NGUYỄN ĐÌNH NGỮ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHO
Trang 1NGUYỄN ĐÌNH NGỮ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT THỊ
XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội – Năm 2017
Trang 2NGUYỄN ĐÌNH NGỮ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT THỊ
XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
(Chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng)
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM VIẾT VƯỢNG
Hà Nội – Năm 201
Trang 3số liệu và kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Ngữ
Trang 4sự quan tâm sâu sắc, sự giúp đỡ nhiệt tình của quí thầy cô giáo, người thân và
bè bạn đồng nghiệp
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu, Khoa quản lý giáo dục, Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, quí thầy cô giáo trực tiếp tham gia quản lí, giảng dạy và hướng dẫn giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh; PGS.TS Phạm Viết Vượng đã tận tình hướng dẫn, cùng quí thầy
cô trong Hội đồng khoa học nhà trường đã dành thời gian đọc, góp ý kiến quí báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp trường THPT thị xã Mường Lay, đã góp ý kiến xây dựng, hỗ trợ và tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự chỉ dẫn, đóng góp của quí thầy cô và các bạn đồng nghiệp
để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Đình Ngữ
Trang 51 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5 Các phương pháp nghiên cứu 3
6 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Các khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường 8
1.2.2 Đánh giá 11
1.2.3 Năng lực, định hướng phát triển năng lực người học 12
1.2.4 Đánh giá kết quả học tập 13
1.2.5 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập 13
1.3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của trường trung học phổ thông 14
1.3.2 Đánh giá kết quả học tập ở trường trung học phổ thông 15
1.3.3 Yêu cầu của đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực người học 21
1.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực người học 22
1.4.1 Vai trò chức năng của Hiệu trưởng trường THPT trong quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập 22
Trang 61.5 Những yếu tố tác động tới quản lý hoạt động đánh giá kết quả học
tập ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực người học 28
1.5.1 Những yếu tố chủ quan 29
1.5.2 Những yếu tố khách quan 29
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 31
2.1 Những vấn đề chung về khảo sát thực trạng 31
2.1.1 Mục tiêu, nội dung, đối tượng 31
2.1.2 Phương pháp khảo sát thực trạng 31
2.1.3 Cách xử lý kết quả 32
2.2 Khái quát về trường THPT thị xã Mường Lay – Điện Biên 32
2.2.1 Quá trình phát triển của trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 32
2.2.2 Quy mô trường THPT thị xã Mường Lay 33
2.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên 33
2.2.4 Chất lượng giáo dục của trường trong những năm gần đây 33
2.3 Thực trạng hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trường THPT thị xã Mường Lay – Điện Biên 34
2.3.1 Thực trạng về việc xác định mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện đánh giá kết quả học tập 34
2.3.2 Thực trạng về thực hiện các phương pháp ĐG KQHT của HS 40
2.3.3 Thực trạng về thực hiện các hình thức ĐG KQHT của HS 42
Trang 7THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 51
2.4.1 Nhận thức về tầm quan trọng trong quản lý hoạt động ĐG KQHT của học sinh 51
2.4.2 Thực trạng quản lý việc xác định các mục tiêu, nội dung đánh giá 52
2.4.3 Thực trạng quản lý thực hiện các phương pháp đánh giá 53
2.4.4 Thực trạng quản lý thực hiện các hình thức đánh giá 54
2.4.5 Thực trạng quản lý các điều kiện thực hiện đánh giá 55
2.5 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 56
2.5.1 Ưu điểm 56
2.5.2 Hạn chế 57
2.5.3 Nguyên nhân của các bất cập trong quản lý hoạt động đánh giá KQHT của học sinh 57
Tiểu kết chương 2 58
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QU HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 59
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 59
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 59
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 59
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và toàn diện 59
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 59
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 60
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về kỹ năng đánh giá KQHT của HS theo định hướng phát triển năng lực 65
Trang 83.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức thực hiện quy trình ĐG KQHT của HS theo định
hướng phát triển năng lực người học 70
3.2.6 Biện pháp 6: Thiết lập các điều kiện đảm bảo cho việc đánh giá kết quả học tập của học sinh 77
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 80
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 81
Tiểu kết chương 3 87
1 Kết luận 88
2 Khuyến nghị 89
2.1 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên 89
2.2 Đối với trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô trường THPT thị xã Mường Laytừ năm học 2012 - 2013
đến năm học 2015-2016 33
Bảng 2.2: Bảng cơ cấu đội ngũ cán bộ, viên chức 33
Bảng 2.3: Chất lượng học tập của trường trong 3 năm gần đây 33
Bảng 2.4: Thực trạng việc xác định mục đích, yêu cầu của CBQL, GVtrong ĐG KQHT của HS 35
Bảng 2.5: Nội dung đánh giá KQHT của HS 36
Bảng 2.6: Mức độ phù hợp của các nội dung ĐG KQHT của HS 37
Bảng 2.7: Mức độ phù hợp của đề kiểm tra đối với khả năng của HS 38
Bảng 2.8: Thực trạng phương tiện hỗ trợ hoạt động ĐG KQHT của HS 39
Bảng 2.9: Thực trạng về thực hiện các phương pháp ĐG KQHT của HS 41
Bảng 2.10: Mức độ thực hiện các hình thức ĐG KQHT của HS 43
Bảng 2.11: Tổng hợp kết quả GV thực hiện các bước trong quy trình xây dựng đề 45
Bảng 2.12: Đánh giá về thái độ của HS và GV trong khi thi 47
Bảng 2.13: Đánh giá công tác tổ chức coi thi/kiểm tra 48
Bảng 2.14: Đánh giá về công tác chấm bài thi của giáo viên 49
Bảng 2.15: Thực trạng việc công bố kết quả ĐG và ra quyết định mới 50
Bảng 2.16: Tổng hợp kết quả nhận thức về tầm quan trọng củaCBQL, GV trong hoạt động ĐG KQHT của HS 51
Bảng 2.17: Mức độ thực hiện việc xác định mục tiêu, nội dung đánh giá 52
Bảng 2.18: Mức độ thực hiện các phương pháp đánh giá 53
Bảng 2.19: Mức độ thực hiện các hình thức đánh giá 54
Bảng 2.20: Kết quả thực hiện các điều kiện đánh giá 55
Bảng 3.1: Đánh giá của CBQL và GV về tính cấp thiết của các biện pháp quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS theo định hướng PTNL người học 82
Trang 11Bảng 3.2: Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS theo định hướng PTNL
