1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC CỦA CÁC LOÀI TRONG HỌ NẤM GANODERMATACEAS Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN; ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG

19 631 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 108,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC 1 1. Đặt vấn đề 2 2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 3 2.1. Mục tiêu nghiên cứu 3 2.2. Nội dung nghiên cứu 3 3. Phương pháp nghiên cứu 4 3.1. Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa 4 3.1.1. Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa 4 3.1.2. Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ mẫu ngoài thực địa 4 3.1.2.1. Phương pháp thu mẫu 4 3.1.2.2. Phương pháp xử lý mẫu 5 3.1.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 5 3.2. Phân chia sinh cảnh sống của các loài nấm lớn tại VQG CYS theo hệ thống phân loại thảm thực vật của UNESCO 1973 5 3.3. Phương pháp xây dựng danh lục 5 3.4. Xác định các yêu cầu về sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, độ chiếu sáng, độ cao) 5 4. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5 4.1. Lược sử phân loại nấm 5 4.2. Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó 7 4.2.1. Khái niệm chung 7 4.2.2. Đảm và bào tử đảm 8 4.3. Hệ thống nấm đảm theo Trịnh Tam Kiệt (1980,1981) 10 4.3.1. Lớp Phragmobasidiomycetes (Gaum) 10 4.3.2. Lớp Hymenomycetes (Kreisel) 10 4.3.3. Lớp Gasteromycetes (Nấm bao) 10 4.4. Hệ thống học và đa dạng sinh học của họ nấm Ganodermataceae donk 11 5. Kết quả dự kiến 14 KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG



BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC CỦA CÁC LOÀI TRONG HỌ NẤM

GANODERMATACEAS Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN;

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG



BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC CỦA CÁC LOÀI TRONG HỌ NẤM

GANODERMATACEAS Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN;

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG

Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Quỳnh Anh

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 Đặt vấn đề 2

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.2 Nội dung nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 4

3.1 Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa 4

3.1.1 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa 4

3.1.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ mẫu ngoài thực địa 4

3.1.2.1 Phương pháp thu mẫu 4

3.1.2.2 Phương pháp xử lý mẫu 5

3.1.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 5

3.2 Phân chia sinh cảnh sống của các loài nấm lớn tại VQG CYS theo hệ thống phân loại thảm thực vật của UNESCO 1973 5

3.3 Phương pháp xây dựng danh lục 5

3.4 Xác định các yêu cầu về sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, độ chiếu sáng, độ cao) 5

4 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5

4.1 Lược sử phân loại nấm 5

4.2 Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó 7

4.2.1 Khái niệm chung 7

4.2.2 Đảm và bào tử đảm 8

4.3 Hệ thống nấm đảm theo Trịnh Tam Kiệt (1980,1981) 10

4.3.1 Lớp Phragmobasidiomycetes (Gaum) 10

4.3.2 Lớp Hymenomycetes (Kreisel) 10

4.3.3 Lớp Gasteromycetes (Nấm bao) 10

4.4 Hệ thống học và đa dạng sinh học của họ nấm Ganodermataceae donk 11

5 Kết quả dự kiến 14

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 4

1 Đặt vấn đề

Nấm là những sinh vật sống hoại sinh trong môi trường sinh thái Nấm có khả năng tiết ra các enzim vào môi trường để phân giải các phân tử phức tạp thành các chất đơn giản, vì thế chúng có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tốc độ chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên, khoáng hoá các hợp chất hữu cơ, làm sạch môi trường sinh thái và tăng độ phì nhiêu cho đất thông qua đó làm tăng năng suất cây trồng và cây rừng

Tây nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và 2 tỉnh Ratanakiri và Mondulkiri(Campuchia), chiếm 1/6 diện tích nước ta gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Địa hình Tây Nguyên bị phân cắt nhiều bởi các dãy núi khác nhau (dãy Ngọc Linh, dãy An Khê, dãy Chư Dju, dãy Chư Yang Sinh ) độ cao trung bình từ 400-2200m so với mặt biển Khí hậu Tây nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 11 trong năm, mùa khô

từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình khá lớn từ 1500-3600mm Khoảng 95% lượng mưa đổ xuống vào mùa mưa tạo nên độ ẩm khá cao trong thời điểm này, nhiệt độ trung bình hàng năm ở vùng có độ cao 500-800 dao động từ

