CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường PTDTNT 1.3.2 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp 15 1.3.3 Mục đích củ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu luận văn của tôi
Tác giả luận văn
PHẠM NGỌC CẢNH
QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục (Chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng)
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Hà nội – Năm 2017
Trang 2liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu luận văn của tôi
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Cảnh
Trang 3Với tình cảm chân thành, tác giả bản luận văn xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến:
- Tập thể các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ, cán bộ, giảng viên trong Khoa quản lý giáo dục, Khoa sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
- Cảm ơn Văn phòng UBND huyện Tuần Giáo; Ban Giám hiệu và các đồng nghiệp Trường PTDTNT THPT huyện Tuần Giáo và gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ cho tôi trong quá trình chuẩn bị tư liệu, nghiên cứu hoàn thành bản luận văn này
- Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến GS-TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện bản luận văn này
Tuy nhiên, do điều kiện xa xôi, trình độ, sự hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn, bản luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của quý thầy cô và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả
Phạm Ngọc Cảnh
Trang 4CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường PTDTNT
1.3.2 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp 15 1.3.3
Mục đích của công tác hoạt động GDHN cho học sinh
1.4.2 Khái niệm về quản lý giáo dục hướng nghiệp 26
Trang 51.5.1 Yếu tố khách quan 31
Kết luận chương 1 32
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG TUẦN GIÁO - ĐIỆN BIÊN
Điều kiện tự nhiên, kinh tế , xã hội, giáo dục của huyện
2.1.2 Vài nét khái quát về trường PTDTNT THPT Tuần giáo 35
2.2.3 Đối tượng và phương pháp khảo sát 40
Trang 6CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI
TRÚ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TUẦN GIÁO - ĐIỆN
BIÊN
65
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 65 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 65 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 65 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 65 3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 66 3.2
Biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho học sinh trường
Chú trọng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ
giáo viên làm công tác GDHN trong trường 70
3.2.3
Tăng cường xây dựng kế hoạch, chương trình GDHN
phù hợp với thực tiễn từng giai đoạn 73 3.2.4 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp 76
3.2.5
Xây dựng, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và
các điều kiện để phục vụ cho công tác giáo dục hướng
nghiệp
77
3.2.6 Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho học sinh 78
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 86 Kết luận chương 3 93
Trang 7GDQP-AN Giáo dục quốc phòng - An ninh
GDLĐ-DN Giáo dục lao động, dạy nghề
HĐGDHN Hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Trang 8Bảng số Tên bảng sử dụng trong luận văn Trang Bảng 2.1
Quy mô phát triển trường PTDTNT THPT Huyện Tuần Giáo (năm học 2016 – 2017) 36 Bảng 2.2 Số liệu thống kê chất lượng đội ngũ 37 Bảng 2.3
Số liệu thống kê kết quả giáo dục hai mặt của
Bảng 2.4
Học sinh tìm hiểu về nghề nghiệp từ các nguồn
Trang 9So sánh sự tương quan giữa mức độ cấp thiết
và tính khả thi của các biện pháp quản lý GDHN
91
Trang 10So sánh sự tương quan giữa mức độ cấp thiết
và tính khả thi của các biện pháp quản lý GDHN
92
Trang 11Sơ đồ 1.1 trình GDHN 26
Sơ đồ 1.2 Tổng quát nhiệm vụ kiểm tra đánh giá 28
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đối với cuộc sống hiện đại, nghề nghiệp sẽ quyết định tương lai của mọi cá nhân, nó là công cụ và phương tiện để đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của con người Để thành công trong cuộc đời con người cần lựa chọn cho mình một nghề phù hợp Đối với thế hệ trẻ ngày nay việc lựa chọn nghề nghiệp càng trở nên quan trọng bởi họ là thế hệ tương lai của một đất nước Xã hội rất cần những con người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ổn định
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế hiện nay việc lựa chọn cho mình một ngành nghề phù hợp là việc làm không dễ Trên thực tế có rất nhiều người thất nghiệp hoặc phải làm những công việc không phù hợp với năng lực, sở trường của mình và kết quả là họ gặp khó khăn với những yêu cầu đặt
ra của nghề nghiệp, không tạo ra hiệu quả lao động và sự tâm huyết với nghề, đồng thời gây khó khăn trong việc phân bổ nguồn lực cho nhà quản lí
Lựa chọn nghề nghiệp, định hướng tương lai luôn là chủ đề nóng thu hút sự quan tâm của xã hội Việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông được xem là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Vì vậy, trong văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng đã
chỉ rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”
Tuần giáo là một huyện miền núi thuộc tỉnh Điện Biên các dân tộc chủ yếu là Thái, H’Mông, Kháng, Khơ mú điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, địa hình đồi núi cao, chia cắt phức tạp Chính vì vậy việc tiếp cận các thông tin về nghề nghiệp cũng như tư vấn nghề nghiệp cho các em học sinh là rất khó Vì vậy việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT có vai trò
Trang 13quan trọng, tạo điều kiện cho những học sinh không có đủ khả năng tiếp tục học lên Đại học có thể tiếp tục theo học nghề phù hợp và phát triển nghề nghiệp theo sở thích và nguyện vọng Đây cũng là nguồn cung cấp lực lượng lao động để phát triển kinh tế phù hợp với địa phương Mặt khác, giáo dục hướng nghiệp cũng góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội ở lứa tuổi vị thành niên, giúp các em có lý tưởng và khát vọng sống, biết nuôi dưỡng đam mê khi nhận thức đầy đủ những giá trị nghề nghiệp và giá trị bản thân, từ đó phát huy tiềm năng, có kế hoạch phát triển nghề nghiệp để phát triển kinh tế gia đình
