1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc

168 602 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng cách chia nguồn vốn xã hội của doanh nghiệp thành 4 nhóm là: mạng lưới với lãnh đạo chính quyền, mạng lưới với hiệp hội doanh nghiệp, mạng lưới với tổ chức cho vay chính thức, mạng

Trang 1

ĐặNG CÔNG THứC

NGHIÊN CứU CáC NHÂN Tố ảNH hưởng đến lựa chọn nguồn t i trợ vốn của dnnvv %

trường hợp tiểu vùng tây bắc

Trang 2

ĐặNG CÔNG THứC

NGHIÊN CứU CáC NHÂN Tố ảNH hưởng đến lựa chọn nguồn t i trợ vốn của dnnvv %

trường hợp tiểu vùng tây bắc

Trang 3

CAM KẾT CỦA NGHIÊN CỨU SINH

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến người hướng dẫn khoa học của luận

án đã giúp tôi những quy chuẩn về nội dung, kiến thức và phương pháp nghiên cứu

để hoàn thành luận án này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người!

Trang 5

MỤC LỤC

CAM KẾT CỦA NGHIÊN CỨU SINH

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN ÁN 1

1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng 3

1.4.2 Phạm vi 3

1.5 Phương pháp và quy trình nghiên cứu 3

1.5.1 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5.2 Quy trình nghiên cứu 4

1.6 Các đóng góp của luận án 6

1.7 Bố cục luận án 7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN NGUỒN TÀI TRỢ VỐN CỦA DNNVV 8

2.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 8

2.1.1 Tổng quan về lựa chọn tài trợ vốn của DNNVVV 8

2.1.2 Khoảng trống của các công trình đã công bố 15

2.2 Cơ sở lý thuyết 17

2.2.1 Các lý thuyết cơ cấu vốn và lựa chọn nguồn tài trợ vốn 17

2.2.2 Lý thuyết tài chính hành vi và lựa chọn nguồn tài trợ vốn 18

2.2.3 Lý thuyết vốn xã hội và lựa chọn nguồn tài trợ vốn 21

2.2.4 Lựa chọn lý thuyết phù hợp cho nghiên cứu 24

2.2.5 Khái quát về các nhân tố ảnh hưởng 25

2.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 32

Tóm tắt chương 2 34

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LỰA CHỌN CÁC NGUỒN TÀI TRỢ VỐN CỦA DNNVV TÂY BẮC 35

3.1 Khái quát về DNNVV Việt Nam 35

3.1.1 Định nghĩa DNNVV 35

3.1.2 Vai trò của DNNVV 37

3.2 Khái quát thị trường tài chính ở Việt Nam 40

3.2.1 Thị trường tài chính chính thức 40

3.2.2 Thị trường tài chính không chính thức 42

3.3 Khái quát về các nguồn tài trợ vốn cho DNNVV 44

3.3.1 Phân loại nguồn tài trợ vốn 44

3.3.2 Các nguồn tài trợ vốn cho DNNVV Việt Nam 47

3.4 Khái quát về các DNNVV Tây Bắc 50

3.4.1 Về số lượng 50

Trang 6

3.4.2 Về cơ cấu 51

3.4.3 Hoạt động kinh doanh của DNNVV Tây Bắc 53

3.5 Thực trạng nguồn vốn và lựa chọn nguồn vốn của DNNVV Tây Bắc 55

3.5.1 Thực trạng nguồn vốn 55

3.5.2 Thực trạng lựa chọn nguồn vốn 58

3.6 Đánh giá thực trạng nguồn tài trợ vốn của DNNVV Tây Bắc 62

3.6.1 Các nhận xét 62

3.6.2 Phân tích các nguyên nhân 63

Tóm tắt chương 3 68

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 69

4.1 Nghiên cứu định tính 69

4.1.1 Mục tiêu nghiên cứu định tính 69

4.1.3 Kết quả nghiên cứu định tính 70

4.2 Nghiên cứu định lượng 72

4.2.1 Mục tiêu nghiên cứu định lượng 72

4.2.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng 72

4.3 Thống kê mô tả các DNNVV trong mẫu nghiên cứu 81

4.3.1 Thống kê đặc điểm của chủ doanh nghiêp 81

4.3.2 Thống kê đặc điểm của doanh nghiệp 84

4.3.3 Thống kê đặc điểm về nguồn vốn của DNNVV 85

4.3.4 Thống kê kết quả khảo sát yếu tố hành vi tài chính, mạng lưới xã hội 87

4.4 Kiểm định sự phù hợp của thang đo và phân tích nhân tố khám phá 91

4.4.1 Kiểm định sự phù hợp của thang đo 91

4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá 92

4.5 Kiểm định mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc 94

4.5.1 Kiểm định sự tham gia tín dụng và các biến độc lập 94

4.5.2 Kiểm định lựa chọn tín dụng và các biến độc lập 101

4.6 Hồi quy đa biến các nhân tố ảnh hưởng đến tham gia và lựa chọn tín dụng 108

4.6.1 Hồi quy đa biến các nhân tố ảnh hưởng đến tham gia tín dụng của các DNNVV 108 4.6.2 Hồi quy đa biến các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn tín dụng 113

Tóm tắt chương 4 120

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ KHUYẾN NGHỊ 121

5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 121

5.2 Một số khuyến nghị 122

5.2.1 Khuyến nghị với các DNNVV và các hiệp hội doanh nghiệp 122

5.2.2 Khuyến nghị với các ngân hàng thương mại 125

5.2.3 Khuyến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước 128

5.3 Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo 128

Tóm tắt chương 5 130

KẾT LUẬN 131 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á

CIC Trung tâm thông tin tín dụng

CIEM Viện nghiên cứu kinh tế trung ương

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

EFA Phân tích nhân tố khám phá

SXKD Sản xuất kinh doanh

SMEDF Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ

BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn của DNNVV Hồ Chí Minh 12

Bảng 2.2 Một số định nghĩa tiêu biểu về vốn xã hội 21

Bảng 2.3: Bộ tiêu chuẩn và tiêu chí đo lường vốn xã hội 23

Bảng 3.1: Tiêu chí xác định DNNVV của Ngân hàng thế giới 35

Bảng 3.2: Tiêu chí phân loại DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ - CP 36

Bảng 3.3: Số lượng các DNNVV vùng Tây Bắc giai đoạn 2000 - 2015 51

Bảng 3.4 Số DNNVV Tây Bắc theo hình thức sở hữu năm 2015 52

Bảng 3.5 Số DNNVV Tây Bắc theo hình thức pháp lý năm 2015 52

Bảng 3.6 Cơ cấu ngành kinh doanh của DNNVV Tây Bắc 2015 53

Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu kinh doanh của DNNVV Tây Bắc năm 2014 53

Bảng 3.8: Chỉ tiêu kinh doanh quan trọng của DNNVV Tây Bắc năm 2014 55

Bảng 3.9: Cơ cấu nguồn vốn của DNNVV Tây Bắc giai đoạn 2011 - 2015 55

Bảng 3.10: Lựa chọn các nguồn vốn của DNNVV Tây Bắc 58

Bảng 3.11: Nguồn huy động vốn qua ngân hàng thương mại 59

Bảng 3.12: Nguồn huy động vốn qua tổ chức tài chính phi ngân hàng 60

Bảng 3.13: Nguồn huy động vốn qua người thân, bạn bè 61

Bảng 3.14: Nguồn huy động vốn qua các nguồn khác 61

Bảng 3.15: Tình hình tiếp cận các khoản vay ưu đãi 62

Bảng 4.1 Trình tự thực hiện nghiên cứu định lượng 72

Bảng 4.2: Đặc điểm về của chủ doanh nghiệp 82

Bảng 4.3: Đặc điểm của doanh nghiệp khảo sát 84

Bảng 4.4 Đặc điểm nguồn vốn của các doanh nghiệp được khảo sát 86

Bảng 4.5 Thống kê các yếu tố thuộc hành vi tài chính 88

Bảng 4.6 Thống kê thái độ đối với nợ của chủ sở hữu 89

Bảng 4.7 Thống kê mức độ sử dụng mối quan hệ, mạng lưới với các nhóm 90

Bảng 4.8: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến Thái độ với nợ 91

Bảng 4.9: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến mạng lưới xã hội 92

Bảng 4.10: Kết quả phân tích EFA với số liệu thu được 93

Bảng 4.11: Thống kê mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và tham gia tín dụng 95

Bảng 4.12 Kiểm định Chi - Square test mối quan hệ giữa tham gia tín dụng với các biến đặc điểm của chủ sở hữu/doanh nghiệp 96

Bảng 4.13 Thống kê mối quan hệ giữa các biến hành vi và tham gia tín dụng 97

Trang 9

Bảng 4.14 Kiểm định Chi -Square test giữa tham gia tín dụng và các biến tài

chính hành vi 99

Bảng 4.15: Thống kê mối quan hệ giữa các biến vốn xã hội và tham gia tín dụng 100

Bảng 4.16 Kiểm định Chi -Square test giữa tham gia tín dụng và biến vốn xã hội 101

Bảng 4.17: Thống kê mối quan hệ giữa các biến kiểm soát và lựa chọn tín dụng 102

Bảng 4.18 Kiểm định Chi -Square test giữa lựa chọn tín dụng và biến kiểm soát 103

Bảng 4.19 Thống kê mối quan hệ giữa các biến hành vi và lựa chọn tín dụng 104

Bảng 4.20 Kiểm định Chi -Square test giữa lựa chọn tín dụng và các biến tài chính hành vi 106

Bảng 4.21 Thống kê mối quan hệ giữa các biến vốn xã hội và lựa chọn tín dụng 107 Bảng 4.22 Kiểm định Chi -Square test giữa lựa chọn tín dụng và biến vốn xã hội108 Bảng 4.23: Tổng hợp hệ số mô hình hồi quy tham gia tín dụng lần 1 109

Bảng 4.24: Tóm tắt mô hình hồi quy tham gia tín dụng lần thứ hai 110

Bảng 4.25: Khả năng dự báo của mô hình lựa tham gia tín dụng 110

Bảng 4.26: Tổng hợp hệ số hồi quy tham gia tín dụng lần 2 111

Bảng 4.27: Khả năng dự đoán của mô hình 113

Bảng 4.28: Tổng hợp hệ số hồi quy lựa chọn tín dụng lần 1 114

Bảng 4.29: Tổng hợp hệ số hồi quy lần thứ hai 115

Bảng 4.30: Kiểm định Omnibus 116

Bảng 4.31: Tóm tắt mô hình 116

Bảng 4.32: Khả năng dự báo của mô hình 117

Bảng 4.33: Tổng hợp hệ số hồi quy lựa chọn tín dụng lần ba 117

BIỂU ĐỒ Biểu 3.1 Tình trạng nguồn vốn của các DNNVV Tây Bắc 56

Biểu 3.2: Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn 57

Biểu 3.3: Nhu cầu, thời hạn khoản vay 57

HÌNH Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận án 5

Hình 2.1: Trật tự ưu tiên các nguồn tài trợ 9

Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu lý thuyết 33

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN ÁN

1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là bộ phận năng động và có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế của mọi quốc gia Không chỉ góp phần tăng trưởng GDP, các DNNVV còn là lĩnh vực chủ chốt trong tạo việc làm, thúc đẩy tiến bộ công nghệ và nâng cao mức sống của người dân Tại Việt Nam số lượng DNNVV chiếm 97% tổng số doanh nghiệp cả nước, đóng góp gần 40% GDP quốc gia, 14,8% tổng thu ngân sách Nhà nước, khoảng 29% kim ngạch xuất khẩu, giải quyết hơn 60% lao động phi nông nghiệp trong cả nước (Hồ Sỹ Hùng, 2007; CIEM, 2011) Bởi vậy sự phát triển ổn định và bền vững của DNNVV đối với nền kinh tế Việt Nam là rất quan trọng

