Xu hướng này vẫn tiếp tục bất chấp quan điểm tồn tại từ lâu giữa các chuyên gia phát triển rằng tồn tại không chỉ có một sự khác biệt đáng kể trong thành phần của chi tiêu công giữa các
Trang 1CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
MỘT PHÂN TÍCH TÁCH BIỆT TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN
a Trung tâm Nghiên cứu Tăng trưởng và chu kỳ kinh doanh, Trường nghiên cứu
Kinh tế, Đại học Manchester, Manchester, M13 9PL, Anh Quốc
b Khoa Kinh tế, Đại học Wisconsin, Hoa Kỳ
Tháng 6 năm 2003
Tóm tắt: Bài viết này xem xét các tác động của chi tiêu chính phủ lên tăng trưởng
với bảng dữ liệu bao gồm ba mươi quốc gia đang phát triển trong thập kỷ những
năm 1970 và 1980, với trọng tâm là chi tiêu theo ngành (sectoral expenditures)
Phương pháp nghiên cứu của chúng tôi hoàn thiện nghiên cứu trước đây về chủ đề này bằng cách nhận ra một cách rõ ràng vai trò của giới hạn ngân sách của chính
phủ và những chênh lệch (biases) có thể phát sinh từ các biến bị bỏ qua Những kết
quả chính của chúng tôi có hai mặt Thứ nhất, tỷ lệ chi tiêu của Chính phủ trong GDP là tương quan một cách tích cực và đáng kể đến sự phát triển kinh tế, nhưng chi tiêu thường xuyên thì không đáng kể Thứ hai, ở cấp độ ngành, đầu tư của chính phủ và tổng chi tiêu trong trong giáo dục là các nguồn chi tiêu duy nhất có liên quan đáng kể đến sự tăng trưởng chỉ khi giới hạn ngân sách và các biến bị bỏ qua được xem xét
1 Giới thiệu:
Sự quan tâm đối với lý thuyết tăng trưởng khôi phục gần đây đã khơi lại niềm hứng khởi cho những nhà nghiên cứu trong việc xác minh và hiểu được mối liên kết giữa những chính sách tài khoá và tăng trưởng kinh tế Qua 15 năm, một số lượng đáng kể nghiên cứu thực nghiệm đã trực tiếp hướng tới việc nhận biết các nhân tố của chi tiêu công (ở mức độ thống nhất và tách biệt) có mối liên hệ đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Tài liệu thực nghiệm này thay đổi theo từng bộ dữ liệu, các kỹ thuật toán kinh tế, và thường mang lại những kết quả mâu thuẫn1 Sự giải
1 Ví dụ, xem xét sự liên quan giữa quy mô chính phủ (được đo bằng mức tổng chi tiêu công hoặc bởi mức độ chi tiêu công) và tăng trưởng kinh tế Theo một số nghiên cứu, mối liên hệ như vậy là đáng kể và tích cực (Ram, 1986; Romer, 1989, 1990a, 1990b) Sự kết hợp tương tự đã được tìm thấy có ý nghĩa và tiêu cực trong nghiên cứu khác (ví dụ như Landau năm 1983, 1985, 1986; Grier và Tullock 1989; Alexander năm 1990; Barro 1990, 1991) Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã tìm thấy sự kết hợp này là không đáng kể hoặc mong manh (ví dụ Kormendi và Meguire 1985; Levine và Renelt 1992) Một biến thể tương tự trong kết quả cũng
Trang 22
thích đưa ra nhằm diễn giải những kết quả khác biệt và gây tranh cãi này đại thể có thể được chia ra hai trường hợp Trường hợp đầu tiên, có sự khác biệt trong bộ các biến điều kiện và những điều kiện đầu tiên xuyên suốt nghiên cứu, chúng là nguyên nhân gây ra sự thiếu thống nhất trong kết quả (Levine và Renelt 1992) Ngược lại, trường hợp thứ hai gồm có một nhóm những nghiên cứu (Helms 1985; Mofidi và Stone 1990; Kneller và cộng sự 1999) chỉ ra rằng biến thiên trong kết quả, ít nhất, phản ánh xu hướng lan tỏa rộng rãi giữa các nhà nghiên cứu nhằm bỏ qua ảnh hưởng của giới hạn ngân sách chính phủ trong hàm hồi quy của họ Đặc biệt, một xem xét sau đó nhấn mạnh sự cần thiết xem xét cả nguồn và việc sử dụng các quỹ đồng thời cho một đánh giá đầy ý nghĩa về các tác động của các loại thuế và chi chiêu đối với tăng trưởng kinh tế
Ngoài việc đưa ra những quan điểm xung đột, những tài liệu hiện có hiển thị một xu hướng đáng lo ngại Hầu hết các kết luận rút ra gần đây liên quan đến các tác động của chi tiêu công đối với tăng trưởng được dựa trên kinh nghiệm của một
số nước phát triển hoặc dựa trên một cơ sở mẫu lớn bao gồm một tổ hợp các nước phát triển và đang phát triển Theo đó, vẫn còn tồn tại một ít bằng cách tìm hiểu quá trình mà các chính sách chi tiêu công định hướng triển vọng tăng trưởng kinh tế cho các nước đang phát triển Xu hướng này vẫn tiếp tục bất chấp quan điểm tồn tại từ lâu giữa các chuyên gia phát triển rằng tồn tại không chỉ có một sự khác biệt đáng
kể trong thành phần của chi tiêu công giữa các nước phát triển và đang phát triển, nhưng sự khác biệt cũng đáng kể trong cách thức mà chi tiêu công định hướng kết quả đầu ra trong hai nhóm dữ liệu các quốc gia này2 Ngoại lệ duy nhất của những
xu hướng kể trên mà chúng ta biết là những đóng góp của Landau (1986), Devarajan và cộng sự (1996), và Miller và Russek (1997) Mặc dù mục tiêu đáng khen ngợi, tuy nhiên, những nghiên cứu này, chia sẻ một trong những điểm yếu nói trên đó là phổ biến trong các tài liệu hiện có Đặc biệt, không bao gồm giới hạn hoàn toàn ngân sách của chính phủ trong phân tích Theo đó, ước lượng tham số trong những nghiên cứu này dễ bị thiên lệch có hệ thống3
có thể được quan sát thấy trong các nghiên cứu, mà tìm kiếm những tác động tăng trưởng của chi tiêu công ở mức độ tách biệt.