người học 83Bảng 3.3: Mối tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 84
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của HS về mức độ phù hợp của các nội dung ĐG
KQHT 38Biểu đồ 2.2: Thực trạng phương tiện hỗ trợ hoạt động ĐG KQHT của HS 40Biểu đồ 2.3: Mức độ thực hiện các hình thức ĐG KQHT của HS 44Biểu đồ 2.4: Nhận thức của CBQL, GV về hoạt động ĐG KQHT của HS 52Biểu đồ 3.1: Mối tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý ĐG KQHT của HS theo định hướng năng lực 85
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong tiến trình thực hiện công cuộc cải cách giáo dục nước nhà, hội nhập giáo dục khu vực và thế giới, việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là chủ đề được bàn luận rộng rãi trên các diễn đàn khoa học, trong các hội thảo chuyên môn; là vấn đề sống còn của toàn ngành giáo dục Giải pháp trọng tâm nhằm tạo sự chuyển biến rõ nét và cơ bản về chất lượng và hiệu quả giáo dục được đề cập trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 “tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục”, “xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục”
Thực tế những năm qua cho thấy, chương trình phổ thông đã có nhiều đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, hướng đến việc phát triển và hoàn thiện năng lực của mỗi cá nhân, nhưng vấn đề ĐG (đánh giá)
và quản lý hoạt động ĐG KQHT (đánh giá kết quả học tập) của HS (học sinh) còn nhiều bất cập như: cán bộ quản lý và GV (giáo viên) chưa được trang bị đầy đủ về các PP (phương pháp) và kỹ thuật ĐG, triết lý ĐG; ĐG không đúng, không đủ mục tiêu môn học, không ĐG được năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của người học; ĐG chủ yếu đòi hỏi HS ghi nhớ và miêu tả lại những
sự kiện riêng rẽ, việc yêu cầu HS vận dụng những kiến thức đã học vào những
kỹ năng tổng hợp, vào cuộc sống còn quá nhiều hạn chế; hình thức ĐG chủ yếu chấm điểm mà không có sự phản hồi cho HS Kết quả là nguồn nhân lực được đào tạo trong bối cảnh như vậy khó có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế thế giới
Việc đổi mới ĐG KQHT của HS có vai trò quan trọng trong tiến trình đổi mới nền giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đã được khẳng định như một chiến lược, một chính sách quốc gia về giáo dục mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm và được đặt ra một cách cấp thiết ở trường
Trang 14phổ thông Nghị quyết số 29/NQ-TW (khóa 11) về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, với tinh thần cơ bản xuyên suốt là phải chuyển một nền giáo dục từ tiếp cận truyền thụ kiến thức là chủ yếu sang tiếp cận phát triển phẩm chất và năng lực người học (chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực) Khi thay đổi tiếp cận hướng tới mục tiêu tạo năng lực cho
người học thì dạy học, quản lý hoạt động dạy học trong đó có ĐG KQHT của
HS phải được thay đổi theo
Hoạt động ĐG và quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học được hầu hết các nhà khoa học, các nhà giáo dục và các nhà quản lý giáo dục quan tâm, là một lĩnh vực vô cùng quan trọng liên quan chặt chẽ đến hoạt động quản lý giáo dục trong mỗi nhà trường Tuy vậy, việc thực hiện quản lý hoạt động ĐG theo hướng đổi mới của các cán bộ quản lý giáo dục và các nhà quản lý ở các trường phổ thông chưa đạt được kết quả như mong muốn
Có thể khẳng định rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng giáo dục phổ thông chưa cao là ĐG KQHT chưa thực sự phát huy hết vai trò quan trọng của mình và một trong những nguyên nhân của những hạn chế trong ĐG là công tác quản lý chưa tốt
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài:“ Quản lý hoạt
động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên theo định hướng phát triển năng lực người học”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động ĐG KQHT của học sinh THPT, nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động ĐG KQHT của học sinh THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên theo định hướng PTNL (Phát triển năng lực) người học và đề xuất một số biện pháp đổi mới quản lý hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả ĐG, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường
Trang 153 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý hoạt động về ĐG KQHT của
HS theo định hướng PTNL ở trường THPT
3.2 Khảo sát thực trạng ĐG KQHT và quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên
3.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện biên theo định hướng PTNL người học đáp ứng được mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong bối cảnh hiện nay
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và đề
xuất biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhà trường đối với hoạt động ĐG KQHT của HS trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên theo định hướng PTNL người học
- Giới hạn về khách thể khảo sát: Cán bộ quản lý, GV và HS trường
THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên
- Giới hạn về thời gian khảo sát: Khảo sát và sử dụng số liệu từ năm
học 2013 -2014 đến năm học 2015 – 2016
5 Các phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp các tài liệu, tư liệu sách báo, công trình khoa học Nghiên cứu các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước và của ngành giáo dục về quản lý giáo dục, quản lý ĐGKQHT của HS theo định hướng PTNL và quản lý theo định hướng đó
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát, điều tra viết, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, nhằm thu thập
Trang 16các thông tin thực tiễn từ CBQL, GV và HS trường THPT thị xã Mường Lay
về quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS theo định hướng PTNL người học; trên cơ sở đó phân tích và ĐG thực trạng vấn đề
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Để có được các số liệu khoa học, đề tài tiến hành sử dụng PP toán thống kê nhằm xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra, từ đó phục vụ cho hoạt động phân tích, ĐG thực trạng và khảo nghiệm
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá kết quả học
tập của học sinh THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của
học sinh trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên theo định hướng phát triển năng lực người học
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của
học sinh trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên theo hướng phát triển năng lực người học