do công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp còn nhiều bất cập Vì vậy, nghiên cứu quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh PTDTNT THPT huyện Tuần giáo - tỉnh Điện Biên là một yêu cầu cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, nhằm giúp các em tự xác định con đường học vấn của mình và đi tới quyết định một cách có ý thức trong việc lựa chọn con đường nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú cá nhân, điều kiện kinh tế gia đình
Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề: "Quản lý giáo dục hướng nghiệp
Trang 14cho học sinh trường PTDTNT THPT Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên" làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình, nhằm quản lý tốt hơn công tác GDHN của nhà trường
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lí GDHN ở trường phổ thông và thực trạng quản lý GDHN cho học sinh trường PTDTNT THPT Tuần giáo - tỉnh Điện Biên Đề xuất những biện pháp quản lí GDHN cho học sinh trường PTDTNT THPT huyện Tuần giáo - tỉnh Điện Biên giúp các em sau khi tốt nghiệp có thể tìm việc làm hoặc tiếp tục học các ngành nghề phù hợp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí GDHN tại trường PTDTNT THPT 3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí GDHN ở trường PTDTNT THPT Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên
3.3 Đề xuất biện pháp quản lí GDHN ở trường PTDTNT THPT Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý GDHN ở trường PTDTNT THPT Tuần Giáo
- Thời gian khảo sát: Năm học 2016 - 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập và nghiên cứu tài liệu lý luận, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các công trình nghiên cứu khoa học về QLGD, quản lý GDHN Từ đó phân tích và tổng hợp các vấn
đề lý luận có liên quan đến đề tài
Phân tích và tổng hợp các quan niệm về QLGD, quản lý GDHN, công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với GDHN ở trường THPT
Trang 15Phân tích, tổng hợp các số liệu, tư liệu về GDHN ở trường PTDTNT THPT huện Tuần Giáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
Điều tra bằng hệ thống phiếu hỏi với các đối tượng là CBQL, GV, cha
mẹ HS và HS nhằm tìm hiểu và đánh giá sơ bộ về thực trạng quản lý GDHN của trường PTDTNT THPT Tuần Giáo
- Phương pháp chuyên gia: Xin tư vấn thêm từ các chuyên gia có kinh nghiệm về GDHN và CBQL có kinh nghiệm quản lý GDHN
- Tổng kết kinh nghiệm giáo dục nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài
5.3 Phương pháp thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê nhằm xử lý số liệu thu thập, lập hệ thống
bảng biểu thể hiện kết quả thông tin thu được
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và các phụ lục, nội dung luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lí giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ
thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên
Trang 16Chương 3: Biện pháp quản lí giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ
thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI
TRÚ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Sơ lược về tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ơ lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề và nhất là mối quan hệ giữa người lao động với nghề nghiệp đã được nhiều nhà khoa học của nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên học sinh có sự lựa chọn nghề nghiệp sao cho phù hợp với năng lực, trí tuệ, hứng thú cá nhân và yêu cầu kinh tế của đất nước
Cộng hòa Pháp là một trong những nước đã phát triển hướng học, hướng nghiệp và tư vấn nghề sớm nhất trên thế giới Ngày 25/12/1922 Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ba hành nghị định về công tác hướng học, hướng nghiệp và thành lập Sở Hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi, tới ngày 24/5/1938 công tác hướng nghiệp đã mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng nghiệp bắt buộc đối với tất
cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành người làm việc trong các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp Từ năm 1960, Pháp đã tiến hành thành lập hệ thống các trung tâm thông tin hướng học và hướng nghiệp
từ Bộ Giáo dục đến khu, tỉnh, huyện và cụm trường
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa nền giáo dục Cải cách giáo dục ở Pháp chú ý đặc biệt chăm lo giảng dạy lao động nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hướng và quan niệm giáo dục lao động là một hoạt động giáo dục loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học) Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc
Trang 18cung cấp các kiến thức khoa học, tăng tỉ lệ kiến thức có ý nghĩa thực dụng và
ý nghĩa hướng nghiệp để giúp cho học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo
và cuộc sống nghề nghiệp
Ở Nhật Bản, đã từ lâu giáo dục Nhật Bản chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sang tạo cho học sinh phổ thông Chính vì vậy, ở Nhật Bản trong những năm qua, nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước Trong đó có nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo về hướng nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường phổ thông
Các nước phát triển cao như Mỹ, cũng định hướng phân luồng cho học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, trong đó đào tạo nghề chiếm 24% vào những năm 1980-1990, 48% học sinh vào trường dạy nghề và tham gia vào lao động sản xuất năm1995 Còn ở Nhật, số học sinh chiếm 60% qua đào tạo nghề năm 1996
Với quan điểm trên, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh được xem là một bộ phận của giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp gắn liền với công tác hướng nghiệp của nhà nước Việc giáo dục hướng nghiệp có tính chọn lọc cao, có chương trình nội dung phong phú Nhiệm vụ giáo dục nghề phổ thông được thực hiện đồng thời với công tác quản lý khác do nhà nước quy định
