Khuyết thiếu nhiều nhất chính là những nghiên cứu chuyên sâu về văn bản và đặc điểm ngôn ngữ văn tự trong sáng tác thơ chữ Hán Phùng Khắc Khoan.. 1.2 Ngôn chí thi tập 言志詩集 NCTT- tập thơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHÙNG DIỆU LINH
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CHỮ HÁN
TRONG NGÔN CHÍ THI TẬP CỦA PHÙNG KHẮC KHOAN
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số:62.22.40.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI- 2017
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Phùng Khắc Khoan là tác giả văn học lớn ở cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII Tuy vậy, cho tới nay những khảo cứu về Phùng Khắc Khoan lại chưa thực sự đầy đủ Khuyết thiếu nhiều nhất chính
là những nghiên cứu chuyên sâu về văn bản và đặc điểm ngôn ngữ văn tự trong sáng tác thơ chữ Hán Phùng Khắc Khoan
1.2 Ngôn chí thi tập 言志詩集 (NCTT)- tập thơ được đánh giá là
thành công nhất của ông- lại chưa có một chuyên luận nào khảo sát nghiên cứu toàn diện về các vấn đề văn bản cũng như ngôn ngữ văn
tự của tác phẩm; chưa có một sơ đồ truyền bản nào được thiết lập cũng chưa có một thiện bản nào được đưa ra trên cơ sở hiệu khám tỉ
mỉ văn bản ngõ hầu có thể làm căn cứ cho những nghiên cứu khác Ngoài ra, đặc điểm sử dụng ngôn ngữ văn tự của tác giả trong tác phẩm vẫn gần như bị bỏ ngỏ Luận án này của chúng tôi cố gắng bổ sung phần nhỏ vào mảng khuyết thiếu đó
1.3 Luận án giới thiệu một phương pháp tiếp cận mới trong công tác chỉnh lí cổ thư nhằm giúp ích cho người học, người giảng dạy Ngữ văn, văn học, Hán Nôm, văn hóa học… ở các cấp khác nhau 1.4 Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập của đất nước, nhiệm vụ bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc ngày càng trở nên thiết yếu Một trong những trách nhiệm của người làm công tác văn bản học Hán Nôm là tích cực hoàn thiện những công việc chuyên môn để công bố văn bản tới đại chúng Luận án là một nỗ lực nhằm thực hiện nhiệm vụ này
2 Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng tới hai mục đích chính:
+Khảo sát, đánh giá văn bản, xác lập phả hệ văn bản, hoàn
thiện thiện bản NCTT bổ sung các nghiên cứu về tác giả Phùng
Khắc Khoan
+Từ số liệu thống kê ngôn ngữ văn tự Hán (tần số sử dụng văn
tự, các nhóm văn tự có số lần xuất hiện cao) trong tác phẩm và thông qua phân tích đặc điểm kết hợp của một số trường hợp văn tự có tần suất cao đột biến, luận án nghiên cứu đặc điểm và giá trị cách sử dụng ngôn ngữ văn tự trong thơ chữ Hán của Phùng Khắc Khoan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng:
- Các vấn đề văn bản học của văn bản NCTT
- Đặc điểm cách sử dụng chữ Hán của Phùng Khắc Khoan trong NCTT
Trang 33.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Ở phương diện văn bản luận án tập trung khảo sát, đánh giá văn bản hiện tồn, xây dựng phả hệ văn bản, hiệu khám, xác
lập thiện bản NCTT Ở phương diện ngôn ngữ, luận án nghiên cứu
đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ văn tự Hán trong 227 bài thơ chữ
Hán của Phùng Khắc Khoan trong NCTT, chủ yếu tập trung ở đặc
điểm kết hợp, ý nghĩa và giá trị biểu đạt của chúng
-Về tư liệu, nghiên cứu của luận án tập trung ở 09 văn bản hiện