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Đánh giá KQHT là một hoạt động quan trọng, không thể thiếu của quá trình dạy học được hình thành và phát triển mạnh mẽ từ rất sớm Các hình thức ĐG đã có nhiều đổi mới và được triển khai một cách phong phú, đa dạng, phù hợp với từng giai đoạn, điều kiện phát triển xã hội, đặc điểm môi trường giáo dục của mỗi quốc gia
Ở các nước châu Âu và châu Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh hình thành nên một ngành đo lường trong giáo dục Một số thành tựu tiêu biểu: Trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Bmet xuất bản năm 1916; Bộ trắc nghiệm thành quả học tập StanfordAchievement Test (1923) Thành tựu khoa học công nghệ về đo lường trong giáo dục với việc chấm trắc nghiệm bằng máy của IBM (1935) Từ những năm 1956 trở lại đây có rất nhiều công trình nghiên cứu từng vấn đề cụ thể, trong đó xác định một cách khoa học nội dung ĐGKQHT của HS như: Những vấn đề lý luận dạy học của việc ĐG tri thức (V.M.Palomxki); cơ sở lý luận về công cụ kiểm tra ĐG có thể kể đến quan điểm của tác giả Rowntree: mục đích của ĐG là nhằm ĐG thành tích, năng lực và sự tiến bộ của người học
Ralph Tyler được coi là một trong những người đầu tiên đưa ra khái niệm “đánh giá giáo dục” Ông sử dụng thuật ngữ ĐG để biểu thị quy trình
ĐG sự tiến bộ của người học theo các mục tiêu người học đạt được Ông cho rằng quy trình này rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin để đạt được các mục tiêu và độ chính xác, hiệu quả trong quá trình học tập Tyler đã đưa
Trang 18ra sơ đồ thể hiện 3 yếu tố chính trong quá trình giáo dục là: Mục tiêu; trải nghiệm hoạt động học tập và ĐG người học
Theo Tyler, ĐG người học trong quá trình giáo dục là cần thiết vì nó liên quan đến việc kiểm tra mức độ tối đa có thể đạt được các mục tiêu của chương trình
Trong ĐG, thực thi mô thức của Tyler yêu cầu trình bày rõ ràng mục tiêu,
kỹ thuật trình bày mục tiêu Vì vậy đã ra đời phân loại mục tiêu giáo dục
Năm 1956, Benjamin S.Bloom và các cộng sự của mình đã tiến hành phân loại mục tiêu giáo dục trong lĩnh vực nhận thức, nó có tác dụng quan trọng trong lý luận ĐG giáo dục và hoàn thiện việc học tập
Cuốn sách: “Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục: lĩnh vực nhận thức” của Bloom và các cộng sự viết gồm 2 phần Phần 1 cuốn sách phân tích sâu sắc nguyên tắc xây dựng mục tiêu giáo dục, phân tích các đặc tính và ý nghĩa của lĩnh vực tri thức và đưa ra một số cách thức phân loại mục tiêu giáo dục Phần 2 viết về nguyên tắc phân loại và những tài liệu minh họa, phần này Bloom đã trình bày chi tiết về 6 cấp độ nhận thức: biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp
và ĐG Cuốn sách này như kim chỉ nam trong việc phân loại mục tiêu giáo dục
để xây dựng quy trình ĐG giáo dục cho đến tận bây giờ
Năm 1971, B.S Bloom cùng với George F.Madaus và J.Thomas Hastings cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve learning” (ĐG để thúc
Đánh giá người học
Trải nghiệm hoạt động học tập
Đánh giá người học Các mục tiêu
Trang 19đẩy học tập) Cuốn sách dành cho GV viết về kỹ thuật ĐG KQHT của HS Nếu được áp dụng đúng cách, việc ĐG HS giúp GV hỗ trợ HS cải thiện khả năng học tập
Trong những năm gần đây, bài toán nổi tiếng về ĐG năng lực học tập của HS là bài toán Pissa Bài toán Pissa yêu cầu HS phải biết vận dụng các kiến thức, kỹ năng vào trong cuộc sống sao cho có phương án lựa chọn tốt nhất
Ở Việt Nam, giáo dục đã có những bước biến đổi, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao thông qua việc nghiên cứu các hoạt động ĐG Vào những năm 1969 và đầu 1970, các nhà giáo dục bắt đầu cho ra đời một số công trình nghiên cứu khoa học về hoạt động ĐG KQHT: “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập”(1969) của tác giả Dương Thiệu Tống; “Trắc nghiệm khách quan”(1976), “vận dụng phương pháp test và phương pháp kiểm tra truyền thống trong dạy học tâm lý học”(1978) của tác giả Nguyễn Như An Đặc biệt là những năm gần đây cùng với sự phát triển của GD&ĐT hoạt động nghiên cứu kiểm tra, ĐG; nghiên cứu công tác quản lý kiểm tra, ĐG có những phát triển mới của nhiều tác giả như: Lê Khánh Bằng, Hà Thị Đức, Đặng Vũ Hoạt,… xoay quanh thực trạng và giải pháp trong kiểm tra, ĐG trong giáo dục Trong đó tác giả Đặng Vũ Hoạt [16], đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản
về kiểm tra, ĐG tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS Với tư cách là nhà nghiên cứu sâu về lý luận dạy học, tác giả đã trình bày những vấn đề về vị trí, chức năng và các quan điểm kiểm tra, ĐG tri thức của HS dưới góc độ lý luận dạy học hiện đại
Các tác giả: Nguyễn Đức Chính – Đo lường đánh giá trong giáo dục; Trần Thị Tuyết Oanh – Đo lường và đánh giá kết quả học tập; Dương Thiệu Tống – Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập;…
Bên cạnh những nhà nghiên cứu sâu về kiểm tra, ĐG KQHT của HS
Trang 20còn có những hội nghị, hội thảo, các bài viết nhấn mạnh về kiểm tra, ĐG KQHT của HS như: Kỷ yếu hội thảo khoa học về kiểm tra ĐG để phát huy tính tích cực của HS bậc trung học của trường Đại học sư phạm T.P Hồ Chí Minh/viện nghiên cứu giáo dục tháng 6/2006; Hội thảo cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông tháng 4/2012; Mục tiêu và chuẩn giáo dục phổ thông tháng 4/2012; Bài viết xu hướng ĐG dựa trên năng lực HS trên tạp trí giáo dục và thời đại online; Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề này ở các địa bàn khác nhau
Chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý ĐG KQHT của HS trường THPT ở thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên theo định hướng PTNL Vì vậy đề tài tôi chọn nghiên cứu vừa cần thiết, vừa có tính mới trên địa bàn nhằm tìm
ra các biện pháp quản lý ĐG KQHT của HS để góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục tại trường THPT thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường
1.2.1.1.Quản lý
Khái niệm “Quản lý” được sử dụng một cách rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau, các tác giả trong lĩnh vực khoa học quản lý và khoa học giáo dục đã đưa ra các định nghĩa về
“Quản lý” như sau:
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả
cao nhất”[21, tr.8]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động
quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL)
Trang 21đến khách thể QL (người bị QL)- trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7]
Tác giả Bùi Minh Hiền thì cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cuộc của tổ chức để
đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường đang biến động” [13]
Như vậy, Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng các thuật ngữ khác nhau Thực chất của Quản lý là gì? Cũng có những quan điểm không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa
