LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài “Quản lí đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường Trung học phổ thông hu
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài “Quản lí đánh giá
kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường Trung học phổ thông huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên” là kết quả của quá
trình cố gắng không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy,cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian hai năm học tập và rèn luyện, nghiên cứu tại trường Đại học sư phạm Hà Nội
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo Tiến Sĩ
Phạm Ngọc Long đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu
thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy-cô giáo và các em học sinh của các trường THPT đóng trên địa bàn huyện Tuần Giáo, Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Tuần Giáo đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình hoàn thiện luận văn tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý, xây dựng của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Xuân
Trang 22
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng:
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
“Quản lí đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường Trung học phổ thông huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên” là trung thực, nghiên cứu độc lâp và không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn trọng Xuân
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 4ta đã xác định CNH, HĐH đất nước là mục tiêu hàng đầu “đến năm 2020 đất
nước ta về cơ bản phải trở thành nước công nghiệp” Vì vậy, văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng
đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa” [1]
Đổi mới GD nói chung và đổi mới GD ở bậc phổ thông nói riêng đang được sự quan tâm của các cấp và ngành GD với mục đích đào tạo ra con người
có năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu xã hội Công tác đổi mới GD đòi hỏi phải có sự đổi mới đồng bộ tất cả các khâu trong quá trình GD, nhất là các khâu trong quá trình dạy học
Nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, ngoài việc đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy thì KT, ĐG – một trong những thành tố quan trọng của quá trình dạy học – cần được quan tâm đúng mức, vì thông qua công tác này, có thể phản ánh kết quả giảng dạy, học tập và chất lượng đào tạo nói chung
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
GD và đào tạo nêu rõ:“Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, KT và
ĐG kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, KT và
ĐG kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả ĐG trong quá trình học với ĐG cuối kỳ, cuối năm học; ĐG của người dạy với tự ĐG của người học; ĐG của nhà trường với ĐG của gia đình và của xã hội” [2]
Trang 55
KTĐG kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng GD và đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình GD phổ thông sau năm 2015 Đổi mới KTĐG kết quả học tập của HS theo hướng tiếp cận năng lực sẽ tạo nên tính chủ động, tích cực, sáng tạo cả trong hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Tuy nhiên, KTĐG kết quả học tập của
HS theo tiếp cận năng lực còn khá mới mẻ ở Việt Nam Chính vì vậy, để hoạt động KTĐG theo tiếp cận năng lực phát huy được hiệu quả đòi hỏi sự hỗ trợ, quan tâm, động viên và giám sát chặt chẽ của các nhà QL
Tuần Giáo là một huyện miền núi của tỉnh Điện Biên Trong những năm qua, GD đã nhận được sự quan tâm về mọi mặt của cấp uỷ Đảng, chính quyền cùng sự nỗ lực của ngành, đầu tư xây dựng CSVC, bồi dưỡng đội ngũ CBQL,
GV theo chuẩn
Mặc dù đã có những cải tiến, nhưng công tác KT, ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo hướng tiếp cận năng lực ở các trường THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên vẫn bộc lộ nhiều yếu kém về phương pháp, cách thức cũng như QL, chỉ đạo Một số GV vẫn chưa nắm được mục đích cần thiết của KT,ĐG nên việc KT, ĐG trên lớp chỉ nhằm mục đích cho điểm và xếp loại HS, nặng nề
về điểm số, ĐG định kì và tổng kết Điều đó dẫn đến việc bó hẹp các hình thức
KT, ĐG chỉ trong phạm vi KT miệng và KT viết, còn các hình thức KT, ĐG khác có khả năng phát triển được năng lực của HS lại không được áp dụng Việc
ĐG chỉ diễn ra tại những thời điểm nhất định không thay đổi của kì học, năm học nên không thể theo dõi được toàn bộ quá trình học tập của HS, chính vì vậy việc ĐG kết quả học tập của HS vẫn chưa được chính xác Khi tiến hành đổi mới, nhiều GV còn lúng túng trước các hình thức và phương pháp KT, ĐG hiện đại dẫn đến tình trạng GV KT, ĐG một cách hời hợt, còn HS thì không hứng thú với việc KT, ĐG
Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là không rèn luyện được tính trung thực
Trang 66
trong thi, KT; nhiều HS phổ thông còn thụ động trong việc học tập; khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động KT, ĐG kết quả học tập môn Vật lí của trường THPT Tuần Giáo theo định hướng phát triển năng lực của HS là hết sức
cần thiết Do đó, chúng tôi chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: "Quản lí đánh
giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường Trung học phổ thông huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, tìm hiểu thực trạng của việc KT,ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS ở các trường THPT huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên, đề tài đề xuất các biện pháp quản lí KT,ĐG theo hướng phát triển năng lực học tập của HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học tại các trường THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về QL công tác ĐG kết quả học tập môn Vật
lí của HS theo tiếp cận năng lực tại các trường THPT huyện Tuần Giáo
- Khảo sát thực trạng hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS
và QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực
ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất một số biện pháp QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật
lí theo tiếp cận năng lực của HS các trường THPT trên địa bàn huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 77
QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực ở trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực các trường THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
5 Giả thuyết khoa học