tồn có sao chép NCTT hiện đang lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt
Nam và Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của ngành Văn bản học
4.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản: Nghiên cứu văn bản ở đây
được dùng với nghĩa hẹp, vốn được dịch từ thuật ngữ Bản bản học (
版本学) Bản bản học (版本学) lấy hình thái vật chất của sách vở làm đối tượng nghiên cứu, lấy giám định và khảo đính văn bản làm nội dung trung tâm, lấy công bố giá trị văn hiến của thư tịch làm mục tiêu khoa học cuối cùng [225,49]
4.2 Phương pháp Hiệu khám: “Bản chất của hiệu khám chính là lấy
dị văn của cổ thư làm đối tượng khảo sát, đối với những thay đổi lịch đại của văn bản cần “cầu đồng tồn dị”, không ngừng truy cầu văn bản có tính ổn định tương đối [225,75]
4.3 Phương pháp nghiên cứu Tân Phả hệ văn bản (New- stemmatics):
Tân phả hệ văn bản (New- stemmatics) ứng dụng thành tựu
ngành Phân loại học phân tích nhánh (Cladistic) trong Sinh học để phân tích dị văn giữa các văn bản bằng những phương pháp khoa học, chính xác [177] Dựa trên cơ sở lí luận ngành Phả hệ văn bản, tận dụng thành tựu của Tân phả hệ văn bản, chúng tôi xây dựng sơ
đồ phả hệ văn bản NCTT bằng phần mềm PAUP V4
4.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): NCTT được
chúng tôi lựa chọn như một trường hợp đại diện cho toàn bộ sáng tác thơ chữ Hán của Phùng Khắc Khoan Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu trường hợp cũng được dùng trong khai thác các chữ có số lần xuất hiện đặc biệt cao trong văn bản
4.5 Các phương pháp liên ngành: Để nghiên cứu đặc điểm các sử
dụng chữ Hán của Phùng Khắc Khoan chúng tôi đã vận dụng kiến thức của các ngành như Từ vựng ngữ nghĩa học, ngữ pháp học, phong cách học v.v và phương pháp liên ngành trong nghiên cứu ngôn ngữ văn tự như phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả…
Trang 44.6 Thao tác xây dựng phả hệ văn bản bằng phần mềm PAUP V4
Dị văn của các văn bản được mã hóa theo nguyên tắc nhị phân Bảng tổng hợp dị văn được coi như là một chuỗi đặc điểm của văn bản Trên cơ sở dữ liệu này, các văn bản sẽ được phần mềm phân tích dữ liệu PAUP hệ thống hóa theo phương pháp Maximum Parmisimony(MP) (O’Hara, Ben Salemans) hoặc tổng hợp các phương pháp maximum parsimony, distance matrix hay likelihood methods trong MacClade hoặc PHYLIP (Lee AR), nhờ đó các văn bản sẽ được hiển thị trên cây phả hệ thể hiện mối quan hệ giữa chúng
Ngoài ra chúng tôi sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm tính toán,
vẽ biểu đồ của Excel, các thao tác phân tích, bình luận và phân tích định tính văn học…
5 Đóng góp mới của luận án
5.1 Luận án trước tiên có đóng góp về tư liệu Lần đầu tiên các bản
hiện tồn NCTT lưu trữ tại thư viện Quốc gia và kho sách Hán Nôm
được mô tả, khảo sát, đánh giá kĩ lưỡng Luận án cũng giới thiệu
một bản chép NCTT kí hiệu R7 vốn chưa được đề cập tới trong công
trình của những nhà nghiên cứu khác
5.2 Trên cơ sở lí luận ngành Phả hệ văn bản (Stemma/ Phương pháp
Lachmann) mà cụ thể là Tân Phả hệ văn bản (New- Stemmatics)
luận án lần đầu tiên đặt vấn đề ứng dụng phần mềm phân tích trong
di truyền học (PAUP V4) để xây dựng phả hệ văn bản, phác thảo
mối liên hệ giữa các văn bản hiện tồn của NCTT
