Chính vì vậy việc nghiên cứu đề xuất đưa ra nội dung của học phần “Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán” bám sát các hoạt động dạy học Toán và lồng ghép việc rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ngày nay công nghệ thông tin (CNTT) đã trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi các hoạt động kinh tế và xã hội, trong đó có giáo dục Việc khai thác các phần mềm và truyền thông đa phương tiện đang được ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học ở nhiều nước trên thế giới Tăng cường ứng dụng CNTT trong giáo dục sẽ tạo một bước chuyển cơ bản trong quá trình cập nhật kịp thời và thường xuyên các tiến bộ khoa học công nghệ vào nội dung chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh (HS), góp phần nâng cao chất lượng dạy học
1.2 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên (GV) trung học đã được Bộ Giáo dục
và Đào tạo (GD&ĐT) quy định theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 gồm 6 tiêu chuẩn với 25 tiêu chí cụ thể về năng lực nghề nghiệp cần được bồi dưỡng cho người GV Bên cạnh những kĩ năng (KN) “truyền thống”, giờ đây GV cần được trang bị thêm KN mới: KN ứng dụng CNTT trong dạy học
1.3 Trong những năm gần đây, một số trường đại học đào tạo ngành sư
phạm mới bước đầu đưa nội dung “Ứng dụng CNTT trong dạy học” vào dạy
cho sinh viên (SV) trên cơ sở một môn học hoặc một phần của một môn học Tuy nhiên, nội dung của học phần chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn sử dụng phần mềm phổ thông như PowerPoint, Violet, còn việc giới thiệu các phần mềm Toán học và phương pháp sử dụng chúng sao cho hiệu quả và việc rèn luyện các KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu Chính vì vậy việc nghiên cứu đề xuất đưa ra nội dung của học phần “Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán” bám sát các hoạt động dạy học Toán và lồng ghép việc rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong một số học phần như “Phương pháp dạy học (PPDH) môn Toán” và “Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (NVSP)” trong việc đào tạo SV ngành Toán ở các trường Sư phạm là cần thiết
1.4 Vấn đề CNTT nói chung và ứng dụng CNTT vào dạy học nói riêng
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đề cập hầu hết trong các tài liệu về PPDH, tài liệu chuyên khảo như Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi
Trang 2Văn Nghị, Đào Thái Lai, Phạm Xuân Quế, Lê Công Triêm, Trần Vui, Trịnh Thanh Hải, Trần Trung, Đặng Thị Thu Thủy,
Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận án là: “Rèn
luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, xác định các KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường Trung học phổ thông (THPT) và đề xuất các biện pháp (BP) sư phạm nhằm rèn luyện những KN này cho SV Đại học Sư phạm (ĐHSP) ngành Toán góp phần nâng cao KN dạy học cho SV
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
3.2 Đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được các KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán
ở trường THPT và xây dựng được các BP sư phạm phù hợp thì sẽ rèn luyện
được các KN này cho SV Sư phạm ngành Toán trong quá trình đào tạo ở trường Đại học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tổng hợp cơ sở lí luận về việc rèn luyện KN dạy học nói chung, KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán nói riêng
5.2 Xác định một số KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường THPT
5.3 Khảo sát thực trạng KN ứng dụng CNTT trong dạy học của SV ĐHSP ngành Toán và các hoạt động nhằm rèn luyện các KN này cho SV ở một
số trường Đại học hiện nay
5.4 Đề xuất một số BP sư phạm nhằm rèn luyện các KN ứng dụng CNTT trong dạy học cho SV ĐHSP ngành Toán