học, Quản lý cơ bản đã được làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất
Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất Như vậy quản lý luôn
tồn tại với tư cách là hệ thống gồm các thành tố cơ bản sau:
- Chủ thể quản lý: Là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng
đích, có chủ định đến đối tượng quản lý
- Đối tượng quản lý: Là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lý Đối tượng quản lý là con người trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức “Thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện” Đối tượng quản
lý bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lý xác định
- Khách thể quản lý: Là cơ sở khách quan của đối tượng quản lý Trong quan hệ với chủ thể quản lý, đối tượng quản lý luôn là cái khách quan, thuộc
hiện thực bên ngoài chủ thể quản lý
- Cơ chế quản lý: Là phương thức vận động hợp quy luật của hệ thống
Trang 22quản lý, mà trước hết là sự tác động lẫn nhau một cách hợp quy luật trong quá trình quản lý Cơ chế quản lý có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động hợp với quy luật khách quan cho hoạt động quản lý Cơ chế quản lý có tác động trực tiếp đến việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đến việc định hướng tổ chức thực hiện
và điều chỉnh các hoạt động trong tổ chức
- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích
phục vụ con người
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi, nên người quản lý phải là người am hiểu nghiên cứu khoa học, là người có nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ vô cùng phức tạp trong hệ thống
1.2.1.2 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là các tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường đến khách thể quản lý, bằng việc phát huy tác dụng của các phương tiện để thực hiện mục đích quản lý (chế định Giáo dục và Đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực nhà trường, nguồn lực, vật lực và hệ thống thông tin, môi trường giáo dục), nhằm đạt được mục tiêu quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng, trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục với người học và thế hệ trẻ [22, tr.29]
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động (có ý thức, có kế hoạch,
có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong, ngoài nhà trường nhằm
thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [22, tr.37]
Trang 23Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng các vai trò xã hội của họ, trước hết là phạm vi trong nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội
1.2.2 Đánh giá
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần ĐG
và đưa ra những nhận xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí, thang đo, đại lượng đo đã được tiêu chuẩn hóa ĐG có thể là ĐG định lượng dựa vào các con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị
Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: “ĐG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích các thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra nhằm đưa ra các đề xuất phù hợp để cải tiến thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [15, tr.295]
Theo Nguyễn Đức Chính, thuật ngữ đánh giá được định nghĩa “ĐG là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào”[8]
Theo tác giả Đặng Bá Lãm: “ ĐG là một quá trình có hệ thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải thích thông tin nhằm xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học” [23]
Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống những thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo [33, tr.6]
Dù với nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung, các định
nghĩa đều có chung quan điểm là: ĐG là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý so với mục tiêu đề ra để kịp
Trang 24thời điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu mong muốn
1.2.3 Năng lực, định hướng phát triển năng lực người học
Tác giả Nguyễn Trọng Khanh (2011) đã nghiên cứu PTNL và tư duy
kỹ thuật, cho rằng năng lực cũng được hiểu là một thuộc tính nhân cách phức hợp, bao gồm kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, được định hình trên cơ sở kiến thức, được gắn bó đa dạng với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho con người có thể đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong công việc [20]
Theo Bernd Meier và Nguyễn Cường (2012): “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm
vụ, vẫn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động ” [3]
Khái niệm năng lực được nhiều tác giả trình bày dưới các góc độ khác
nhau nhưng chúng ta có thể hiểu: Năng lực là sự vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính tâm lí như động cơ, hứng thú, ý chí, tình cảm…để thực hiện một hoạt động, giải quyết một vấn đề trong một bối cảnh
cụ thể đạt kết quả tốt Như vậy, năng lực bao giờ cũng gắn với hoạt động
trong một lĩnh vực cụ thể, không có năng lực chung chung
1.2.3.2 Định hướng phát triển năng lực người học
Chương trình Giáo dục phải hình thành và phát triển cho HS tám năng
Trang 25lực chung chủ yếu là: Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực thẩm mỹ; năng lực thể chất; năng lực giao tiếp; năng lực hợp
tác; năng lực tính toán và năng lực công nghệ thông tin và truyền thông
1.2.4 Đánh giá kết quả học tập
Theo tác giả Dương Thiệu Tống: “ĐG KQHT là quá trình thu thập, phân tích và giải thích thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến các mục tiêu giảng huấn về phía HS ĐG có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng (đo lường) hay định tính (phỏng vấn, quan sát)” [37]
Quan niệm theo Từ điển giáo dục học: “ĐG KQHT là xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học so với yêu cầu của
chương trình đề ra”
Đánh giá KQHT là những ĐG diễn ra sau khi HS học xong một giai đoạn học tập nhằm xác định xem các mục tiêu GD có được thực hiện không ĐG này sử dụng để báo cáo về tình trạng học tập của HS ở một thời điểm, có thể sử dụng để đưa ra các quyết định về chương trình Nó được sử dụng trên lớp học và cho các cuộc ĐG ngoài Sử dụng ĐG trên lớp học khi thu thập được các căn cứ để xác định cho HS lên lớp, thi cuối kỳ
Như vậy, ĐG KQHT là một hoạt động vô cùng quan trọng, không đơn thuần chỉ là sự ghi nhận kết quả dạy học, mà dựa trên kết quả ĐG để
đề xuất những biện pháp dạy học, quản lý để làm thay đổi thực trạng theo
xu thế ngày càng tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo
1.2.5 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập
Quản lý ĐG KQHT là hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào quá trình ĐGKQHT làm cho hoạt động ĐG được chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng chất lượng dạy học, để từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng dạy học cũng như
chất lượng giáo dục tổng thể
Trang 26Nếu làm tốt công tác quản lý ĐG KQHT thì người quản lý sẽ có được thông tin chính xác, kịp thời, có hệ thống, đảm bảo tính pháp lý,…về chất lượng quá trình dạy học, quá trình giáo dục, mức độ đạt được mục tiêu quản
lý đã đề ra cũng như hiệu quả quản lý
Kết quả của ĐG KQHT là cơ sở để chứng thực KQHT xếp loại học tập của HS, ĐG năng lực và hiệu quả giảng dạy cũng như việc đổi mới PP dạy học, ĐG việc sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nhà trường,…và sau đó là
ĐG hiệu quả quản lý của Hiệu trưởng Vì vậy, kết quả thu được qua ĐG phải tin cậy để công khai hóa các nhận định về năng lực KQHT của từng HS, của
tập thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh PTNL tự ĐG
1.3 Đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực người học
1.3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của trường trung học phổ thông
- Phân loại hoặc tuyển chọn người học: Đây được coi là mục tiêu,
nhiệm vụ hàng đầu nhằm phân loại HS phù hợp với năng lực, trình độ nhận thức Từ đó làm cơ sở xét lên lớp, khen thưởng, tuyển chọn vào các lớp theo trình độ…
- Duy trì chuẩn chất lượng đào tạo trong các nhà trường: Qua đó xem
xét đối tượng người học có thể đạt được kết quả ở những mức độ nào so với mặt bằng chất lượng đã định sẵn
- Cung cấp thông tin phản hồi cho người dạy: Qua việc thu được những
thông tin phản hồi trong ĐG, GV nắm bắt được toàn bộ hoạt động giảng dạy của mình như: PP, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, từ đó có những điều chỉnh, đổi mới PP, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể vượt qua của HS để hướng dẫn, giúp đỡ góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường
Trang 27- Cung cấp thông tin phản hồi cho người học: Kết quả ĐG cho phép
người học thấy được khả năng đạt được với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân
Để thực hiện tốt mục tiêu này, thông tin về kết quả ĐG phải đa dạng, trong đó chú trọng đến ý kiến nhận xét của GV, để HS nắm bắt được những ưu điểm
và hạn chế sau mỗi lần được ĐG Từ đó giúp HS chủ động điều chỉnh hoạt động học tập, có khả năng tự ĐG bản thân, ĐG bạn bè, tạo hứng thú học tập
và rèn luyện để tiến bộ
- Định hướng nghề nghiệp cho người học sau khi tốt nghiệp ra trường:
Thực tế hiện nay, mục tiêu, nhiệm vụ này ít được quan tâm, dẫn đến thực trạng HS phổ thông thường thiếu định hướng nghề nghiệp, dẫn đến chọn sai trường, sai nghề; chọn trường, chọn nghề không đúng năng lực sở trường hoặc được đào tạo nghề nhưng lại thiếu kỹ năng nghề, thiếu kỹ năng xã hội
- Cung cấp thông tin cho các nhà quản lý: Thông qua kết quả ĐG các nhà
quản lý sẽ ra những quyết định phù hợp để chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới PP dạy học, PP ĐG nhằm đạt hiệu quả giáo dục
1.3.2 Đánh giá kết quả học tập ở trường trung học phổ thông
Theo Nguyễn Đức Chính: “KQHT của HS là mức độ kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực (môn học) nào đó” KQHT được hiểu theo hai nghĩa: Mức độ người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định (theo tiêu chí) hoặc là mức độ người học đạt được so với các người cùng học khác (theo tiêu chuẩn)
Như vậy, ĐG KQHT ở trường phổ thông là: quá trình đo lường mức độ đạt được của HS về các mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học, là mô tả một cách định tính và định lượng: tính đầy đủ, tính đúng đắn, tính chính xác, tính vững chắc của kiến thức, mối liên hệ của kiến thức với đời sống, các khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạt bằng lời nói, bằng văn viết, bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của HS… và cả
Trang 28thái độ của HS trên cơ sở phân tích các thông tin phản hồi từ việc quan sát, KTĐG mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối chiếu với những chỉ tiêu,
yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của môn học
1.3.2.1 Các phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh
Có nhiều cách phân loại các PP ĐG KQHT của HS, tùy theo góc độ xem xét và mục tiêu phân loại Chúng ta có thể phân loại các PP ĐG cụ thể sau:
- Phương pháp quan sát: Giúp ĐG các thao tác, các hành vi, các phản
ứng vô thức, các kỹ năng thực hành và cả một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
- Phương pháp vấn đáp: Có tác dụng tốt để ĐG khả năng ứng đáp các
câu hỏi được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thường được sử dụng khi sự tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, chẳng hạn để xác định thái độ người đối thoại
- Phương pháp viết: Thường được sử dụng nhiều nhất, vì nó có các ưu
điểm sau: cho phép kiểm tra nhiều thí sinh cùng một lúc; cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời; có thể ĐG một số loại tư duy ở mức độ cao; cung cấp các bản ghi trả lời của thí sinh để nghiên cứu kỹ khi chấm; dễ quản
lý vì người chấm không tham gia trực tiếp vào bối cảnh kiểm tra Loại ĐG viết lại được chia thành hai nhóm chính, đó là nhóm các câu hỏi tự luận và nhóm câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Phương pháp thực hành: Thường được sử dụng để ĐG năng lực của
HS như: kỹ năng, kỹ xảo thực hành/thí nghiệm và vận dụng kiến thức học tập vào cuộc sống
- Đánh giá đồng đẳng: Là loại hình ĐG trong đó HS tham gia vào việc
ĐG sản phẩm công việc của các bạn học Khi ĐG HS phải nắm rõ nội dung
mà họ dự kiến sẽ ĐG trong sản phẩm của các bạn học
- Đánh giá qua thực tiễn: ĐG qua thực tiễn đưa ra cho HS những thách
Trang 29thức thực tế và thường được ĐG thông qua năng lực thực hiện các nhiệm vụ trong thực tiễn ĐG qua thực tiễn giúp ĐG một tập hợp các kỹ năng, kết quả
ĐG khả năng học tập của HS rất đáng tin cậy bởi vì nó không phụ thuộc vào một PP ĐG duy nhất, mặt khác HS được ĐG rất nhiều kỹ năng qua các tình
huống khác nhau
1.3.2.2 Hình thức đánh giá
Theo Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 12/12/2011 về việc ban hành quy chế đánh giá HS trung học cơ sở và HS trung học phổ thông thì hình thức thức ĐG KQHT của HS được quy định cụ thể với từng môn học như sau [4]
* Đánh giá bằng nhận xét KQHT: (sau đây gọi là ĐG bằng nhận xét)
đối với các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục
Căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học quy định trong chương trình giáo dục phổ thông, thái độ tích cực và sự tiến bộ của HS để nhận xét kết quả các bài kiểm tra theo hai mức:
- Đạt yêu cầu (Đ): Nếu đảm bảo ít nhất một trong hai điều kiện sau: + Thực hiện được cơ bản các yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra;