Bảng dữ liệu đầu vào của phần mền PAUP V.4 (phụ lục 2) chính là bảng đối hiệu tỉ mỉ chi tiết 80 bài đầu của 8 văn bản được đối hiệu
5.3 Thông qua hiệu khám, biện ngụy cụ thể chi tiết 5 quyển hiện tồn,
luận án lần đầu tiên xác lập thiện bản cho văn bản NCTT của Phùng
Khắc Khoan ngõ hầu làm cơ sở cho các nghiên cứu ngữ văn học về sau
5.4 Luận án cung cấp phần biện ngụy cho từng trường hợp dị văn,
đây là công cụ tra cứu hữu ích đối với việc nghiên cứu NCTT nói
riêng và những nghiên cứu Ngữ văn học, lịch sử, thư tịch, văn hóa nói chung (xem phụ lục 3)
5.5 Trên cơ sở kết quả thống kê tần số sử dụng văn tự, luận án phân tích, đánh giá đặc điểm kết hợp, đặc điểm ý nghĩa của văn tự từ đó chỉ ra giá trị biểu đạt của ngôn ngữ văn tự mang phong cách riêng
của Phùng Khắc Khoan trong NCTT
Trang 55.6 Bảng thống kê các chữ xuất hiện trong NCTT (phụ lục 4) là dữ
liệu bước đầu để xây dựng từ điển, tự điển ngôn ngữ văn tự của
NCTT
6 Cấu trúc luận án
Luận án được cấu trúc làm 6 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến đề tài luận án, thư mục tham khảo và phụ lục Nội
dung chính của luận án được triển khai thành bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Chương 2: Xác định bản nền văn bản Ngôn chí thi tập
Chương 3: Xác lập và đánh giá thiện bản Ngôn chí thi tập
Chương 4: Đặc điểm sử dụng chữ Hán của Phùng Khắc Khoan
trong NCTT
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN TỚI ĐỂ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu văn bản và đặc điểm cách
sử dụng chữ Hán trong Ngôn chí thi tập
Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) tự là Hoằng Phu 弘夫, hiệu Nghị Trai 議齋, biệt hiệu là Mai Nham Tử 梅巖子 Ông sinh và mất
ở làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, Hà Tây Phùng Khắc
Khoan để lại 4 tập thơ chữ Hán gồm Ngôn chi thi tập 言志詩集, Mai
Lĩnh sứ hoa thi tập 梅嶺使華詩集, Đa thức tập 多識集, Huấn đồng thi tập 訓童詩集[103], [132]
1.1.1 Tình hình nghiên cứu văn bản Ngôn chí thi tập
Tên gọi thi tập, số quyển, số bài thuộc NCTT vốn có nhiều điểm
bất đồng giữa các nhà nghiên cứu về các phương diện: tên gọi, dung lượng, số quyển, số bài
Toàn Việt thi lục 全越詩錄(TVTL) của Lê Quý Đôn cho biết tên
gọi tác phẩm là “ngôn chí” TVTL chỉ tuyển 80 bài thuộc quyển 1, 2 Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC), Văn tịch chí của Phan Huy Chú xếp một phần thơ đi sứ vào NCTT gọi chung là
Phùng công thi tập, gồm 2 quyển, tổng 106 bài
Năm 1979 sách Tư liệu tham khảo Văn học Việt Nam, (từ thế
kỉ XI đến giữa thế kỉ XVIII) Bùi Văn Nguyên biên soạn, chú thích,
giới thiệu), tập 2, NXB Giáo dục ghi tên ba tập thơ khác nhau Mai
Lĩnh sứ hoa thi tập, Phùng công thi tập, Ngôn chí và do đó Ngôn chí
言志 và Phùng công thi tập 馮公詩集 được xem là hai tập thơ riêng
biệt
Năm 1985, trong chuyên luận Phùng Khắc Khoan cuộc đời và
thơ văn tác giả Trần Lê Sáng giới thiệu văn bản VHv.1442 là bản
Trang 6Ngôn chí thi tập 言志詩集 tốt nhất VHv.1442 xếp chung thơ đi sứ
(Mai Lĩnh sứ hoa thi tập) vào thành phần 2 của NCTT [91,167]
Năm 2000, trong sách Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tác
giả- tác phẩm học giả Bùi Duy Tân lần đâu tiên giới thiệu bản văn