5.5 Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để kiểm tra tính cần thiết và khả thi của các BP sư phạm đã đề xuất trong luận án
6 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học Toán
Trang 3là rất rộng nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán ở trường THPT cho SV ĐHSP ngành Toán thông qua quá trình giảng dạy các học phần “Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán”,
“PPDH môn Toán”, “Rèn luyện NVSP” và hoạt động kiến tập, thực tập sư phạm (TTSP)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2 Phương pháp điều tra và quan sát
7.3 Phương pháp chuyên gia
7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
8 Những luận điểm đưa ra bảo vệ
8.1 Hệ thống KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông cho
SV ĐHSP ngành Toán được xác định là có cơ sở khoa học cả về lí luận và thực tiễn, phù hợp với Chuẩn nghề nghiệp GV trung học
8.2 Kết quả nghiên cứu của đề tài hoàn toàn sử dụng trong việc rèn luyện
KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông cho SV ngành Toán ở các trường Đại học
9 Những đóng góp của luận án
9.1 Làm rõ quan niệm về KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán
9.2 Làm rõ một số KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường THPT thông qua một hệ thống các tình huống và hoạt động trong dạy học Toán ở THPT
9.3 Phân tích rõ thực trạng KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán ở trường phổ thông và hoạt động rèn luyện các KN này cho SV Sư phạm ngành Toán ở một số trường Đại học hiện nay
9.4 Đề xuất một số BP sư phạm nhằm rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học cho SV Sư phạm ngành Toán theo hướng gắn với các hoạt động trong dạy học Toán ở trường THPT
9.5 Hệ thống tài liệu hướng dẫn gồm có: Tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm và tích hợp việc sử dụng phần mềm với một số PPDH tích cực, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong đào tạo và bồi dưỡng GV
Trang 410 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Danh mục công trình của tác giả, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luận án gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Một số BP rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông cho SV ĐHSP ngành Toán
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những kết quả nghiên cứu trên thế giới
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến việc đào tạo GV ứng dụng CNTT trong dạy học gồm các hướng sau đây:
- Hướng 1: Các nghiên cứu về các trở ngại đối với việc đưa CNTT vào trường học;
- Hướng 2: Các nghiên cứu về đào tạo CNTT cho SV sư phạm;
- Hướng 3: Các nghiên cứu về đào tạo CNTT cho GV phổ thông
1.1.2 Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học Phổ biến là hướng nghiên cứu khai thác, sử dụng các phần mềm ứng dụng trong giảng dạy các bộ môn Bên cạnh đó là các nghiên cứu thiết kế các phần mềm hỗ trợ kiểm tra đánh giá, thí nghiệm ảo,… Hướng nghiên cứu lí luận cũng chủ yếu bàn về các vấn đề chung, ứng dụng CNTT trong đổi mới dạy học như: Nguyễn
Bá Kim (1990), Đào Thái Lai (1992), Trần Vui (1994), Nguyễn Quang Lạc (1992), Nguyễn Tích Lăng (2000), Thái Văn Thành (1999), Lê Hồng Sơn (2002), Nguyễn Sỹ Đức (2001), Lê Công Triêm (2004), Trịnh Thanh Hải (2006), Trần Khánh (2007), Trần Trung (2009), Nguyễn Văn Hồng (2012),
Từ phân tích tổng quan các kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy: Vai trò và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học đã được khẳng định và đã đưa ra nhiều mô hình, BP ứng dụng CNTT vào dạy học một cách hiệu quả như: khai thác phần mềm, e-learning, m-
Trang 5learning,… Mặt khác, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học Toán, trong đó một trong các nguyên nhân chính là một bộ phận GV chưa có phương pháp sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học Toán một cách có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho
SV Sư phạm Toán trong các trường Đại học hiện nay còn mang nặng tính lí luận, ít chú ý tới rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học, do đó khi SV ra trường thường lúng túng trong giảng dạy ở trường phổ thông
Theo chúng tôi, hiện nay cũng còn một số vấn đề nghiên cứu là mở, như: (1) Những mặt trái của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán và cách thức thực hiện còn hạn chế
(2) Yêu cầu về năng lực của người GV và HS để triển khai dạy và học Toán trong môi trường CNTT
(3) Xác định rõ các KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường THPT, từ đó xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục đại học hiện nay
1.2 Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.2.1 Kĩ năng dạy học
1.2.1.1 Quan niệm về kĩ năng
KN là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu về tâm lí học và giáo dục học trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu Chúng tôi hiểu
một cách khái quát về KN như sau: KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những mục tiêu và những điều kiện thực tế nhất định
1.2.1.2 Quan niệm về kĩ năng dạy học
Một trong những mục tiêu đào tạo của các trường đại học có đào tạo SV
sư phạm là đào tạo các SV này trở thành GV tương lai có năng lực chuyên môn vững vàng, năng lực sư phạm và KN sư phạm tốt KN dạy học là bộ phận của
KN sư phạm và nằm trong nhóm các KN chuyên biệt của người GV Theo
chúng tôi thì: KN dạy học là sự thực hiện thành thạo hệ thống các thao tác phức tạp của hành động giảng dạy, bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức sư phạm, kinh nghiệm sư phạm đã có của người giảng viên nhằm
Trang 6thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học
1.2.1.3 Quan niệm về kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Kết hợp quan niệm KN và quan niệm ứng dụng CNTT trong dạy học ta
có quan niệm: KN ứng dụng CNTT trong dạy học là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó đến mức độ thành thạo việc sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại nhằm
tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên trong dạy học, đảm bảo cho hoạt động dạy học đạt kết quả cao
1.2.2 Phân loại kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Có thể phân loại KN ứng dụng CNTT của GV THPT thành ba nhóm như sau:
a Nhóm KN sử dụng máy tính và thiết bị ngoại vi
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận
án, chúng tôi quan niệm KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán là khả năng thực hiện có kết quả việc sử dụng và khai thác các phần mềm dạy học đến mức
độ thành thạo trong việc tổ chức các hoạt động dạy học môn Toán, đảm bảo cho hoạt động dạy học đạt kết quả cao
1.3.2 Một số kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên Toán ở trường Trung học phổ thông
1.3.2.1 Kĩ năng 1: Kĩ năng sử dụng phần mềm Toán học để tính toán
Cấp độ 1 (Tối thiểu): Biết sử dụng các chức năng, công cụ của phần mềm
toán học
Ví dụ 1.1: Sử dụng các lệnh tính toán trong Maple
- Giải phương trình 5x2 3x 2 0
Ta gõ lệnh [> solve(5*x^2+3*x-2,{x});
Trang 7[> simplify(limit((2*sqrt(x+4)-(64-x)^(1/3))/x,x=0));
25 48Như vậy kết quả 1 1 (1/3)
64
2 192 sau khi đã rút gọn là
25
48
Cấp độ 2 (Khá): Biết sử dụng phần mềm Toán học để thực hiện các tính
toán và giải quyết các bài toán đã có thuật toán, quy trình xử lý
Cấp độ 3 (Tốt): Biết sử dụng phần mềm Toán học để giải quyết các bài
toán chưa có sẵn thuật toán, quy trình xử lý Người GV phải biết vận dụng sáng tạo kiến thức Toán học vào thực tiễn để giải quyết vấn đề (GQVĐ)
1.3.2.2 Kĩ năng 2: Kĩ năng sử dụng phần mềm Toán học để mô tả bài toán
Cấp độ 1 (Tối thiểu): Biết sử dụng phần mềm Toán học để mô tả các bài
toán đơn giản