Tuy nhiên, cũng như các DNNVV trên toàn cầu các DNNVV Việt Nam cũng gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn đảm bảo cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh Mặc dù Nhà nước có nhiều chính sách nhằm tháo gỡ những khó khăn về vốn, đặc biệt các giải pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho DNNVV nhưng kết quả vẫn chưa được như mong muốn Đa số các DNNVV luôn trong tình trạng thiếu vốn

và chỉ một số ít trong đó (20%) tiếp cận được vốn vay ngân hàng và (80%) doanh nghiệp còn lại khó tiếp cận vay ngân hàng hoặc ngân hàng cho vay không ổn định

bè, nhóm tự giúp đỡ, cá nhân cho vay, tổ chức cầm đồ mặc dù nguồn này chỉ tài trợ khoảng 8% - 9% nhu cầu đầu tư (CIEM, 2013)

Các DNNVV có những đặc tính khác với các doanh nghiệp lớn Sự khác biệt này dẫn đến sự khác nhau trong xu hướng cũng như hành vi của doanh nghiệp trong các quyết định tài chính Các cơ sở khoa học cho giải thích và dự báo áp dụng cho doanh nghiệp lớn đôi khi không phù hợp khi vận dụng vào bối cảnh của DNNVV Bởi vậy các chính sách, giải pháp cho DNNVV phải được xây dựng trên

Trang 11

cơ sở khoa học phù hợp và được thực nghiệm đầy đủ Điều này đỏi hỏi phải được nhìn nhận, phân tích trên một góc độ mới mẻ và năng động hơn Có rất ít các nghiên cứu về hành vi của DNNVV trong các quyết định tài chính dựa trên lý thuyết tài chính hành vi và lý thuyết vốn xã hội mà chủ yếu dựa trên lý thuyết cơ cấu vốn truyền thống

Tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu là khu vực trọng điểm về an ninh - quốc phòng Đặc thù kinh tế xã hội chính trị của vùng Tây Bắc khiến vai trò của DNNVV càng trở nên có ý nghĩa khi đa phần người dân Tây Bắc có tâm lý ỷ lại, không muốn thoát nghèo, phụ thuộc vào các hỗ trợ bao cấp của Nhà nước Do vậy, nhiều nghiên cứu trước đây đã cho rằng hỗ trợ các DNNVV phát triển hoạt động kinh doanh và tiếp cận vốn dễ dàng hơn sẽ ngay lập tức và trực tiếp tạo ra việc làm và giá trị kinh tế cho vùng Tây Bắc

Chính vì các lý do kể trên NCS chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh

hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa - Trường hợp tiểu vùng Tây Bắc” làm luận án tiến sĩ của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án được thực hiện để giải quyết 3 mục tiêu:

Thứ nhất: Tìm hiểu hành vi lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV thông qua việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tín dụng và lựa chọn tín dụng

Thứ hai: Đánh giá thực trạng lựa chọn và tiếp cận tín dụng của các DNNVV Tây Bắc

Thứ ba: Dựa vào kết quả nghiên cứu của hai mục tiêu trên để đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tiếp cận tín dụng của DNNVV Tây Bắc và một số khuyến nghị chung

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án được tiến hành nhằm trả lời bốn câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tham gia tín dụng của DNNVV ?

2 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn tín dụng của DNNVV ?

Trang 12

3 Thực trạng lựa chọn nguồn tài trợ vốn của các DNNVV Tây Bắc hiện nay như thế nào ?

4 Những kiến nghị nào có thể rút ra cho các DNNVV nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng chính thức ?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi thời gian:

+ Các số liệu và thông tin thứ cấp liên quan đến số lượng, cơ cấu, nguồn vốn của DNNVV Tây Bắc được thu thập từ năm 2011 đến 2015, riêng các thông tin về tổng quan các công trình có liên quan được thu thập trong thời gian thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian đầu thế kỷ XXI tại các quốc gia đang phát triển

+ Các số liệu và thông tin sơ cấp được tổ chức điều tra từ tháng 3 đến tháng

8 năm 2016

* Phạm vi không gian: nghiên cứu được thực hiện tại tiểu vùng Tây Bắc gồm

4 tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình

1.5 Phương pháp và quy trình nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận án dùng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để phục

vụ cho quá trình nghiên cứu

Trang 13

Bảng 1.1 Phương pháp nghiên cứu

(1) Nghiên cứu định tính: Được tiến hành để khám phá nhân tố đặc thù trong hành

vi của chủ sở hữu, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát để đo lường các khái niệm nghiên cứu Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu 10 chủ doanh nghiệp tại thành phố Sơn La Nghiên cứu được tiến hành vào tháng 4 năm 2016

(2) Nghiên cứu định lượng: Được tiến hành theo hai giai đoạn Giai đoạn 1 là nghiên cứu sơ bộ và giai đoạn 2 là nghiên cứu chính thức Cả 2 giai đoạn đều sử dụng phương pháp khảo sát để thu thập dữ liệu

1.5.2 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được thực hiện thông qua các bước sau:

Bước 1: Xây dựng mô hình và thước đo

Mô hình nghiên cứu và thước đo được xây dựng dựa trên các lý thuyết sau:

- Lý thuyết tài chính hành vi

- Lý thuyết vốn xã hội

Từ các lý thuyết này các nhân tố được tập hợp từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên quan điểm tài chính hành vi và vốn xã hội

Bước 2: Nghiên cứu định tính

Các thước đo được xây dựng ở các quốc gia phát triển nên chưa chắc đã phù hợp với vùng Tây Bắc Việt Nam còn chưa phát triển nên cần nghiên cứu định tính

để điều chỉnh các thang đo cho phù hợp

Bước 3: Nghiên cứu định lượng sơ bộ

Bộ thước đo điều chính vòng một được đánh giá thông qua nghiên cứu định lượng sơ bộ với việc phỏng vấn 80 doanh nghiệp tại thành phố Sơn La Các thước

Trang 14

đo này được điều chỉnh thông qua phương pháp hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)

Bước 4: Nghiên cứu định lượng chính thức

Nghiên cứu này được thực hiện với 477 DNNVV được khảo sát nhằm mục đích kiểm định các giải thuyết thông qua phương pháp hồi quy đa biến với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS

Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu định tính

(10 Giám đốc doanh nghiệp)

Điều tra thử 80 DNNVV tại

Thang đo hoàn chỉnh

Thảo luận và khuyến nghị

Bộ thang đo chính thức

Kiểm định giả thuyết

Cronbach Anpha

Cronbach Anpha, EFA

Regression

Trang 15

Thứ hai, các nghiên cứu trước đây trên thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng của vốn xã hội trong việc nâng cao khả năng tiếp cận tài chính Bằng cách chia nguồn vốn xã hội của doanh nghiệp thành 4 nhóm là: mạng lưới với lãnh đạo chính quyền, mạng lưới với hiệp hội doanh nghiệp, mạng lưới với tổ chức cho vay chính thức, mạng lưới với nhóm cho vay không chính thức và đo lường mức độ sử dụng các mạng lưới này nghiên cứu đã chỉ mức độ sử dụng mạng lưới với nhóm cho vay chính thức và không chính thức sẽ ảnh hưởng đến tham gia tín dụng và lựa chọn tín dụng của DNNVV

Thứ ba: Tác giả đề xuất được kiểm định trong bối cảnh mới, là tiểu vùng Tây Bắc nơi có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, chính trị, kinh tế kém phát triển nhất cả nước và tồn tại 22 dân tộc anh em sinh sống Tại nơi đây có lẽ chưa từng có một nghiên cứu nào được thực hiện

Thứ tư: Về các thang đo lường các biến trong nghiên cứu định lượng, tuy là

sử dụng của các học giả nước ngoài trước đây Tuy nhiên, nghiên cứu này đã địa phương hóa cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam nói chung và của tiểu vùng Tây Bắc nói riêng thông qua phỏng vấn sâu và đảm bảo độ tin cậy của thang đo

* Những đóng góp về mặt thực tiễn

Thứ nhất: Luận án cung cấp cho các cơ quan quản lý, các hiệp hội doanh nghiệp biết thực trạng hiệu quả kinh doanh, cơ cấu vốn, lựa chọn vốn của các

Trang 16

DNNVV Tây Bắc, điều này có thể tương đối quan trọng đối với họ, bởi lẽ, cho đến nay chưa có cơ quan nào tổng hợp và đưa ra báo cáo chi tiết, cụ thể

Thứ hai: Kết quả của nghiên cứu này có ý nghĩa góp ý cho các cơ quan quản

lý, các ngân hàng thương mại và bản thân các DNNVV hiểu về hành vi tham gia và lựa chọn tín dụng của DNNVV để có chính sách cho phù hợp nhằm khuyến khích các DNNVV tham gia vào thị trường tín dụng và lựa chọn tín dụng chính thức để nền kinh tế năng động, linh hoạt hơn

Thứ ba: Luận án cũng đưa ra được một số khuyến nghị cho hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, các cơ quan của Chính phủ nhằm giúp các DNNVV tăng cường tiếp cận tín dụng

1.7 Bố cục luận án

Bố cục luận án gồm 5 chương

Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV

Chương 3: Thực trạng lựa chọn nguồn tài trợ của DNNVV Tây Bắc

Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị

Trang 17

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN NGUỒN

TÀI TRỢ VỐN CỦA DNNVV

2.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

2.1.1 Tổng quan về lựa chọn tài trợ vốn của DNNVVV

Các DNNVV là bộ phận năng động và có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế của mọi quốc gia, thường chiếm từ 95% đến 98% tổng số doanh nghiệp Không chỉ góp phần tăng trưởng GDP, các DNNVV còn là lĩnh vực chủ chốt trong tạo việc làm, thúc đẩy tiến bộ công nghệ và nâng cao mức sống của người dân (Hallberg, 2000, Lê Xuân Bá 2006, Hồ Sỹ Hùng 2007) Mặc dù vậy, các DNNVV đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như: sản phẩm kém chất lượng, công nghệ, thiết bị lạc hậu, thiếu thông tin về thị trường, trình độ quản lý hạn chế, …và đặc biệt tình trạng thiếu vốn