Quản lí ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS các trường THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, bất cập ảnh hưởng đến hiệu quả công tác này như việc phối hợp đánh giá của giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh còn hạn chế, giáo viên vẫn còn lúng túng trong chuyển đối sang đánh giá năng lực người học, Nếu đề xuất, áp dụng được các biện pháp QL phù hợp thì hiệu quả hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo hướng tiếp cận năng lực thì sẽ được nâng cao, góp phần nâng cao chất lượng GD ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu phục vụ cho đề tài như các văn kiện của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết, các tài liệu bồi dưỡng CBQL công chức nhà nước, các tài liệu về KT, ĐG theo tiếp cận năng lực của HS
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng: Dùng phiếu hỏi để trưng cầu
ý kiến của CBQL, GV, HS về các nội dung sau:
+ Thực trạng ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực
Trang 8- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật
lí của HS, tinh thần, ý thức trách nhiệm của GV để có những đánh giá khách quan nhất về công tác ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực tại các trường THPT
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của lãnh đạo, các GV có kinh nghiệm để rút ra kết luận hợp lí nhất cho vấn đề nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nhằm khảo sát, ĐG thực trạng quản lý ĐG KQHT của HS
6.3 Các phương pháp hỗ trợ
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lí phiếu điều tra: điểm trung bình, tần suất, hệ số tin cậy, tương quan,…
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham
khảo, nội dung luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập
môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường trung học phổ thông huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Trang 99
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập môn
Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường trung học phổ thông huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập môn
Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường trung học phổ thông huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Trang 101.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
KT, ĐG kết quả học tập của HS luôn là một đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, với những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã luận bàn về vấn đề KT,ĐG, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Đầu thế kỉ XVI, nhà GD Tiệp Khắc J.A.Comesnki (1592 – 1670) đã là người nêu lên vai trò ý nghĩa của KT, ĐG quá trình lĩnh hội tri thức của HS và việc KT, ĐG phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hướng dẫn HS tự KT, ĐG
kiến thức của bản thân trong tác phẩm “Lí luận dạy học vĩ đại ”
Trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, J.Dewey - nhà triết học, nhà giáo dục học nổi tiếng người Mĩ, với tác phẩm “Trường học và xã hội” (The school and Society, 1899) cho rằng chương trình GD không nên quá coi trọng lý thuyết, mà cần coi trọng việc tiếp cận với đời sống thực tiễn, không chú trọng kiến thức lý luận mà chú trọng rèn kỹ năng với tinh thần: trong quá trình hoạt động, những kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức sẽ được hình thành Hai
khẩu hiệu “GD là đời sống chứ không phải chuẩn bị cho đời sống” và “Vừa
làm vừa học” mà J.Dewey đưa ra đặt cơ sở trực tiếp cho sự ra đời của lí luận
dạy học theo định hướng phát triển năng lực của HS sau này
Tác giả B.S Bloom cùng George F Madaus và J.Thomas Hastings năm
1971 đã cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (ĐG thúc đẩy học tập) Đây là cuốn sách viết về kỹ thuật ĐG kết quả học tập của HS dành
Trang 1111
cho GV, cuốn sách hướng tới việc hoàn thiện và sử dụng các câu hỏi, các bài
KT, ĐG quá trình học tập và các dạng bài KT khác do GV tự làm được áp dụng cho HS một cách có hệ thống để tăng cường khả năng học tập của HS Thông qua việc liên kết các kỹ thuật ĐG tốt nhất, cuốn sách hỗ trợ các GV sử dụng
ĐG như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển GD&ĐT, hoạt động nghiên cứu KTĐG; nghiên cứu công tác quản lý hoạt động KTĐG có những phát triển mới Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý nhằm nâng cao chất lượng KTĐG, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Một số tài liệu nghiên cứu về KTĐG trong lĩnh vực giáo dục của các chuyên gia như: Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, “ Đo lường và đánh giá kết quả học tập” (2007) [26] đề cập đến những vấn đề cơ bản về KT, ĐG một cách hệ thống
Tác giả Phan Trọng Ngọ, “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” [23], đã bàn về khái niệm ĐG, mối quan hệ của ĐG và mục tiêu học tập, các phương pháp ĐG
Tác giả Nguyễn Đức Chính, “Đo lường và đánh giá kết quả học tập của HS” (2008) [10];
Tác giả Trần Khánh Đức, “Đo lường và đánh giá trong giáo dục” (2006) [12]
Các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau song tất cả đều
có chung một mục đích là ĐG sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là ĐG chất lượng cả quá trình GD
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về KT, ĐG đã nêu trên còn có những nghiên cứu về KT, ĐG kết quả học tập môn Vật lí:
Trang 1212
Dự án chương trình phát triển GD trung học năm 2010 “Tài liệu bồi
dưỡng cán bộ quả lý và giáo viên biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu
hỏi, bài tập môn Vật lí cấp THPT” [5].;
Tài liệu tập huấn dự án phát triển chương trình GD năm 2014 “Hướng
dẫn dạy học và kiểm tra đánh giá môn Vật lí theo định hướng phát triển năng lực của HS cấp THPT” [7].;
Nhóm tác giả Vũ Đình Chuẩn, Nguyễn Trọng Sửu“Phương pháp thủ
thuật, giải nhanh các câu hỏi, bài tập trắc nghiệm Vật lí 12” [11].;
Tài liệu tập huấn “Dạy học và KT, ĐG KQHT theo định hướng phát
triển năng lực HS môn Vật lí cấp THCS”, Chương trình phát triển GD trung
học năm 2014 [5].;
Tác giả Nguyễn Trọng Sửu, “Hướng dẫn thực hiện chương trình sách
giáo khoa môn Vật lí lớp 10-11-12” [37]
Các nghiên cứu trên đã tập trung phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn Vật lí Trong đó các nghiên cứu cũng
đã xác định một trong những nguyên nhân khiến chất lượng GD môn Vật lí chưa được nâng cao chính là do công tác ĐG kết quả học tập của môn Vật lí còn nhiều bất cập Các nghiên cứu đã đưa ra những biện pháp khả thi song chưa có nghiên cứu nào đưa ra biện pháp QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực
Đề tài “Quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của HS
theo tiếp cận năng lực ở các trường THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên”
lần đầu tiên được nghiên cứu với các số liệu được điều tra, thu thập tại các trường THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên có tính khả thi và cấp thiết trong nhiệm vụ nâng cao chất lượng môn Vật lí nói riêng và chất lượng GD nói chung để đáp ứng yêu cầu về đổi mới căn bản toàn diện GD trong giai đoạn hiện nay
Trang 1313