bản VHv.1951 chép 5 quyển NCTT với hơn 260 đơn vị tác phẩm[105] Bùi Duy Tân đề xuất thiện bản NCTT là văn bản
VHv.1951 và VHv.1442, nhưng chưa hoàn thiện các bước cần yếu
để hai văn bản này có thể thực sự trở thành thiện bản Ngoài ra, những công trình của Bùi Duy Tân vẫn còn nhiều đơn vị tác phẩm còn ở dạng tồn nghi, chưa thể khẳng định đúng là của Phùng Khắc Khoan hay không
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ thơ Ngôn chí thi tập
Cho tới nay chưa có một chuyên luận nào nghiên cứu sâu về
các vấn đề ngôn ngữ, văn tự… của NCTT như một đối tượng độc lập
mà phần lớn chỉ được trích dẫn trong những nghiên cứu chung về tác giả và sự nghiệp sáng tác của Phùng Khắc Khoan
Chuyên luận đáng chú ý về cuộc đời và sáng tác Phùng Khắc Khoan là của tác giả Trần Lê Sáng và Bùi Duy Tân (đã đề cập ở trên) Tuy nhiên về đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ của Phùng Khắc Khoan thì hầu như không được nói tới
Số lượng các bài viết riêng lẻ về Phùng Khắc Khoan nói riêng tương đối phong phú Những bài viết có giá trị đều được tổng hợp
trong cuốn sách Phùng Khắc Khoan-hợp tuyển thơ văn- Nxb Hội
nhà văn, 2012 [33] Nhóm bài viết trong hai hội thảo này chủ yếu nói tới tiểu sử, tư tưởng, cuộc đời, giá trị sáng tác văn học, mà không
đề cập tới đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ, văn tự của tác giả
Tổng kết lại tình hình nghiên cứu văn bản và ngôn ngữ trong
NCTT chúng tôi nhận thấy còn một số tồn tại sau:
Về văn bản: Chưa có công trình nào đánh giá một cách khách
quan mối quan hệ giữa các bản hiện tồn của NCTT hoặc chỉ ra tỉ lệ
sai khác và số lượng sai khác dị văn giữa chúng Sơ đồ truyền bản
tái hiện lịch sử sao chép văn bản NCTT cũng chưa từng được xây dựng Văn bản NCTT chưa có một thiện bản ngõ hầu có thể làm căn
cứ cho các nghiên cứu ngữ văn học
Về ngôn ngữ văn tự: NCTT chủ yếu được tiếp cận ở phương
diện nội dung tư tưởng Hướng nghiên cứu đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ, văn tự trong thi tập tuy đã được lưu ý một chút nhưng đều chưa triệt để
Trang 7Dựa trên thực tế này, kế thừa thành tựu của những người đi
trước chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài Nghiên cứu văn bản và
đặc điểm sử dụng chữ Hán trong Ngôn chí thi tập của Phùng Khắc Khoan
1.2 Giới thuyết những khái niệm thuộc cơ sở lí luận của luận
án
1.2.1 Bản nền
Bản nền (để bản 底本) là thuật ngữ chuyên dùng trong công
tác nghiên cứu văn bản học Nhìn chung các nhà thư tịch học đều đồng quan điểm bản nền là “bản tốt nhất”, “ bản đầy đủ nhất” và
“gần với bản lai diện mục” của bản gốc nhất, một số cho rằng “bản
cổ nhất” là bản gần với bản lai diện mục của bản gốc nhất
1.2.2 Thiện bản
Quan niệm về thiện bản 善版 của các nhà nghiên cứu thư tịch
học tuy có khác biệt đôi chút nhưng về cơ bản thiện bản phải bao
gồm hai tính chất: Thứ nhất, thiện bản là bản gần nhất với bản lai
diện mục của bản gốc (bao gồm yếu tố cổ nhất, đầy đủ nhất) Thứ hai, thiện bản là văn bản được hiệu khám một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng, tỉ mỉ
Đây cũng chính là nội hàm thiện bản mà chúng tôi hướng tới trong luận án của mình
1.2.3 Phả hệ văn bản (stemma/stemmatics)
Stemma vốn xuất phát từ tiếng Latin với nghĩa là cành cây,