Nghiên cứu của Ayyagari et al (2006), Tambunan (2008) cho rằng đại đa

số các DNNVV ở các quốc gia đều gặp khó khăn trong tiếp cận vốn Mặc dù các nguồn tài trợ vốn cho DNNVV rất đa dạng Nghiên cứu của Chittenden et al (1996), Berger and Udell (1998), Baldwin, Gellaty và Gaudreault (2002), Bakker and Klapper (2004) cho rằng các DNNVV có thể huy động tài trợ từ bên trong như: vốn tự có, lợi nhuận giữ lại hoặc các nguồn tài trợ bên ngoài như: các khoản vay từ gia đình, bạn bè, các đối tượng cho vay cá nhân, tín dụng thương mại, quỹ đầu tư mạo hiểm, bao thanh toán, tín dụng từ các tổ chức tài chính, .Về lý thuyết, các DNNVV có hoạt động kinh doanh tốt thì thể lựa chọn nguồn tài trợ vốn mà họ cần trong điều kiện các thông tin đều sẵn có Tuy nhiên, nghiên cứu của Peirson và cộng sự (1999) cho rằng luôn tồn tại sự bất cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay nên nghiên cứu của Ang (1991) đã đề xuất một trật tự ưu tiên lựa chọn nguồn tài trợ dựa trên quan hệ giữa chi phí và tổng vốn đầu tư được minh họa trong hình 2.1

Trang 18

Trong số các nguồn tài trợ cho DNNVV thì nguồn tài trợ từ tín dụng ngân hàng là quan trọng và phổ biến nhất ở hầu hết các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển (Carey và Flynn, 2005) do sự kém phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng và các tổ chức tài chính Tuy nhiên, các ngân hàng lại phân phối tín dụng không hiệu quả, thiếu công bằng với các DNNVV do bị chi phối bởi Chính Phủ nên

đã quá ưu ái cấp tín dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước (Perotti, 1993) Điều này cũng dẫn đến tình trạng khan hiếm tín dụng và hạn chế tiếp cận tín dụng cho các

Trang 19

DNNVV (Sherif và cộng sự 2002) Ngoài ra Peirson và cộng sự (1999) cho rằng luôn tồn tại sự bất cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay và đây

là một trở ngại rất lớn trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNNVV (Berger và Udell, 1998)

Những trở ngại trong tiếp cận tín dụng dẫn đến nhiều doanh nghiệp có quan điểm không muốn đi vay (tham gia tín dụng) Bên cạnh đó, nghiên cứu của Kon và Storey (2003) chỉ ra có nhiều doanh nghiệp “Đủ khả năng” cũng không muốn sử dụng nợ trong cơ cấu vốn mặc dù các doanh nghiệp này có nhu cầu đi vay và mở rộng quy mô vì họ nghĩ rằng hồ sơ vay vốn của họ sẽ bị từ chối Một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra phần lớn các DNNVV không sử dụng nợ trong cơ cấu vốn Kết quả điều tra của Ngân hàng thế giới năm 2012 cho thấy trung bình chỉ có 36% các DNNVV đi vay, có nghĩa là hơn 60% số DNNVV không tiếp cận với nguồn vốn vay Tuy nhiên, có rất ít tài liệu nói về tình trạng các doanh nghiệp tốt không đi vay vì sợ bị từ chối hoặc đã vay nhiều lần nhưng không được vì nhóm đối tượng này các ngân hàng rất khó có được thông tin và nó cũng không ảnh hưởng đến rủi ro trong danh mục cho vay của ngân hàng

Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp khi chấp nhận tham gia tín dụng lại có xu hướng lựa chọn tín dụng không chính thức làm nguồn tài trợ chính Nghiên cứu của McMillan và Woodruff (1999) chỉ ra nguồn tín dụng phi chính thức gồm các khoản vay từ người thân, bạn bè, tín dụng thương mại được các DNNVV sử dụng thường xuyên ở Mexico trong khi đó chỉ có khoảng 2,5% số doanh nghiệp được khảo sát có vay ngân hàng trong giai đoạn khởi nghiệp Tương tự như vậy, dựa trên kết quả khảo sát được tiến hành ở Nagppur, Ấn Độ, Kampala và Uganda, Aliber (2002) chỉ ra rằng các nguồn tín dụng không chính thức tại Ấn Độ còn quan trọng hơn so với các nguồn tín dụng chính thức ở trên khía cạnh trong giai đoạn khởi nghiệp va duy trì hoạt động kinh doanh

Tuy nhiên, việc lựa chọn tín dụng ở các nước có khác nhau Tại các nước phát triển thì vốn tự có và tín dụng ngân hàng là các nguồn tài trợ chính của DNNVV Nghiên cứu của của Hughes (1997) sử dụng dữ liệu điều tra khảo sát

Trang 20

DNNVV tại Anh trong giai đoạn 1987-1989 cho thấy các DNNVV phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại nhưng tín dụng ngân hàng mới là nguồn quan trọng nhất Ngoài ra, các nguồn đến từ thuê tài chính, vốn góp cổ đông, bao thanh toán cũng là lựa chọn của DNVVN tại Vương quốc Anh Một nghiên cứu khác cũng được tiến hành tại Anh là của Doherty (2013) chỉ ra các DNNVV ngoài huy động vốn từ các nguồn tín dụng truyền thống như: vay ngân hàng, thấu chi, thẻ tín dụng thì có đến 22% số doanh nghiệp khảo sát lựa chọn tài trợ vốn từ công chúng qua phát hành các giấy tờ có giá Nghiên cứu Berger and Udell (1998) sử dụng dữ liệu khảo sát cấp quốc gia tại Mỹ năm 1993, qua quá trình phân tích, đánh gia hai ông đã kết luận các DNNVV sử dụng nhiều nhất vốn tự có, sau đó đến tín dụng từ các ngân hàng và tín dụng của nhà cung cấp (tín dụng thương mại), ba nguồn vốn này chiếm 70% tổng nguồn vốn mà các DNNVV sử dụng cho kinh doanh

Tại các quốc gia kém phát triển thì nguồn vốn tự có và tín dụng không chính thức được các DNNVV ưu tiên lựa chọn Nghiên cứu của Amissah và Gbandi (2014) chỉ ra rằng DNNVV ở các nước châu Phi lượng vốn vay ngân hàng chỉ chiếm 15% tổng vốn, thay vào đó DNNVV chọn vốn từ các chương trình hỗ trợ cho vay doanh nghiệp xã hội của Chính phủ, nguồn này chiếm khoảng 38%, còn lại là các nguồn từ nguồn phi chính thức như bạn bè, gia đình, người thân, tín dụng tư nhân Tại Việt Nam các nghiên cứu cũng chỉ ra đặc điểm lựa chọn tài trợ vốn của các DNNVV là vốn tự có, vay ngân hàng và vay bạn bè, người thân Nghiên cứu của Trương Quang Thông (2009) về lựa chọn vốn của DNNVV Hồ Chí Minh đã chỉ

ra khi mới thành lập tỷ lệ vốn điều lệ chiếm tỷ lệ rất cao (73,20%) nhưng đến thời điểm khảo sát thì tỷ lệ này đã giảm còn 64,90% thay vào đó là do sự gia tăng của các nguồn vốn khác: nợ nhà cung cấp, vay ngắn hạn ngân hàng, vay dài hạn ngân hàng và vay khác (vay nội bộ, bạn bè, người thân )

Trang 21

Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn của DNNVV Hồ Chí Minh

Đơn vị tính: %

Tình hình Nợ nhà

cung cấp

Vay NH ngân hàng

Vay DH ngân hàng

Vay khác

Vốn điều lệ

Nguồn: Trương Quang Thông (2009)

Trần Thị Thanh Tú, Đinh Thị Thanh Vân (2015) qua nghiên cứu chỉ ra các DNNVV Hà Nội có vốn chủ sở hữu chiếm từ 48% đến trên 76% tùy theo loại hình

và lĩnh vực, vốn vay chiếm từ 20% - 27%, vốn khác chiếm từ 5% đến 7,5 % Ngô Mai Linh (2015), đã chỉ ra theo kết quả khảo sát do Cục Phát triển DNNVV phối hợp với UNIDO thực hiện năm 2014 thấy: Trong cơ cấu nguồn vốn của DNNVV,

tỷ trọng vốn vay NH đến trên 45%, vốn tự có chiếm 36,25%, các nguồn vốn khác là 18,44% Nghiên cứu của CIEM (2013) cho 80% DNNVV Việt Nam vay vốn từ các

tổ chức phi tài chính, hoặc là từ gia đình /bạn bè, chỉ có 20% doanh nghiệp có thể vay vốn từ các ngân hàng Đôi khi, DNNVV còn phải trả cho việc vay nóng lãi suất cao hơn từ 3-6 lần nếu so sánh với lãi suất của vốn vay ngân hàng

Trong một số các cơ sở lý giải cho việc lựa chọn nguồn vốn của DNNVV đã được kiểm chứng là dựa trên lý thuyết cơ cấu vốn Nghiên cứu của Bradley và cộng

sự (1984), Friend và Lang (1988), Beck và Levine (2004), Beck và cộng sự (2005) cho thấy có mối quan hệ giữa quy mô của doanh nghiệp và lựa chọn vốn Bên cạnh

đó, nghiên cứu của Marsh (1982) chỉ ra mối quan hệ của tỷ lệ tài sản cố định và lựa chọn vốn Ngoài ra, nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995), Booth và cộng sự (2001) cho rằng có mối quan hệ giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và lựa chọn nguồn vốn Nghiên cứu của Kester (1986), Kim và Sorensen (1986) Chaplinsky và Niehaus (1993) chỉ ra mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng và lựa chọn vốn Nghiên cứu của Agrebi (2009) chỉ ra mối quan hệ giữa các giai đoạn phát triển, lĩnh vực kinh doanh và lựa chọn vốn Cuối cùng, nghiên cứu của Tagoe và cộng sự (2005), Berry và cộng sự (1993) chỉ ra mối quan hệ giữa báo cáo tài chính được kiểm toán

và lựa chọn vốn

Trang 22

Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu điển hình dựa trên lý thuyết cơ cấu

vốn như Trần Trọng Huy (2013), cho rằng có một số nhân tố thuộc về DNNVV ảnh

hưởng đến lựa chọn tín dụng là: Nhu cầu vốn vay, uy tín và thương hiệu, am hiểu quy trình cho vay, các vấn đề về tài chính, việc thực hiện các quy định kế toán, kiểm toán, tài sản đảm bảo, kế hoạch kinh doanh, trình độ quản lý Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số nhân tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô là môi trường kinh tế, môi trường chính trị pháp luật, chính sách hỗ trợ cho DNNVV Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là các nhân tố đưa ra chỉ là phân tích chủ quan, chưa được kiểm định rõ ràng bằng các công cụ đo lường Đoàn Ngọc Phi Anh, (2010) cho rằng có năm nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn vốn của doanh nghiệp là: hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh, cấu trúc tài sản và qui mô của doanh nghiệp Nguyễn Thành Cường (2008) chỉ ra có năm nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn vốn của doanh nghiệp là: quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản của doanh nghiệp, khả năng sinh lợi, lãi suất vay bình quân, cơ hội tăng trưởng Nguyễn Văn Lê (2014) cho rằng quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, tỷ lệ tài sản cố định, tình hình thanh khoản, lá chắn thuế phi nợ, ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng đến việc lựa chọn tín dụng của DNNVV Lê phương Dung, Nguyễn Thị Lam Thanh (2013) đã đưa ra có bảy nhân

tố ảnh hưởng đến việc quyết định vay vốn ngân hàng là: Quy mô doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động kinh doanh, cơ cấu tài sản, khả năng thanh khoản, cơ hội tăng trưởng, danh tiếng doanh nghiệp, rủi ro tín dụng