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đánh giá
Theo Ralph Tyler (1950) (Dẫn theo Nguyễn Công Khanh) thì ĐG là
“quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong các chương trình GD” [17,tr.32]
Robet.F.Mager – nhà GD học của Pháp cho rằng “ĐG là việc miêu tả
tình hình của HS và GV để dự đoán công việc, phải tiếp tục giúp HS tiến bộ”
[18, tr.29]
Theo Nitko & Brookhart (2007)(Dẫn theo Nguyễn Công Khanh) thì ĐG
trong GD là “một quá trình thu thập thông tin và sử dụng thông tin này để ra
quyết định về HS, về chương trình, về nhà trường và đưa ra các chính sách GD”[18,tr.32]
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, ĐG trong GD là “quá trình tiến hành
có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu GD nhất định” [25,tr.9]
Tác giả Lê Đức Ngọc trong “Vắn tắt về đo lường và ĐG thành quả học
tập trong GD Đại học” lại khẳng định ĐG trong GD là “Căn cứ vào các số đo
và các tiêu chí xác định, việc ĐG năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo
là để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo” [24; tr.12]
Như vậy, ĐG trong quá trình dạy học là đưa ra những nhận định tổng hợp
về các dữ kiện đo lường được qua các kì KT, lượng giá người học trong quá trình và khi kết thúc khóa học bằng đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trước đó trong các mục tiêu
Từ các quan niệm trên, tác giả cho rằng KT và ĐG có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, KT là cơ sở, là tiền đề của ĐG, KT nhằm cung cấp thông tin để ĐG
Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là KT - ĐG trong quá trình dạy
Trang 14dục học – NXB Từ điển Bách khoa (2001), ĐG kết quả học tập là “xác định
mức độ nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra” [38, tr.37]
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh “Đánh giá kết quả học tập là quá
trình thu thập, xử lí thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã được xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV, của nhà trường và cho bản thân người học giúp họ tiến bộ hơn”[25, tr.12]
Như vậy, ĐG kết quả học tập của HS là việc đưa ra những kết luận, nhận định, phán xét về trình độ HS, bao gồm các giai đoạn sau:
- Thu thập thông tin về hiện trạng của kết quả học tập;
- Xử lí và phân tích hiện trạng, khả năng, nguyên nhân kết quả học tập;
- Phán đoán, nhận xét về việc HS có đạt được hay không mục tiêu học tập theo quy định của chương trình Ra quyết định hành động cho giai đoạn tiếp theo
Như vậy, kết quả học tập của HS là thước đo của quá trình dạy – học, ĐG chính xác kết quả học tập của HS là điều vô cùng cần thiết trong suốt quá trình dạy – học
1.2.4 Quản lí
Trong xã hội, các hoạt động đều cần đến công tác quản lí Quản lí trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ QL
Trang 1515
vừa là một khoa học, vừa là nghệ thuật trong điều khiển một hệ thống xã hội, ở tầm vĩ mô lẫn vi mô Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động QL
Theo H.Fayol (Dẫn theo Bùi Minh Hiền) “QL là sự dự đoán và lập kế
hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và cuối cùng là KT” và “đây cũng là 5 chức năng cơ bản nhất của QL” [13, tr.20]
Các nhà khoa học ở Việt Nam cũng có những quan điểm riêng về QL như sau:
Theo tác giả Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong
việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”[19, tr.29]
Theo nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Nguyễn Vũ Bích Hiền: “QL là sự
tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [14, tr.46]
Các khái niệm trên đây, tuy có khác nhau, song chúng có chung những dấu hiệu chủ yếu sau đây [13], [14], [19], [21], [29]:
- Hoạt động QL có các thành tố cơ bản sau: Chủ thể QL, đối tượng QL, mục tiêu QL Ba thành tố này gắn bó chặt chẽ tạo nên hoạt động của bộ máy
- QL là một hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định đúng qui luật và có hiệu quả QL nhưng cũng tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm hướng tới mục tiêu
- Mục tiêu cuối cùng của QL là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Người QL tựu chung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa con người với con người vô cùng phức tạp giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống
Trang 1616
- QL là thực hiện những tác động có mục đích đến khách thể QL Còn khách thể QL hiện thực hóa mục tiêu QL bao gồm các sản phẩm vật chất và phi vật chất với giá trị sử dụng tối ưu QL suy cho cùng lấy yếu tố con người làm trung tâm và là đích đến cuối cùng của hoạt động
- QL là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên
và xã hội nhân văn khác: toán học, thống kê, kinh tế học, tâm lí học, xã hội học… QL còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tính toán ứng xử, giao lưu để đạt tới mục đích
Như vậy, có thể khái quát rút ra một khái niệm chung về QL như sau:
QL là sự tác động có mục đích, có biện pháp, có sáng tạo của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của QL mà mục tiêu cuối cùng của QL là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người
1.2.5 Quản lí đánh giá kết quả học tập
Trên cơ sở lí luận về QL kết hợp với lí luận về ĐG kết quả học tập,
chúng ta có thể hiểu khái niệm về quản lí ĐG kết quả học tập như sau: “Quản
lí đánh giá kết quả học tập là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra quá trình đánh giá kết quả học tập nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu đánh giá đề ra”
QL hoạt động ĐG kết quả học tập là hoạt động của chủ thể QL tác động vào quá trình KT, ĐG kết quả học tập làm cho hoạt động KT, ĐG được chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng chất lượng dạy học, để
từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng dạy học cũng như chất lượng GD tổng thể
Căn cứ vào chức năng của QL, QL hoạt động ĐG kết quả học tập của HS cũng bao gồm các bước cơ bản:
+ Lập kế hoạch
Trang 1717
+ Tổ chức thực hiện
+ Chỉ đạo giám sát hoạt động ĐG kết quả học tập của HS
+ KT, ĐG hoạt động ĐG kết quả học tập của HS
QL hoạt động ĐG kết quả học tập của HS của người hiệu trưởng không những tác động vào GV, HS, phụ huynh mà cả bản thân người QL Nếu làm tốt công tác QL đánh giá kết quả học tập thì người QL sẽ có được thông tin chính xác, kịp thời, có hệ thống, đảm bảo tính pháp lí về chất lượng quá trình dạy học, quá trình giáo dục, mức độ đạt được mục tiêu QL đã đề ra cũng như hiệu quả QL
1.3 Đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo định
hướng tiếp cận năng lực 1.3.1 Đánh giá năng lực của học sinh thông qua môn Vật lí
Yêu cầu tất yếu khi chuyển mục đích dạy học sang phát triển năng lực của