+ Có cố gắng, tích cực học tập và tiến bộ rõ rệt trong thực hiện các yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra
- Chưa đạt yêu cầu (CĐ): Các trường hợp còn lại
* Kết hợp giữa đánh giá bằng cho điểm và nhận xét KQHT đối với môn Giáo dục công dân:
- Đánh giá bằng cho điểm kết quả thực hiện các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với từng chủ đề thuộc môn Giáo dục công dân quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp trung học phổ thông do
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;
Trang 30- Đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ của HS về thái độ, hành vi trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống của HS theo nội dung môn Giáo dục công dân quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp trung học phổ thông
do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong mỗi học kỳ, cả năm học
Kết quả nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống của HS không ghi vào sổ gọi tên ghi điểm, mà được GV môn Giáo dục công dân theo dõi, ĐG, ghi trong học bạ và phối hợp với GV chủ nhiệm sau mỗi học kỳ tham khảo khi xếp loại hạnh kiểm
* Đánh giá bằng cho điểm các môn còn lại: Các bài kiểm tra được cho
điểm theo thang điểm từ điểm 0 đến điểm 10; nếu sử dụng thang điểm khác thì phải quy đổi về thang điểm này
Trong ĐG bằng hình thức cho điểm thường sử dụng các hình thức ĐG như: vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm khách quan, kết hợp giữa tự luân và trắc nghiệm; thực hành/thí nghiệm; sản phẩm học tập của HS…
1.3.2.3 Quy trình tổ chức đánh giá kết quả học tập của học sinh
Đánh giá trong giáo dục là một vấn đề hết sức khó khăn, mang tính tổng hợp nhiều yếu tố Vì vậy, để ĐG chính xác một HS, một lớp hay một khóa học, điều đầu tiên phải làm là xây dựng quy trình, lựa chọn một PP, hình thức, thu thập các thông tin cần thiết cho việc ĐG Như vậy, về cơ bản quy trình ĐGKQHT của HS bao gồm các bước sau:
- Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về nội dung ĐG và tiêu chí ĐG gì?, cho điểm thế nào?) tương ứng với hệ thống mục tiêu dạy học đã được cụ thể hóa đến chi tiết
- Bước 2: Thiết kế công cụ ĐGhay lựa chọn hình thức ĐG và kế hoạch
sử dụng, tùy theo mục đích ĐG mà có thể lựa chọn các dạng kiểm tra (Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra học kỳ)
- Bước 3: Thu thập số liệu đánh giá: theo đáp án, bảng đặc trưng, GV
Trang 31chấm bài kiểm tra, thống kê điểm kiểm tra
- Bước 4: Xử lý số liệu
- Bước 5: Hình thành hệ thống kết luận về việc ĐG và đưa ra những đề xuất điều chỉnh quá trình dạy học
1.3.2.4 Các nguyên tắc đánh giá kết quả học tập của học sinh
Việc ĐG KQHT của HS thường được dựa trên một số nguyên tắc sau:
Đảm bảo tính khách quan: ĐG khách quan, chính xác là yêu cầu đòi
hỏi của xã hội đối với chất lượng của giáo dục, ĐG khách quan, chính xác tạo
ra yếu tố tâm lí tích cực cho người được ĐG, động viên người được ĐG vươn lên Tính khách quan của kiểm tra, ĐG KQHT là sự phản ánh trung thực kết quả đạt được về trình độ nhận thức của HS so với yêu cầu của chương trình học Tính khách quan của kiểm tra, ĐG đòi hỏi việc xây dựng thang ĐG phải
cụ thể, rõ ràng, đảm bảo phản ánh được chính xác ĐG KQHT của HS Kết quả ĐG đó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người ĐG
Để đảm bảo tính khách quan, cần giáo dục cho HS ý thức đúng đắn đối với việc kiểm tra, hình thành cho HS kĩ năng tự kiểm tra, tự ĐG một cách đúng đắn để HS có thể điều chỉnh cách học của mình, ngăn ngừa thái độ đối phó với việc kiểm tra Mặt khác kiểm tra, ĐG đảm bảo khách quan đòi hỏi từ khâu lựa chọn PP, hình thức kiểm tra, ĐG, xây dựng câu hỏi, quá trình tổ chức ĐG đến việc chấm bài phải đáp ứng được yêu cầu của lí luận dạy học
Đảm bảo tính công bằng: ĐG phải phản ánh chính xác kết quả hoạt
động dạy học ĐG phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh dạy học, đối tượng, tránh những nhận định chủ quan, áp đặt thiếu căn cứ ĐG phải dựa trên một bộ chuẩn phù hợp, rõ ràng, toàn diện, thống nhất Đảm bảo rằng những HS thực hiện các hoạt động học tập cùng với một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực trong học tập sẽ nhận được những kết quả như nhau
Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống: Hoạt động ĐG KQHT của HS
Trang 32phải được tiến hành thường xuyên và có hệ thống, có kế hoạch định sẵn, ĐG trước, trong và sau khi học một phần của chương trình, số lần kiểm tra phải đảm bảo đủ để có thể ĐG chính xác ĐG thường xuyên, hệ thống sẽ cung cấp kịp thời những thông tin ngược cho GV và HS, giúp GV điều chỉnh liên tục hoạt động dạy, HS điều chỉnh hoạt động học nhằm duy trì tính tích cực trong học tập ĐG thường xuyên, có hệ thống định kỳ sẽ cung cấp cho cán bộ quản
lý giáo dục, cho GV đầy đủ những thông tin để điều chỉnh kịp thời các hoạt động giáo dục
Đảm bảo tính toàn diện: Hoạt động ĐG KQHT phải đảm bảo toàn
diện, yêu cầu phải chú trọng ĐG cả về khối lượng và chất lượng Chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ĐG cả về tinh thần, ý thức, thái độ học tập, nội dung, hình thức, đánh giá kết quả cuối cùng và cả quá trình học tập
Đảm bảo tính công khai: Việc tổ chức ĐG phải thực hiện theo kế
hoạch, hình thức, nội dung, ĐG cần được thông báo trước cho người học để
họ có thời gian sắp xếp kế hoạch phù hợp Vì vậy, việc đảm bảo tính công khai sẽ góp phần làm cho hoạt động ĐG trong nhà trường khách quan và công bằng hơn
Đảm bảo tính giáo dục: ĐG phải thực sự góp phần trong việc nâng cao
hiệu quả học tập của người học Qua ĐG, người học thấy được sự tiến bộ hoặc thiếu sót để điều chỉnh, cố gắng nỗ lực hơn trong quá trình học tập
Đảm bảo tính phát triển: Quá trình dạy học luôn vận động và phát triển
theo một trình tự liên tục, việc ĐG tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học phải được xét theo hướng phát triển của người học Sự phát triển cần phải được ĐG toàn diện ở từng khâu, từng giai đoạn, không chỉ trong quá trình và
cả sau quá trình Trong quá trình dạy học, người GV luôn phải tạo được động lực khuyến khích động viên người học theo chiều tích cực
Các nguyên tắc trong hoạt động ĐG có sự liên quan, hỗ trợ, bổ sung
Trang 33cho nhau Tùy mục đích, nội dung, đối tượng, điều kiện mà chủ thể quản lý vận dụng hoặc phối hợp các nguyên tắc một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm mang lại hiệu quả tối ưu cho hoạt động ĐG KQHT của HS
1.3.3 Yêu cầu của đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực người học
Để ĐG KQHT của HS đạt hiệu quả cao thì phải đảm bảo các yêu cầu
cơ bản sau:
Phải ĐG được các năng lực khác nhau của HS: Năng lực của cá nhân