Tại Thái Lan, mục tiêu giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông có tính chất giáo dục nhiều hơn, những nghề được dạy trong trường phổ thông là những nghề có thể giúp học sinh có thể “hành nghề” kiếm tiền tự nuôi sống bản thân và gia đình, giúp học sinh siêng năng lao động Từ những năm học lớp 1, học sinh đã được trang bị kiến thức, kỹ năng lao động giản
Trang 19đơn như nội trợ, trang trí, nghề thủ công đơn giản Đến cấp 2 giáo dục nghề cho học sinh được nâng lên một bước cho phù hợp với trình độ văn hóa và độ tuổi học sinh Lên cấp 3, cùng với đòi hỏi bằng tốt nghiệp văn hóa là chứng chỉ nghề nghiệp Giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông được tiến hành độc lập và đánh giá độc lập Công tác quản lý phần lớn do Trung tâm KTTH-HN thực hiện có sự phối hợp với nhà trường [39]
Tại Philipines giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông cũng thực hiện theo mô hình trên, song yêu cầu cao hơn về tay nghề Học sinh phổ thông khi tốt nghiệp phải đạt trình độ thợ bậc 1/7 đến 2/7 Nghề được học, được chú trọng gắn liền với nhu cầu nền kinh tế xã hội đó là: nghề điện tử, tin học, thông tin, thương mại Yêu cầu chất lượng chuyên môn, tổ chức học tập
và đánh giá kết quả có cao hơn, đòi hỏi công tác giáo dục hướng nghiệp cũng cao hơn Trung tâm KTTH-HN được đầu tư hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại, đủ tầm để kiểm tra, đánh giá cấp chứng chỉ nghề gắn với bậc thợ nghề tương ứng, được xã hội chấp nhận Trình độ quản lý giáo dục hướng nghiệp được đánh giá là ưu việt rất nhiều so với các quốc gia nghiên cứu [25]
Về giáo dục hướng nghiệp, quan điểm của UNESCO cũng cho rằng giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường bước vào cuộc sống lao động thực sự Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn một trong nhiều con đường khác nhau
1.1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu trong nước
Chỉ thị 14/2001/CT-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đội ngũ CBQL và GV cần nâng cao hơn nữa nhận thức về ý nghĩa, mục đích, nội dung và biện pháp thực hiện giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề cho học sinh trung học
Tiếp tục Chỉ thị của Thủ Tướng Chính phủ, Chỉ thị số BGDĐT, ngày 23 tháng 7 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 2033/2003/CT-về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã nêu:
“Các Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tăng cường việc chỉ đạo triển khai thực hiện qui chế về tổ chức và hoạt động của trung tâm KTTH-HN, có kế hoạch bổ sung đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất cho các trung tâm hiện có
để trung tâm hoàn tành nhiệm vụ hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông và có đủ điều kiện thực hiện nội dung giáo dục nghề phổ thông trong chương trình THCS và THPT mới…”
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra mục tiêu
cụ thể đối với giáo dục phổ thông: “Đổi mới giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vân dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông gai đoạn sau 2015 Bảo đảm cho học sinh có đủ trình độ trung học cơ
sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng…”
Thực hiện triệt để tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, Chỉ thị cố 3031/CT-BGDĐT ngày 26 tháng 8 năm 2016 về nhiệm vụ chủ yếu năm học
2016-2017 của ngành Giáo dục, tiếp tục chỉ đạo các Sở GD&ĐT: “Năm học 2016-2017, toàn ngành tập trung triển khai kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”… Đẩy mạnh công
Trang 21tác phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh ở trong và ngoài nhà trường Cung cấp rộng rãi thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu của thị trường lao động, nhằm định hướng các hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, phục
vụ nhu cầu của địa phương Hoàn thiện chương trình giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông Xây dựng chính sách, cơ chế phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông Biên soạn tài liệu giáo dục hướng nghiệp, khởi nghiệp kinh doanh và quản lý giáo dục hướng nghiệp Triển khai thí điểm mô hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễn sản xuất kinh doanh của địa phương, mô hình phối hợp giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đào tạo kỹ năng nghề trong chương trình hướng nghiệp Tăng cường huy động các nguồn lực tài chính và các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo cho việc
tổ chức các hoạt động dạy học giáo dục trong nhà trường theo hướng thực học, lý thuyết gắn với thực hành và thực tiễn, đảm bảo giáo dục cơ bản ở trung học cơ sở, phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp và phân luồng đạt hiệu quả.[8]
Trong văn bản Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học 2016-2017, số 4325/BGDĐT-GDTrH ngày 01 tháng 9 năm 2016, cũng xác định sẽ phải: Hoàn thiện chương trình giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông Đổi mới phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng mục tiêu phân luồng học sinh Dựa vào chương trình dạy nghề phổ thông để chọn lựa, bổ sung các nghề đáp ứng với yêu cầu phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương và điều kiện dạy học của nhà trường [9]
Những vấn đề giáo dục hướng nghiệp, phân luồng ở trường THPT đã
Trang 22được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu và đề cập tới nhiều góc độ khác nhau như: Phạm Tất Dong [13], Nguyễn Văn Hộ [19], Trần Khánh Đức[15], Hà Thế Truyền [32,33,34], Đặng Danh Ánh[1,2], Nguyễn Viết Sự [27],Nguyễn Minh Trí [31], Nguyễn Văn Lê – Hà Thế Truyền – Bùi Văn Quân[20], Nguyễn Trọng Bảo [3], Phạm Huy Thụ[30] Nhìn chung các công trìnhcủa các tác giả đều tập chung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp cho học sinh trung học