HS thì việc ĐG cũng phải là ĐG kết quả học tập theo năng lực HS ĐG theo năng lực là việc ĐG dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ phức tạp thích hợp để tìm ra cách giải quyết một hoặc nhiều vấn đề để đạt tới mục tiêu có được kiến thức có thể áp dụng trong nhiều tình huống phức tạp khác nhau trong thực tế cuộc sống
Theo Nguyễn Công Khanh: “Đánh giá học sinh theo cách tiếp cận năng lực
là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra…nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần
có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt tới một chuẩn nào đó”[17, tr.11] Do đó, ĐG
theo hướng phát triển năng lực của HS là cách thức mà trọng tâm không phải là
KT các thành phần tri thức hay kĩ năng riêng lẻ mà là sự vận dụng có phối hợp các thành tích riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đề mới đối với người học ĐG theo hướng tiếp cận này không định hướng theo những nội dung KT trừu tượng
mà luôn đặt HS vào các tình huống trong cuộc sống để thử thách họ hơn là theo
Trang 1818
định hướng nội dung học tập truyền thống
Hệ thống năng lực cần phát triển ở HS có nhiều loại khác nhau và được xây dựng khái quát bao gồm bốn thành phần như sau:
- Năng lực chuyên môn: gắn liền với khả năng nhận thức và tâm lí vận động
- Năng lực phương pháp: khả năng về cách thức tiếp nhận, xử lý, chuyển hóa nhằm thực hiện, giải quyết vấn đề hiệu quả
- Năng lực xã hội: khả năng giao tiếp, tương tác trong cộng đồng, xã hội
- Năng lực cá thể: chủ động, tự chủ, tự tin, khẳng định bản thân trong quan hệ ứng xử, giải quyết vấn đề, thực hiện nhiệm vụ hành động hay trong tư duy nhận thức
Bốn thành phần của năng lực nêu trên tương ứng với mục đích học tập:
“Học để hiểu biết – Học để làm việc – Học để chung sống – Học để thành người (tự khẳng định bản thân)” – một tuyên ngôn của tổ chức UNESCO, đã được các nhà sư phạm xác định là “bốn trụ cột của GD” và cũng là mục tiêu xã hội và GD của nhà trường cần hướng tới
Từ các phẩm chất và năng lực chung, mỗi môn học xác định những phẩm chất, và năng lực cá biệt và những yêu cầu đặt ra cho từng môn học, từng hoạt động giáo dục Môn Vật lí được coi là môn học thực nghiệm, lý thuyết gắn liền với thực hành Bên cạnh những năng lực chung, môn Vật lí còn hướng tới phát triển cho HS những năng lực đặc thù, cụ thể, chuyên biệt của môn học:
- Năng lực tự học: Lập được kế hoạch tự học và điều chỉnh, thực hiện kế hoạch có hiệu quả, tìm kiếm thông tin về nguyên tắc cấu tạo, hoạt động của các ứng dụng kĩ thuật Trình bày được kiến thức về các hiện tượng, đại lượng, định luật, nguyên lí vật lí cơ bản, các phép đo, các hằng số vật lí Tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy, bản đồ khái niệm, bảng biểu, sơ đồ khối Tự đặt
Trang 1919
câu hỏi và thiết kế, tiến hành được phương án thí nghiệm để trả lời cho các câu hỏi đó Vận dụng (giải thích, dự đoán, tính toán, đề ra giải pháp, đánh giá giải pháp … ) kiến thức vật lí vào các tình huống thực tiễn
- Năng lực giải quyết vấn đề: Đặc biệt quan trọng là năng lực giải quyết vấn đề bằng con đường thực nghiệm hay còn gọi là năng lực thực nghiệm Đặt
ra những câu hỏi về một sự kiện Vật lí Tiến hành thực hiện các cách thức tìm câu trả lời bằng suy luận lí thuyết hoặc khảo sát thực nghiệm Khái quát hóa rút
ra kết luận từ kết quả thu được Đánh giá độ tin cậy và kết quả thu được
- Năng lực sáng tạo: Thiết kế được phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết (hoặc dự đoán), lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu Giải được bài tập Vật lí sáng tạo
- Năng lực giao tiếp: Mô tả được các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ Vật lí và chỉ ra các quy luật vật lí trong hiện tượng đó Lập được bảng và mô tả bảng số liệu thực nghiệm, vẽ được đồ thị từ bảng số liệu cho trước, vẽ được sơ
đồ thí nghiệm, mô tả được sơ đồ thí nghiệm, đưa ra các lập luận lôgic, biện chứng
- Năng lực hợp tác: Tiến hành thí nghiệm Vật lí theo nhóm, tiến hành thí nghiệm theo các khu vực khác nhau
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng (maple, coachs, crocodie…) để mô hình hóa quá trình Vật lí, sử dụng phần mềm mô phỏng để mô tả đối tượng Vật lí
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Sử dụng ngôn ngữ khoa học để diễn tả quy luật Vật lí, sử dụng bảng biểu, đồ thị để diễn tả quy luật Vật lí Đọc hiểu được
đồ thị, bảng biểu
- Năng lực tính toán: Mô hình hóa quy luật Vật lí bằng các công thức toán học, sử dụng toán học để suy luận từ kiến thức đã biết ra hệ quả hoặc ra kiến thức mới
Trang 20và các thông tin phản hồi hữu ích giúp các nhà QL điều chỉnh hiệu quả quá trình
ĐT
Ngày nay, chúng ta đã và đang tiến hành đổi mới KT,ĐG chuyển từ định hướng nội dung sang định hướng phát triển NL người học Nếu việc KT,ĐG theo hướng phát triển NL thành công sẽ có tác dụng nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Đồng thời, nó còn góp phần đào tạo ra được những con người có đầy đủ những phẩm chất, năng lực, phát triển toàn diện đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước
Hiện nay, trong tất cả các khâu cần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục thì đổi mới KT,ĐG là khâu tạo nên sự đột phá KT,ĐG phải đổi mới đầu tiên, “đi tắt”, “đón đầu”, sau đó mới là đổi mới các khâu còn lại của QTDH Cho nên, KT, ĐG kết quả học tập của HS có ý nghĩa quan trọng trên cả ba mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ đối với cả GV, HS và các cấp QLGD.Cụ thể:
- Đối với GV: KT,ĐG là công cụ để đo kết quả dạy học của chính bản thân
mỗi GV, giúp GV đánh giá chính xác kết quả học tập, năng lực của HS ở từng giai đoạn học tập khác nhau Mặt khác, việc KT,ĐG theo định hướng phát triển năng lực còn giúp GV đánh giá được khả năng HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống ở mức độ nào so với mục tiêu môn học đề ra, nắm được mức độ tiến bộ hay sút kém của từng em để
có biện pháp khuyến khích, động viên hay giúp đỡ, bồi dưỡng kịp thời
Với xu hướng đổi mới KT,ĐG theo định hướng phát triển năng lực, GV sẽ được bồi dưỡng về các loại hình và phương pháp KT,ĐG mới; biết được xu
Trang 2121
hướng đổi mới KT,ĐG của thế giới và của Việt Nam, từ đó nâng cao trình độ nhận thức của mình để GV có phương pháp KT,ĐG đúng, phù hợp với từng đối tượng HS KT,ĐG có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với GV trong việc đánh giá chính xác năng lực học tập của HS, đồng thời cũng qua đó mà khẳng định năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của người thầy, góp phần vào định hướng học tập cho HS
- Đối với HS: Ý nghĩa của KT,ĐG thể hiện trên ba mặt:
Về mặt kiến thức, KT,ĐG theo tiếp cận phát triển năng lực không chỉ