nhánh cây Stemma được dịch ra tiếng Việt là “cây gia đình” “cây phả hệ” chuyên dùng để biểu thị mối quan hệ giữa các loài hay sự phát sinh chủng loại trong sinh vật học Trong ngành Phê bình văn bản học, “stemma như là một công cụ để phục nguyên văn bản Không thể thiếu một phả hệ hay một stemma của các văn bản hiện tồn, phả hệ đó hiển thị mối quan hệ lẫn nhau giữa các văn bản và
cũng được sử dụng để tìm ra dấu vết của bản gốc”[160,10]
Phả hệ văn bản học (Stemmatics, stemmology hay stemmatology) là một cách tiếp cận trong Phê bình văn bản học, chỉ những nỗ lực nhằm tái hiện lại lịch sử sao chép của một văn bản (đặc biệt là bản chép tay) dựa trên mối quan hệ giữa các văn bản hiện tồn [160], [176], [177], [179]
1.2.4 Tân phả hệ văn bản (New- stemmatics/ Cladistic textual criticism)
Tân phả hệ văn bản dựa trên thành tựu ngành phân loại học phân tích nhánh, mượn kĩ thuật nghiên cứu phát sinh loài của di truyền
Trang 8học để xây dựng phả hệ văn bản nhằm nghiên cứu lịch sử sao chép văn bản Thông qua phần mềm xây dựng phả hệ, các dị văn của một văn bản được nhập vào máy tính, sự khác biệt giữa chúng được phân tích, đánh giá, sau đó được nhóm lại dựa trên các đặc điểm chung và riêng Cây phả hệ văn bản sẽ biểu thị mối quan hệ giữa các dị bản của thư tịch
1.2.5 Khái niệm “ chữ” Hán dùng trong Luận án
“Chữ” dịch từ Tự 字 Trong các sáng tác bằng chữ Hán, chữ
Nôm, chữ là đơn vị cấu thành cơ bản của tác phẩm, có tự mới có
câu, có câu mới có thiên Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long quan niệm tự 字 chính là gốc, là yếu tố nhỏ nhất nhưng then chốt nhất để tạo nên văn chương Tự 字 không loạn mới thành câu, câu trong
sáng rõ ràng mới thành chương, chương đẹp đẽ mới thành thiên do
đó nghiên cứu tự 字 chính là nghiên cứu cái gốc của ngôn 言 vậy
[210]
Do đó, tìm hiểu về tự, cách sử dụng tự trong tác phẩm do đó là con đường đúng đắn để tiếp cận tác phẩm
Ở Việt Nam, trong công trình Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua
thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn nhà nghiên cứu Nguyễn
Tài Cẩn cũng căn cứ vào Tự (chữ) để tìm hiểu Giới Hiên thi tập,
công cho rằng “về ngôn ngữ, thời xưa mỗi chữ thường ứng với một
từ đơn”
Xuất phát từ văn tự, nghiên cứu tự pháp 字法 để tìm hiểu cú pháp
句法, chương pháp 章法, thi pháp 詩法 từ đó đưa ra những nhận
định có cơ sở về phong cách ngôn ngữ của tác giả do đó là một hướng đi đúng đắn và hứa hẹn nhiều kết quả thuyết phục
Từ những nhận định trên về vai trò của tự 字 trong thơ chữ Hán
nói chung, luận án tìm hiểu đặc điểm cách sử dụng chữ Hán trong
thơ NCTT của Phùng Khắc Khoan
1.3 Định hướng nghiên cứu của đề tài
Mặc dù là một sáng tác quan trọng của Phùng Khắc Khoan,
NCTT lại chưa từng được nghiên cứu như một đối tượng độc lập
Căn cứ vào đánh giá tổng quan, luận án sẽ giải quyết các vấn đề cụ thể sau:
Thứ nhất: Dựa vào cơ sở lí luận ngành văn bản học chúng tôi
khảo sát, mô tả, đánh giá các bản NCTT hiện tồn; ứng dụng thành
tựu ngành Tân phả hệ văn bản để xác lập sơ đồ phả hệ biểu thị mối
liên hệ giữa các văn bản, từ đó lựa chọn bản nền, bản đối hiệu và
các bản tham khảo
Trang 9Thứ hai: Trên cơ sở lí luận ngành hiệu khám học chúng tôi tiến
hành hiệu khám văn bản hoàn thiện việc xác lập thiện bản và công
bố văn bản NCTT