Tác giả Nguyễn Trọng Bảo: “Vấn đề GDHN vừa là một vấn đề cơ bản, vừa là một vấn đề cấp bách của nhà trường phổ thông ngày nay” và để làm tốt hơn thì “GDHN phải được quán triệt trong mọi hoạt động của nhà trường Đó không chỉ là nhiệm vụ riêng của nhà trường, của ngành giáo dục,
mà là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và của toàn
xã hội” [3, tr.13-36]
Tác giả Phạm Huy Thụ: “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông yêu cầu cao về sự phù hợp nghề của con người, luôn tính đến sự phát triển nhân cách và sự tiến bộ nghề nghiệp của người lao động Tinh thần nhân đạo được quán triệt trong nội dung hướng dẫn chọn nghề, trong tư vấn nghề nghiệp… Mặt khác công tác hướng nghiệp lại phải bảo đảm quyền bình đẳng chọn nghề của mỗi trẻ em” [30, tr.9]
Các tác giả Nguyễn Văn Lê – Hà Thế Truyền – Bùi Văn Quân đã khẳng định: “Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân” [20, tr.38]
Tóm lại, giáo dục hướng nghiệp, phân luồng đã trở thành vấn đề xã hội mang tính toàn cầu sâu sắc, nhưng các công trình nghiên cứu về quản lí giáo
Trang 23dục hướng nghiệp, phân luồng cho học sinh trung học ở trong nước cũng như ngoài nước còn ít, chưa đi sâu vào nghiên cứu từng vấn đề và sự phù hợp với từng đối tượng học sinh Tuy nhiên, các công trình đó có giá trị về mặt phương pháp lí luận và cơ sở lí luận giúp ích cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu này
1.2 Trường PTDTNT THPT
1.2.1 Đặc điểm trường PTDTNT
Trường PTDTNT là trường chuyên biệt thuộc thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, được thành lập cho con em các dân tộc thiểu số, con em các gia đình định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn cán bộ cho tỉnh Điện Biên
Học sinh là con em các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và con em gia đình dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được học tập và ăn nghỉ nội trú tại trường
1.2.2 Đặc điểm học sinh trường PTDTNT
* Về tình cảm: Học sinh các em có tình cảm rất chân thực mộc mạc, yêu ghét rạch ròi, biểu hiện thầm kín ít bộc lộ Các em gắn bó với gia đình bản làng và người thân, coi trọng tình cảm và giải quyết các vấn đề bằng tình cảm
* Về lối sống: Hồn nhiên, giản dị, chất phác, thật thà Có lòng tự trọng cao, có trách nhiệm với công việc nhưng còn có tính bảo thủ tự ti, khó khăn khi thích nghi với hoàn điều kiện hoàn cảnh mới, môi trường mới
* Về đăc điểm tư duy: Điểm nổi bật của học sinh là khả năng tư duy bằng trực quan – hình ảnh Các em ưa tư duy với sự vật hình ảnh, hình ảnh cụ thể gần gũi với đời sống của mình Tuy nhiên các em dễ thừa nhận điều người khác nói, ít đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến hoặc hậu quả của sự vật, hiện tượng Sự linh hoạt trong tư duy, thay đổi dự kiến còn chậm, năng lực phân tích tổng hợp, khái quát hóa còn hạn chế, thiếu toàn diện
Trang 24* Về khả năng ngôn ngữ: Tiếng Việt đối với các em là ngôn ngữ thứ hai cho nên các em còn gặp nhiều khó khăn, các em thường trả lời những câu hỏi đơn giản, tường minh theo thói quen diễn đạt của ngôn ngữ mẹ đẻ
Với đăc điểm thẳng thắn và thật thà cộng với khả năng diễn đạt tiếng phổ thông còn hạn chế Các em có lòng tự trọng cao nếu gặp phải sự phê bình nặng nề, thiếu tế nhị hoặc kết quả học tập kém, thua kém bạn bè về điều gì đó trong sinh hoạt các em dễ xa lánh thầy cô và bạn bè, bỏ bê việc học tập dẫn tới bỏ học hoặc có những hành động tiêu cực khác
Học sinh có niềm tin sâu sắc vào giáo viên và thực tiễn, các em dễ nghe
dễ tin theo những người mà mình đã tin cậy, đăc biệt là giáo viên Khi các em
đã tin vào giáo viên thì các em rất quyết tâm thực hiện những công việc giáo viên giao
Trong quá trình học tập và GDHN các em thường ít nói, e dè, chưa mạnh dạn và hay xấu hổ, các em thường thiếu ước mơ cần thiết
1.3 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường PTDTNT THPT
1.3.1 Khái niệm hướng nghiệp
Có nhiều lĩnh vực khoa học đề cập đến công tác hướng nghiệp Vì vậy,
để hiểu được bản chất của khái niệm này, tác giả xin đề cập một số định nghĩa khác nhau:
- Phương diện giáo dục: Hướng nghiệp như một hệ thống tác động giúp thế hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề, hệ thống này điều chỉnh sự lựa chọn nghề của học sinh cho phù hợp với những yêu cầu của sự phân công lao động xã hội, có tính hứng thú và năng lực của từng cá nhân
- Phương diện kinh tế học: Hướng nghiệp được hiểu là hệ thống những biện pháp dẫn dắt tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm
sử dụng hợp lí tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước Hướng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu, nâng cao năng suất lao động xã hội,
Trang 25nhằm tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội, sao cho sản phẩm đó mang lại nhiều lợi ích về giá trị
- Trong tâm lý học: Hướng nghiệp được coi như một quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ sự sãn sàng tâm lí đi vào hoạt động nghề nghiệp Sự sẵn sàng tâm lí đó chính là tâm thế lao động – một trạng thái tâm lí tích cực trước hoạt động lao động, để họ yêu thích nghề nghiệp và gắn bó với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn, đảm bảo thích ứng năng lực của bản thân
- Phương diện khoa học lao động: Hướng nghiệp là hình thức giám định lao động có tính chuẩn đoán Đó là quá trình xác lập sự phù hợp của nghề của từng người cụ thể, trên cơ sở xác định sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm– sinh lí của người học với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động
- Hướng nghiệp trong trường THPT: Hướng nghiệp vừa là hoạt động dạy của thầy, vừa là hoạt động học của trò, hướng nghiệp được coi là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề Như vậy, có nghĩa là trong công tác hướng nghiệp, giáo viên là người tổ chức, người hướng dẫn, còn học sinh là người chủ động tham gia vào hoạt động để tiếp cận với hệ thống nghề nghiệp Kết quả cuối cùng của quá trình hướng nghiệp là sự tự quyết định của học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai [20]