được thể hiện qua hoạt động (có thể quan sát được ở các tình huống, hoàn cảnh khác nhau) và có thể đo lường, ĐG được Khi ĐG phải thu thập được các chứng cứ cốt lõi về các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,…được tích hợp trong các tình huống, ngữ cảnh thực tế Năng lực thường tồn tại dưới hai hình thức; Các năng lực chung cốt lõi là những năng lực cần thiết để cá nhân
có thể tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội; năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực tìm kiếm, tổ chức, xử lí thông tin, năng lực sử dụng công nghệ, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, đặc biệt là năng lực đối phó với các vẫn đề thực tiễn trong cuộc sống; và năng lực chuyên biệt thường liên quan đến một số môn học cụ thể hoặc lĩnh vực hoạt động có tính chuyên biệt, cần thiết ở một hoạt động cụ thể, đối với một số người hoặc cần thiết ở những bối cảnh nhất định Các năng lực chuyên biệt không thể thay thế năng lực chung
Năng lực và các thành tố của nó không bất biến mà được hình thành và biến đổi liên tục trong suốt cuộc sống của mỗi cá nhân Mỗi kết quả ĐG chỉ là một kênh thông tin, do vậy mà mỗi phán xét, quyết định về HS phải sử dụng nhiều nguồn thông tin từ các kết quả ĐG
Khách quan: Là một trong những yêu cầu quan trọng trong khi tiến
hành ĐG, yêu cầu này đòi hỏi quá trình ĐG phải tạo điều kiện cho người học
Trang 34bộc lộ rõ rệt và thực chất khả năng và trình độ của mình, ngăn chặn mọi hành
vi thiếu trung thực Nội dung ĐG phải phù hợp với chương trình đề ra, tổ chức phải nghiêm túc theo đúng quy chế, xử phạt nghiêm minh các trường hợp vi phạm
Toàn diện: Đòi hỏi phải ĐG đầy đủ các mặt, các khía cạnh cần ĐG theo
yêu cầu, mục đích đặt ra, ĐG toàn diện cho phép xem xét đối tượng được ĐG một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, tránh sự ĐG phiến diện Kiểm tra, ĐG toàn diện KQHT cần được xem xét đầy đủ về số lượng và chất lượng Cần tính đến các mặt như: khối lượng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà người học nắm vững; năng lực vận dụng và khả năng sáng tạo; tinh thần thái độ, sự nỗ lực của HS
Để ĐG đảm bảo tính toàn diện cần phải căn cứ vào mục tiêu dạy học, trên cơ
sở đó xác định các nội dung ĐG sao cho có thể ĐG đầy đủ các mục tiêu
Hệ thống: ĐG KQHT của HS cần phải được tiến hành theo kế hoạch, có
hệ thống
Công khai: Việc tổ chức ĐG phải được tiến hành công khai, kết quả đánh
giá phải được công bố kịp thời để mỗi HS có thể tự ĐG xếp hạng trong học tập,
để tập thể HS hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau
Các yêu cầu trên có mối liên hệ với nhau, chúng cần phải được thực hiện đồng thời trong quá trình ĐG
1.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực người học
1.4.1 Vai trò chức năng của Hiệu trưởng trường THPT trong quản
lý hoạt động đánh giá kết quả học tập
Quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS là một quá trình hoạt động có vai trò chức năng định hướng, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra và giải quyết vấn đề đối với việc ĐG KQHT của HS Từ hoạt động ĐG KQHT, người Hiệu trưởng sẽ thu được thông tin tổng quan về thực trạng dạy học
Trang 35trong nhà trường, qua đó kịp thời động viên, khích lệ những nhân tố tốt và có những biện pháp điều chỉnh những hoạt động sai lệch để đảm bảo đạt được mục tiêu giáo dục đã xác định Và đó cũng là cơ sở để xây dựng phương hướng, mục tiêu cho quá trình tiếp theo
Vì vậy, vai trò chức năng của Hiệu trưởng trường THPT trong quản lý
hoạt động ĐG KQHT là hết sức quan trọng, cụ thể:
- Triển khai các quyết định, thông tư, công văn, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT cũng như của Sở GD&ĐT về việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục, nhiệm vụ năm học và đặc biệt là vấn đề ĐG KQHT của HS tới các tổ, nhóm chuyên môn
- Thực hiện chương trình, kế hoạch ĐG đúng mục đích, vị trí, nội dung,
PP, hình thức, thời gian của từng môn học theo quy định như:
+ Xây dựng kế hoạch ĐG KQHT của HS
+ Thực hiện kế hoạch ĐG KQHT của HS
+ Chỉ đạo thực hiện kế hoạch ĐG KQHT của HS theo định hướng PTNL + Hướng dẫn, điều chỉnh những thay đổi trong hoạt động ĐG KQHT
+ Tổ chức các hoạt động ĐG KQHT của HS
+ Kiểm tra, ĐG việc thực hiện các hoạt động của giáo viên, tổ chuyên môn về hoạt động ĐG KQHT của HS
- Quản lý các lực lượng tham gia ĐG KQHT của HS
- Quản lý kết quả ĐG của HS
- Quản lý các điều kiện tài chính, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động ĐG KQHT của HS Nếu làm tốt vai trò chức năng của mình trong quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS thì người Hiệu trưởng sẽ có được thông tin chính xác, kịp thời, có hệ thống, đảm bảo tính pháp lý,…về chất lượng quá trình dạy học, quá trình giáo dục, mức độ đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra cũng như hiệu quả quản lý Để có thể hoàn thành tốt vai trò chức năng của mình, Hiệu
Trang 36trưởng phải được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý, có kinh nghiệm tổ chức quản lý và điều hành, có quyết tâm cao, có tư tưởng đổi mới trong hoạt động ĐG KQHT của HS
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực người học
1.4.2.1 Quản lý việc xác định các mục tiêu, nội dung đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
Khi nói đến mục tiêu, nội dung ĐG, trước hết người ta nhận thấy ĐG là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học thì ít nhất nó phải vì sự tiến bộ của HS Đánh giá vì sự tiến bộ nghĩa là quá trình ĐG phải cung cấp những thông tin phản hồi giúp HS biết mình tiến bộ đến đâu, những mảng kiến thức/kĩ năng nào có sự tiến bộ, mảng kiến thức/kĩ năng nào còn yếu để điều chỉnh quá trình dạy và học Và khi nói đến ĐG là vì sự tiến bộ của HS thì
ĐG phải làm sao để HS không sợ hãi, không bị thương tổn mà thúc đẩy HS
nỗ lực ĐG vì sự tiến bộ của HS còn có nghĩa là ĐG phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, giúp HS so sánh phát hiện mình thay đổi thế nào trên con đường đạt mục tiêu học tập của cá nhân đã đặt ra Cần nhận thức rằng ĐG là một quá trình học tập, ĐG diễn ra trong suốt quá trình dạy và học Không chỉ
GV biết cách thức, các kĩ thuật ĐG HS mà quan trọng không kém là HS phải học được cách ĐG của GV, phải biết ĐG lẫn nhau và biết tự ĐG KQHT rèn luyện của chính mình Có như vậy, HS mới tự phản hồi với bản thân xem kết quả học tập, rèn luyện của mình đạt mức nào/đến đâu so với yêu cầu, tốt hay chưa tốt như thế nào Với cách hiểu đánh giá ấy mới giúp hình thành năng lực của HS, cái mà chúng ta đang rất mong muốn ĐG phải chính xác, khách quan kết quả học tập, chỉ ra được HS đạt được ở mức độ nào so với mục tiêu, chuẩn đã đề ra Sau khi HS kết thúc một giai đoạn học thì tổ chức ĐG, để GV biết được những kiến thức mình dạy, HS đã làm chủ được kiến thức, kĩ năng