2 Vui lòng tham khảo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (1988) để biết chi tiết
3 Khả năng của biến thiên bỏ sót xuất hiện trong bài viết của Landau (1986) và Devarajan và cộng sự (1996)
do thực tế là những nghiên cứu này chỉ tập trung vào mặt chi tiêu của ngân sách hạn hẹp và bỏ qua mặt doanh thu Ngược lại, nguồn gốc biến thiên bỏ sót theo Miller and Russek (1997) nằm trong mục đích của chính nó – đó là, để chứng minh rằng tác động tăng trưởng của chi tiêu công là phụ thuộc vào phương thức tài trợ Theo lập luận của họ, mục tiêu này đạt được tốt nhất bằng cách chạy hồi quy dựa trên các thông số kỹ
Trang 3Mục tiêu hàng đầu của bài viết này là nhằm để kiểm tra những tác động lên tăng trưởng của chi tiêu công theo ngành cho một bảng dữ liệu 30 quốc gia đang phát triển, chú ý đến vấn đề “nhạy cảm” nổi lên từ những điều kiện ban đầu và các biến điều kiện trong khi vẫn tránh đi những biến thiên bỏ sót mà có thể dẫn đến việc phớt lờ hàm ý đầy đủ của sự giới hạn ngân sách chính phủ Một mặt, bằng việc tập trung chú ý một cách có chọn lọc các nước đang phát triển và mặt khác bằng cách thừa nhận tình trạng giới hạn của ngân sách chính phủ, bài nghiên cứu này lấp một khoảng trống quan trọng đang tồn tại trong lý thuyết
Cụ thể, mục đích của chúng tôi trong bài viết là xác định rõ những thành phần cụ thể của chi tiêu công tác động một cách đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Ở đây, chúng tôi không quan tâm đến việc tài trợ của việc chi tiêu, nhưng chúng tôi có cân nhắc đến những biến tài chính quan trọng (sự thặng dư ngân sách chính phủ/ sự thâm hụt và nguồn thu từ thuế) để tránh hệ số chênh lệch là kết quả rút ra từ sự bỏ sót của chúng (Kneller và cộng sự, 1999) Hơn nữa, nơi mà các thành phần của chi tiêu công được tìm thấy trở nên có ý nghĩa một cách riêng lẻ, chúng tôi bao gồm chúng cùng nhau để nghiên cứu dù vai trò cá thể rõ ràng của chúng là đúng hay không đúng trong hoàn cảnh của việc có thể quy cho những thành phần khác mà chúng có liên quan Nói cách khác, từ góc độ toán kinh tế chúng tôi kiểm soát lại khả năng chênh lệch do bỏ sót biến sẽ dẫn đến những thành phần chi tiêu công quan trọng cho sự tăng trưởng bị loại trừ khỏi mô hình
Phân tích tách biệt của chúng tôi cũng giá trị từ góc nhìn chính sách Kết quả chúng tôi đưa ra về tác động lên tăng trưởng của chi tiêu công theo những khu vực riêng biệt của hệ thống kinh tế mang lại sự gia tăng về thông tin hữu dụng một cách đặc biệt cho những quốc gia đang phát triển, nơi mà tài nguyên có giới hạn và sự phân
bổ của nguồn lực công có giới hạn giữa các vùng là một vấn đề quan trọng tột bậc
Về mặt này, đóng góp chủ yếu của chúng tôi là sự phát hiện rằng giáo dục là bộ phận then chốt mà chi tiêu công nên được hướng tới để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Kết quả này là mới và đảo lộn những phát hiện trước đó về những tác động tiêu cực hay tích cực không đáng kể của chi tiêu cho giáo dục đối với tăng trưởng ở các quốc gia đang phát triển (Landau 1986; Devarajan và cộng sự 1996; Miller và Russek 1997) Tuy nhiên, như đã lập luận ở trên, phân tích của chúng tôi thỏa đáng hơn từ góc độ toán kinh tế so với những nghiên cứu trước đây
Hai kết quả thực nghiệm chủ yếu của chúng tôi có thể tóm tắt như sau:
thuật loại trừ thặng dư ngân sách/ thậm hụt ngân sách - một biến số được thiết lập trong những nghiên cứu trước đây (ví dụ, Fischer 1993) để có một sự liên kết đáng kể và mạnh mẽ với phát triển kinh tế.