Như vây theo chúng tôi: Hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất xã hội Là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp hứng thú năng lực bản thân
1.3.2 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp
Trang 26Có nhiều khái niệm khác nhau về giáo dục hướng nghiệp:
GDHN là hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và
xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lí, tri thức, kỹ năng để họ
có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, lao động sản xuất và cuộc sống GDHN góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội Có thể nói ngắn gọn, GDHN là hướng dẫn cho học sinh ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có ý thức về một nghề mà sau này các em sẽ chọn’’.[24]
Theo tài liệu giáo dục hướng nghiệp trong trường học của Australia thì
“GDNH liên quan đến sự phát triển kiến thức, kĩ năng và thái độ thông qua một chương trình hoạch định sẵn và sẽ giúp học sinh có quyết định về sự lựa chọn nghề trong trường học sau khi tốt nghiệp, giúp học sinh làm việc có hiệu quả hơn’’
Trên bình diện vĩ mô xã hội“Hướng nghiệp nhằm góp phần phân bổ hợp lí và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn nhân lực, vốn quí của đất nước
để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, mang lại phồn vinh cho đất nước’’
Như vây theo chúng tôi: GDHN (trong trường phổ thông) là quá trình điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của thế hệ trẻ nhằm giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân và nghề, giáo dục sự lựa chọn nghề một cách có ý thức nhằm đảm bảo cho con người hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp và đạt năng suất lao động cao
1.3.3 Mục đích của công tác hoạt động GDHN cho học sinh THPT
Theo PGS.TS Đặng Danh Ánh: “Mục đích chủ yếu của HN là phát hiện và bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình và hiểu yêu cầu của nghề, định hướng họ đi vào những nghề mà nhà nước đang có
Trang 27nhu cầu nhân lực” Như vậy, mục đích của HN không phải chỉ dừng ở chỗ
“phát hiện” mà quan trọng hơn là phải “bồi dưỡng” cho được các tố chất của mỗi cá nhân để ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn các yêu cầu biến động không ngừng của nền kinh tế - xã hội, giúp cho tự tin và “sáng suốt” chọn lấy một nghề phù hợp nhất cho mình
Hiện nay cả nước ta đang hướng tới mục tiêu là từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa đất nước từ một nước công nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp văn minh hiện đại Để từng bước thực hiện được mục tiêu này trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ II ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục – đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” đồng thời Đảng ta cũng xác định: cần tăng cường hơn nữa GDHN, mở rộng và phát triển dạy nghề…Ngoài ra, trong Báo cáo chính trị của đại hội Đảng lần thứ IX cũng đã
khẳng định rằng: “Ở mọi cấp học, bậc học, kết hợp dạy và học lý thuyết với thực nghiệm và thực hành, gắn công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, nhà trường và cơ sở đào tạo phối hợp với các tổ chức khoa học và các cán bộ kỹ thuật truyền bá tri thức sản xuất, chuyển giao công nghệ cho nhân dân Coi trọng công tác HN và phân luồng học sinh Trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Nhanh chóng hiện đại hóa một số trường dạy nghề, tăng tỷ lệ được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội, khuyến khích phát triển hệ thống trường lớp dạy nghề tư thục và dân lập trang bị cho thanh thiếu niên những kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu công nghệ mới để tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập thân, lập nghiệp” [14]
Qua hàng loạt các công trình nghiên cứu và điều tra xã hội học cho
Trang 28chúng ta thấy thưc trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay được thể hiện rõ nét qua hệ thống đào tạo nhân lực có hàng trăm trường đại học, cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, trường nghề nhờ vậy quy mô đào tạo được tăng nhanh, trình độ người lao động đã được nâng cao Tuy nhiên, chúng ta vẫn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, bất hợp lý về cơ cấu trình độ ngành nghề, vùng miền, lao động phổ thông dư thừa lớn, thiếu hụt lao động có trình
độ chuyên môn, chuyên gia cao cấp, mất cân đối giữa các nghề nhưng tỷ lệ thất nghiệp cao, HS nhiều nhưng năng lực hành nghề thấp Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta đã đặt ra yêu cầu cần được điều chỉnh cơ cấu lao động kỹ thuật theo hướng: tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, mở rộng quy mô đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề Đồng thời điều chỉnh cơ cấu đào tạo ngành nghề, tăng tỷ lệ đào tạo công nhân kỹ thuật, Trung cấp…giảm tỷ lệ đào tạo đại học để đảm bảo cân đối trong cơ cấu lao động xã hội
Như vậy, mục đích của HN là giúp cho HS có được ý thức như là chủ thể trong sự lựa chọn nghề, có định hướng đúng khi chọn nghề dựa trên cơ sở hiểu biết khoa học về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động xã hội và năng lực, sở trường của bản thân
Học sinh THPT là bộ phận thanh niên đến tuổi trưởng thành, được tiếp cận với một hệ thống kiến thức từ quá trình học tập ở trường phổ thông và được trải nghiệm thực tiễn thông qua những dạng lao động trong gia đình, trong các tổ chức đoàn thể, hàng ngày được tiếp cận các dạng thông tin nghề nghiệp và chính những điều kiện này đã giúp cho các em hình thành được những cơ sở xác đáng về kiến thức về kĩ năng và đặc biệt là sự trưởng thành đáng kể trong nhận thức đối với ý nghĩa cuộc sống, vị trí của bản thân, có được sự thử thách ban đầu trong lao động nghề nghiệp, góp phần vào đời