Thứ ba: Căn cứ vào thiện bản đã xác lập, tìm hiểu đặc điểm
cách sử dụng chữ Hán trong NCTT của Phùng Khắc Khoan
Tiểu kết
Trong chương này chúng tôi điểm lại những nghiên cứu liên quan tới luận án, cụ thể là các nghiên cứu về văn bản và đặc điểm
cách sử dụng chữ Hán trong NCTT của Phùng Khắc Khoan Những
đánh giá tổng quan này đưa tới cái nhìn toàn diện về những thành tựu và khoảng trống mà các nghiên cứu trước chưa giải quyết triệt
để, từ đó có thể kế thừa và phát triển trong luận án của mình Tổng quan về phương pháp nghiên cứu đánh giá những khả năng ứng dụng cụ thể của phương pháp được lựa chọn trong triển khai đề tài
CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH BẢN NỀN VĂN BẢN NGÔN CHÍ
THI TẬP
2.1 Các bản Ngôn chí thi tập hiện tồn
Các văn bản hiện tồn chúng tôi sưu tầm được có chép NCTT được khảo sát trong luận án: (1) Bản VHv.1951 (kí hiệu là bản A),
(2) Bản VHv 1442 (Bản B), (3) Bản VHb.264 (bản C), (4) Bản A
555 (bản D), (5) Bản A.1364 (Bản E), (6) Bản A.431(Bản F), (7)
Bản VHv.2163 (bản G), (8) Bản R7 (Bản H), (9) Toàn Việt thi lục
A 132 (Bản I)
2.1.1 Bản VHv.1951 (kí hiệu là bản A)
Tên sách Ngôn chí Phùng công thi tập 言志馮公詩集 Văn bản viết
tay chữ đẹp, kiểu chữ thống nhất trong toàn văn bản Văn bản không
đề tên người chép, địa điểm, thời gian sao chép, không kiêng huý
chữ Thì 時 Sách đóng thành 1 tập, gồm 66 tờ, chép 1 bài tựa và 5 quyển thuộc NCTT Đây là văn bản duy nhất được biết tới cho tới
nay chép 5 quyển, các bản còn lại chỉ chép 2 quyển
2.1.2 Bản VHv 1442 Ngôn chí thi tập (Bản B)
Văn bản có tên Ngôn chí thi tập 言志詩集, được đóng thành
một tập dày 140 trang, khổ 27x16 cm, có tựa, không có mục lục,
chữ đẹp, thống nhất 1 kiểu từ đầu tới cuối Sách chia làm 2 phần: Phần 1 từ trang 1 đến trang 58 chép quyển 1, quyển 2 của Ngôn chí
thi tập 言志詩集 tổng 139 bài; từ trang 59- 106 chép Sứ hoa thi tập
Sách kiêng huý không hoàn toàn các chữ 時 thời nhưng không đổi
một bản có chất lượng tốt
2.1.3 Bản VHb.264 (bản C)
Trang 10của NCTT
2.1.4 Bản A 555 (bản D)
Tên sách Phùng Khoan thi tập 馮寬詩集 Sách không có mục
lục và tựa, gồm một quyển 146 trang Bìa cứng, láng nhựa cậy màu
nâu sậm Mép sách phía trên ghi Phùng Khoan thi tập 馮寬詩集
Chữ viết đều đặn, sắc nét trên giấy dó khổ 30x 20,5 cm, chất liệu
còn mới (Trong Đề yếu ghi khổ giấy là 30x25 cm) Lượng tác phẩm thiếu hụt nhiều chỉ gồm 80 bài, trong đó có bài bạng 螃 không xuất
hiện ở tất cả các bản còn lại.Từ tờ 16b chép thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan, những trang cuối chép lẫn thơ của tác giả khác Đánh giá sơ bộ ban đầu chúng tôi cho rằng độ khả tín của văn bản này không cao
2.1.5 Bản A.1364 (bản E): Tên sách Ngôn chí thi tập 言志詩集
Sách dày 106 trang, khổ 31x 20 cm; có tựa, không có mục lục Nội
dung sách gồm 2 phần: Phần I: Chép quyển 1, quyển 2 Ngôn chí thi
tập 言志詩集 gồm 143 bài (Từ Tự thuật 自述 đến Đông hậu sinh xuân 冬厚生春); Phần II: chép thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan
2.1.6 Bản A.431(bản F)
Tên sách: Phùng Thái phó thi 馮太付詩 Sách gồm một tập,
dày 64 trang, không có mục lục và tựa, bìa cũ được thay bằng bìa xi măng vàng, chữ thảo viết trên giấy dó khổ 25x15cm Chính giữa
trang đầu sách ghi: Phùng thái phó trạng nguyên thi 馮太付狀元詩.