Trang 44
(1) Tỷ lệ chi tiêu vốn Chính phủ trong GDP là liên quan một cách tích cực và có
ý nghĩa đến tăng trưởng kinh tế, trong khi tác động lên tăng trưởng của chi tiêu thường xuyên là không đáng kể cho nhóm các quốc gia của chúng tôi
(2) Ở cấp độ ngành, đầu tư của chính phủ và tổng chi tiêu cho giáo dục là nguồn chi tiêu duy nhất mà vẫn liên kết một cách đáng kể đến tăng trưởng trong suốt phân tích
Những phát hiện khác trong phân tích của chúng tôi là:
(3) Mặc dù đầu tư công và chi tiêu công trong những ngành khác (vận tải và truyền thông, quốc phòng) ban đầu có liên hệ đáng kể với tăng trưởng, những mối liên hệ này không tồn tại khi chúng tôi kết hợp với giới hạn ngân sách Chính phủ và những chi tiêu trong ngành khác vào mô hình phân tích
(4) Tỷ lệ đầu tư tư nhân trong GDP có liên quan đến tăng trưởng kinh tế trong một ngữ cảnh tích cực và có ý nghĩa
(5) Có bằng chứng mạnh mẽ mà sự thậm hụt ngân sách chính phủ tạo ra hiệu ứng tăng trưởng ngược
Phần còn lại của bài nghiên cứu được tổ chức như sau Phần 2 bàn luận về dữ liệu của chúng tôi và nguồn của chúng Phần 3 giới thiệu một phân tích cơ bản về tác động của các danh mục chi tiêu công đến tăng trưởng, mà được mở rộng trong phần
4 nhằm kiểm tra tác động của độ lệch từ biến bị bỏ sót và giới hạn ngân sách của Chính phủ Phần 5 là kết luận
2 Dữ liệu và các biến
Dữ liệu của chúng tôi về chi tiêu công của các chính phủ gồm 30 quốc gia đang phát triển4 bao gồm chi tiêu thường xuyên trong năm tài khóa“current expenditure” và chi đầu tư cho dài hạn“capital expenditure”5 trong giai đoạn 1970-
1990 (ở mức độ tổng hợp và ngành) Mặc dù có một vài hạn chế đã được biết đến, nhưng Bảng thống kê tài chính chính phủ “Government Financial Statistics (GFS)”- Một ấn phẩm được IMF công bố hàng năm - được xem như là một nguồn tài liệu chính cho các dữ liệu về chi tiêu Chính phủ Tuy nhiên, trong trường hợp của chúng tôi, sự hữu ích của nguồn dữ liệu này là có giới hạn Ngoài tổng chi thường xuyên
và chi đầu tư của chính phủ, chúng tôi còn muốn nghiên cứu sự tác động của chúng
4
Các quốc gia được liệt kê ở phụ lục
5 Chúng tôi đã đi theo hướng dẫn Niên giám thống kê tài chính chính phủ (được xuất bản bởi IMF) để phân
loại chi tiêu thành chi tiêu thường xuyên và chi tiêu đầu tư.
Trang 5theo các lĩnh vực (như: quốc phòng, giáo dục, y tế, nông nghiệp, giao thông vận tải
và thông tin liên lạc, và sản xuất) Đối với các quốc gia đang phát triển, thông tin về các biến mới không có sẵn trong chuỗi dữ liệu của GFS Do đó, để khắc phục khó khăn này, chúng tôi đã xây dựng một tập hợp dữ liệu sau khi tham khảo một khối lượng lớn các Báo Cáo Về Kinh Tế và Đánh Giá Chi Tiêu Công ở các quốc gia của Ngân hàng Thế giới6 Và từ đây những thông tin về tổng chi tiêu chính phủ trung ương, chi thường xuyên và chi đầu tư theo từng lĩnh vực đã được tập hợp từ năm 1970-1990 cho ba mươi nước đang phát triển, và do đó các quốc gia này cấu thành
dữ liệu mẫu cho nghiên cứu của chúng tôi
Dữ liệu các biến còn lại được rút ra dựa trên hai nguổn dữ liệu khác nhau Các biến thu nhập bình quân đầu người ở kỳ gốc, dân số, nguồn nhân lực kỳ gốc, tuổi thọ, sự bất ổn chính trị, đầu tư tư nhân, tỷ lệ thương mại ở kỳ gốc, phần bù của thị trường chợ đen và các điều kiện thương mại được trích ra từ bộ dữ liệu của Barro and Lee (1994) Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người, tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong GDP, và lượng tiền mạnh (M2) được trích ra từ bộ dữ liệu CDROM của Ngân hàng Thế giới Sự sẵn có số liệu về tài khóa và các biến khác làm cho việc thực hiện một phân tích thường xuyên hàng năm trở nên khả thi Vì vậy, trừ khi chúng tôi nêu rõ cách thức khác, tại một điểm dữ liệu của một biến sẽ phù hợp với giá trị trung bình của thập kỷ (1970-1979, 1980-1989) của biến đó Chi tiết của các biến và các nguồn dữ liệu được trình bày trong các phụ lục
3 Kết quả cơ bản – Baseline Results
Bắt đầu, chúng tôi phân loại các biến thành ba bộ dữ liệu riêng biệt: I, M và
Z Bộ dữ liệu I bao gồm các biến thường xuất hiện như là biến điều kiện trong mô