giúp HS củng cố, mở rộng, bổ sung, đào sâu và hoàn thiện vốn tri thức mà còn làm sáng tỏ mức độ đạt được hay chưa đạt được về mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, năng lực đối với chương trình Qua đó HS phát hiện được những thiếu sót trong kiến thức, kỹ năng để kịp thời sửa chữa, điều chỉnh hoạt động học Đặc biệt, KT,ĐG theo tiếp cận năng lực là biện pháp quan trọng nhất để hình thành các năng lực cơ bản, cần thiết cho mỗi HS trước khi bước vào cuộc sống
Về mặt thái độ, KT,ĐG theo hướng phát triển năng lực có tác dụng to lớn
trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, phẩm chất của HS Hình thành ở HS lòng tin, ý trí quyết tâm đạt kết quả cao trong học tập, lòng trung thực, tinh thần tập thể, ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong học tập Mặt khác, sự đa dạng, phong phú của các biện pháp KT, ĐG theo định hướng phát triển năng lực còn tạo cho HS niềm hứng thú, say mê nghiên cứu các hiện tượng Vật lí, hình thành cho các em thói quen làm việc độc lập, tự chủ - một trong những phẩm chất quan trọng của người công dân toàn cầu
Về mặt kỹ năng, KT, ĐG theo hướng phát triển năng lực không chỉ có ý
nghĩa về mặt nhận thức, hướng thái độ mà còn có tác dụng quan trọng trong việc rèn luyện kỹ năng cho HS Thông qua các hình thức KT miệng, KT viết,
KT thực hành, HS được rèn luyện ngôn ngữ nói, cách lập luận vấn đề, cách nhận thức vấn đề đặt ra một cách chính xác và nhạy bén, biết trình bày những
Trang 2222
kiến thức đã được tiếp thu trong quá trình học tập, biết vận dụng những kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và vận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn
- Đối với cấp QLGD
Công tác QLGD, QL chất lượng dạy và học rất cần các thông tin từ hoạt động KT, ĐG Bản chất của KT,ĐG là cung cấp thông tin nhằm xác định xem mục tiêu của chương trình GD có đạt được hay chưa, mức độ đạt được như thế nào… Các thông tin khai thác được từ kết quả KT, ĐG sẽ rất hữu ích cho các nhà QL, giúp họ giám sát quá trình GD, phát hiện các vấn đề, có các quyết định kịp thời điều chỉnh nội dung, cách thức và điều kiện đạt mục tiêu Đây chính là cơ sở để xây dựng đội ngũ GV, về vấn đề đối mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy học,… Do đó, KT,ĐG có tác dụng thúc đẩy quá trình dạy học phát triển không ngừng
1.3.3 Đặc điểm đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực
Theo quan điểm phát triển năng lực, ĐG kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Mục tiêu của KT, ĐG theo định hướng tiếp cận năng lực là:
- Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi HS, nhóm HS và tập thể lớp, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự ĐG, giúp HS nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập
- Giúp cho GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phân đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Như vậy, ĐG không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định
ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trang 2323
* Quy trình KT, ĐG kết quả học tập theo tiếp cận năng lực
- Xác định được mục đích chủ yếu của ĐG kết quả học tập là so sánh năng lực của HS với chuẩn kiến thức và kĩ năng (năng lực) môn học ở từng chủ
đề, từng lớp học, để từ đó cải thiện kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học
- Tiến hành ĐG kết quả học tập theo ba công đoạn cơ bản là thu thập thông tin, phân tích và xử lí thông tin, xác nhận kết quả học tập và ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học Yếu tố đổi mới của công đoạn này là:
+ Thu thập thông tin: Thông tin được thu thập từ nhiều nguồn, nhiều hình thức và bằng nhiều phương pháp khác nhau (quan sát trên lớp, làm bài kiểm tra, sản phẩm học tập, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau ); lựa chọn được những nội dung đánh giá cơ bản và trọng tâm, trong đó chú ý nhiều hơn đến nội dung kĩ năng; xác định đúng mức độ yêu cầu của mỗi nội dung (nhận biết, thông hiểu, vận dụng ) căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng; sử dụng đa dạng các loại công cụ khác nhau (đề kiểm tra viết, câu hỏi trên lớp, phiếu học tập, bài tập về nhà ); thiết kế các công cụ đánh giá đúng kĩ thuật (câu hỏi và bài tập phải đo lường được mức độ của chuẩn, đáp ứng các yêu cầu dạng trắc nghiệm khách quan hay tự luận, cấu trúc đề kiểm tra khoa học và phù hợp );
tổ chức thu thập được các thông tin chính xác, trung thực Cần bồi dưỡng cho
HS những kĩ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia ĐG
và cải tiến quá trình dạy học
+ Phân tích và xử lí thông tin: các thông tin định tính về thái độ và năng lực học tập thu được qua quan sát, trả lời miệng, thực hành, được phân tích theo nhiều mức độ với tiêu chí rõ ràng và được lưu trữ thông qua sổ theo dõi hàng ngày; các thông tin định lượng qua bài KT được chấm điểm theo đáp án/hướng dẫn chấm – hướng dẫn đảm bảo đúng, chính xác và đáp ứng các yêu
Trang 24HS (lên lớp, thi lại, ở lại lớp, khen thưởng ); thông báo kết quả học tập của
HS cho các bên có liên quan (HS, CMHS, hội đồng GD nhà trường, QL cấp trên ) Góp ý và kiến nghị với cấp trên về chất lượng chương trình, SGK, cách
- Trong ĐG thành tích học tập của HS không chỉ ĐG kết quả mà chú ý
cả quá trình học tập ĐG kết quả học tập theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp
- Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp KT, ĐG khác nhau Kết hợp giữa KT miệng, KT viết và bài tập thực hành Kết hợp giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan
- Phối hợp giữa ĐG thường xuyên và ĐG định kì, ĐG của GV, của nhà trường và ĐG của gia đình, cộng đồng
Trang 2525
- Có công cụ ĐG thích hợp nhằm ĐG toàn diện, công bằng, trung thực,
có khả năng phân loại, giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc dạy và học
- Tạo cơ hội HS được tham gia ĐG: tự ĐG và ĐG đồng đẳng trong học tập
Bảng 1.1 So sánh giữa đánh giá theo kiến thức, kĩ năng với đánh giá theo tiếp cận năng lực năng lực[13,121]
- Vì sự tiến bộ của người học
2 Ngữ cảnh
đánh giá
Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn cuộc sống của HS
Gắn với nội dung học tập (những kiến thức, kỹ năng, thái độ) được học trong nhà trường
3 Nội dung
đánh giá
- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm của bản thân HS trong cuộc sống xã hội (tập trung vào năng lực thực hiện)
- Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của người
- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở một môn học
- Quy chuẩn theo việc người học có đạt được hay không một nội dung đã được học
Trang 266 Kết quả
đánh giá
- Năng lực người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm
vụ hoặc bài tập đã hoàn thành
- Thực hiện được nhiệm vụ càng khó, càng phức tạp hơn
sẽ được coi là có năng lực cao hơn
- Năng lực người học phụ thuộc vào số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành
- Càng đạt được nhiều đơn vị kiến thức, kỹ năng thì càng được coi là có năng lực cao hơn