21-230C, ở những vùng có độ cao lớn hơn nhiệt độ trung bình từ 18-210C, độ ẩm trung bình

từ 80-86% Hệ sinh thái ở Tây Nguyên rất đa dạng với 6 kiểu hệ sinh thái chính gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới, rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, rừng hỗn giao tre nứa, hệ sinh thái trảng cây bụi và đồng cỏ,

hệ sinh thái đồng ruộng và khu dân cư đã tạo nên các hệ động vật, thực vật và hệ nấm khá

đa dạng và phong phú trong đó có rất nhiều loài có trong sách đỏ và một số loài đang trong tình trạng báo động tuyệt chủng Với điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên rất thuận lợi cho sự phát triển của nấm lớn nói chung và họ nấm Ganodermataceae nói riêng Nấm lớn Việt Nam hiện nay có rất ít tác giả nghiên cứu, nếu có nghiên cứu chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng trung du Đối với khu vực Tây Nguyên chủ yếu tập trung nghiên cứu ở Nam Tây Nguyên còn ở các khu vực còn lại hầu như chưa có tác giả nào nghiên cứu Họ Ganodermataceae đóng vai trò rất quan trọng trong khu hệ nấm lớn nói chung, chúng có ý nghĩa rất lớn về tính đa dạng và đặc biệt là giá trị dược liệu của chúng, từ thời Hoàng đế (trên 4000 năm về trước) cho đến nay Linh chi (họ Ganodermataceae) vẫn được xem là

“thượng dược”- được xếp vào hàng siêu dược liệu Ở nước ta các loài nấm Linh chi (thuộc họ Nấm họ Ganodermataceae) ngoài tự nhiên từ hàng ngàn năm nay vẫn còn là hoang dại và đang ngày càng bị xói mòn nguồn gen quí hiếm trong thời mở cửa và tình trạng phá rừng như hiện nay đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh sống của chúng

Vườn quốc gia Chư Yang Sinh nằm trong khu vực Tây Nguyên và là nơi có sự đa

2

Trang 5

dạng cao của các loài nấm lớn trong đó có các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae Các công trình nghiên cứu về sự đa dạng của thành phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở đây còn ít và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học và sinh thái học của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở đây Chính vì vậy chúng tôi đề

xuất đề tài luận văn là “Nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh thái học

của các loài trong họ Nấm Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin; đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững” nhằm góp phần làm rõ sự đa dạng về thành

phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS để đề xuất các giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững chúng như là một nguồn tài nguyên sinh vật quý, có giá trị ở vùng này

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Điều tra thu thập, định danh và xác định vị trí phân bố của các loài nấm họ Ganodermataceae ở khu vực Vườn quốc gia Chư Yang Sin (VQG CYS)

- Tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái học của các loài thuộc họ họ nấm Ganodermataceae ở VQG CYS

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý các loài nấm thuộc họ

Ganodermataceae ở VQG CYS

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thu thập mẫu vật và xác định thành phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS

- Xây dựng Danh lục các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS

- Tìm hiểu đặc trưng nơi sống của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững các loài trong họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa

Quy trình điều tra nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong “Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật” (1997), “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (2004), và “Các phương pháp nghiên cứu thực vật”(2008)

Trang 6

3.1.1 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa

Các trang thiết bị xác định vị trí: bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25000; máy định vị toàn cầu; la bàn, nhãn ghi mẫu vật, dây buộc, kéo cắt, bút ghi nhãn, ống nhòm, túi đựng mẫu vật tạm thời, kẹp mẫu …

3.1.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ mẫu ngoài thực địa

3.1.2.1 Phương pháp thu mẫu

Vì nấm phát triển theo đặc điểm bào tử Bào tử nấm phát tán trong không khí từ nơi này sang nơi khác và theo nhiều hướng khác nhau, vì vậy nấm sẽ phát triển một cách ngẫu nhiên, không cố định ở một điểm địa hình nào đó Do đó mẫu sẽ được tìm kiếm một cách ngẫu nhiên

- Khi phát hiện ra mẫu, trước khi lấy mẫu, thao tác đầu tiên phải làm là chụp hình mẫu vật Các góc cần chụp lại như sau:

+ Chụp từ xa

+ Chụp cận mẫu (từ trên xuống, từ cạnh sang )

+ Chụp sát gốc

Lưu ý: Khi chụp hình mẫu nấm, cần đặt 1 chiếc thước kẻ bên cạnh mẫu để định lượng được kích thước mẫu

Sau khi chụp ảnh mẫu nấm, ghi chép nhanh các thông tin như: Các đặc điểm hình thái của nấm, màu sắc (tránh hiện tượng nấm bị chuyển màu khi bị tiếp xúc hoặc để lâu trong thời gian dài), tọa độ điểm lấy mẫu, đặc điểm xung quanh nấm mọc, …