hình hồi quy tăng trưởng Bộ dữ liệu Z bao gồm các biến thường được sử dụng
trong các nghiên cứu trước đây như các chỉ số về chính sách tiền tệ, chính sách
thương mại và sự bất hoàn hảo của thị trường Cuối cùng, bộ M bao gồm các biến
được quan tâm đặc biệt đối với nghiên cứu này, đó là các chi tiêu của Chính phủ Trung ương và các thành phần chính của chúng ở mức độ tổng hợp và mức độ ngành Các biến này được thể hiện theo tỷ lệ phần trăm của GDP Tóm lại, 20 biến
6 Trong một nghiên cứu trước đó, Easterly và Rebelo (1993) đã thu thập dữ liệu về đầu tư công theo ngành
Chúng tôi khác biệt so với dữ liệu hiện có thiết lập trên hai nền tảng Đầu tiên, tập hợp dữ liệu của chúng tôi
có thông tin về cả chi phí đầu tư công và chi tiêu phân theo khu vực Thứ hai, các biện pháp đầu tư công
được sử dụng bởi Easterly và Rebelo cũng bao gồm đầu tư của doanh nghiệp nhà nước Ngược lại, chúng tôi
nghiêm ngặt thực hiện theo các hướng dẫn GFS và loại trừ các khoản đầu tư doanh nghiệp nhà nước Chúng
tôi thừa nhận rằng định nghĩa hẹp này có thể dẫn đến một số sai lệch trong kết quả Đồng thời (như thừa nhận của các tác giả) các biện pháp được sử dụng bởi Easter và Rebelo (1993) tạo ra một xu hướng phóng đại đầu
tư công bằng cách bao gồm đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước có các hoạt động và mục tiêu tương tự
như của khu vực tư nhân Bộ dữ liệu của chúng tôi và các thong tin chi tiết về các nguồn dữ liệu có sẵn theo
yêu cầu từ các tác giả.
Trang 66
chúng tôi xem xét được thể hiện chi tiết trong phụ lục Để những bảng kết quả dễ dàng được thông hiểu, chúng tôi không thể hiện kết quả các biến mà không có liên quan đáng kể đến sự tăng trưởng trong giai đoạn cơ bản nhất trong phân tích của chúng tôi, được thể hiện bằng phương trình hồi quy số (1) bên dưới
Chúng tôi thiết lập một bảng dữ liệu trong đó các biến phụ thuộc (tốc độ tăng trưởng GDP thực trên bình quân đầu người GRit) được quan sát hai lần ở mỗi quốc gia trong hai giai đoạn 1970-1979 và 1980-1989 (Các biến được xem như là giá trị
trung bình trong một thập kỷ) Chuỗi dữ liệu này bao gồm một hằng số độc lập, B 0t, cho mỗi thập kỷ Các hệ số khác thì bị giới hạn để giống nhau cho cả hai giai đoạn nghiên cứu Việc ước lượng dữ liệu được thực hiện bằng mô hình hồi quy dường
thập kỷ một phương trình) Vì vậy, các thành phần gây nhiễu, u it , của quốc gia i tại thời điểm t, được phép có tương quan với u it’ cho cùng một quốc gia tại một thời
điểm khác t ’ Phương sai của u it thay đổi theo thời gian t nhưng không thay đổi theo quốc gia i Trong thực tế, tương quan các sai số được ước lượng thay đổi theo
khoảng thời gian là nhỏ và không đáng kể (xem các bảng bên dưới)
3.1 Các hồi quy cơ bản
Đầu tiên, chúng tôi kiểm tra liệu các biến quan tâm (các thành phần trong tập dữ
liệu M) có tương quan đáng kể với tăng trưởng sau khi kiểm soát các biến trong tập
I Để thực hiện điều này, chúng tôi chạy một loạt các hồi quy cơ bản, mỗi hồi quy
bao gồm tất cả các biến điều kiện trong tập I và một biến chi tiêu chính phủ trong tập M:
Theo Levine và Renelt (năm 1992) và Barro (1991, 1995, 1999), chúng tôi đưa vào logarit của GDP bình quân đầu người kỳ gốc, tỷ lệ nhập học kỳ gốc7, tỷ lệ đầu tư tư nhân trong GDP, logarit của tuổi thọ trung bình và một chỉ số của sự ổn định chính
trị tập dữ liệu I 8
Điều này đã được nhấn mạnh trong một số nghiên cứu (ví dụ Cashin, 1995; Kocherlakota và Yi, 1997) trong khi cung cấp các hàng hóa công có
7 Chúng tôi cũng xem xét số năm đi học trung bình như một đại diện cho vốn con người Tuy nhiên, chúng
tôi đã bỏ biến này ra khỏi phân tích của chúng tôi do không có số liệu cho một phần tư của các nước trong
mẫu
8 Levine và Renelt (1992) cũng bao gồm tốc độ tăng trưởng dân số trung bình hàng năm trong tập dữ liệu I,
nhưng chúng tôi đã loại nó ra khỏi phân tích vì nó luôn không đáng kể, có lẽ do thiếu sự biến đổi trong giá trị của nó Tuy nhiên, chúng tôi đã xác minh rằng tất cả các kết quả của chúng tôi vẫn không thay đổi gì khi biến này được đưa vào phân tích.