Trang 37ở phần nào và phần nào còn bị hổng
Việc ĐG KQHT của HS theo định hướng PTNL người học luôn phải xác định rõ mục tiêu, nội dung ĐG, để từ đó nhà quản lý hướng hoạt động quản lý tới đó, tránh chệch hướng hoặc tác động quản lý không hiệu quả Do
đó, hoạt động quản lý việc xác định các mục tiêu, nội dung của ĐG phải đảm bảo các nội dung:
+ Công khai hóa nhận định về năng lực và KQHT của mỗi HS, nhóm
HS và tập thể lớp, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự ĐG, giúp HS nhận
ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập
+ Giúp cho GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
+ Là cơ sở để ĐG xếp loại học lực, hạnh kiểm của HS; là căn cứ xác định mức độ hoàn thành chương trình các môn học và hoạt động giáo dục trong kế hoạch giáo dục cấp trung học phổ thông;
+ Là cơ sở xét lên lớp, xét tốt nghiệp và là căn cứ xác định HS đủ điều kiện dự thi THPT quốc gia
Như vậy, ĐG không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định
ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
1.4.2.2 Quản lý thực hiện các phương pháp đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
Hiện nay, các PP ĐG có nhiều thay đổi: PP dùng lời nhận xét, PP dùng giấy bút, PP trắc nghiệm khách quan và sự kết hợp các PP viết tự luận, vấn đáp, trực tiếp trên máy, PP thực hành, đánh giá đồng đẳng, đánh giá qua thực tiễn,… cho phép ĐG kiến thức bao quát, khách quan, công bằng đang được các trường THPT thực hiện nhằm PTNL người học
Trang 38Để quản lý tốt việc thực hiện các PP ĐG KQHT của HS theo định hướng PTNL; người Hiệu trưởng phải xây dựng và ban hành được hệ thống văn bản quản lý về công tác ĐG KQHT của HS; trong đó phải được quy định
PP ĐG cụ thể cho từng môn học; các PP ĐG đa dạng, phải tạo cơ hội cho HS phát huy hết khả năng, năng lực của bản thân; việc ĐG phải đơn giản dễ thực hiện nhưng phải đảm bảo tính chính xác, phản ánh đúng thực tế quá trình dạy học, thể hiện trung thực kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục
Ngoài ra, Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, khuyến khích cán bộ, GV thực hiện tốt các PP ĐG đã được quy định Định kỳ tổ chức các buổi báo cáo sơ kết, tổng kết kinh nghiệm về hoạt động ĐG nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và đúc rút những PP ĐG được thực hiện mang lại hiệu quả cao và phù hợp với thực tiễn, cũng như đề xuất những PP ĐG mới nhằm phát huy tính tích cực của HS, nâng cao hiệu quả dạy học
1.4.2.3 Quản lý thực hiện các hình thức đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
Hình thức ĐG KQHT của HS trong trường THPT hiện nay là theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ GD& ĐT ban hành Quy định ĐG, xếp loại HS trung học cơ sở và HS trung học phổ thông,
cụ thể: ĐG bằng hình thức nhận xét; ĐG bằng hình thức cho điểm; ĐG bằng hình thức kết hợp giữa nhận xét và cho điểm Vì vậy, để quản lý có hiệu quả hình thức ĐG KQHT của HS đòi hỏi chủ thể quản lý phải làm tốt các nhiệm
vụ sau:
- Quản lý, hướng dẫn GV, HS thực hiện và phổ biến đến gia đình HS các quy định của Quy chế ĐG KQHT của HS; vận dụng quy định của Quy chế để ĐG, xếp loại HS đúng đối tượng
- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy định về hình thức kiểm tra, cho điểm và ĐG nhận xét của GV Hàng tháng ghi nhận xét và ký xác nhận
Trang 39vào sổ gọi tên và ghi điểm của các lớp
- Kiểm tra việc ĐG, xếp loại, ghi kết quả vào sổ gọi tên và ghi điểm, vào học bạ của GV bộ môn, GV chủ nhiệm; phê chuẩn việc sửa chữa điểm, sửa chữa mức nhận xét của GV bộ môn khi đã có xác nhận của GV chủ nhiệm
- Kiểm tra, yêu cầu người có trách nhiệm thực hiện Quy chế này phải khắc phục ngay sai sót trong các việc như: Thực hiện chế độ kiểm tra cho điểm và mức nhận xét; ghi điểm và các mức nhận xét vào sổ gọi tên và ghi điểm
1.4.2.4 Quản lý các điều kiện đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
- Bồi dưỡng GV: Các cấp quản lý phải làm mọi cách giúp GV hiểu
được triết lý về ĐG; ĐG phải vì sự tiến bộ của HS; ĐG là quá trình học tập và
ĐG về KQHT, giáo dục ĐG là một khoa học, ĐG đòi hỏi người GV phải có
kỹ năng, kiến thức, làm chủ được quá trình ĐG và phải sử dụng nhiều công
cụ, nhiều PP, nhiều hình thức ĐG khác nhau để ĐG PP ĐG càng đa dạng thì mức độ chính xác trong ĐG càng cao vì phản ánh khách quan tốt hơn Và trong quá trình ĐG như vậy, bản thân người GV sẽ nâng cao được năng lực dạy học nói chung, năng lực ĐG HS nói riêng
Vì vậy, cần tập trung bồi dưỡng cho GV các PP, kỹ thuật, hình thức đánh giá mới, từng bước thay đổi thói quen của GV, hướng dẫn họ cách thức ra đề thi, kiểm tra theo kiểu mở, theo cách tiếp cận năng lực, tránh khuôn vào những kiểu bài toán, dạng bài văn “mẫu” Nếu đổi mới kiểm tra ĐG theo triết lý đã đề cập ở trên sẽ không xảy ra hiện tượng luyện thi tràn lan, vì nó tập trung vào người học, tập trung vào những kiến thức, kỹ năng giúp HS hình thành năng lực và diễn ra trong quá trình học tập, hơn là tập trung luyện kiến thức, kỹ năng phục vụ mục
Trang 40đích thi đậu Phải khuyến khích GV áp dụng đa dạng các hình thức ĐG, ĐG bằng trắc nghiệm khách quan, bằng kiểm tra viết tự luận, đánh giá bằng sản phẩm, bằng hồ sơ HS, bằng trình bày miệng, trình bày miệng/tranh luận thông qua tương tác nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…
Bồi dưỡng cho GV biết cách tổ chức, hướng dẫn HS biết cách tự ĐG,
HS ĐG được lẫn nhau, phải hình thành ở HS có khả năng tự ĐG GV phải biết lựa chọn kỹ thuật và phương giảng dạy ở trên lớp để kích thích HS chủ động chiếm lĩnh tri thức
- Điều kiện cơ sở vật chất: Để hoạt động ĐG KQHT của HS đảm bảo
thu được kết quả tốt, cần chú ý đến các điều kiện cơ sở vật chất như:
+ Các văn bản quy định và hướng dẫn về nội dung, hình thức, PP ĐG của từng môn học của ngành giáo dục
+ Có phòng khảo thí chuyên trách về việc tổ chức các kỳ ĐG với quy chế làm việc cụ thể; có đầy đủ trang thiết bị cần thiết như: Tủ đựng đề thi, đựng bài thi, máy in, máy photocopy phục vụ công tác sao in đề thi tại trường
để đảm bảo công tác bảo mật đề thi…
+ Có đầy đủ hệ thống máy tính hỗ trợ việc làm đề, lưu trữ ngân hàng
đề, cập nhật và lưu trữ điểm trên sổ điểm điện tử
+ Có các phần mềm hỗ trợ đảo đề thi trắc nghiệm khách quan, phần mềm quản lý điểm HS…
+ Có đầy đủ phòng học đảm bảo quy định của BGD&ĐT để tổ chức các kỳ ĐG
1.5 Những yếu tố tác động tới quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực người học
Hoạt động quản lý của một tổ chức đều chịu ảnh hưởng của một số yếu
tố nhất định của môi trường Đứng về góc độ quản lý đối với hoạt động ĐG KQHT của HS, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này là: