ngày đăng: 03/07/2017, 14:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2017), Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2017
2. Bộ Tài chính (2009), Báo cáo đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước về tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước về tài chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
3. Cục thống kê Thái Nguyên (2016), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Cục thống kê Thái Nguyên
Năm: 2016
6. HĐND tỉnh Thái Nguyên (2010), Nghị quyết số 12/2010/NQ-HĐND ngày 20/7/2010 của HĐND tỉnh về Định mức phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh Thái Nguyên thực hiện từ năm 2011-2015, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 12/2010/NQ-HĐND ngày 20/7/2010 của HĐND tỉnh về Định mức phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh Thái Nguyên thực hiện từ năm 2011-2015
Tác giả: HĐND tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2010
8. HĐND tỉnh Thái Nguyên (2011-2015), Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách tỉnh Thái Nguyên các năm, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách tỉnh Thái Nguyên các năm
9. Lê Chi Mai (2006), Phân cấp ngân sách cho chính quyền nhà nước thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân cấp ngân sách cho chính quyền nhà nước thực trạng và giải pháp
Tác giả: Lê Chi Mai
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo tri ̀nh về quản lý ngân sách , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình về quản lý ngân sách
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
12. Quốc hội (2002), Luật Ngân sách Nhà nước, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách Nhà nước
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2002
13. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên (2001-2015), Báo cáo tình hình phát triển KT-XH, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển KT-XH
19. Website tỉnh Bắc Ninh http://www.bacninh.gov.vn 20. Website tỉnh Thái Bình http://www.thaibinh.gov.vn 21. Website tỉnh Thái Nguyên http://www.thainguyen.gov.vn Link
22. Website công báo tỉnh Thái Nguyên http://www.congbaothainguyen.vn Link
4. Phạm Đình Cường (2009), Phân cấp trong lĩnh vực tài chính - ngân sách ở Việt Nam, Tài chính Khác
5. Trịnh Tiến Dũng (2002), Về phương pháp lập và phân bổ ngân sách ở nước ta hiện nay, Tài chính Khác
10. Lê Minh Thông (2008), Quản lý thu chi ngân sách, Tài chính Khác
14. Sở Tài chính Thái Nguyên(2011-2015), Báo cáo quyết toán thu, chi ngân nhà nước Khác
15. Sở Tài chính Thái Nguyên, Các văn bản hướng dẫn lập dự toán, thực hiện dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước 2011-2015 Khác
16. UBND tỉnh Thái Nguyên, Ba ́ o cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội các năm 2011-2015 Khác
17. UBND tỉnh Thái Nguyên, Các chỉ thị điều hành ngân sách nhà nước 2011-2015 Khác
18. UBND tỉnh Thái Nguyên, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 1.1. Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam (Trang 22)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ bộ máy quản lý ngân sách nhà nước tỉnh Thái Nguyên - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ bộ máy quản lý ngân sách nhà nước tỉnh Thái Nguyên (Trang 51)
Sơ đồ minh họa quy trình lập dự toán như sau: - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ minh họa quy trình lập dự toán như sau: (Trang 52)
Sơ đồ 3.3. Quy trình chấp hành ngân sách - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 3.3. Quy trình chấp hành ngân sách (Trang 54)
Sơ đồ quy trình quyết toán NSNN như sau: - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ quy trình quyết toán NSNN như sau: (Trang 57)
Bảng 3.2: Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo từng - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.2 Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo từng (Trang 69)
Bảng 3.3: Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2011 - 2015 - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3 Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2011 - 2015 (Trang 70)
Bảng 3.5: Tổng hợp chi NSĐP năm 2011-2015 - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.5 Tổng hợp chi NSĐP năm 2011-2015 (Trang 72)
Bảng 3.6: Kết quả thực hiện chi ngân sách các cấp giai đoạn 2011 - 2015 - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.6 Kết quả thực hiện chi ngân sách các cấp giai đoạn 2011 - 2015 (Trang 73)
Bảng 3.7: Cơ cấu chi ngân sách theo sự nghiệp, giai đoạn 2011-2015 - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7 Cơ cấu chi ngân sách theo sự nghiệp, giai đoạn 2011-2015 (Trang 74)
Bảng 3.7 cho thấy chi ngân sách cấp tỉnh bình quân chiếm 52,5% cơ cấu chi  ngân  sách  của  địa  phương,  ngân  sách  cấp  huyện  chiếm  37,9%,  ngân  sách  cấp  xã  chiếm 9,6% - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7 cho thấy chi ngân sách cấp tỉnh bình quân chiếm 52,5% cơ cấu chi ngân sách của địa phương, ngân sách cấp huyện chiếm 37,9%, ngân sách cấp xã chiếm 9,6% (Trang 75)
Bảng 3.8: Khả năng cân đối ngân sách các cấp giai đoạn 2011-2015 - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8 Khả năng cân đối ngân sách các cấp giai đoạn 2011-2015 (Trang 77)
Bảng 3.9: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên, giai đoa ̣n 2011 - 2015 - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.9 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên, giai đoa ̣n 2011 - 2015 (Trang 80)
Bảng 4.1: Dự báo thu chi NSNN tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 - Quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.1 Dự báo thu chi NSNN tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w