Trang 7vai trò tạo động lực cho sự tăng trưởng, thì cần phải gia tăng các loại thuế bóp méo cho việc cung cấp các hàng hóa công tương tự để có thể có tác dụng trung hòa sự tăng trưởng Do vậy, cần phải kiểm soát nguồn thu thuế để thực hiện một đánh giá thích đáng về tác động của chi tiêu công lên sự tăng trưởng Với quan điểm này và mục tiêu chính của bài nghiên cứu, chúng tôi cũng đã đưa biến nguồn thu từ thuế
theo phần trăm của GDP vào trong tập I Theo đó, tập I của hồi quy cơ bản (1) thể
hiện một ý tưởng chính về một lý thuyết tăng trưởng mới, cụ thể là nguồn nhân lực
và các yếu tố thể chế là nhân tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng kinh tế Ngoài
ra, thông qua sự bao hàm của GDP kỳ gốc, mô hình trên cũng kiểm soát khả năng phát sinh sự cộng hưởng hội tụ tác động lên kết quả đầu ra của sự tăng trưởng
Bảng 1 tóm tắt các kết quả từ hồi quy cơ bản (1) Trong số hai mươi loại chi tiêu công được kiểm định, chúng tôi chỉ báo cáo kết quả sáu loại chi tiêu (tổng vốn đầu
tư, đầu tư vào giáo dục, đầu tư cho giao thông vận tải (GTVT) và viễn thông, tổng chi cho giáo dục, tổng chi cho vận tải, viễn thông và tổng chi tiêu về quốc phòng)
mà chúng ta thấy thể hiện một sự liên kết quan trọng với sự tăng trưởng, với mức ý nghĩa 10%
BẢNG 1: Các hồi quy tăng trưởng với các chi tiêu của Chính phủ
Đầu tư dài hạn
Đầu tư giáo dục
Đầu tư cho GTVT và viễn thông
Chi phí cho giáo dục
Chi phí cho GTVT và viễn thông
Chi phí cho quốc phòng
Chi tiêu của
0.041 (0.052)
-0.020 (0.062)
-0.096 (0.068)
-0.044 (0.067)
-0.003 (0.064) Đầu tư tư nhân 0.265***
0.004 (0.003)
0.003 (0.003)
0.005 (0.003)
0.003 (0.003)
0.004 (0.003)
Trang 80.050 (0.068)
0.116 (0.078)
0.015 (0.075)
0.136 (0.079)
0.093 (0.070)
Sự bất ổn về
chính trị
-0.007 (0.020)
-0.006 (0.020)
-0.014 (0.020)
-0.004 (0.020)
-0.016 (0.020)
-0.025 (0.019)
(0.52)
0.51 (0.57)
0.44 (0.53)
0.51 (0.56)
0.46 (0.55)
0.56 (0.64)
Số quan sát 30 (30) 29 (29) 29 (29) 28 (28) 28 (28) 25 (25)
Kết quả hồi quy
(p-value)
61.602 (0.000)
67.891 (0.000)
46.465 (0.000)
56.926 (0.000)
46.465 (0.000)
65.499 (0.000)
Hệ số tương
quan chuỗi AR
(1) (p-value)
0.018 (0.922)
0.002 (0.993)
0.176 (0.342)
0.139 (0.462)
0.162 (0.392)
0.164 (0.413)
(Ghi chú: Tiêu đề cột cho thấy hạng mục chi tiêu chính phủ cụ thể (M it ) được sử dụng trong hồi quy Được dự toán bởi kỹ thuật SURE (seemingly-unrelated egression), cho phép sai số có tương quan qua hai thập kỷ và có phương sai khác nhau trong từng thời kỳ Biến phụ thuộc là tỷ lệ tăng trưởng trong GDP thực tế bình quân đầu người Sai số chuẩn của hệ số được ghi trong ngoặc đơn R2 đầu tiên dành cho những năm 70 và R2 trình bày trong dấu ngoặc đơn là cho những năm
80 Tương tự như vậy số đầu tiên của các quan sát là cho những năm 70 và số lượng các quan sát trình bày trong dấu ngoặc đơn là cho những năm 80 Số các biến quan sát khác nhau giữa các mô hình do thiếu tính khả dụng của một số biến giải thích cho các quốc gia cụ thể Hệ số tương quan nối tiếp là giá trị AR (1) trong một hàm hồi quy của các số dư cho những năm 1970 và cho những năm 1980, với giá trị p được cung cấp bởi phương pháp kiểm định Breusch-Pagan, trong đó đề cập đến giả thuyết cho rằng các số dư của các phương trình cho hai thập kỷ không tương quan Kiểm định hồi quy là một kiểm định Wald χ2 Đối với các hệ số, * chỉ
có ý nghĩa ở mức 10 phần trăm, ** chỉ có ý nghĩa ở mức 5 phần trăm và *** chỉ có
ý nghĩa ở mức 1 phần trăm)
Chúng tôi mở cuộc thảo luận về các kết quả của mà chúng tôi tìm được trong các
biến của bộ dữ liệu I Trong số các biến này, chỉ có đầu tư tư nhân cho thấy một
liên kết quan trọng với tăng trưởng Điều này phù hợp với các dự đoán cơ bản của
lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, và được hỗ trợ bởi một số nghiên cứu thực nghiệm trước đó (ví dụ như Levine và Renelt 1992, Mankiw, Romer và Weil 1992,