1.3.4 Đánh giá thường xuyên kết quả học tập môn Vật lí của học
sinh theo định hướng tiếp cận năng lực
ĐG thường xuyên là ĐG trong quá trình học tập, rèn luyện của HS, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và hoạt động giáo dục, trong
đó có quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình và cộng đồng
Tham gia ĐG thường xuyên gồm có: GV, HS (tự rút kinh nghiệm và nhận xét, góp ý bạn qua hoạt động của nhóm, lớp); khuyến khích CMHS và cộng đồng tham gia nhận xét, góp ý cho HS, GV, các hoạt động giáo dục của nhà trường
Trang 27HS biết cách hoàn thành nhiệm vụ
- ĐG sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS
GV quan sát các biểu hiện trong quá trình học tập môn Vật lí để nhận xét
sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của HS; từ đó động viên, khích lệ, giúp HS khắc phục khó khăn; phát huy ưu điểm và các phẩm chất, năng lực riêng; điều chỉnh hoạt động, ứng xử để tiến bộ
Để đạt hiệu quả cao trong việc động viên, khích lệ HS, GV cần đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh riêng của từng HS để có những nhận xét thỏa đáng; biểu dương, khen ngợi kịp thời đối với từng thành tích, tiến
bộ giúp HS tự tin vươn lên; tuyệt đối tránh những nhận xét có tính xúc phạm, làm tổn thương tâm lý HS
GV kịp thời trao đổi với cha mẹ HS và những người có trách nhiệm để có thêm thông tin và phối hợp giúp cho sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS
HS tự ĐG và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn
Trang 2828
- HS tự rút kinh nghiệm ngay trong quá trình hoặc sau khi thực hiện từng nhiệm vụ học tập, hoạt động giáo dục khác; trao đổi với GV để được góp ý, hướng dẫn
- HS tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập môn học và hoạt động giáo dục; thảo luận, hướng dẫn, giúp đỡ bạn hoàn thành nhiệm vụ
Cha mẹ HS tham gia ĐG
Cha mẹ HS được khuyến khích phối hợp với GV và nhà trường động viên, giúp đỡ HS học tập, rèn luyện; được GV hướng dẫn tham dự, quan sát, hỗ trợ các hoạt động của HS; trao đổi với GV bằng các hình thức phù hợp như lời nói, viết thư về các nhận xét, các biện pháp giúp đỡ HS
ĐG thường xuyên được sử dụng trong suốt thời gian học của môn Vật lí Cách ĐG này là việc GV hoặc HS cung cấp thông tin phản hồi về hoạt động học của người học, giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy phù hợp hơn, giúp HS có được các thông tin về hoạt động học và từ đó cải thiện những tồn tại.Việc ĐG thường xuyên có ý nghĩa hơn, nếu HS cùng tham gia ĐG chính bản thân mình vì khi HS đảm nhận vai trò tích cực trong việc xây dựng tiêu chí chấm điểm, tự ĐG
và đề ra mục tiêu thì tức là HS đã sẵn sàng chấp nhận cách thức đã được xây dựng để ĐG khả năng học tập của họ
* Một số kĩ thuật chính sử dụng trong đánh giá thường xuyên
- Quan sát
Mục đích quan sát để thu thập thông tin một cách có hệ thống nhằm giúp
GV và HS cải thiện kết quả giáo dục, dạy học; có những thông tin đánh giá về
HS đã thực sự hoàn thành nhiệm vụ đúng tiến độ hay chưa và biết được những
ưu điểm cần phát huy, nhược điểm cần giúp đỡ khắc phục; các hoạt động của HS/nhóm HS trong tương tác với bạn/nhóm bạn để tăng cường và cải thiện mối quan hệ hợp tác giữa các thành viên
Trang 2929
Nội dung quan sát :
+ Hành vi của HS: Quan sát về sắc thái, nét mặt, lời nói, hành động, cử
chỉ, tương tác… để đưa ra những nhận định về việc HS như: đã hiểu nhiệm vụ chưa? Có chú tâm vào việc thực hiện nhiệm vụ không? Hoàn thành hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ học tập? Có chăm chú lắng nghe khi thảo luận không? Phản ứng khi nghe ý kiến nhận xét đánh giá của cô giáo, của các bạn, sự hợp tác
với các bạn trong nhóm…
+ Sản phẩm của HS:Mức độ hoàn thành theo yêu cầu của bài học
Thời điểm quan sát: Quan sát nhóm HS hoặc cá nhân HS có thể thực hiện
trong mọi thời điểm ở những địa điểm khác nhau, trong mọi hoạt động của HS
Vị trí quan sát: Vị trí quan sát thích hợp, kiểm soát được toàn bộ, không
ảnh hưởng đến học tập của HS
Sử dụng kết quả và phản hồi sau khi quan sát:
Các thông tin quan sát là cơ sở để GV đưa ra các quyết định tác động, động viên, giúp đỡ kịp thời HS trong học tập Sự can thiệp giúp đỡ có thể tiến hành ngay sau khi thu được thông tin quan sát, hoặc ghi lại trong nhật kí đánh giá của GV để đưa ra quyết định giúp đỡ, can thiệp sau
- Kiểm tra nhanh
Kiểm tra nhanh nhằm xác định kịp thời hiện trạng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ bài học hoặc những ý tưởng sáng tạo của HS,
Nội dung câu hỏi kiểm tra nhanh tập trung vào các kiến thức có trong bài hoặc các kiến thức cũ có liên quan Số lượng câu hỏi tối đa là 5 câu KT nhanh một nội dung nhỏ thì dùng 1-2 câu hỏi
- Phỏng vấn nhanh
Trang 3030
Giúp GV khẳng định những nhận xét ban đầu qua quan sát về mức độ đạt được theo tiến độ bài học của HS Nếu HS thực hiện nhiệm vụ chậm hơn tiến độ chung thì cần có ngay biện pháp can thiệp như hỗ trợ trực tiếp, nhờ nhóm bạn
hỗ trợ để HS có thể đẩy nhanh tốc độ học Nội dung câu hỏi phỏng vấn không chỉ hỏi về kiến thức mà còn hỏi về hướng xử lí một tình huống cụ thể, về thái độ của HS trước tình huống,…
- Đánh giá sản phẩm của HS
Đánh giá mức độ hoàn thành của HS so với yêu cầu của mục tiêu của nhiệm vụ đặt ra và đưa ra các tình huống xử lí thích hợp
- Tham khảo kết quả tự đánh giá và đánh giá của nhóm HS
Dựa vào những nhận xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của chính HS hoặc nhóm bạn học để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ của HS.Tùy từng trường hợp mà GV có thể đánh giá để đưa ra giải pháp thích hợp
- Tham khảo ý kiến đánh giá của phụ huynh
Ý kiến của phụ huynh luôn là nguồn thông tin để GV tham khảo trong đánh giá thường xuyên kết quả giáo dục của HS Một số đặc điểm riêng của HS được phụ huynh cung cấp sẽ giúp cho GV đánh giá đầy đủ, chính xác và phối hợp tốt hơn với gia đình trong giáo dục HS
1.3.5 Đánh giá định kì kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo định hướng tiếp cận năng lực
ĐG định kì được thực hiện ở cuối mỗi giai đoạn học tập (sau một học kì, một năm học, một cấp học), KQHT của HS sẽ được ĐG và tổng kết một cách có
hệ thống Mục tiêu chính của ĐG định kì là xác định mức độ đạt thành tích của
HS và kết quả này được sử dụng để công nhận người học đã hoặc không hoàn thành khóa/lớp học Đây là hình thức ĐG bằng cách cho điểm và có thể dùng điểm để so sánh với những HS khác trong cùng nhóm đối tượng, nhằm xếp loại
Trang 3131
người học ĐG định kì góp phần quan trọng trong việc cung cấp những chứng
cứ để lập kế hoạch giảng dạy trong tương lai
Việc ĐG định kì kết quả học tập môn Vật lí được áp dụng thông qua các bài KT Các bài KT giữa và cuối Học kì I, giữa Học kì II và cuối năm học nhằm giúp cho GV, HS và cha mẹ HS ĐG được kết quả học tập của HS và nhìn lại quá trình ĐG thường xuyên trước đó Nhà trường, GV chủ động bố trí thời gian thực hiện các bài KT giữa kì phù hợp với kế hoạch dạy học bộ môn ĐG qua bài