Sách có dấu của trường Viến Đông Bác Cổ và dấu kiểm của thư viện các năm 1967, 1974, 1980, 1991 Sách gồm 3 phần: Phần I (tờ 1a
đến 18a): chép 80 bài thơ thuộc Ngôn chí thi tập 言志詩集 quyển 1,
quyển 2 bỏ sót rất nhiều so với các bản khác; Phần II (tờ 18a đến 22a): Chép thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan; Phần III (từ trang 22b tới hết): Chép gia phả dòng họ nào đó Các chú thích, dẫn giải đều bị
bỏ đi Chúng tôi cho rằng đây là một bản ít có giá trị
2.1.7 Ngôn chí thi tập chép trong Danh gia thi tập truyện
Trang 11母志傳 ghi lại truyền thuyết về mẹ ruột Phùng Khắc Khoan, phụ
chép 90 bài thơ thuộc Ngôn chí thi tập 言志詩集 (trong đó 88 bài
của Phùng Khắc Khoan, 2 bài họa của bạn hữu) Sách lại không
kiêng húy chữ thời 時 (niên hiệu Tự Đức bắt đầu từ năm 1848)
Nhiều khả năng VHv.2163 được chép lại từ bản sao của bản chép trước năm Giáp Dần
2.1.8 Văn bản R7 Ngôn chí thi tập tại Thư viện Quốc gia (Bản H)
Sách gồm một quyển đóng bìa đen, láng dầu cậy, mép dưới bên phải sách bị sờn nhưng chỉ mất rất ít chữ Văn bản chép tay, chữ viết đẹp, cẩn thận bằng mực đen trên giấy dó khổ 24,5x12cm, cuối
các câu đều chấm bằng mực đen Sách chép QI, QII Ngôn chí thi tập 言志詩集 từ bài Tự thuật 自述 đến Đông hậu sinh xuân 冬後生春
(tổng cộng 143 bài chép từ tờ 4a đến 39b Phần sau chép thơ đi sứ
bắt đầu từ Bắc sứ đăng trình tự thuật thi 北使豋程自述詩 (Tờ 40a
đến 73a) Tờ cuối (74a,b) chép 3 bài thơ của một tú tài tên Nguyễn
Quang Sinh Sách kiêng huý chữ thời 時 thành thần 辰, so với những
bản trên, đây là bản chép cẩn thận và đầy đủ, nhiều giá trị tham khảo
2.1.9 Ngôn chí thi tập trong Toàn Việt thi lục bản A.132, tập 4)
Ngôn chí thi tập 言志詩集 còn được chép trong quyển 20 của
Toàn Việt thi lục Toàn Việt thi lục 全越詩錄 hiện còn 13 văn bản
[76, 173] Trong số 13 bản này thì duy nhất bản mang kí hiệu A.132 chép thơ Phùng Khắc Khoan (tập 4, kí hiệu 132/4) trong đó có 80
bài thuộc 2 quyển đầu 言志詩集 Ngôn chí thi tập
2.2 Đánh giá chung về các văn bản
2.2.1 Tên gọi văn bản
Các văn bản lược khảo phía trên có tên gọi không thống nhất
Phùng Khắc Khoan trong bài tựa đã đặt tên tập thơ là Ngôn chí thi
tập 言志詩集: “Xem thơ của cổ nhân, trộm muốn vụng dại bắt
chước nhân thế mới đem thơ của mình tập hợp biên soạn lại đặt tên
là Ngôn chí thi tập” vì thế Ngôn chí thi tập 言志詩集 là tên gọi
chính thức của văn bản
2.2.2 Số quyển, số bài:
Trong số các văn bản trên, chỉ có VHv.1951 là chép riêng
Ngôn chí còn lại đều chép cùng với Mai Lĩnh sứ Hoa thi tập 梅領使