Trang 29sống gia đình, tạo ra những tiền đề cho quá trình thích ứng nghề nghiệp sau này Một số học sinh có ý trí vươn lên, ngay từ khi còn học phổ thông đã tích cực học thêm các môn học cần cho nhiều nghề như: tin học, ngoại ngữ…Với cái nền rất đáng quý đó của học sinh THPT, nhiệm vụ HN đối với các em không chỉ dừng lại ở mức độ nâng cao nhận thức và sự hiểu biết kĩ càng hơn về nghề mà còn là quá trình xác lập những điều kiện hiện thực để đưa các em vào hoạt động trong thế giới nghề nghiệp, tạo ra sự thích ứng ở mức độ nhất định với nghề hoặc lĩnh vực lao động mà họ ưa thích
1.3.4 Nội dung của hoạt động giáo dục HN cho học sinh THPT
1.3.4.1 Cho học sinh làm quen với các ngành nghề của nền kinh tế quốc dân
và với các loại hình thông tin sau
+ Thông tin về thế giới nghề nghiệp bằng cách phân loại nghề theo đối tượng lao động
+ Thông tin về nghề cụ thể theo bản mô tả nghề
+ Thông tin về hệ thống các trường đào tạo
+ Thông tin về thị trường lao động
Tóm lại, nhiệm vụ của thông tin tuyên truyền nghề là phải tạo được dư luận xã hội tích cực đối với các nghề trong các lĩnh vực Công nghiệp, Nông – Lâm – Ngư nghiệp, Giao thông vận tải, Dịch vụ , Y tế, Văn hoá và Giáo dục, đặc biệt là những nghề mà địa phương các em đang cần nhằm tác động vào tình cảm học sinh, làm cho các em thích thú muốn vào học một ngành nghề
cụ thể sau khi tốt nghiệp phổ thông
1.3.4.2 Tổ chức các hoạt động nhằm hình thành hứng thú nghề, năng lực nghề chuẩn bị cho học sinh chọn nghề có ý thức
GDHN là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục đào tạo, là một trong những nhiệm vụ hoạt động của nhà trường phổ thông Song để đạt kết quả tốt trong công tác này đòi hỏi cán bộ quản lí nhà trường cùng các giáo
Trang 30viên phải biết tổ chức nhiều mặt hoạt động một cách đồng bộ nhằm hình
thành “nhân cách nghề nghiệp” cho học sinh Qua thực tiễn, có thể nêu lên
một số hoạt động chính sau đây để thực hiện nội dung GDHN này:
+ Thực hiện chương trình HN chính khoá
+ HN qua dạy học các môn văn hóa
+ HN qua dạy môn công nghệ và dạy nghề phổ thông
+ HN qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp (SHHN)
+ Tổ chức hoạt động ngoại khoá (HĐNK)
Tóm lại, có thể tổ chức nhiều hoạt động cho học sinh chuẩn bị chọn nghề Chính các hoạt động này là điều kiện, là cơ sở để nâng cao hiệu quả của công tác HN, đồng thời đó cũng là những chiếc nôi gieo mầm hứng thú và khuynh hướng nghề nghiệp cho học sinh
1.3.4.3 Tư vấn nghề
Tư vấn nghề cho học sinh phổ thông thường có hai loại: tư vấn sơ bộ và
tư vấn chuyên sâu
* Loại tư vấn sơ bộ: Đây là loại tư vấn đơn giản, có thể thực hiện ở
nhiều trường vì không đòi hỏi phải có máy móc, thiết bị hoặc các phương tiện kĩ thuật để chẩn đoán phẩm chất, đặc điểm tâm lí sức khoẻ, của học sinh; cũng không đòi hỏi đội ngũ chuyên gia tư vấn có tay nghề cao, am hiểu sâu về tâm sinh lí, y học, giáo dục và kinh tế học Trong tư vấn sơ bộ, thầy đóng vai trò “nhà tư vấn” nên cần có những hiểu biết nhất định về một
số ngành nghề ở các trường đang đào tạo hoặc đang phát triển ở địa phương (chú ý các nhu cầu về nhân lực, về năng lực cá nhân học sinh) Từ
đó cho các em một “lời khuyên” nên chọn nghề gì và học ở đâu? Hoặc qua
phân tích, khuyên giải của thầy, học sinh có thể tự trả lời các câu hỏi: Em
có muốn học nghề đó không?; Khả năng của em có phù hợp với nghề này không? và Nghề đó có cần cho xã hội không?
Trang 31* Loại tư vấn chuyên sâu: Đây là loại tư vấn phức tạp do tư vấn được
tiến hành trên cơ sở khoa học, bảo đảm tính chính xác cao Muốn vậy phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn có tay nghề cao, gồm: các nhà tâm lí học, giáo dục học, bác sĩ được bồi dưỡng về công tác tư vấn Các chuyên gia cần phải có hiểu biết sâu về các khối kiến thức sau:
- Kiến thức về thế giới nghề nghiệp và các yêu cầu của nghề
- Kiến thức về nhân cách, trước hết là về động cơ, hứng thú, khuynh hướng và năng lực nghề nghiệp của học sinh
- Kiến thức về kinh tế, về nhu cầu phát triển nhân lực của các ngành kinh tế quốc dân và ở địa phương
Đồng thời, các chuyên gia còn phải biết: phương pháp điều tra, đánh giá
để điều tra nhân cách, điều tra trí tuệ và điều tra hệ tâm lí vận động Đi cùng các phương pháp này là các thiết bị, các phương tiện kĩ thuật có thể đơn giản
và cũng có thể là phức tạp và tốn kém Vì vậy, khi có điều kiện nên xây dựng
ở mỗi địa phương một phòng tư vấn chuyên sâu
1.3.4.4 Nghiên cứu học sinh
Là một phần quan trọng trong cấu trúc HN để nghiên cứu “nhân cách nghề nghiệp” của học sinh Trong “nhân cách nghề nghiệp” có các thành tố liên quan đến chọn nghề là “động cơ chọn nghề”, “hứng thú nghề nghiệp”,
“khuynh hướng và năng lực nghề nghiệp”
Để nghiên cứu nhân cách học sinh, người ta thường dùng phương pháp quan sát với các nội dung cụ thể là:
+ Phân tích kết quả học tập các môn khác nhau nhằm đánh giá khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
+ Phân tích bài làm và các sản phẩm của học sinh làm ra qua các giờ dạy lao động kĩ thuật
+ Theo dõi sự phát triển tính cách, các phẩm chất, ý chí trạng thái xúc
Trang 32cảm, khả năng tập trung chú ý, tính kiên trì theo đuổi mục đích đã đặt ra, quan sát mối quan hệ với các bạn trong tập thể
1.3.5 Hình thức tổ chức công tác giáo dục HN
1.3.5.1 Qua hoạt động dạy học các bộ môn văn hoá, khoa học cơ bản
Trong nhà trường phổ thông, các môn văn hóa, khoa học cơ bản giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển toàn diện nhân cách của học sinh Chúng đặt nền tảng cho sự hiểu biết các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy đồng thời cung cấp những cơ sở khoa học cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp; giúp cho việc xây dựng và phát huy những năng lực sở trường đa dạng của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống và lao động nghề nghiệp
Môn học nào cũng cần và cũng có khả năng HN cho học sinh Người
cán bộ quản lý trường học và giáo viên phải có nhận thức đúng đắn về GDHN, đồng thời luôn có ý thức quán triệt tinh thần HN trong từng bài dạy văn hóa của các môn học trong nhà trường Nếu tích hợp tốt nội dung GDHN trong từng môn học thì chất lượng giảng dạy và học tập sẽ được nâng cao Vấn đề là biết khai thác những tư liệu nói về nghề nghiệp và biết vận dụng vào nội dung bài học như thế nào