KT định kì được lượng hóa bằng điểm số theo thang điểm 10 hoặc quy đổi về thang điểm 10, kết hợp với nhận xét những ưu điểm, hạn chế và sửa lỗi, góp ý cho HS Nội dung nhận xét phải thỏa đáng, phù hợp với điều kiện học tập, sự tiến bộ, đặc điểm tâm lý HS; tránh những nhận xét chung chung, theo mẫu hay những nhận xét mang tính xúc phạm làm tổn thương tâm lý HS Đối với HS có kết quả bài KT định kì không phù hợp với những nhận xét trong quá trình học tập (quá trình học tập tốt nhưng kết quả KT quá kém hoặc ngược lại), GV cần tìm hiểu rõ nguyên nhân, nếu thấy cần thiết và hợp lí thì có thể cho HS KT lại
Các bài KT cuối Học kì I và cuối năm học nhằm ĐG kết quả học tập của HS; điểm số mà HS đạt được trong các bài KT Học kì I và cuối năm học được ghi nhận trong hồ sơ ĐG
1.4 Quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học
sinh THPT theo định hướng tiếp cận năng lực
QL công tác ĐG kết quả học tập của HS là một khâu không thể tách rời trong công tác QL GD của người Hiệu trưởng Từ góc độ QL chung, QL hoạt động ĐG kết quả học tập của HS THPT theo tiếp cận năng lực bao gồm các hoạt động có liên quan mật thiết đến nhau, đó là: Xây dựng kế hoạch về ĐG,
tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện hoạt động ĐG, KT giám sát và QL các điều kiện phục vụ ĐG QL hoạt động ĐG được phân chia thành hai loại: QL
ĐG thường xuyên trên lớp học và ĐG định kì [2], [3],[5],[9],[10],[14],[22]
Trang 3232
1.4.1 Quản lí đánh giá thường xuyên kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo định hướng tiếp cận năng lực
Hiệu trưởng nhà trường xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện , chỉ đạo
và kiểm tra giám sát ở tất cả các khâu trên cơ sở tuân thủ Thông tư 58/2011/TT-BGD&ĐT ngày 12 – 12- 2011 ban hành Quy định ĐG và xếp loại
HS THCS, THPT và các văn bản có liên quan
Quản lý xây dựng kế hoạch tổ chức KTĐG KQHT môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực
Lập kế hoạch là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình QL đánh giá thường xuyên kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực Việc lập kế hoạch QL ĐG kết quả học tập là tổng thể các công việc của CBQL, GV
và người học bao gồm: đề ra cơ chế, chính sách, đề ra các giải pháp thực hiện, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện, thanh tra, KT để thực hiện một cách tốt nhất tất cả các khâu trong quá trình ĐG KQHT nhằm ĐG chính xác KQHT của của HS và giúp cải thiện việc dạy và học
Trên cơ sở quy định của các cấp QLGD, người QL phải xây dựng được
kế hoạch KTĐG ngay từ đầu năm học Đối với cấp THPT, căn cứ vào Thông
tư 58/2011/TT – BGD&ĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011ban hành quy chế ĐG xếp loại HS THCS, THPT Hiệu trưởng cần chủ động trong việc lập kế hoạch KTĐG kết quả học tập của HS
Quy trình lập kế hoạch ĐG thường xuyên kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực bao gồm các bước sau:
- Hiệu trưởng tiến hành phân tích môi trường và QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực Phân tích môi trường (SWOT) là việc tìm kiếm các điều kiện khách quan (thời cơ – thách thức), chủ quan (thuận lợi – khó khăn) tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động ĐG
và QL đánh giá kết quả học tập môn Vật lí theo tiếp cận năng lực
Trang 3333
- Xác định mục tiêu cần đạt được của hoạt động ĐG thường xuyên kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực Khi xác định mục tiêu cần sắp xếp các mục tiêu ưu tiên, chú trọng tới kết quả cuối cùng Mục tiêu phải cụ thể, đo lường được, có thể đạt được, định hướng kết quả, có giới hạn thời gian
- Xác định các hoạt động ĐG thường xuyên kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực tương ứng với các mục tiêu
- Xác định các nguồn lực (con người, cơ sở vật chất, sách và thiết bị dạy học…) để thực hiện hoạt động ĐG thường xuyên kết quả học tập môn Vật lí theo tiếp cận năng lực
- Thông báo rộng rãi và công khai kế hoạch ĐG thường xuyên kết quả tập môn Vật lí đến mọi GV và HS
Quản lý tổ chức KTĐG KQHT Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực
Để giúp cho các bộ phận, cá nhân làm việc có hiệu quả, cần phải tổ chức công việc theo hướng chuyên môn hóa Trên cơ sở văn bản kế hoạch đã
có, người QL thực hiện các công việc cụ thể về thiết lập bộ máy QL, lựa chọn nhân sự, xác định nhiệm vụ và chức năng, thiết lập mối quan hệ trong mọi hoạt động; đồng thời có các quyết định giao việc cho các bộ phận và cá nhân thực hiện nội dung của kế hoạch
Tổ chức thực hiện ĐG thường xuyên kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực bao gồm các công việc cụ thể sau:
- Thành lập Ban chỉ đạo về công tác KTĐG kết quả học tập của HS
- Phân công nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên
Nhiệm vụ chung của Ban chỉ đạo bao gồm:
- Giúp Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch xây dựng chương trình đó
- Tổ chức tốt các hình thức KTĐG thường xuyên theo hướng tiếp cận năng lực, phối hợp các lực lượng trong việc KTĐG kết quả học tập của HS
Trang 34Đây là hoạt động cần thiết, nhà QL cần thường xuyên, định kì tổ chức các buổi báo cáo sơ kết, tổng kết kinh nghiệm về hoạt động KT, ĐG thường xuyên kết quả học tập môn Vật lí Qua đó, tiến hành trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và đúc rút những cách thức thực hiện mang lại hiệu quả cao và phù hợp với thực tiễn, đảm bảo HS phát huy được năng lực bản thân trong quá trình học tập môn Vật lí
Kiểm tra, giám sát quá trình KTĐG KQHT môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực
KTĐG thường xuyên kết quả học tập môn Vật lí theo tiếp cận năng lực là yêu cầu mới đối với nhiều CBQL và GV Chính vì vậy, họ còn thiếu cả
về lí luận và thực tiễn trong triển khai hoạt động Trước thực tế đó, công tác
Trang 35Công tác KT, ĐG phải được thực hiện thường xuyên, cần chú ý:
- Coi trọng nhiệm vụ cảnh báo giúp phòng tránh những sự cố có thể xảy ra, không nên coi KT là phải phát hiện ra sai sót để kỉ luật người vi phạm Việc tiến hành KT cần tránh tạo áp lực đối với các cá nhân
- Công tác KT phải chú trọng đến vấn đề chuyên môn, cũng như công tác KTtránh KT hình thức Cần chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế trong hoạt động KTĐG thường xuyên kết quả học tập của HS một cách cụ thể và khách quan Bên cạnh đó, Hiệu trưởng cũng cần chú ý đến việc tư vấn và thúc đẩy các hoạt động dạy học, KT, ĐG kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực
1.4.2 Quản lí đánh giá định kì kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo định hướng tiếp cận năng lực
Hiệu trưởng tổ chức nghiêm túc việc KT định kỳ đảm bảo tính khách quan, chính xác, công bằng; kết quả đạt được phản ánh đúng thực chất năng lực của HS Trường hợp Sở GD&ĐT tổ chức KT chung trên địa bàn toàn tỉnh thì nhà trường chịu trách nhiệm các khâu tổ chức KT
Trang 36- Phân loại được trình độ HS phù hợp với thời gian quy định đối với môn Vật lí
- Đảm bảo đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của HS
- Ra đề theo ma trận
Hiệu trưởng chỉ đạo thành lập Ban làm đề KT gồm các thành viên:
- Trưởng ban: điều hành toàn bộ công việc của Ban làm đề KT; KT về yêu cầu và phạm vi đề KT; kí duyệt đề và hướng dẫn chấm; tổ chức in sao, đóng gói, niêm phong và bàn giao cho ban coi thi
- Phó ban: giúp trưởng ban trong công tác điều hành và chịu trách nhiệm trước trưởng ban về công việc được phân công
- Ủy viên ra đề: soạn đề KT, hướng dẫn chấm, thực hiện một số công việc khác do trưởng ban phân công
- Thư kí: giúp trưởng ban thực hiện các nhiệm vụ được phân công việc sau: chuẩn bị các số liệu, tài liệu, điều kiện và phương tiện để ban làm đề KT làm việc
Quản lý khâu tổ chức KT
Hiệu trưởng tổ chức nghiêm túc việc KT định kỳ đảm bảo tính khách quan, chính xác, công bằng; kết quả đạt được phản ánh đúng thực chất năng lực của HS
Ra quyết định phân công GV coi KT
Trang 3737
Lập danh sách HS tại các phòng thi: Trộn theo thứ tự a, b, c trong khối rồi chia ra các phòng KT, số HS trong mỗi phòng tùy thuộc vào số phòng học hiện có của trường Phải sử dụng tối đa số phòng học hiện có (bố trí khoảng 24 HS/phòng, ưu tiên cho các lớp đầu và cuối cấp)
Chuẩn bị đầy đủ và chu đáo về CSVC để đảm bảo công tác KT định kì diễn ra thuận lợi, nghiêm túc
Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chức coi thi theo đúng quy định, thực hiện chia phòng thi hợp lí, không gây áp lực nhưng đảm bảo nghiêm túc, công bằng Xử
lí nghiêm khắc đối với các trường hợp HS và GV vi phạm quy chế thi
Quản lí đầy đủ và chặt chẽ các loại hồ sơ, bài KT, không để sảy ra tình trạng mất bài hoặc xảy ra các hiện tượng tiêu cực
Trường hợp Sở GD&ĐT tổ chức KT chung trên địa bàn toàn tỉnh thì nhà trường chịu trách nhiệm các khâu tổ chức KT
Quản lý khâu chấm bài, công bố kết quả và ghi điểm
Chấm bài KT là công việc thường xuyên của GV phổ thông, chấm bài
KT là việc xác nhận ý kiến trả lời của HS về câu hỏi đạt được theo một thang điểm nhất định QL công tác chấm bài KT tốt sẽ tránh được các hiện tượng cho khống điểm trong GD
Hiệu trưởng QL công tác chấm bài KT định kì đảm bảo các yêu cầu sau:
- Bài KT định kì phải được đánh mã phách, cắt phách (bảo mật)
- Phân công GV chấm bài KT, hạn chế thấp nhất GV chấm bài của HS mình dạy
- Tổ chuyên môn thảo luận thống nhất hướng dẫn chấm cụ thể theo quy định, đảm bảo khoa học và khách quan
- Công bố điểm bài KT, phúc khảo bài KT theo quy chế
Trang 3838
- Tổ chức sửa bài KT, rút kinh nghiệm qua kết quả bài KT định kì
Trường hợp Sở GD&ĐT tổ chức KT chung trên địa bàn toàn tỉnh thì Nhà trường chịu trách nhiệm các khâu tổ chức chấm KT (tổ chức chấm tập trung, chấm chéo trường, lên điểm độc lập, gửi kết quả công khai về các lớp, về Sở GD&ĐT)
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo định hướng tiếp cận năng lực
Ngoài các nội dung QL được quy định, trong quá trình QL và chỉ đạo hoạt động KTĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo định hướng tiếp cận năng lực, các chủ thể QL cần phải tính toán, xem xét, nghiên cứu đến các yếu tố
có thể ảnh hưởng đến hiệu quả QL, để từ đó có những biện pháp QL phù hợp
nhằm đạt được kết quả mong muốn
ý nghĩa của hoạt động ĐG, nhận thức đầy đủ về ĐG theo tiếp cận năng lực của
HS sẽ giúp học có những hành động đúng, có tác dụng thúc đẩy quá trình dạy học Ngược lại, nếu nhận thức sai hoặc không đầy đủ sẽ khiến họ coi nhẹ hoạt động này, thậm chí có những tác động tiêu cực Điều này sẽ là rào cản đến quá trình QL, người QL sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Bên cạnh đó, nhận thức của chính các nhà QL cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ĐG Nếu người QL có nhận thức đúng sẽ có những quyết định đúng đắn, có tác động tích cực đến hoạt động đánh giá Ngược lại, nếu có
Trang 39Thứ hai là tinh thần trách nhiệm, tính tích cực chủ động của cán bộ quản
lí, giáo viên và học sinh trong việc đổi mới hoạt động đánh giá kết quả học tập
môn Toán của học sinh theo tiếp cận năng lực
Việc đảm bảo chất lượng hoạt động đánh giá phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố, vì thế người lãnh đạo nhà trường phải có tinh thần trách nhiệm, tính tích cực chủ động, bao quát, nắm bắt, phân tích tình hình, đưa ra những tác động đúng đắn Sự quyết đoán, năng động, sáng suốt của người lãnh đạo nhà trường có khả năng hạn chế những nhược điểm, phát huy một cách tốt nhất các ưu điểm của đơn vị mình Năng lực của CBQL và GV cũng có ảnh hưởng lớn đến việc đổi mới hoạt động đánh giá Cán bộ, GV phải là những người có năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng; nắm vững nghiệp
vụ đánh giá, thi và KT; tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới đánh theo tiếp cận năng lực HS Người QL phải có trình độ tin học nhất định, có khả năng tổ chức QL hoạt động đánh giá, năng động và linh hoạt để có những biện pháp chỉ đạo phù hợp và kịp thời, giúp nhà trường điều chỉnh, bổ sung, khắc phục những tồn tại để có những biện pháp tích cực cho hoạt động chuyên môn
và đánh giá có hiệu quả
Tóm lại, tinh thần trách nhiệm, tính tích cực chủ động, kinh nghiệm và năng lực tổ chức của người QL có vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng hoạt động đánh giá của một nhà trường Để đáp ứng được yêu cầu đổi
Trang 40GD thường đưa ra các những quyết định bổ sung để phù hợp tình hình mới Việc đảm bảo chất lượng GD nói chung, chất lượng ĐG nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào các chủ trương chính sách, văn bản hướng dẫn của các cơ quan QL
GD, nếu những chủ trương chính sách phù hợp sẽ có tác dụng rất lớn kích thích, tạo động lực cho các cơ sở GD phát triển
Các chủ trương chính sách, văn bản quy định về việc tổ chức hoạt động
ĐG có tác dụng rất lớn tới kết quả ĐG Nếu chủ trương chính sách phù hợp sẽ nâng cao được ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn của GV, hạn chế những tiêu cực thúc đẩy đổi mới ĐG theo định hướng năng lực HS
Thứ hai là điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ cho việc tổ chức đánh giá
CSVC trang thiết bị đầy đủ là tiền đề thuận lợi để tổ chức KT, ĐG Để hoạt động KT, ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực đảm bảo thu được kết quả tốt, cần chú ý tới các điều kiện CSVC như:
- Các văn bản quy định và hướng dẫn về nội dung, hình thức, phương pháp KT, ĐG theo định hướng phát triển năng lực cho HS ở môn Vật lí
- Có bộ phận khảo thí chuyên trách việc tổ chức các kì KT, ĐG với quy chế làm việc cụ thể