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy lựa chọn nguồn vốn không hẳn dựa trên cơ sở lý thuyết cơ cấu vốn mà dựa vào đặc điểm tâm lý của chủ doanh nghiệp và mối quan hệ của chủ doanh nghiệp với các tổ chức cung ứng vốn Một số nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố lạc quan và tâm lý quá tự tin có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định đầu tư của các nhà quản lý như các nghiên cứu của Baker và cộng sự (2005), Heaton (2002), Fairchild (2005) Ngoài ra, nghiên cứu của Grable & Lytton (2003) cho rằng những người quản lý có khả năng chịu rủi ro có thể tham gia nhiều hơn các dự án sát nhập, mua lại và luôn theo đuổi các chính sách đòn bẩy kinh tế cao Đặc biệt, các nghiên cứu của Laibson và cộng sự, (2003), Bauer và cộng sự

Trang 23

(2012), Brown và cộng sự (2013) đều cho rằng có sự tác động của yếu tố kiên nhẫn trong lựa chọn, thái độ đối với rủi ro, thái độ đối với nợ đến quyết định vay tiêu dùng của các cá nhân Ngoài ra, nghiên cứu của Romano và cộng sự (2001) về lựa chọn các nguồn vốn của các DNNVV đã nhận thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nguồn tài chính của các DNNVV nhưng yếu tố thái độ của doanh nghiệp đối với lợi ích của việc vay nợ, coi vay nợ là một hình thức tài trợ là một yếu tố quan trọng có tác động mạnh nhất theo ông thì các yếu tố văn hóa, hoạt động kinh doanh, sở thích cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong các quyết định lựa chọn nguồn vốn của các DNNVV Bên cạnh đó, các yếu tố kiểm soát khác cũng có ảnh hưởng như: tuổi và quy mô Các nghiên cứu của Ravina (2012), Moro

và Fink (2013) cho rằng các mạng lưới có thể giúp DNNVV tăng tính hợp pháp khi tiếp cận vốn vay ngân hàng, do đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn vốn vay Ngoài ra, nghiên cứu của Hussain và cộng sự (2006), McMillan và Woodruff (2002) chỉ ra vốn xã hội sẽ trợ giúp DNNVV tìm kiếm các nguồn tài trợ khác một cách dễ dàng thông qua các mối quan hệ Nghiên cứu của Firth et al (2009) đã chỉ ra nếu các DNNVV không có mối quan hệ với các ngân hàng thương mại thì sẽ rất hiếm các doanh nghiệp được vay vốn do đó các DNNVV có xu hướng xa lánh nguồn tài chính chính thức từ các ngân hàng và tiếp cận với nguồn phi chính thức Kết luận này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Ngọc và Nguyễn (2009) Nguyễn Thị Cành (2008) cho thấy việc xây dựng “mối quan hệ xã hội” thông qua “mức độ quen biết”, hay thiết lập mối quan hệ đối tác giữa các DNNVV và các ngân hàng là thấp nên các DNNVV có xu hướng không chọn vay tín dụng ngân hàng

Tóm lại, Có thể nói, các nghiên cứu về lựa chọn nguồn tài trợ vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn ở góc độ lý thuyết cũng như thực tiễn tại các loại hình doanh nghiệp, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuộc khu vực DNNVV có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, là những gợi mở quan trọng cho hướng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn tại các DNNVV Việt Nam nói chung và DNNVV Tây Bắc nói riêng Tác giả có thể đưa ra một số nhận xét chung như sau:

Trang 24

Thứ nhất, các quan niệm về vốn và các nguồn tài trợ vốn cho DNNVV đã được nhiều tác giả nghiên cứu Việc làm rõ được nội hàm của đối tượng mà các DNNNV lựa chọn sẽ là cơ sở quan trọng để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn được rõ dàng hơn

Thứ hai, nhiều tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV ở các ngành nghề, lĩnh vực, các quốc gia, châu lục và tại các nền kinh tế phát triển và đang phát triển Từ các đánh giá này, tác giả củng cố thêm cơ

sở thực tiễn để đánh giá thực trạng lựa chọn vốn của DNNVV Tây Bắc cũng như có thêm tài liệu để giải thích lý do đằng sau các lựa chọn nguồn tài trợ vốn đó

Thứ ba, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn vốn của DNNVV dựa trên nhiều các lý thuyết gốc Các nhân tố này là cơ sở quan trọng để vận dụng giải thích lý do lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV vùng Tây Bắc

Thứ tư, các nghiên cứu giải thích cho việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV trên thế giới và Việt Nam phần lớn đang tập trung nhiều dựa vào lý thuyết

cơ cấu vốn Tuy nhiên đã có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn còn phụ thuộc vào hành vi tài chính của chủ doanh nghiệp và mối quan hệ của chủ doanh nghiệp với các tổ chức cung ứng vốn

2.1.2 Khoảng trống của các công trình đã công bố

Các nghiên cứu trước đây về lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV còn bộc lộ một số khoảng trống như:

Thứ nhất: Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc giải thích cơ cấu vốn của doanh nghiệp hoặc là tìm ra cơ cấu tối ưu trong khi có rất ít các nghiên cứu đề cập đến vấn đề lựa chọn “tín dụng phi chính thức”, “không đi vay”, “nản chí nên không đi vay”

Thứ hai: Đối tượng doanh nghiệp không đi vay, không tự tin khi đi vay, vay nhiều lần không được dẫn đến chán nản thường không được các nhân viên tín dụng, các nhà hoạt động chính sách quan tâm mặc dù nhóm này chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số DNNVV Các DNNVV này có thể là khách hàng tiềm năng trong

Trang 25

tương lai nếu các ngân hàng cung cấp các sản phẩm/dịch vụ tín dụng phù hợp

Từ đó sẽ thúc đẩy việc mở rộng và phát triển cả khu vực DNNVV Ngoài ra, các

cơ quan quản lý nếu biết lý do tại sao nhiều DNNVV, đặc biệt là những doanh nghiệp tăng trường và tiềm năng tăng trưởng tốt lại không vay vốn bên ngoài thì

sẽ có những chính sách phù hợp để các DNNVV này phát triển tạo ra nhiều việc làm và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế nhanh hơn Ngoài ra, nếu biết được động cơ tiềm ẩn là tại sao doanh nghiệp không tham gia vào thị trường tín dụng thì Chính phủ có thể tổ chức khóa giáo dục, đào tạo hoặc các chương trình để hỗ trợ điều chỉnh hành vi này và định hướng cho các DNNVV tiếp cận thị trường tín dụng chính thức khi có nhu cầu vay vốn

Thứ ba: Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào quyết định vay vốn chính thức (vay NHTM) của DNNVV nhưng bỏ qua việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn vay không chính thức Các nghiên cứu về vay không chính thức chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng hộ gia đình ở khu vực nông thôn

Thứ tư: Tại Việt Nam các nghiên cứu về nguồn vốn của DNNVV chủ yếu nghiên cứu chung về DNNVV Việt Nam hoặc tại các địa phương có điều kiện kinh tế phát triển, còn tại vùng Tây Bắc Việt Nam, một vùng có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự, chính trị, các doanh nghiệp tại đây còn gặp rất nhiều khó khăn đề phát triển, mang đầy đủ đặc trưng của DNNVV Việt Nam thì chưa có một nghiên cứu nào

Từ những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế trong các nghiên cứu liên quan đến lựa chọn vốn của DNNVV của các tác giả trong và ngoài nước, có thể nói rằng, đề tài các nhân tố ảnh hướng đến lựa chọn vốn của DNNVV đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập theo nhiều quan điểm, trên nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau Tuy nhiên, vẫn tồn tại một khoảng trống cần tiếp tục bổ sung nghiên cứu, đó là giải thích lý do lựa chọn không đi vay và nếu có đi vay thì vay không chính thức Do

đó, đề tài luận án: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ

vốn của DNNVV - Trường hợp tiểu vùng Tây Bắc” có chỗ đứng riêng, kế thừa nhưng không trùng lặp với các luận án, công trình khoa học trước đó

Trang 26

2.2 Cơ sở lý thuyết

Hiện nay, có rất nhiều lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về sự kết hợp giữa các nguồn tài trợ vốn, trong các lập luận và phát hiện của các lý thuyết, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm còn chưa thống nhất Nhìn chung có hai hướng lý thuyết giải tích cho việc lựa chọn các nguồn tài trợ vốn: Hướng thứ nhất là theo các

lý thuyết cơ cấu vốn như Miller và Modigliani của (1958, 1963), lý thuyết đánh đổi,

lý thuyết trật tự phân hạng, mục tiêu của hướng giải thích này là tìm ra cơ cấu vốn tối ưu giữa vốn chủ và vốn vay, giải thích các quyết định tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tối đa hóa lợi ích từ chi phí vốn Hướng thứ hai là các nghiên cứu đưa

ra mối quan hệ giữa các nhân tố phi tài chính đến quyết định tài chính

2.2.1 Các lý thuyết cơ cấu vốn và lựa chọn nguồn tài trợ vốn

Các lý thuyết về cơ vốn được nhắc đến nhiều nhất là lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng Theo lý thuyết đánh đổi thì khi sử dụng nợ doanh nghiệp

sẽ có lợi ích về thuế nhưng đồng thời phải đối mặt với chi phí kiệt quệ tài chính (chi phí phá sản) khi sử dụng nợ Do đó, tỷ lệ nợ tối ưu của một doanh nghiệp được xác định bởi sự đánh đổi giữa lợi ích về thuế và các chi phí phá sản(Scott, 1972) Điểm

có cấu trúc vốn tối ưu là điểm mà tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm vừa đủ để bù đắp cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh nghiệp là không đổi(Brealey và cộng sự, 1984)