Sau khi đã hoàn tất công đoạn ghi chép, dùng dao nhọn nhẹ nhàng tách nấm ra khỏi giá thể, khi tách cần lấy cả một mẩu gỗ nhỏ mà nấm sống trên đó (nếu là nấm phân hủy gỗ)

Mỗi mẫu nấm sau khi thu sẽ được cho vào hộp đựng mẫu riêng hoặc gói riêng trong tờ giấy bạc (không để chung mẫu để tránh các bào tử nấm lẫn lộn vào nhau) và được đánh số thứ tự Những mẫu nấm nhỏ sẽ được bảo quản trong hộp nhựa hoặc lọ thủy tinh để tránh bị dập, gãy

3.1.2.2 Phương pháp xử lý mẫu

Mẫu nấm sau khi thu thập sẽ được bảo quản ở nơi thoáng mát, phơi khô và được bảo quản trong tủ lạnh hoặc sấy bằng máy sấy hoa quả ở nhiệt độ khoảng 400oC- 450oC

Khi mẫu khô, được chuyển sang bảo quản cùng gói hút ẩm

4

Trang 7

3.1.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

Mẫu vật phân tích tốt nhất là mẫu tươi vừa được thu thập Mẫu vật sẽ được phân tích dựa trên đặc điểm hình thái, và chụp ảnh hoặc bẽ lại hình dáng, đặc điểm của mẫu vật

Sau đó đem mẫu đi soi kính hiển vi để nghiên cứu đặc điểm bảo tư của mẫu Khi

đó kích thước các cấu trúc hiển vi quan sát được, cần phải chụp ảnh hoặc vẽ lại thông qua kính hiển vi điện tử

3.2 Phân chia sinh cảnh sống của các loài nấm lớn tại VQG CYS theo hệ thống phân loại thảm thực vật của UNESCO 1973

Dựa trên ngoại mạo và cấu trúc thảm thực vật làm tiêu chuẩn

3.3 Phương pháp xây dựng danh lục

Danh lục được định danh theo các tài liệu của Furtado (1962,1965), Teng (1964), Steyaert (1972, 1980), Ryvanrden (1991, 2000), Trịnh Tam Kiệt (2011, 2012), Campac Thiago Silva et al (2009), Bhosle (2010), Pegler-Young (2012)

3.4 Xác định các yêu cầu về sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, độ chiếu sáng, độ cao)

Sử dụng các thiết bị thường dùn như Tiger Direct HMAMT-110, Tiger Direct LMLX 1010B, GPS Garmine Trex Vista HCx, …

4 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

4.1 Lược sử phân loại nấm

Theo Aristot (384 - 322 trước công nguyên) thì thế giới sinh vật được chia ra thành hai nhóm: động vật và thực vật Có nghĩa là bất cứ một sinh vật nào không phải là thực vật thì là động vật và ngược lại Sau đó tác giả Carl Vol Linne (1707 - 1778 ) đã mô tả được 10.000 loài trong giới thực vật và trong giới động vật có 4.000 loài Sự khác biệt của hai giới này được phân biệt căn cứ vào một số đặc điểm về cấu tạo tế bào và trao đổi chất Quá trình phân chia hai giới như trên được duy trì trong thời gian dài và đã đi vào hầu hết các sách giáo khoa, giáo trình trước đây về sinh vật

Trong cách phân loại như trên thì nấm cũng được xếp vào giới thực vật Nhưng khi xét về một số đặc điểm về cấu tạo và dinh dưỡng thì nấm lại vừa có những tính chất của giới thực vật lại có những tính chất của giới động vật Chính vì vậy Haeckel (1866) đã xếp nấm vào một nhóm sinh vật thứ ba: nhóm nguyên sinh bao gồm nấm và các sinh vật đơn bào không phân biệt là động vật hay thực vật, có hay không có nhân tế bào hoàn chỉnh Nhóm này tương đương với một giới bên cạnh giới thực vật và giới động vật Theo tác giả Elias Fries (1794 – 1878) căn cứ vào những điểm khá đặc biệt của nấm đã đề nghị tách nấm thành một giới riêng