華詩集 Bản đầy đủ nhất hiện tại là VHv 1951 gồm 5 quyển, do đó
tạm thời xem Ngôn chí thi tập 言志詩集 của Phùng Khắc Khoan có
5 quyển Các bản còn lại chia làm hai nhóm: Nhóm 1: chép đầy đủ
và thống nhất số lượng bài ở 2 quyển đầu: bản VHv.1951,
Trang 12VHv.1442, A.1364, R7; Nhóm 2: lược tuyển: A.132; VHv.2163 chép thiếu: A.555; A.431; VHb.264
2.2.3 Thời gian sao chép, người sao chép
- Xét về thời gian sao chép: việc xác định thời điểm sao chép các văn bản vẫn chưa thể khẳng định được bởi còn quá ít dữ liệu
-Về người sao chép, bản VHv.1442 do hội Khai trí Tiến Đức tổ chức sao chép, không ghi cá nhân chấp bút; bản R7 ghi người sao chép tuy nhiên cũng chỉ ghi tên mà không có chú thích gì thêm
Nếu căn cứ vào những kết quả trên VHv.1951 tạm thời đang là bản đầy đủ nhất Tuy nhiên để lựa chọn một cách chính xác và khoa học bản nền chúng tôi sẽ căn cứ vào sơ đồ phả hệ văn bản được lập dưới đây
2.3 Phả hệ văn bản Ngôn chí thi tập xây dựng bằng phần mềm
PAUP V4
2.3.1 Cách thức tiến hành:
Đối tượng: 8 văn bản chép Ngôn chí thi tập 言志詩集 bao
gồm VHv 1951, VHv 1442, VHb 264, A 555, A 1364, A 431, VHv 2163 và R 7
Phạm vi: Khảo sát dị văn 80 bài đầu tiên trong 2 quyển 1, 2
của Ngôn chí thi tập 言志詩集
Cách mã hóa dữ liệu:
Chúng tôi tiến hành đối chiếu, so sánh 8 văn bản với nhau và thu được 1879 dị văn ở 80 bài đầu, bao gồm cả phần nội dung và chú thích,
Bảng 2 6 Minh họa cách thức nhập dữ liệu đầu vào phần mềm Paup
- Phương pháp phân tích số liệu: Phân tích dữ liệu và xây dựng sơ
đồ phả hệ dựa trên dị văn bằng phương pháp Maximum Parsimony (Robinson and O’Hara, 1996) với được phần mềm Paup 4.0 (Swofford, 2002) theo mô hình tiến hóa mặc định của phần mềm
Trang 132.3.2 Kết quả và thảo luận
Kết quả: Kết quả phân tích dị văn bằng phương pháp Maximum
Parsimony cho mô hình liên hệ giữa các văn bản duy nhất được đưa
ra (Hình 2.1) :
Hình 2.1: Phả hệ văn bản Ngôn chí thi tập
Bảng 2.8 Tỷ lệ dị bản sai khác (%) (phía phải trên) và số lượng dị
bản sai khác (phía trái dưới) giữa các văn bản nghiên cứu
Mối liên hệ giữa các văn bản dựa trên phân tích dị văn bằng phương
pháp Maximum Parsimony Số ở gốc là giá trị Bootstrap1 được phân
tích từ 100 lần lặp lại của sơ đồ
Thảo luận: Căn cứ vào kết quả sơ đồ phả hệ, các văn bản được chia
thành 04 nhóm:
1
Bootstrap: là tần số xuất hiện của một nhóm trên số lần giản đồ được thiết lập Bootstrap là một chỉ
số hỗ trợ cho việc xây dựng cây phát sinh loài Xem thêm [160]