Trang 9DeLong và Summers 1991) Tuy nhiên, một số kết quả khác thì không phù hợp với các dự đoán theo lý thuyết Ví dụ, phân tích của chúng tôi cho thấy không có dấu hiệu của sự hội tụ giữa các quốc gia Chúng tôi cho rằng điều này có thể là do mẫu của chúng tôi bao gồm một số các nước nghèo (ví dụ như các nước cận Sahara), thành quả kinh tế nghèo nàn trong khoảng thời gian dài (thường là tốc độ tăng trưởng âm) Điều đáng ngạc nhiên là nguồn nhân lực ban đầu được tìm thấy là có một tác động tiêu cực đối với sự tăng trưởng, ảnh hưởng này đôi khi là đáng kể Các mối quan hệ giữa tăng trưởng và hai biến còn lại phù hợp với các dự đoán về mặt lý thuyết, nhưng những sự liên kết này không quan trọng đối với nhóm các quốc gia này
Như đã đề cập, phân tích sơ bộ của chúng tôi cho thấy tỉ trọng trên GDP của sáu trong hai mươi loại chi tiêu công thể hiện sự ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, Bảng 1 cho thấy mức độ ý nghĩa của các biến này dễ bị thay đổi Những ảnh hưởng đáng kể nhất là từ tổng chi đầu tư dài hạn, tổng chi tiêu trong lĩnh vực giáo dục và chi đầu tư trong lĩnh vực giáo dục Mối liên hệ đáng kể giữa tỉ trọng của chi đầu tư dài hạn của Chính phủ Trung ương trên GDP và tăng trưởng kinh tế là không hoàn toàn đáng ngạc nhiên trong các kết luận rút ra từ những nghiên cứu trước đó (ví dụ, Easterly và Rebelo năm 1993; Cashin 1995; Fuente 1997) được dựa trên một vài nước phát triển hoặc một nhóm lớn các nước phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, theo kiến thức của chúng tôi, Landau (1986) là người duy nhất nghiên cứu bảng dữ liệu bao gồm tổng chi đầu tư trong mô hình hồi quy của các nước đang phát triển, nhưng đã tìm thấy liên kết của nó với sự tăng trưởng là không đáng kể Như vậy, kết quả của chúng tôi ở đây mang lại thông tin mới
Kết quả của chúng tôi về tổng chi cho giáo dục khác với những kết luận rút ra từ các nghiên cứu trước đây, không quan tâm liệu những kết quả này dựa trên dữ liệu
từ một nhóm các quốc gia đã phát triển (ví dụ như Barro 1995, 1999) hay đang phát triển (ví dụ như Landau năm 1986; Devarajan 1996) Những kết quả gần đây chỉ ra rằng sự liên kết của biến này với tăng trưởng hoặc không đáng kể hoặc là không mạnh mẽ Kết quả của chúng tôi về mối liên hệ giữa chi đầu tư cho lĩnh vực giáo dục và tăng trưởng kinh tế cũng xứng đáng một vài bình luận Do thiếu các dữ liệu thích hợp có sẵn, việc phân tích các tác động của biến này đối với tăng trưởng gần như không tồn tại trong các tài liệu nghiên cứu trước đây Theo kiến thức chúng tôi
đã có, ngoại lệ duy nhất là trường hợp của Easterly và Rebelo (1993), đã nghiên cứu trên một nhóm lớn các nước phát triển và đang phát triển Chúng tôi nhận thấy việc đầu tư vào giáo dục không chỉ có ý nghĩa cao, mà mức độ ảnh hưởng của biến này đối với tăng trưởng còn đáng kể: tăng tỷ lệ 1% đầu tư chính phủ cho giáo dục trên GDP tương ứng sẽ kéo theo sự gia tăng trong tỉ lệ tăng trưởng trung bình của GDP
Trang 1010
thực bình quân đầu người là 1,5% Mặc dù không có ý nghĩa trong trường hợp của
họ, Easterly và Rebelo (1993) tìm thấy ảnh hưởng lớn tương tự cho đầu tư giáo dục
Sự giải thích cho ảnh hưởng này có thể nằm trong những ngoại tác mạnh mẽ của việc đầu tư cho giáo dục với sự nâng cao hiệu quả của cả vốn con người và vật chất Dẫn chứng lý thuyết cho quan điểm này có sẵn trong các nghiên cứu mới về tăng trưởng
Các kết quả cho ba biến chi tiêu khác rút ra từ nhiều nguồn tài liệu hiện có Ví dụ, mối liên hệ tích cực và đáng kể giữa tổng chi tiêu cho lĩnh vực giao thông vận tải và viễn thông với sự tăng trưởng được tìm thấy trong nghiên cứu của Aschauer (1989)
Về mối liên hệ tích cực giữa chi tiêu đầu tư trong lĩnh vực giao thông vận tải và viễn thông với sự tăng trưởng có thể tìm được trong nghiên cứu của Easterly và Rebelo (1993) Tuy nhiên, chúng tôi tìm thấy mối liên hệ này chỉ ở mức ý nghĩa 10% Cuối cùng, phân tích sơ bộ của chúng tôi cho thấy một mối liên hệ tích cực và đáng kể (ở mức 10%) giữa chi tiêu quốc phòng và tăng trưởng Trong các tài liệu hiện có, mối liên kết này đôi khi được xem là tích cực và đáng kể (Benoit 1978; Frederiksen và Looney 1982) Đồng thời, các nghiên cứu khác lại xem mối liên hệ này là trái chiều (Deger và Smith 1983; Knight và cộng sự 1996), trong khi các nghiên cứu khác về hiệu quả của chi tiêu quốc phòng với tăng trưởng mang lại kết quả trung tính (Biswas và Ram 1986)