Đề cập đến thứ tự ưu tiên lựa chọn các nguồn tài trợ lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Stewart Myers và Nicolas Majluf (1984) cho rằng các nhà quản

lý biết nhiều thông tin về triển vọng, rủi ro và giá trị doanh nghiệp so với những nhà đầu tư bên ngoài Vì vậy, sự bất cân xứng thông tin này sẽ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn giữa nguồn tài trợ bên trong và nguồn tài trợ bên ngoài, giữa

nợ và vốn góp từ các chủ sở hữu Nguồn vốn bên trong được khuyến khích lựa chọn đầu tiên bởi vì doanh nghiệp không phải công khai thông tin về các cơ hội đầu

tư tiềm năng và lợi nhuận kỳ vọng mang lại từ các cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư hoặc các chủ nợ, ngoại trừ công bố mức chi trả cổ tức Nợ là nguồn tài trợ bên ngoài được ưu tiên trước so với vốn góp của chủ sở hữu, vì chi phí thấp hơn và không làm cho quyền kiểm soát của các chủ sở hữu hiện tại bị phân tán Vốn góp của các chủ

sở hữu là lựa chọn cuối cùng vì chi phí cao và sự lựa chọn nguồn tài trợ này thường

Trang 27

phát ra tín hiệu tiêu cực Các lý thuyết về cơ cấu vốn đều lập luận các doanh nghiệp thích sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động đầu tư của mình vìModigliani & Miller (1963) cho rằng khi sử dụng nợ các doanh nghiệp sẽ có lợi thế về lá chắn thuế, qua

đó tiết kiệm được thuế từ các khoản vay

Trong trường hợp nghiên cứu của DNNVV thì rất nhiều các nghiên cứu chỉ

ra rằng các DNNVV quyết định lựa chọn nguồn tài trợ vốn theo lý thuyết trật tự phân hạng vì các lập luận đều cho rằng các DNNVV phần lớn không thể phát hành

cổ phiếu cũng như khó có thể tiếp cận nguồn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm để huy động vốn, mà chủ yếu dựa vào vốn chủ, trường hợp rất cần thiết để mở rộng quy mô các DNNVV sẽ đi vay Các khẳng định này được các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra như nghiên cứu củaBlumberg và Letterie (2008), Leary và Roberts (2005)

2.2.2 Lý thuyết tài chính hành vi và lựa chọn nguồn tài trợ vốn

Cơ sở tiền đề của lý thuyết tài chính hành vi là công trình nổi tiếng của Simon (1957) được công bố, có rất nhiều các nghiên cứu thừa nhận rằng các nhà quản lý có “lý trí trong giới hạn” Do đó, các quyết định quản lý thường không hoàn toàn “dựa trên lý trí” vì theo nghiên cứu của Keh, Foo và Lim (2002) cho rằng quá trình tư duy của các cá nhân có sự khác biệt và giới hạn xử lý thông tin của người ra quyết định cũng khác nhau nghiên cứu Schwenk (1996) Ngoài ra, có sự khác biệt

về chuẩn mực giá trị và nguồn lực của người ra quyết định theo nghiên cứu của Sarasvathy (2001) Năm 1974 nghiên cứu của Tversky and Kahneman đã đề xuất

mô hình đưa ra quyết định đựa trên phán xét, cảm nhận Theo đó phán xét và cảm nhận là những quy tắc cảm nhận, quy trình suy luận, và đánh giá chủ quan của con người trong việc ra quyết định, phán xét và cảm nhận bổ sung trực tiếp hoặc thậm chí thay thế cho quy trình ra quyết định hoàn toàn dựa trên lý trí

Lý thuyết về cảm nhận và phán xét khi ra quyết định cũng được khẳng định

từ các nghiên cứu thực nghiệm của Simon (2000) và nghiên cứu của Keh và cộng

sự (2002) Theo nghiên cứu của Tversky và Kahneman (1974) thì mức độ sử dụng cảm nhận và phán xét giữa các cá nhân rất khác nhau Các nghiên cứu của Sarasvathy (2001) và nghiên cứu Storrud và cộng sự (2010) nhận thấy các nhà quản

lý thường sử dụng cảm nhận/phán xét nhiều hơn so với người bình thường khi ra quyết định nhất là đối với các DNNVV

Trang 28

Lý thuyết tài chính hành vi là sự phát triển kết hợp giữa kinh tế và tâm lý của con người để giải thích các thành kiến, các phán đoán của các cá nhân trong quá trình ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn Lý thuyết tài chính hành vi sử dụng các yếu tố xã hội, nhận thức và cảm xúc để hiểu, đánh giá các quyết định kinh

tế của chủ thể kinh tế, gồm người tiêu dùng, người đi vay, nhà đầu tư và tác động của họ lên giá trị thị trường, lợi nhuận và phân bổ nguồn lực xã hội Lý thuyết tài chính hành vi nhận định rằng, các cá nhân chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm cá nhân, các giá trị và đặc tính cá nhân, niềm tin cá nhân, các vấn đề về nhận thức, các yếu tố cảm xúc, kỹ năng, thói quen, thông tin sẵn có trong các lĩnh vực khác nhau khi đưa ra quyết định đầu tư và đánh giá rủi ro

Lý thuyết tài chính hành vi gồm 4 nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất: Hành vi của con người có 3 đặc điểm chính đó là:

+ Tùy thuộc vào bản chất của triển vọng là gì, hành vi của con người đôi lúc thể hiện sự không thích rủi ro (lẩn tránh rủi ro) song đôi lúc lại ưa thích rủi ro (tìm kiếm rủi ro) Con người lựa chọn dựa trên lời và lỗ

+ Con người đánh giá các khoản lời và lỗ so với một mức tham khảo và thông thường mức tham khảo ứng với tình trạng hiện tại của người đó

+ Con người sợ thua lỗ bởi các mất tác động đến cảm xúc của họ mạnh mẽ hơn cái được

Thứ hai: Con người thường sử dụng kinh nghiệm để giảm thiểu sự tìm kiếm

thông tin cần thiết để đưa ra giải pháp cho một vấn đề Đây là quy tắc “ngón tay cái” Quy tắc dựa trên kinh nghiệm dựa vào tình huống điển hình là cách con người đưa ra những đánh giá xác suất dựa trên sự tương tự so với các trường hợp mẫu (nhóm sự kiện, hiện tượng khác)

Thứ ba: Con người thường lệch lạc về hành vi, các hành vi lệch lạc cụ thể là

+ Lệch lạc tâm lý do quá tự tin (Overconfident Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do sợ thua lỗ (Loss Aversion Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do quá lạc quan (Overoptimism Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do ảo giác về kiểm soát (Illusion of control Bias)

+ Lệch lạc tâm lý tự quy kết (Self Attribution Bias)

+ Lệch lạc tâm lý thừa nhận (Confirmation Bias)

Trang 29

+ Lệch lạc tâm lý do nhận thức muộn (Hindsight Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do sự không hòa hợp (mâu thuẫn) về nhận thức (Cognitive Disonance Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do bảo thủ (Conservatism Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do tính đại diện (Representativeness Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do tính khuôn mẫu (Framing Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do sự neo đậu/Nổi bật (Anchoring/Salience Bias)

+ Lệch lạc tâm lý do sẵn có (Availability Bias)

+ Lệch lạc do cảm xúc/Tác động (Emotion/Affect)

+ Lệch lạc tâm lý tự kiểm soát (Self control)

+ Lệch lạc tâm lý ác cảm mơ hồ hay tâm lý ngại sự không chắc chắn (Ambiguity Aversion)

+ Lệch lạc do thuyết tiếc nuối hay tâm lý ngại hối tiếc (Regret Theory)

Thứ tư: Hành động của con người được dẫn dắt bởi cảm xúc cũng như tâm

lý của đám đông (tâm lý bầy đàn)

Đối với quyết định lựa chọn nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh đã có nhiều học giả xem xét mối tương quan giữ việc lựa chọn vốn của DNNVVV với các yếu tố phi tài chính dựa vào quan điểm tài chính hành vi Các nghiên cứu của Baker

và cộng sự (2007), Heaton (2002), Fairchild (2005) đều cho rằng sự lạc quan và quá

tự tin có tác động đáng kể đến quyết định của nhà quản lý tài chính và các nhà đầu

tư Nghiên cứu của Grable và Lytton (2003) cho rằng với các CEO có khả năng chấp nhận rủi ro cao thường vay nợ nhiều Ngược lại, với các CEO e ngại với rủi ro thì không thích vay nợ và thường dựa vào nguồn tài trợ nội bộ như nghiên cứu của

Malmendier và cộng sự (2011)

Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính hành vi và việc quyết định vay tiêu dùng như nghiên cứu của Bauer và cộng sự (2012) về quyết định lựa chọn vay các tổ chức tài chính vi mô của phụ nữ nông thôn Ấn Độ cho rằng yếu tố thiên vị lựa chọn hiện tại có ảnh hưởng đến lựa chọn vay vốn Ngoài ra các nghiên cứu của Brown và cộng sự (2008), Daly và cộng

sự (2010), Davies và Lea (1995) đã chỉ ra mối quan hệ giữa thái độ với nợ, thái độ đối với rủi ro có ảnh hưởng quyết định đi vay

Trang 30

2.2.3 Lý thuyết vốn xã hội và lựa chọn nguồn tài trợ vốn

Vốn xã hội (social capital) được quan niệm là một loại vốn, bên cạnh các loại vốn khác như vốn kinh tế, vốn văn hoá, vốn con người Lyda Judson Hanifan được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm vốn xã hội vào năm 1916 Hiện nay có nhiều quan điểm về vốn xã hội (bảng 2.2)

Bảng 2.2 Một số định nghĩa tiêu biểu về vốn xã hội Tác giả Định nghĩa vốn xã hội

Wayne E.Baker

“Một nguồn tài nguyên mà các cá nhân nằm trong các cấu trúc xã hội cụ thể và sau đó sử dụng nó để theo đuổi lợi ích của mình, nó được tạo ra bởi những thay đổi trong mối quan

hệ giữa các cá nhân”

Pierre Bourdieu và

Loic Wacquant

“Tổng hợp các nguồn lực (thực tế hoặc ảo) tích lũy trong một

cá nhân hoặc nhóm nhờ vào việc sở hữu một mạng lưới bền vững các mối quan hệ quen biết và công nhận lẫn nhau” Boxman, De

John Brehm và

Wendy Rahn

“Mạng lưới của các mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho sự giải quyết các vấn đề hành động tập thể”

Clive Y.Thomas “Những phương tiện tự nguyện và quá trình phát triển trong

xã hội dân sự mà thúc đẩy toàn bộ cộng đồng phát triển”