Cấp độ 2 (Khá): Biết sử dụng phần mềm Toán học để mô tả bài toán, vấn
đề thực tiễn trên cơ sở đã có thuật toán, quy trình thực hiện Ở mức độ khá, người GV phải đạt trình độ sử dụng thành thạo các chức năng, công cụ của phần mềm để thể hiện việc mô tả trên cơ sở các bước của quy trình, thuật toán
Cấp độ 3 (Tốt): Biết sử dụng phần mềm Toán học để mô tả bài toán, vấn
đề thực tiễn chưa có ngay thuật toán tường minh Ở mức độ này, do chưa có
Trang 8ngay thuật toán, quy trình để thực hiện mô tả nên người GV phải kết nối giữa kiến thức toán, kiến thức thực tiễn với những gì mà phần mềm cung cấp để đưa
ra được mô tả chính xác, trực quan bài toán
1.3.2.3 Kĩ năng 3: Kĩ năng tương tác với mô hình bài toán trên máy tính
Cấp độ 1 (Tối thiểu): Biết tương tác với mô hình bài toán trên máy tính
bằng cách thay đổi để có thể quan sát, xem xét mô hình bài toán dưới các góc
độ khác nhau
Cấp độ 2 (Khá): Biết tương tác với mô hình bài toán trên máy tính bằng
cách thay đổi các tham số của bài toán
Ví dụ 1.8: Minh họa ý nghĩa hình học của tích phân xác định
Giả sử với tích phân:
1 2 0
x dx GV thực hiện việc chia đoạn [0;1] thành n phần và tính tổng Riemann:
[> restart; with(student):
n:=10;
rightbox(x^2, x=0 1, n);
rightsum(x^2,x=0 1,n);
Sau đó GV cho n nhận các giá trị khác nhau (tăng dần) để qua đó HS hình
dung được ý nghĩa hình học của tích phân xác định (Hình 1.4, Hình 1.5)
Cấp độ 3 (Tốt): Biết tương tác với mô hình bài toán trên máy tính để tạo
ra tình huống gợi vấn đề dẫn đến nhu cầu tương tác với mô hình bài toán, từ đó phát hiện dần ra cách GQVĐ, mở rộng, đề xuất bài toán mới
1.3.2.4 Kĩ năng 4: Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ việc vận
Trang 9dụng lí luận dạy học vào dạy học Toán
Cấp độ 1 (Tối thiểu): Biết ứng dụng CNTT như một phương tiện để
truyền tải thông tin đến người học Ở mức độ này CNTT chủ yếu là công cụ của người Thầy và thông tin chủ yếu ở dạng tĩnh
Cấp độ 2 (Khá): Biết ứng dụng CNTT để tạo ra một môi trường thuận lợi
cho việc thiết kế, tổ chức bài học Người GV sẽ khai thác các thông tin phản hồi, các tương tác với phần mềm để dẫn dắt HS tham gia quá trình phát hiện, GQVĐ từ đó tích lũy kiến thức, rèn luyện KN cho bản thân
Cấp độ 3 (Tốt): Biết ứng dụng CNTT để tăng cường vai trò của HS: Bên
cạnh việc GV sử dụng phần mềm, ủy thác nhiệm vụ học tập cho HS một cách linh hoạt thì trong một số khâu, HS sẽ trực tiếp sử dụng CNTT, tương tác với
mô hình bài toán trên máy tính để phát hiện và GQVĐ
Ví dụ 1.12: Xác định tứ diện đều trong hình vẽ sau: (Hình 1.12)
- Hoạt động 1: Hãy dự đoán đâu là hình tứ diện đều? Từ đó hãy sử dụng
phần mềm GeoGebra để kiểm tra
Rõ ràng, hình ảnh trực quan dễ khiến HS cho rằng tứ diện A 2 B 2 C 2 D 2 là tứ
diện đều và tứ diện A 1 B 1 C 1 D 1 thì không phải Nhưng khi HS dùng chức năng đo đạc của phần mềm GeoGebra thì nhanh chóng nhận ra sự nhầm lẫn này và sửa
chữa (Hình 1.13)
- Hoạt động 2: GV cho HS nhận xét về hình biểu diễn tổng quát của một
tứ diện đều GV cần nhấn mạnh với HS rằng: nếu như chỉ dựa vào hình biểu diễn của các hình khối không gian thì khó xác định được chính xác về hình đó Chúng ta cũng không thể đo đạc, hay khảo sát trên hình vẽ một cách chính xác được ngoại trừ trên chính vật thật hay mô hình của vật thật Vì vậy, khi giải các bài toán hình học không gian, một mặt rất cần hình vẽ để hỗ trợ cho tư duy, một mặt tránh sự chủ quan, ngộ nhận mà dẫn đến sai lầm đáng tiếc Cần phải kết
Trang 10hợp với tư duy logic để làm sáng tỏ những suy đoán
- Hoạt động 3: GV cũng phải tạo tình huống giúp HS nhận dạng được
hình chóp tam giác đều và tứ diện đều bằng cách mở tệp chứa sẵn tứ diện đều