3.2 Kiểm định tính bền vững - Robustness checks
Độ mạnh của các kết quả từ hàm hồi quy cơ bản (1) đến các biến trong tập dữ
liệu Z được kiểm tra bây giờ, chỉ tập trung vào các biến trong tập M có liên quan
đến sự tăng trưởng một cách đáng kể và nằm trong Bảng 1 Phân tích này được thực hiện trong hai giai đoạn Đầu tiên, theo như nghiên cứu của Easterly và Rebelo
(1993), chúng tôi mở rộng tập hợp các hàm hồi quy bao gồm tỷ lệ tiền mạnh (M2)
so với GDP trong năm 1970 và tỉ trọng thương mại trong GDP vào năm 1970 (TR):
Mục đích của việc bao gồm các biến này là để kiểm soát các tác động của chính sách tiền tệ và mức độ minh bạch của nó, mà theo những nghiên cứu trước đây (ví
dụ, Levine và Renelt năm 1992; King và Levine 1993), là tương quan đáng kể với tăng trưởng kinh tế Tiếp theo, chúng tôi mở rộng tập hợp các hàm hồi quy để bao gồm các biến khác:
Trang 11Cụ thể hơn, chúng tôi tính đến phần bù cho thị trường chợ đen (BMP) và tỷ lệ tăng trưởng của các điều khoản thương mại (TT) trong phương trình (3) Những yếu tố này kiểm soát sự biến dạng thị trường và nắm bắt được ảnh hưởng bất lợi của biến động thương mại mà một số quốc gia trong mẫu của chúng tôi đã trải qua trong thời
kỳ phân tích Hai biến này cũng đã cho thấy có tương quan đáng kể với tăng trưởng trong các nghiên cứu trước đó (ví dụ, Fischer năm 1993, Deverajan et al 1996 và Barro và Sala-i-Martin, 1999) Các kết quả được trình bày trong bảng 2
Theo quan điểm của Levine và Renelt (1992), chúng tôi xác nhận rằng biến được
xem xét có sự liên kết mạnh mẽ với sự tăng trưởng kinh tế nếu hệ số của biến M
vẫn còn đáng kể và tương tự như trong bảng 1 sau khi xem xét các biến bổ sung Các kết quả đã cho thấy, không cái nào trong sáu biến chi tiêu thất bại với việc kiểm tra độ phù hợp Thực tế, trong nhiều trường hợp, chúng tôi quan sát thấy một sự cải thiện về mức ý nghĩa Ngược lại, đối với các quốc gia trong mô hình của chúng tôi,
trong bốn biến của tập Z thì chỉ có sự tăng trưởng của các thời kỳ thương mại mới
chỉ ra sự liên quan đáng kể với tăng trưởng kinh tế trong một số trường hợp
Vì vậy, kết quả của các hồi quy cơ sở trong Bảng 1 đã không bị bóp méo quá mức bởi sự thiếu sót của các biến phản ánh chính sách tiền tệ, chính sách thương mại hoặc sự biến dạng của thị trường
Bảng 2: Kiểm tra độ mạnh các ảnh hưởng của chi tiêu Chính phủ
Trang 12Doanh thu từ thuế -0.036
(0.069)
-0.068 (0.072)
0.014 (0.064)
-0.033 (0.067)
-0.011 (0.074)
-0.041 (0.077)
-0.072 (0.081)
-0.096 (0.083)
-0.057 (0.079)
-0.088 (0.082)
-0.017 (0.062)
-0.040 (0.086) Đầu tư tư nhân 0.270***
0.004 (0.004)
0.006 (0.004)
0.004 (0.004)
0.006 (0.004)
0.005 (0.004)
0.004 (0.003)
0.004 (0.003) Vốn con người
kỳ gốc
-0.014 (0.008)
-0.019**
(0.009)
-0.006 (0.008)
-0.009 (0.008)
gốc
0.038 (0.081)
0.069 (0.084)
0.009 (0.079)
0.060 (0.080)
0.084 (0.095)
0.126 (0.097)
-0.026 (0.089)
0.002 (0.092)
0.112 (0.094)
0.151**
(0.096)
0.145 (0.087)
0.180** (0.088)
Sự bất ổn về chính trị 0.003
(0.020)
-0.008 (0.021)
0.021 (0.020)
0.011 (0.021)
-0.009 (0.023)
-0.017 (0.023)
-0.000 (0.021)
-0.005 (0.022)
-0.008 (0.021)
-0.018 (0.023)
0.021 (0.020)
-0.045** (0.021)
Các biến trong tập Z
(0.026)
0.017 (0.026)
0.026 (0.025)
0.018 (0.025)
0.019 (0.028)
0.013 (0.028)
0.018 (0.029)
0.014 (0.029)
0.019 (0.027)
0.019 (0.028)
-0.030 (0.030)
-0.039 (0.030)
Tỷ lệ giao dịch kỳ gốc 0.002
(0.026)
0.004 (0.014)
0.014 (0.014)
0.020 (0.014)
-0.004 (0.016)
0.000 (0.017)
-0.009 (0.014)
-0.005 (0.015)
0.002 (0.016)
0.004 (0.017)
-0.002 (0.014)
0.002 (0.014) Tiền lãi từ chợ đen - 0.001
0.003 (0.002)