Glenn C Loury

“Các mối quan hệ xã hội nảy sinh một cách tự nhiên giữa các

cá nhân mà thúc đẩy hoặc hỗ trợ họ đạt được những kĩ năng hoặc những thứ có giá trị trong cuộc sống…nó được coi như một thứ tài sản quan trọng (giống quyền thừa kế tài sản) trong việc duy trì bất bình đẳng trong xã hội”

Janine Nahapite

“Tổng các nguồn tài nguyên thực tế và tiềm năng mà cá nhân nhận được từ mạng lưới các mối quan hệ mà cá nhân hoặc xã hội sở hữu Do đó vốn xã hội bao gồm cả mạng lưới và tài sản mà có thể được huy động thông qua mạng”

Francis

Fukuyama

Vốn xã hội là những quy tắc, chuẩn mực không chính thức

mà thúc đẩy sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều cá nhân với nhau”

Trang 31

Tuy nhiên, khái niệm vốn xã hội chỉ thực sự trở thành khái niệm khoa học quan trọng trong tác phẩm “các hình thức của vốn” của chính Bourdieu năm

1986 (Smith và Kulynch, 2002) Vốn xã hội theo lập luận của Bourdieu là toàn

bộ nguồn lực (thực tế hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hay gián tiếp Trong đa sốtrường hợp mạng lưới này đã có từ lâu và đã được thể chế hóa phần nào Những cá nhân, gia đình hay tập thể nào có càng nhiều các quan hệ móc nối thì nắm giữ càng nhiều ưu thế Ông viết: “Vốn xã hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong bối cảnh xã hội Bất cứ aicũng có thể thu thập một sốn vốn xã hội nếu người đó nỗ lực và chú tâm làm việcấy, và hơn nữa bất

cứ ai cũng có thể dùng vốn xã hội để đem lại những lợi íchkinh tế thông thường Song khả năng thực hiện điều ấy tùy thuộc vào nhữngtrách nhiệm xã hội (Social Obligation), móc nối (connection) và mạng lưới xãhội của người ấy”

Mặc dù có những cách tiếp cận khácnhau và dựa trên các kết quả nghiên cứutrong nhiều lĩnh vực về vốn xã hội, song các tác giả đều gặp nhau ở những điểmsau đây: (1) Vốn xã hội gắn liền vớimạng lưới xã hội, quan hệ xã hội (2) Vốn xã hội là nguồn lực cần thiết chocác loại hoạt động nhất là lao động sảnxuất (3) Vốn

xã hội được tạo ra thông qua việc đầu tư vào thiết lập, duy trì, củng cố, phát triển các quan hệ xã hội,hoặc mạng lưới xã hội, và các cá nhâncó thể sử dụng vốn xã hội

để tìm kiếm hoặc tăng cường những lợi ích nhất định (4) Bao gồm sự tin cậy và quan hệqua lại/sự có đi-có lại

Có thể giải thích vốn xã hội như là số lượng và các loại mạng lưới (chính thức và không chính thức) mà các tổ chức và cá nhân sử dụng để có thể đạt được mục tiêu tiếp cận các nguồn tài nguyên như: Vốn, thông tin, công nghiệ và kiến thức (bảng 2.3)

Trang 32

Bảng 2.3: Bộ tiêu chuẩn và tiêu chí đo lường vốn xã hội

Sự tham gia xã hội

+ Sự tham gia các hoạt động văn hóa, giải trí, và các nhóm

xã hội chủ yếu

+ Sự tình nguyện, tần số và cường độ của sự tham gia

+ Sự tham gia các hoạt động tôn giáo

Sự tham gia với vị trí

là một công dân

+ Mức độ ảnh hưởng trong cộng đồng

+ Mức độ tham gia vào các vấn đề chính trị tại địa phương + Mối quan hệ với các quan chức

+ Sự tham gia với các nhóm trong địa phương

+ Sự tham gia trong hoạt động bỏ phiếu, bầu cử

+ Số lượng bạn bè thân / người thân sống gần đó

+ Mức độ trao đổi và giúp đỡ đối với những người xung quanh

+ Mức độ kiểm soát nhận thức và sự hài lòng với cuộc sống

Sự trao đổi và sự tin

tưởng

+ Mức độ tin tưởng những người khác + Mức độ tin tưởng vào những người không thích bạn + Sự tự tin tham gia trong các hoạt động của các nhóm, tổ chức ở các cấp độ khác nhau

+ Mức độ ủng hộ và được ủng hộ

+ Nhận thức về những giá trị chung

Quan điểm về nơi bản

thân sinh sống

+ Quan điểm về môi trường xung quanh

+ Quan điểm về các trang thiết bị trong khu vực

+ Quan điểm về các loài động vật sống trong khu vực + Quan điểm về tội phạm

Nguồn: Keith Brook, “Labour Market participation: The influence of social

Trang 33

Hiện nay, có rất nhiều các nghiên cứu về tác động của vốn xã hội tới quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp như nghiên cứu của Adler và Kwon (2002), Fukuyama (2001), Griffith và Harvey (2004)

Về vai trò hoặc tác động của vốn xã hội vào các quyết định nguồn vốn của doanh nghiệp, một số nghiên cứu đã thừa nhận rằng vốn xã hội không chỉ giúp các doanh nghiệp tự tin đưa ra các quyết định kinh doanh mà còn giúp các doanh nghiệp có được danh tiếng và tăng cường tính pháp lý Nếu có được danh tiếng thì các doanh nghiệp sẽ có điều kiện được tiếp cận với các nguồn lực bên ngoài như các khoản vay từ các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối các DNNVV tại các nước chậm phát triển đang hoạt động trong môi trường bất cân xứng thông tin, trở ngại tiếp cận thị trường tín dụng, tài sản thế chấp có giá trị ít, luôn tiềm ẩn rủi

ro đạo đức thể hiện trong nghiên cứu của Biggs và Shah (2006), Anderson và cộng

sự (2002)

Một số nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trên toàn thế giới như nghiên cứu của Uzzi (1999), Gana và Ayari (2013), Ravina (2012), Moro và Fink (2013) đã chỉ ra rằng có tồn tại một mối liên hệ giữa vốn xã hội và lựa chọn nguồn vốn của doanh nghiệp

2.2.4 Lựa chọn lý thuyết phù hợp cho nghiên cứu

Theo Paul Pfleiderer (2009) cho rằng “Các nhà kinh tế học từ lâu nhận thức được rằng con người thường có những sai lầm hệ thống và những sự lựa chọn lạ lùng mà không có mô hình truyền thống nào có thể giải thích được” Các lý thuyết

cơ cấu vốn là các lý thuyết giải tích lựa chọn cơ cấu vốn dựa trên giả thuyết các lựa chọn của nhà quản lý/chủ doanh nghiệp là hợp lý Đó là các lựa chọn có tính toán khoa học trên cơ sở sẽ giảm thiểu các chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận hay nói cách khác là lựa chọn “dựa trên lý trí” Chính vì vậy, các lý thuyết này đã tập trung quá nhiều vào xu hướng làm cách nào để tìm ra một tỷ lệ vay nợ tối ưu cho doanh nghiệp Chính vì thế các lý thuyết này chưa thể giải thích được tình trạng các DNNVV lựa chọn tín dụng không chính thức có lãi suất cao hơn nhiều lần so với đi vay ngân hàng như vay tín dụng đen (hiệu cầm đồ, vay lãi ngày, các tổ chức phường hội,…) Ngoài ra, các lý thuyết về cơ cấu vốn chưa giải thích

Trang 34

được tại sao các doanh nghiệp lại không đi vay hoặc không muốn đi vay nữa do bị

từ chối nhiều từ các tổ chức tín dụng mặc dù vẫn có nhu cầu vay

Lý thuyết tài chính hành vi là sự kết hợp giữa kinh tế và tâm lý của con người để giải thích các thành kiến, các phán đoán của các cá nhân trong quá trình ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lý thuyết tài chính hành vi có thể dùng để giải thích các quyết định lựa chọn tài chính trong tiêu dùng và trong hoạt động đầu tư, các quyết định này đều mang tính cá nhân

và cũng không thể so sánh quyết định tài chính trong vay tiêu dùng cá nhân với quyết định tài chính của doanh nghiệp Nhưng các DNNVV có đặc trưng là chủ doanh nghiệp là người trực tiếp quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, nó không giống như các doanh nghiệp lớn các quyết định phải thông qua đại hội cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc nên có thể vận dụng lý thuyết tài chính hành

vi giải thích lựa chọn nguồn tài trợ chính thức và không chính thức của DNNVV

Ngoài các lý thuyết tài chính hành vi thì lý thuyết vốn xã hội cũng được nhiều các nghiên cứu chỉ ra có thể vận dụng đề giải thích việc lựa chọn nguồn tài trợ chính thức và không chính thức của DNNVV Như kết quả của các nghiên cứu của Agarwal và Hauswald (2008), Berger và Udell (1995) cho rằng nếu một DNNVV có mối quan hệ với các cán bộ ngân hàng thì có khả năng các DNNVV sẽ

đi vay vốn ở thị trường tín dụng chính thức nếu có nhu vay vốn Ngược lại, các DNNVV có mối quan hệ chặt chẽ với các nguồn tín dụng không chính thức thì họ

có xu hướng đi vay tín dụng không chính thức Ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam khi vấn đề thể chế còn nhiều tranh cãi thì việc dựa vào các mạng lưới quan hệ đề vay vốn là điều tất yếu

Từ các lập luận trên, để tìm nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia và lựa chọn tín dụng có thể dùng lý thuyết hành vi tài chính và lý thuyết vốn xã hội để lập luận tìm nhân tố từ nghiên cứu thực nghiệm

2.2.5 Khái quát về các nhân tố ảnh hưởng

Dựa vào nền tảng lý thuyết tài chính hành vi và lý thuyết vốn xã hội, dựa vào các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan đến lý thuyết thì có các nhân tố sau ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV

Trang 35

2.2.4.1 Thiên lệch lựa chọn hiện tại (Thiếu kiên nhẫn trong lựa chọn)

Nghiên cứu của Kinari và cộng sự (2009) phát hiện ra rằng bản thân con người khi được lựa chọn thường thích được nhận phần thưởng sớm mặc dù phần thưởng sau này có thể cao hơn Ví dụ: Khi được hỏi cho phép nhận một sự lựa chọn giữa một phần thưởng là 10 triệu đồng vào ngày mai hoặc nhận 11 triệu vào 3 tháng sau, nhiều người sẽ thích lợi ích trước mắt là nhận ngay 10 triệu đồng Việc nhiều người lựa chọn nhận ngay phần thưởng như vậy là thiên lệch lựa chọn hiện tại Nghiên cứu của Ainslie (1991) cho rằng “Khi xem xét việc đánh đổi giữa thời điểm hiện tại và thời điểm trong tương lai thì con người thường thiếu kiên nhẫn hơn để đánh đổi giữa lựa chọn trong hiện tại và lựa chọn trong tương lai”