Trang 8

Cho đến ngày nay, căn cứ vào những đặc điểm ngăn cách các nhóm sinh vật và quá trình tiến hóa chung của sinh vật, đa số các tác giả chấp nhận hệ thống tổng quát gồm năm giới: gồm động vật nguyên sinh, vi khuẩn, giới thực vật, giới động vật và giới nấm Đồng thời các tác giả cũng kết luận rằng nấm có nguồn gốc chung với động vật và thực vật nguyên thuỷ có nhân hoàn chỉnh Điều đó chứng tỏ quan niệm truyền thống về hệ thống sinh giới đang bị phá vỡ Việc tách nấm thành một nhóm riêng là điều hợp lý, bởi lẽ nấm

có những đặc tính riêng biệt như là những cơ thể dị dưỡng khác hẳn với thực vật, màng cấu tạo bằng kitin, Gluxit dự trữ dưới dạng Glucogen

Với hệ thống phân loại nấm hiện nay cũng còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục thảo luận Theo Carl Vol Linne (1707 - 1778) chia nấm thành 10 chi gồm 86 loài Sau đó tác giả Elias Fries (1794 – 1878) chia nấm thành 4 lớp Một trong những vấn đề mà các tác giả quan tâm hiện nay là sự có mặt của ngành nấm nhầy trong hệ thống nấm Vì ngành nấm nhầy có những đặc điểm khá riêng biệt, chính vì thế một số tác giả hoặc là tách nó ra khỏi hệ thống hoặc để nó trong hệ thống Về các nhóm nấm còn lại có nhiều đề nghị phân loại khác nhau cụ thể như sau :

Hệ thống của tác giả JA Vou Arx (1968) đề nghị chia giới nấm thành bảy lớp: Chytridiomycetes, Oomycetes, Zygomycetes, Endomycetes, Ascomycetes, Basidiomycetes, Deuteromycetes

Shaffer (1975) lại đưa ra một hệ thống giới nấm gồm ba ngành: Chytridiomycota, Zygomycota và Dicarymycota (hai lớp Ascomycetes và Basidiomycete)

Bùi Xuân Đồng (1977) đưa ra hệ thống phân loại gồm hai ngành với các lớp phụ như sau:

- Ngành nấm nhầy (Myxomycota):gồm bốn lớp.

-Ngành nấm (Mocota, Eumycota):gồm 5 lớp: Lớp nấm roi (Matisgomycetes):có ba lớp phụ; Lớp nấm tiếp hợp (Zygomycetes): có hai lớp phụ; Lớp nấm túi (Ascomycetes):

có 5 lớp phụ; Lớp nấm đảm (Basdiomycetes): có 3 lớp phụ; Lớp bất toàn (Deuteromycetes):có 3 lớp phụ.

Đường Hồng Dật (1979) dựa trên cơ sở phân loại nấm của các tác giả Liên Xô đã chia nấm thành 5 lớp: Fungiimperjecti; Basidiomycetae (Gồm hai phân lớp); Ascomycetae (Gồm hai phân lớp); Phycomycetae (Gồm hai phân lớp) và Archimycetae

Gần đây nhất, Trịnh Tam Kiệt (1981) chia giới nấm thành 3 giới phụ:

- Gymxomycetoida: Giới phụ nấm nhầy gồm có ba dòng, mỗi dòng một lớp

- Phycomycetoida: Giới phụ nấm tảo gồm một dòng với một lớp

- Restomycetoida: Giới phụ nấm thật gồm có 5 dòng: Chytridimycota,

6

Trang 9

Zygomycota, Endomycota, Ascomycota và Basidiomycota.

Qua sự phân loại nấm của rất nhiều tác giả khác nhau cả ở nước ngoài lẫn ở trong nước Việt Nam, từ thời rất xa xưa cho đến ngày nay, cho ta thấy rằng vị trí cũng như việc phân chia các nhóm nấm đang còn nhiều vấn đề cần tiếp tục trao đổi

4.2 Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó

4.2.1 Khái niệm chung

Nấm đảm là những nấm bậc cao, cơ thể của nấm đảm dạng sợi phân nhánh Giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu trình sống Thể dinh dưỡng của nấm đảm là dạng sợi

đa bào nguyên thủy, có vách ngăn ngang với lỗ thông phức tạp dạng dolyporus, phân nhánh mạnh, màng được cấu tạo chủ yếu từ kitin Sinh sản vô tính bằng nhiều kiểu khác nhau còn sinh sản hữu tính bằng bào tử đảm (basidiospore) được hình thành trên thể sinh sản

Cá thể phát sinh của nấm đảm (Basidiomycetes)