1.3.5.2 Qua dạy – học môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông và giáo dục lao động
* HN qua dạy - học môn Công nghệ : môn Công nghệ là tên gọi của môn
kỹ thuật trước đây, nay được dùng trong chương trình đổi mới của giáo dục phổ thông ở bậc trung học cơ sở và bậc trung học phổ thông Chương trình môn Công nghệ bao gồm kỹ thuật phục vụ, kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật công nghiệp; ở bậc trung học phổ thông, chương trình tập trung vào các lĩnh vực nông
- lâm - ngư nghiệp, tạo lập doanh nghiệp và kỹ thuật công nghiệp
Qua đó cho thấy môn Công nghệ có khả năng HN rất lớn Mặc dù học
Trang 33sinh chưa thật sự đi sâu vào kỹ thuật nghề nghiệp, nhưng qua việc học kỹ thuậtcác ngành nghề các em có điều kiện hiểu về những yêu cầu của nghề thuộc các ngành này trong xã hội Nếu đảm bảo khâu thực hành một cách đầy đủ nghiêm túc, học sinh sẽ được thử sức mình với hoạt động kỹ thuật cụ thể, qua đó các em sẽ phát hiện và đánh giá đúng hơn năng lực kỹ thuật của bản thân mình, hứng thú kỹ thuật được phát triển mạnh và ngày càng bền vững Đó là điều kiện rất thuận lợi cho việc định hướng nghề nghiệp của các em
* Hướng nghiệp qua hoạt động dạy nghề phổ thông:
Giáo dục nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục HN cho học sinh phổ thông, một bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện
Giáo dục nghề phổ thông chuẩn bị một số kỹ năng lao động có kỹ thuật cho học sinh và góp phần định hướng nghề để học sinh có thể vận dụng vào cuộc sống lao động và lựa chọn hướng phát triển phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh củng cố và vận dụng những hiểu biết và kỹ năng được trang bị ở môn công nghệ và các môn học khác vào những điều kiện thực tiễn cụ thể
Giáo dục nghề phổ thông chính là một con đường để HN cho học sinh
* Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông qua hoạt động giáo dục lao động:
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các khái niệm về giáo dục lao động đều thống nhất ở một số điểm chung là:
+ Giáo dục lao động là một bộ phận cơ bản của giáo dục phổ thông xã hội chủ nghĩa và là một nội dung giáo dục toàn diện
+ Giáo dục lao động không chỉ đơn thuần tổ chức cho học sinh tham gia lao động mà có nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp cho học sinh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo về lao động và giáo dục thái độ lao động Thông qua
đó, hình thành và phát triển nhân cách, giúp học sinh có đủ năng lực và phẩm chất, sẵn sàng về tâm thế để tham gia vào cuộc sống lao động sau khi rời ghế
Trang 34nhà trường
+ Giáo dục lao động gắn bó hữu cơ với giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp
1.3.5.3 Qua hoạt động chuyên biệt giáo dục hướng nghiệp
Hoạt động GDHN là con đường cơ bản, có tầm quan trọng đặc biệt trong
HN cho học sinh phổ thông vì nó cung cấp cho học sinh những thông tin nghề nghiệp, hệ thống đào tạo và thị trường lao động một cách có hệ thống, có chủ đích Đồng thời qua hoạt động GDHN, các em biết được về năng lực cá nhân, điều kiện và truyền thống gia đình để định hướng lựa chọn nghề trong thế giới nghề nghiệp, chọn hướng đi sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông một cách
có ý thức, có cơ sở khoa học nhằm đạt được ước mơ đích thực của mình
Trong „Định hướng về phương pháp tổ chức hoạt động GDHN cho học
sinh THPT“ thì các em sẽ được tham gia nhiều dạng hoạt động như:
- Tìm hiểu nghề qua nhiều con đường khác nhau: qua bản mô tả nghề, nghe giới thiệu về nghề, điều tra xã hội
- Thảo luận tìm ra cách thức giải quyết những vấn đề về chọn nghề phù hợp; về các cơ hội, con đường học tập để đạt được ước mơ của bản thân sau khi tốt nghiệp THPT; về cách thức vượt qua những khó khăn trong những giai đoạn chuyển tiếp trong học tập, tìm việc làm và ngay cả khi không đạt được ước mơ của mình
- Trao đổi với phụ huynh học sinh về việc định hướng nghề cho học sinh
- Giao lưu với những điển hình, những gương vượt khó trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, học tập Giao lưu giữa các khối, lớp, cụm trường về chủ đề HN
- Tham quan ngoại khóa theo các chủ đề
- Thực tập lao động nghề qua học nghề phổ thông
- Đóng vai mô phỏng (chẳng hạn mô phỏng tuyển chọn nghề)
Trang 35Hoạt động GDHN sẽ được tổ chức theo chủ đề từng tháng được qui định theo phân phối chương trình với thời lượng 2 tiết/lớp/tháng ở bậc THPT
1.3.5.4 Qua hoạt động ngoại khoá ở trong và ngoài nhà trường
Thông qua hoạt động ngoại khóa học sinh có thể thu nhận được những thông tin về các ngành nghề, về nhu cầu nhân lực của xã hội, qua đó có sự phát triển năng khiếu cũng như sự phân hóa năng lực của HS rất mạnh, đồng thời các em cũng có điều kiện thử sức mình với những ngành nghề mà định chọn, biểu hiện khuynh hướng nghề nghiệp ngày càng rõ, càng chính xác
Có nhiều hình thức hoạt động ngoại khóa về HN ở trong và ngoài nhà trường như:
+ Xây dựng các tổ ngoại khóa, đặc biệt là các tổ ngoại khóa về kỹ thuật, nhằm phát triển hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp của học sinh
+ Xây dựng góc hoặc phòng HN
+ Tổ chức cho học sinh đọc sách báo, nghe đài, xem truyền hình, phim ảnh , tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ giáo dục HN + Có thể tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi HN giúp các em làm quen dần với hoạt động nghề nghiệp của xã hội
+ Động viên học sinh tích cực tham gia hoạt động HN của các đoàn thể, của cơ sở sản xuất, các cơ sở giáo dục ở ngoài nhà trường tổ chức (thăm quan các cơ sở sản xuất, các trường dạy nghề , )
1.4 Quản lý GDHN cho học sinh ở trường PTDTNT THPT
1.4.1 Khái niệm về quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về QL và tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị
F.W.Taylor (1856-1915), người được mệnh danh là cha đẻ của lý luận
quản lý khoa học, đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải QL chặt chẽ” “QL là nghệ thuật biết
Trang 36rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [12].