Về mối quan hệ giữa thái độ không kiên nhẫn và lựa chọn các nguồn vốn

đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra như nghiên cứu của Meier và Sprenger (2007) chỉ

ra rằng nếu các tổ chức tín dụng có thể cung cấp các khoản vay ngay lập tức thì việc vay nợ sẽ không ngừng gia tăng Gần đây, nghiên cứu của Ikeda và cộng sự (2010) kết luận rằng sự kiên nhẫn có liên quan đến tỷ lệ nợ, các cá nhân sẵn sàng lựa chọn vay ngay lập tức dù phải chịu chi phí cao hơn khi vay thời gian chậm hơn Dẫn đến nhiều cá nhân đi vay tín dụng không chính thức với lãi suất cao nhưng thời gian vay nhanh chóng Nghiên cứu của Bauer và cộng sự (2012) cho rằng sự kiên nhẫn trong lựa chọn là nhân tố quan trọng tác động lên sự phát triển của các chương trình tín dụng vị mô tại các quốc gia đang phát triển, ngoài ra còn một số nghiên cứu khẳng định sự tương quan giữa sự kiên nhẫn trong lựa chọn với việc lựa chọn sử dụng nợ như nghiên cứu của Laibson (1996), Krusell

và cộng sự (2002), Laibson và cộng sự (2003) Đối với các chủ sở hữu/ nhà quản

lý các DNNVV nếu họ có thể dễ dàng nhận được các khoản vay ngay lập tức từ người cho vay mà không có yêu cầu nghiêm ngặt của tài sản thế chấp và thủ tục đơn giản họ sẵn sàng lựa chọn mặc dù chi phí cao hơn

Vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả kỳ vọng yếu tố thiên lệch lựa chọn hiện tại

có ảnh hưởng đến sự lựa chọn nguồn tài trợ vốn của các DNNVV

Trang 36

2.2.4.2 Thái độ với rủi ro

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra mối quan hệ giữa tâm

lý lo ngại rủi ro với các quyết định cá nhân Nghiên cứu của Hartog và cộng sự (2002) việc chấp nhận rủi ro có liên quan đến thu nhập và giáo dục của mỗi cá nhân, ngoài ra nghiên cứu còn cho rằng phụ nữ và các cán bộ công chức khi kinh doanh có khả năng chấp nhận rủi ro cao hơn các đối tượng khác Tương tự như vậy, nghiên cứu của Dohmen và cộng sự (2011) cho rằng thái độ đối với rủi ro

có sự khác nhau giữa các cá nhân tùy thuộc vào độ tuổi, giới tính, đặc điểm kinh

tế xã hội tại khu vực sinh sống, đối với nam giới, thanh niên hoặc là những người xuất phát từ các nền kinh tế kém phát triển là các đối tượng sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong kinh doanh, những người có trình độ cao thì rất lo ngại về rủi

ro và có xu hướng vay nợ ít đi và ngược lại Nghiên cứu của Daly và cộng sự (2010) đã khẳng định rằng thái độ đối với rủi ro là một biến độc lập của việc vay

nợ, nghiên cứu kết luận rằng thái độ đối rủi ro là một yếu tố có tác động mạnh

mẽ đến việc vay nợ của các cá nhân cho dù đặc điểm nhân khẩu học, tính cách, xem xét hậu quả trong tương lai là khác nhau

Việc vay nợ luôn tiềm ẩn những rủi ro như: không có khả năng thanh toán dẫn tới phá sản, mất tài sản thế chấp hoặc việc biến động lãi suất Vì vậy, thái độ đối với rủi ro dự kiến sẽ có tác động đến việc các chủ doanh nghiệp quyết định tài trợ vốn của chủ DNNVV

2.2.4.3 Thái độ với nợ

Nghiên cứu thực nghiệm của Livingston và Lunt (1992) cho rằng thái độ đối với vay nợ là yếu tố có liên quan chặt chẽ với mực độ vay nợ của mỗi cá nhân Tương tự như vậy, nghiên cứu của Lea và cộng sự (1995) kết luận thái độ đối với vay nợ của các cá nhân ảnh hưởng đến việc sử dụng tín dụng, quản lý tiền và xã hội hóa kinh tế Nghiên cứu của Davies và Lea (1995) về các khoản nợ của sinh viên,

đã khám phá ra nhóm sinh viên có thu nhập thấp thì vay nợ nhiều và có thái độ bình thản trước các khoản nợ Gần đây, nghiên cứu của Watson (2003) đã chỉ ra rằng các

cá nhân có điều kiện kinh tế tốt thì có thái độ tích cực với việc vay nợ Từ các

Trang 37

nghiên cứu thực nghiệm trước đây, nghiên cứu kỳ vọng yếu tố thái độ đối với nợ là yếu tố tiềm năng ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn vốn của DNNVV

2.2.4.4 Tâm lý quá tự tin

Tâm lý quá tự tin thường được biểu thị khả năng ước tính quá cao kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể Theo nghiên cứu của Weinstein (1980), người dân, đặc biệt là những người ở vị trí lãnh đạo, thường có xu hướng đánh giá quá cao năng lực

và kiến thức của họ và họ có xu hướng thể hiện sự lạc quan và quá tự tin về kết quả không chắc chắn trong khi họ nghĩ họ có thể kiểm soát

Về mối quan hệ giữa tâm lý quá tự tin và việc sử dụng nợ của doanh nghiệp

đã có nhiều nghiên cứu nhắc đến như nghiên cứu của Shefrin (2001), Heaton (2002), Baker và cộng sự (2007), Hackbarth (2008), Oliver (2005) Các nghiên cứu này cho rằng việc quá tự tin trong quản lý sẽ dẫn đến sử dụng đòn bẩy tài chính cao Các nghiên cứu này cũng giải thích lý do tại sao mà khi nhà quản lý quá tự tin thì sử dụng nợ cao là:

+ Thứ nhất, Khi người quản lý quá tự tin sẽ cho rằng doanh nghiệp sẽ không có khủng hoảng tài chính trong tương lai hoặc công ty sẽ vượt qua dễ dàng Do đó, người quản lý sẽ sử dụng nợ nhiều hơn để hưởng lợi ích từ lá chắn thuế (Hackbarth, 2008)

+ Thứ hai, các nhà quản lý quá tự tin thường đánh giá cao các chương trình,

dự án kinh doanh sắp tới, do đó họ sẽ ưu tiên sử dụng nợ để tránh phải chia sẻ lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phần (Shefrin, 2001)

Theo Na Dai (2010), quá tự tin có thể có một ảnh hưởng quan trọng trên các quyết định tài chính của các DNNVV hơn vào các doanh nghiệp lớn vì tại các DNNVV bộ máy quản lý ít, chủ yếu phụ thuộc vào quyết định chủ quan của ít người (người quản lý hoặc chủ sở hữu) trong khi các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn thường tách bạch giữa người sở hữu vốn và người sử dụng vốn, có một hệ thống quản trị doanh nghiệp như: Hội đồng quản trị, ban giám đốc, … nên việc tâm

lý quá tự tin của một cá nhân ảnh hưởng ít hơn DNNVV Do đó, tâm lý quá tự tin

dự kiến sẽ có tác động đến lựa chọn nguồn vốn của DNNVV

Trang 38

2.2.4.5 Mạng lưới xã hội

Trong các nghiên cứu về vốn xã hội đều chỉ ra rằng, các doanh nghiệp hầu như không đáp ứng được các yêu cầu của các đối tượng cho vay do không có tài sản đảm bảo và hồ sơ năng lực kém lúc này các doanh nghiệp có thể sử dụng các mối quan hệ xã hội để có khả năng vay vốn tốt hơn

Nghiên cứu của Biggs và Shah (2006) lập luận tình trạng tham nhũng, thiếu nguồn nhân lực chất lượng, cơ sở vật chất và quản lý kém, hệ thống tư pháp không hiệu quả đang là rào cản đối với môi trường hoạt động của doanh nghiệp Kết quả là các doanh nhân phải dựa vào nguồn vốn xã hội và nội lực bản thân để kinh doanh Các nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng các mạng lưới có thể giúp các doanh nghiệp

để nâng cao tính hợp pháp và sau đó tăng cường tiếp cận tài chính từ bên ngoài như nghiên cứu của Peng và Luo (2000), Talavera và cộng sự (2010)

Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã khẳng định tác động của vốn xã hội đến lựa chọn tín dụng Nghiên cứu của Peng và La Chí Tường (2000) khẳng định sự liên kết mạng với quan chức chính phủ sẽ giúp hỗ trợ các thủ tục vay với các cơ quan và các ngân hàng được trơn tru và nhanh chóng hơn Nghiên cứu của Xin và Pearce (1996) cho thấy, trong bối cảnh các nước đang phát triển như Trung Quốc việc quan hệ chặt chẽ với các quan chức chính phủ có thể bù đắp những yếu điểm của các doanh nghiệp tư nhân Mạng lưới mạnh mẽ với các cơ quan chính phủ cũng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất của doanh nghiệp và giúp đỡ để khuếch đại mức độ tin cậy cho các doanh nghiệp trong đánh giá của các tổ chức cho vay (Peng và La Chí Tường, 2000)

Ngoài ra, việc duy trì một mối quan hệ tốt với các tổ chức xã hội như: Hiệp hội doanh nghiệp, các phòng thương mai có thể nâng cao xác suất trong việc vay vốn của các tổ chức cho vay Tương tự như vậy, các mối quan hệ tốt với các nhà quản lý tại các doanh nghiệp khác cũng có thể giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn tín dụng tốt hơn, giảm bớt các thủ tục, các mối quan hệ khác cũng được thiết lập Nghiên cứu của Uzzi (1999) cho rằng mạng xã hội có thể đẩy nhanh sự trao đổi thông tin cá nhân giữa người cho vay và người đi vay Bên cạnh đó, các kết nối không chính thức cho khách hàng vay cũng giúp các ngân hàng giảm chi phí giao

Trang 39

dịch và giữ chân khách hàng của họ (Boot, 2000) Các nghiên cứu sâu hơn về vai trò của các mạng đến việc tiếp cận các nguồn vốn vay của các DNVVN có thể được tìm thấy trong các nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2006), Biggs và Sha (2006), Atieno (2009), Khwaja và cộng sự (2011) Như vậy, nghiên cứu đã thấy một liên kết tích cực giữa kết nối các mạng và việc vay nợ

2.2.4.6 Các nhân tố khác khác

Ngoài những nhân tố thuộc lý thuyết tài chính hành vi và vốn xã hội, còn một số nhân tố liên quan liên quan đến đặc điểm của chủ sở hữu và đặc điểm của doanh nghiệp dự đoán có ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn bao gồm:

a Đặc điểm của chủ sở hữu

* Giới tính: Các nghiên cứu của Carter và Rosa (1998), Verhuel và Thurik,

(2001), Alicia và Wolken (2002) cho rằng quyết định vay nợ có sự khác nhau về giới tính của chủ sở hữu, tương tự như vậy Alicia và Wolken (2002) đã chỉ ra nếu

nữ giới mà làm chủ doanh nghiệp thì rủi ro sẽ cao hơn nam giới nên có sự khác nhau trong các quyết định vay vốn Ngoài ra, nghiên cứu thực nghiệm của Bellucci

và cộng sự (2010) nhận thấy việc vay vốn ngân hàng của chủ doanh nghiệp nữ là ít hơn các chủ doanh nghiệp nam