Hình 1: chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ đảm bào tử

Theo một số tác giả như Trinh Tam Kiệt, Lê Bá Dũng, Leif Ryvarden thì cá thể phát sinh của nấm đảm trong trường hợp điển hình diễn ra như sau: Bào tử đảm khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm, hình thành sợi sơ cấp với các tế bào đơn nhân, đơn bội (1n) Sợi sơ cấp tồn tại rất ngắn trong chu trình sống Sau đó chúng mau chóng tiếp hợp với sợi khác tính, giao phối sinh chất, song hạch hoá để tạo ra sợi song nhân đơn bội (n +

Trang 10

n) – sợi thứ cấp Sợi thứ cấp phát triển rất mạnh và tồn tại lâu dài trong chu trình sống Ở phần lớn các loài, tế bào đỉnh sợi hình thành một mấu nhỏ thường gọi là khoá hay cầu nối giữa hai nhân khác tính Sau đó cả hai nhân đều phân chia cho bốn nhân con, một nhân đi vào nhánh còn một nhân ở lại gốc, còn hai nhân khác tính ở phần đầu của sợi Sau đó khuỷu cong xuống, hòa tan màng nhân đổ nội chất và nhân vào tế bào gốc đồng thời xuất hiện vách ngăn với tế bào đỉnh Kết quả là hình thành nên một tế bào song hạch mới Như vậy tế bào dưới tế bào đỉnh lại trở nên song hạch và vết tích còn lại như chiếc cầu của ổ khoá nên được gọi là cầu nối, móc nối hay khoá Sợi song hạch được tạo thành có khả năng sinh trưởng vô hạn và hầu như chiếm toàn bộ đời sống của nấm Trong những điều kiện xác định thì các sợi song hạch này sẽ bện kết lại để tạo nên quả thể nấm với những hình dạng, kích thước và cấu trúc rất đa dạng Sau đó trên quả thể hình thành nên lớp sinh sản, lớp này phần lớn bao gồm các tế bào song hạch hữu thụ (là tế bào mẹ của đảm về sau) Các đảm có thể được sắp xếp thành dạng bờ dậu trên mặt giá thể (trường hợp các nấm đảm không hình thành thể sinh sản trong chu trình sống) hay tập trung thành lớp sinh sản – quả thể

Tế bào mẹ của đảm (hymenia) tăng kích thước chứa đầy chất nguyên sinh, thường

có dạng chùy chuyển thành đảm non và diễn ra sự giao phối giữa hai nhân khác tính Sau khi phân chia hai lần, trong đó có một lần phân chia giảm nhiễm để cho bốn nhân con Lúc này, ở phần đỉnh của đảm mọc ra bốn mấu lồi, nội chất cũng như nhân từng chiếc một đi qua mấu lồi, hình thành nên bốn bào tử đảm ngoại sinh bằng cách nảy chồi phình lên và thắt dần lại Phần kết nối giữa các đảm và bào tử đảm gọi là tiểu bính (sterigma) hay gọi là cuống bào tử Khi bào tử chín sẽ được phát tán chủ động vào không gian và lặp lại chu trình sống

4.2.2 Đảm và bào tử đảm

Đảm là tế bào đỉnh phình to lên của một số sợi nấm song nhân mọc ở phiến nấm trong quả thể Tế bào này gọi là nguyên đảm Đảm là nơi diễn ra quá trình giảm phân để hình thành nên các bào tử của nấm đảm và bào tử của đảm sẽ phát triển tại đó Cấu trúc của đảm (khi đã trưởng thành) dường như là được bảo tồn qua quá trình tiến hoá Chính vì thế sự tương đồng về hình thái học của đảm trong các Taxon chính được xem như những chỉ định cho các mức độ quan hệ giữa những Taxon đó Các dẫn liệu về hoá thạch của nấm đảm hầu như là không có hoặc rất khó diễn giải, vì vậy những nghiên cứu về hình thái được đưa ra chỉ dựa trên những hiểu biết về tiến hoá trong nấm đảm

Đảm ở basidimycotacó 2 dạng cơ bản: Đảm đơn bào (holabasidie) gặp ở các đại diện thuộc Hymenomycetes và Gasteromycetes Chúng có hình dạng kích thước khác

nhau như: hình trứng, hình chuỳ, hình thoi, hình trụ đến hình chạc súng cao su Trên mỗi đảm có 4 cuống bào tử (sterigma), trên mỗi cuốn bào tử mang một bào tử đảm Đảm đa

8

Ngày đăng: 02/07/2017, 15:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ đảm bào tử - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC CỦA CÁC LOÀI TRONG HỌ NẤM GANODERMATACEAS Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN; ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG
Hình 1 chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ đảm bào tử (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w