Tỷ lệ tăng trưởng của
thời hạn giao dịch
-0.028 (0.052) -
-0.010 (0.061) R2
(0.49)
0.56 (0.51)
0.56 (0.55)
0.62 (0.54)
0.47 (0.53)
0.49 (0.54)
0.52 (0.57)
0.53 (0.54)
0.51 (0.54)
0.53 (0.55)
0.58 (0.66)
0.54 (0.72) Kết quả hồi quy
(p-value)
72.009 (0.000)
72.220 (0.000)
84.546 (0.000)
91.711 (0.000)
49.005 (0.000)
50.304 (0.000)
57.553 (0.000)
51.182 (0.000)
55.232 (0.000)
56.7317 (0.000)
73.,073 (0.000)
75.940 (0.000)
Hệ số tương quan chuỗi
AR (1) (p-value)
-0.086 (0.643)
-0.076 (0.688)
-0.155 (0.412)
-0.154 (0.423)
0.115 (0.544)
0.138 (0.472)
0.132 (0.494)
0.177 (0.366)
0.064 (0.741)
0.064 (0.745)
0.088 (0.667)
0.088 (0.672)
Chi tiêu cho quốc phòng Tổng đầu tư Đầu tư giáo dục Đầu tư GTVT và viễn
thông Chi tiêu cho giáo dục Chi tiêu cho GTVT và viễn thông
4 Các biến bị bỏ sót và sự giới hạn ngân sách của Chính phủ
4.1 Sự giới hạn ngân sách của Chính phủ
Trong phần giới thiệu của bài nghiên cứu này, chúng tôi đã lưu ý là hầu hết những nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa chi tiêu Chính phủ và sự tăng trưởng tiềm ẩn độ lệch, vì những nghiên cứu đó bỏ sót các biến nằm trong giới hạn ngân sách của Chính phủ Đây cũng chính là trường hợp hồi quy (1) đến (3) ở trên, với kết quả đã được tóm lược trong Bảng 1 và 2
Kneller(1999) trình bày tính quan trọng của việc giới hạn ngân sách Chính phủ trong bối cảnh ảnh hưởng chính sách tài khóa tăng trưởng lên các nước đang phát triển Nghiên cứu của chúng tôi về cơ bản cũng đi theo nghiên cứu của Kneller
(1999)10 Khái quát hóa các ký hiệu của Phần 3, đặt Mj,it là biến tài khóa j của quốc gia i tại thời điểm t Nếu có m chi tiêu chính phủ hoặc yếu tố ngân sách khác
nhau, thì giới hạn ngân sách Chính phủ được xem là đồng nhất:
Trang 13Cho phép mỗi yếu tố đều tác động đến sự tăng trưởng nên dẫn đến tổng quát hóa của hồi quy tăng trưởng (1) như sau:
(4)
So sánh (4) với phương trình (1) – (3), cần chú ý rằng nguồn thu từ thuế xuất hiện là
một biến điều kiện, hoặc I, trong các phương trình trước đó Tuy nhiên, vì đây là
một yếu tố của giới hạn ngân sách, chúng tôi đưa nó vào trong (4) như là một biến
trong tập M Do đó, hiện tại có 5 thay vì 6 yếu tố của I
Phương trình (4) không thể được ước tính bởi vì sự cộng tuyến hoàn hảo giữa m yếu
yếu tố M j,it sẽ bị bỏ sót Để đơn giản hơn, chúng ta giả định M m,it là yếu tố duy
nhất bị bỏ sót, lúc này mô hình được ước tính sẽ trở thành:
(5)
Trong đó, xét trong mối quan hệ với (4), γ j = β j M – β m M Từ những kết quả tiêu chuẩn của phân tích hồi quy tuyến tính, các biện pháp tổng quát liên quan đến hồi
quy được ước tính (bao gồm R2, số dư,…) và các hệ số βjI không thay đổi trong
trường hợp yếu tố giới hạn ngân sách của Chính phủ được loại trừ Tuy nhiên, tầm
quan trọng và ý nghĩa của γ j = β j M – β m M phụ thuộc vào cả β j M và β m M , và do đó phụ
thuộc vào yếu tố bị loại trừ Tuy nhiên, nếu M m,it bị loại trừ có hệ số β m M = 0, nên γ j
= β j M và hệ số của mỗi biến tài khóa bao gồm trong phương trình (5) vẫn giữ lại được giải thích tương tự như trong phương trình (4)
Mỗi mô hình được trình bày ở Phần 3 bao gồm một loại chi tiêu của Chính phủ, cùng với nguồn thu từ thuế Vì vậy, trong việc gắn hệ số ước tính cho một thành
phần chi tiêu cụ thể, chúng tôi ngầm giả định là tất cả biến loại trừ βjM = 0 Bây giờ
chúng tôi muốn thừa nhận khả năng rằng mối liên hệ đáng kể giữa tăng trưởng và mỗi trong số 6 thành phần của chi tiêu Chính phủ được trình bày trong phần 3 có thể bị ảnh hưởng bởi xu hướng bỏ sót biến Thật vậy, bằng cách xem xét từng cái một, sự liên kết của tăng trưởng với một loại có thể là giả mạo trong nội dung phân
bổ tới những thành phần khác của chi tiêu công mà nó có tương quan Để loại bỏ khả năng này, chúng ta nên bao hàm tất cả các yếu tố của hạn chế chi tiêu Chính phủ, ngoại trừ một danh mục mà hệ số chúng ta ước tính bằng 0 Đối với qui mô mẫu của chúng ta, cơ hội để thực hiện điều này, tuy vậy, bị giới hạn gần như hoàn toàn