Henry Fayol (1841- 1925), cha đẻ của thuyết hành chính thì lại coi QL
là một loại công việc đặc thù, khác với các loại công việc khác của xí nghiệp
và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể nào thay thế được Ông nói về nội hàm
của khái niệm QL như sau: “QL tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”[16]
Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và
Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận động các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức ,chỉ đạo lãnh đạo và kiểm tra, đánh giá”[11]
Như vậy, những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận, nhưng các định nghĩa đều đề cập đến bản chất chung của khái niệm QL đó là:
+ QL bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định + QL là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể
QL
+ QL xét cho đến cùng, bao giờ cũng là QL con người
+ QL là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan
QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Là một khoa học vì các hoạt động QL luôn là một HĐ có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm lý khác nhau thì tác động của QL mới có kết quả Mỗi cấp QL cũng cần ứng dụng lý luận chung và lý luận cụ thể cho phù hợp với qui mô tổ chức và đặc thù hoạt động
Trang 37của mình thì những quy luật trong QL mới phát huy tác dụng Tác động QL thường mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau Vì vậy, trong QL không thể tuân thủ theo những quy định cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm
dẻo
1.4.2 Khái niệm về quản lý giáo dục hướng nghiệp
Hướng nghiệp ở trường phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực Vì vậy, quản lý GDHN ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay là quản lý các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình GDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN Các thành
tố và mối quan hệ này được biểu diễn bằng sơ đồ 1.1 sau đây
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc
của quá trình GDHN
Từ đó, theo chúng tôi có thể đưa khái niệm về quản lí GDHN như sau:
Quản lí GDHN trong nhà trường THPT là một hoạt động tác động hợp lí có
kế hoạch, nội dung, phương pháp, chương trình, mục đích của nhà quản lý
Lực lượng GDHN
Hình thức GDHN
Kết quả GDHN
Môi trường
xã hội
Trang 38(hiệu trưởng) đến từng học sinh giúp các em lựa chọn ngành nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu xã của hội
1.4.3 Nội dung quản lý GDHN
1.4.3.1 Quản lý chương trình GDHN
* Mục tiêu: GDHN nhằm giúp học sinh hiểu được ý nghĩa, tầm quan
trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai Các em biết được những thông tin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước
và khu vực; về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục nghề nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, CĐ,ĐH) ở địa phương và
cả nước Biết tự đánh giá năng lực bản thân và điều kiện gia đình trong việc lựa chọn nghề nghiệp, lập thân, lập nghiệp tương lai sau khi tốt nghiệp THPT
- Các em có kỹ năng tự đánh giá được năng lực bản thân và gia đình trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của bản thân
- Chủ động tự tin chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân, điều kiện gia đình và nhu cầu xã hội
Vì vậy quản lý mục tiêu GDHN chính là quản lý chương trình phù hợp với học sinh phổ thông, đồng thời quản lý tốt đội ngũ giáo viên làm công tác GDHN, cơ sở vật chất, trang thiết bị
* Nội dung, phương pháp GDHN
- Xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung chương trình GDHN.Kế hoạch phải xây dựng một cách toàn diện hệ thống đảm bảo tính liện tục, tính thống nhất của mọi hoạt động GDHN trong suốt một năm học Để thực hiện tốt kế hoạch
đó cần phân định rõ những nhiệm vụ hoạt động cụ thể ở từng tuần, từng
tháng
Xây dựng kế hoạch GDHN có mục đích là dự báo mục đích cần đạt tới đối với GDHN trong năm học, mô hình hoá nội dung công việc, chương trình hoá hành động, lựa chọn các biện pháp thực hiện tối ưu nhất, phân công nhiệm
Trang 39vụ cho người phụ trách, kinh phí, điều kiện và thời gian hoàn thành các hoạt động đó
- Tổ chức thực hiện chương trình GDHN Trong quá trình triển khai dạy
HN, các giáo viên phải chuẩn bị giáo án đúng với kế hoạch giảng dạy đã duyệt và các vật tư, dụng cụ, đồ dùng giảng dạy chu đáo theo yêu cầu từng chủ đề, từng hình thức Thông qua tổ chuyên môn, Hiệu trưởng chỉ đạo sát sao việc dự giờ thăm lớp, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của từng giáo viên, kịp thời có điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp
- Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động GDHN
- Dựa trên các yêu cầu, nhiệm vụ được phân công và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng người để có những động viên khuyến khích, kịp thời Nắm bắt tâm tư nguyện vọng của học sinh để động viên, điều chỉnh phù hợp giúp các em có tinh thần học tập, yêu thích môn học hơn
- Công tác kiểm tra, đánh giá là chức năng cuối cùng của quản lý Đay là một dạng hoạt động nghiệp vụ quản lý của Hiệu trưởng, nhằm kiểm soát, phát hiện, so sánh kết quả hoạt động dạy học và giáo dục với mục tiêu, kế hoạch đề
ra Qua đó, phát hiện ưu điểm để động viên, khích lệ hoặc uốn nắn, điều chỉnh những thiếu sót nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo của nhà trường Nhiệm vụ của kiểm tra đánh giá được mô tả bằng sơ đồ tổng quát dưới đây
Sơ đồ 1.2 Tổng quát nhiệm vụ kiểm tra đánh giá
Kiểm tra
Quyết định biện pháp Tìm nguyên nhân
Trang 40- Hướng nghiệp qua hoạt động chuyên biệt giáo dục hướng nghiệp
- Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa, qua các buổi tham quan học tập tại các cơ sở kinh doanh, sản xuất và qua hoạt động giáo dục khác
1.4.3.3 Quản lý về đội ngũ làm GDHN và cơ sở vật chất phục vụ cho GDHN
Thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh
Thực hiện nhiệm vụ tư vấn, tổ chức ngoại khóa, thăm quan
- Quản lý việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả GDHN của giáo viên
- Theo dõi, đôn đốc thực hiện, đánh giá được kết quả thực hiện các nhiệm vụ GDHN của GV
- Theo dõi, chỉ đạo thực hiện và đánh giá được kết quả thực hiện việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV
- Xác định được các ưu, nhược điểm, đánh giá được sự tiến bộ về các mặt chính trị - tư tưởng, phẩm chất đạo đức của từng giáo viên, đề ra các