và hình chóp tam giác đều, yêu cầu HS sử dụng công cụ vuông góc và đo độ dài đoạn thẳng để xác định đâu là hình chóp tam giác đều và đâu là tứ diện đều Đây là hai khái niệm rất hay nhầm lẫn ở HS Hình chóp tam giác đều là hình có đáy là tam giác đều, có hình chiếu ở đỉnh trùng với trọng tâm của đáy Còn tứ diện đều là hình chóp tam giác đều có tất cả các cạnh đều bằng nhau Như vậy,
tứ diện đều là một hình chóp tam giác đều, nhưng điều ngược lại là không đúng
1.3.2.5 Kĩ năng 5: Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin để đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh
Cấp độ 1 (Tối thiểu): Biết sử dụng trực tiếp chức năng của phần mềm để
hỗ trợ một khâu nào đó trong kiểm tra
Ví dụ 1.12: Sử dụng phần mềm TestPro để tạo ngân hàng đề, phần mềm
này được tích hợp hoàn toàn trong môi trường soạn thảo Microsoft Word, hỗ
trợ biên soạn và trộn các câu hỏi trắc nghiệm (Hình 1.11 và Hình 1.12)
Hình 1.15: Giao diện chính
của phần mềm
Hình 1.16: Giao diện nhập thêm
câu hỏi mới
Cấp độ 2 (Khá): Sau khi sử dụng phần mềm để hỗ trợ khâu ra đề và kiểm
tra thì tiếp tục sử dụng phần mềm để tổng hợp kết quả kiểm tra của HS và lưu trữ kết quả để làm cơ sở đánh giá cả quá trình học tập của HS
Cấp độ 3 (Tốt): Biết sử dụng thành thạo các phần mềm để hỗ trợ ra đề, tổ
chức kiểm tra, lưu trữ kết quả kiểm tra để phân tích, đánh giá kết quả học tập của HS đồng thời chỉ ra được những lỗ hổng về kiến thức và KN để điều chỉnh PPDH cho phù hợp
Trang 111.4 Rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán
1.4.1 Quá trình rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán
1.4.2 Đánh giá kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán
1.5 Thực trạng rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán ở trường Đại học
1.5.1 Triển khai khảo sát
1.5.1.1 Mục đích khảo sát
1.5.1.2 Đối tượng và thời gian khảo sát
1.5.1.3 Nội dung khảo sát
- Ngoài các KN chung về ứng dụng CNTT, GV Toán rất quan tâm đến các KN gắn với đặc điểm riêng của hoạt động dạy học Toán ở trường phổ thông
và luôn có ý thức tìm đọc các tài liệu về ứng dụng CNTT trong dạy học Toán
và tham gia các khóa bồi dưỡng thường xuyên để bổ sung, cập nhật, nâng cao
các KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán ở trường THPT
1.5.2.2 Kết quả khảo sát ý kiến giảng viên ở trường Đại học
1.5.2.3 Kết quả khảo sát kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán
Sau quá trình 4 năm học tập ở trường Sư phạm, một phần SV đã có KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở mức tối thiểu Tuy nhiên theo kết quả khảo sát
ý kiến của GV THPT thì để đáp ứng được nhu cầu thực tiễn giảng dạy ở các
Trang 12trường phổ thông thì SV phải đạt từ cấp độ 2 trở lên
Một trong những điểm nhấn được trình bày trong chương 1 là: Trên cơ sở
lí luận, Chuẩn nghề nghiệp GV trung học, thực tiễn về ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THPT, theo định hướng gắn kết chặt chẽ với các hoạt động trong dạy học môn Toán ở trường THPT, đã xác định được 5 KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường THPT, với các biểu hiện cụ thể gắn với từng cấp độ của KN, đó là:
+ KN 1: KN sử dụng phần mềm Toán học để tính toán
+ KN 2: KN sử dụng phần mềm Toán học để mô tả bài toán
+ KN 3: KN tương tác với mô hình bài toán trên máy tính
+ KN 4: KN ứng dụng CNTT để hỗ trợ việc vận dụng lí luận dạy học vào dạy học Toán
+ KN 5: KN ứng dụng CNTT để đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS
Từ các kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn được trình bày trong nội dung của chương 1 cũng cho thấy những nguyên nhân dẫn đến hạn chế về việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán, những hạn chế trong việc rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán cho SV sư phạm ngành Toán để luận án
có thêm cơ sở đề xuất các BP sư phạm ở chương 2
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CNTT ĐẶC THÙ TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGÀNH TOÁN