* Độ tuổi: Nghiên cứu của Romano và cộng sự (2001) cho rằng những chủ

doanh nghiệp trẻ tuổi thường đi vay nhiều hơn các chủ doanh nghiệp nhiều tuổi Tương

tự như vậy, Nakano và Nguyễn (2011) kết luận rằng so với các chủ doanh nghiệp trẻ tuổi, các chủ doanh nghiệp lớn tuổi thường lo ngại rủi ro nhiều hơn lên họ không thích đầu tư mạo hiểm dẫn đến họ thích sử dụng nguồn vốn của chính mình, có xu hướng giữ lại lợi nhuận hơn là đi vay từ bên ngoài

* Trình độ học vấn: Nghiên cứu của Coleman (2007) khẳng định trình độ

học vấn của chủ sở hữu có quan hệ tích cực đến việc sử dụng đòn bẩy tài chính Nghiên cứu của Thanh và cộng sự (2011) đã bổ xung thêm căn cứ cho quan điểm trình độ học học vấn ảnh hưởng đến việc sử dụng nợ kết luận rằng các chủ sở hữu

có trình độ học vấn cao thường ít khi bị từ chối khi đi vay Điều này là do các chủ

sở hữu có trình độ học vấn cao thường tự tin hơn khi làm việc với nhân viên tín dụng khi đi vay (Storey, 1994)

Trang 40

* Kinh nghiệm: Nghiên cứu của Cole (1998) kết luận kinh nghiệm của chủ sở

hữu được đo bằng số năm làm việc trong một lĩnh vực kinh doanh cụ thể và nó có tác động tích cực đến việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp Nghiên cứu của Gompers và cộng sự (2010) cho rằng các nhân viên tín dụng của các ngân hàng thường tin rằng các chủ sở hữu có nhiều kinh nghiệm có khả năng kinh doanh tốt hơn những chủ

sở hữu ít kinh nghiệm nên các ngân hàng thường lấy kinh nghiệm của chủ sở hữu là một tiêu chí trong thông tin mềm để đánh giá mức độ tín nhiệm khi cho vay

b Đặc điểm của doanh nghiệp

* Quy mô: Quy mô của một doanh nghiệp một yếu tố được nhắc đến nhiều nhất

ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn cụ thể như các nghiên cứu của Friend và Lang (1988), Devereux và Schiantarelli (1990), Beck và Levine, (2004), Beck và cộng sự (2005) Nghiên cứu của Beck & Levine (2004) cho rằng các doanh nghiệp nhỏ thường lựa chọn nguồn vốn vay ngắn hạn và có nhiều khả năng tìm kiếm các khoản vay từ các nguồn không chính thức như: gia đình, bạn bè, các tổ chức phường, hội Trong khi đó các doanh nghiệp có quy mô lớn thường lựa chọn tài trợ vốn bằng nguồn chính thức như ngân hàng Theo nghiên cứu của Myers (1984), tại các doanh nghiệp lớn vấn đề bất cân xứng thông tin là thấp hơn các doanh nghiệp nhỏ vì vậy các doanh nghiệp lớn dễ dàng tiếp cận với các khoản vay từ các tổ chức tài chính

* Tuổi doanh nghiệp: Nghiên cứu của Coleman và Cohn (2000), các doanh

nghiệp mới thành lâp sẽ phải đối mặt với vấn đề bất cân xứng thông tin rất lớn, do đó việc tiếp cận với các nguồn vay chính thức từ ngân hàng là rất khó khăn Ngoài ra đã

có nhiều nghiên cứu cũng khẳng định ảnh hưởng tích cực của yếu tố thời gian hoạt động đến việc sử dụng nợ như nghiên cứu của Coleman và Cohn (2000), Beck và cộng sự (2005), Akoten và cộng sự (2006) Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu có kết quả ngược lại như nghiên cứu của Rand (2007) cho rằng tuổi của doanh nghiệp và

tỷ lệ nợ có mối quan hệ tiêu cực

* Hình thức pháp lý: Về khía cạnh hình thức sở hữu, một số nghiên cứu cho

rằng với các hình thức pháp lý khác nhau thì việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn cũng khác nhau như nghiên cứu của Laeven (2003), Le và Nguyen (2009)

Ngày đăng: 03/07/2017, 10:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính: Tiếp cận theo phương pháp phân tích đường dẫn, Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 5(40,), 14-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính: Tiếp cận theo phương pháp phân tích đường dẫn
Tác giả: Đoàn Ngọc Phi Anh
Năm: 2010
2. Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến (2014), Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Tạp chí phát triển và hội nhập, Số 18(28), 33- 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
Tác giả: Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến
Năm: 2014
3. Nguyễn Thị Lan Anh (2015), Hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại khu vực Tây Bắc Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại khu vực Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh
Năm: 2015
4. Nguyễn Hoàng Anh (2015), Vấn đề vay nợ của DNNVV Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề vay nợ của DNNVV Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2015
5. Lê Xuân Bá (2006), Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Lê Xuân Bá
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2006
6. Nguyễn Thế Bính (2013), Nguồn vốn cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn vốn cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Thế Bính
Năm: 2013
7. Nguyễn Thế Bính (2013), Kinh nghiệm quốc tế về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 12 (22) – tháng 9 -10/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kinh nghiệm quốc tế về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và bài học cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thế Bính
Năm: 2013
8. Nguyễn Thị Cành (2008), Khả năng tiếp cận nguồn tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Tạp chí phát triển kinh tế, số 212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tiếp cận nguồn tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Cành
Năm: 2008
9. Cục Thống kê Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình (2010, 2011, 2012, 2013, 2014. 2015), Niêm giám thống kê năm các năm 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám thống kê năm các năm 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014
Nhà XB: NXB Thống kê
11. CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng). (2012), Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2011, Báo cáo tháng 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2011
Tác giả: CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng)
Năm: 2012
12. CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng). (2012), Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2011, Báo cáo tháng 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2011
Tác giả: CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng)
Năm: 2012
13. CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng). (2013), Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2012, Báo cáo tháng 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2012
Tác giả: CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng)
Năm: 2013
14. CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng). (2014), Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2013, Báo cáo tháng 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2013
Tác giả: CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng)
Năm: 2014
15. CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng). (2015), Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2014, Báo cáo tháng 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2014
Tác giả: CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng)
Năm: 2015
16. CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng). (2016), Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2015, Báo cáo tháng 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2015
Tác giả: CIEM (Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh tế Trung Uơng)
Năm: 2016
18. Nguyễn Văn Dũng (2014), Huy động vốn đầu tư phát triển Kinh tế - Xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động vốn đầu tư phát triển Kinh tế - Xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2014
19. Lê Phương Dung và Nguyễn Thị Lam Thanh (2013), Các nhân tố ảnh hưởng đến vay nợ ngắn hạn ngân hàng, Tạp trí khoa học đại học Đà Nẵng, số 8 trang 46 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến vay nợ ngắn hạn ngân hàng
Tác giả: Lê Phương Dung và Nguyễn Thị Lam Thanh
Năm: 2013
20. Nguyễn Thị Đông (2006), Thị trường tín dụng phi chính thức ở Việt Nam, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, số 51 (2006), 48 – 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường tín dụng phi chính thức ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Đông (2006), Thị trường tín dụng phi chính thức ở Việt Nam, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, số 51
Năm: 2006
21. Phạm Quốc Đông và cộng sự (2014), Mô hình cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Kinh nghiệm Châu phi và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 31, Số 1 (2015) 71-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Kinh nghiệm Châu phi và bài học cho Việt Nam
Tác giả: Phạm Quốc Đông và cộng sự
Năm: 2014
22. Ho Sy Hung (2007). Tăng cường hỗ trợ các ngành công nghiệp ở Việt Nam: Liên kết các DNNVV Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, Cục Phát triển DNNVV. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hỗ trợ các ngành công nghiệp ở Việt Nam: "Liên kết các DNNVV Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu
Tác giả: Ho Sy Hung
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 1.1. Phương pháp nghiên cứu (Trang 13)
Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận án - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Hình 1.1 Quy trình nghiên cứu của luận án (Trang 14)
Hình 2.1: Trật tự ưu tiên các nguồn tài trợ - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Hình 2.1 Trật tự ưu tiên các nguồn tài trợ (Trang 18)
Bảng 2.1. Cơ cấu nguồn vốn của DNNVV Hồ Chí Minh - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 2.1. Cơ cấu nguồn vốn của DNNVV Hồ Chí Minh (Trang 21)
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu lý thuyết - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu lý thuyết (Trang 42)
Bảng 3.12: Nguồn huy động vốn qua tổ chức tài chính phi ngân hàng - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 3.12 Nguồn huy động vốn qua tổ chức tài chính phi ngân hàng (Trang 69)
Bảng 4.3: Đặc điểm của doanh nghiệp khảo sát - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.3 Đặc điểm của doanh nghiệp khảo sát (Trang 93)
Bảng 4.5. Thống kê các yếu tố thuộc hành vi tài chính - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.5. Thống kê các yếu tố thuộc hành vi tài chính (Trang 97)
Bảng 4.7. Thống kê mức độ sử dụng mối quan hệ, mạng lưới với các nhóm - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.7. Thống kê mức độ sử dụng mối quan hệ, mạng lưới với các nhóm (Trang 99)
Bảng 4.11: Thống kê mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và tham gia tín dụng - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.11 Thống kê mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và tham gia tín dụng (Trang 104)
Bảng 4.18. Kiểm định Chi -Square test giữa lựa chọn tín dụng và biến kiểm soát - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.18. Kiểm định Chi -Square test giữa lựa chọn tín dụng và biến kiểm soát (Trang 112)
Bảng 4.21. Thống kê mối quan hệ giữa các biến vốn xã hội và lựa chọn tín dụng - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.21. Thống kê mối quan hệ giữa các biến vốn xã hội và lựa chọn tín dụng (Trang 116)
Bảng 4.27: Khả năng dự đoán của mô hình - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.27 Khả năng dự đoán của mô hình (Trang 122)
Bảng 4.28: Tổng hợp hệ số hồi quy lựa chọn tín dụng lần 1 - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.28 Tổng hợp hệ số hồi quy lựa chọn tín dụng lần 1 (Trang 123)
Bảng 4.32: Khả năng dự báo của mô hình - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa – trường hợp tiểu vùng tây bắc
Bảng 4.32 Khả năng dự báo của mô hình (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w