1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI VIỆT NAM

17 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 254,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ 3 II.TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI VIỆT NAM. 4 2.1. Tài nguyên nước tại Việt Nam 4 2.2. Quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam 5 III. TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC 8 3.1. Các khái niệm về tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước 8 3.2. Tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam 9 3.2.1.Tiếp cận theo mô hình truyền thống và bản địa 9 3.2.2. Tiếp cận theo mô hình tiên tiến tài nguyên nước là một loại hàng hóa 11 IV. ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 14

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯƠNG HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

*****************************

BÀI TẬP THUYẾT TRÌNH TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ

TÀI NGUYÊN

“TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ TÀI

NGUYÊN NƯỚC TẠI VIỆT NAM”

Nhóm I Lớp DH4KTTN GVHD: Đặng Thị Hiền

HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2016

Trang 2

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ 3

II.TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI VIỆT NAM 4

2.1 Tài nguyên nước tại Việt Nam 4

2.2 Quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam 5

III TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC 8

3.1 Các khái niệm về tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước 8

3.2 Tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam 9

3.2.1.Tiếp cận theo mô hình truyền thống và bản địa 9

3.2.2 Tiếp cận theo mô hình tiên tiến - tài nguyên nước là một loại hàng hóa 11

IV ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 14

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nước - nguồn tài nguyên thiết yếu cho cuộc sống của con người, sự phát triển bền vững của mọi quốc gia và là ưu tiên hàng đầu để phát triển bền vững.Nước là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong việc duy trì sự sống và mọi hoạt động của con người trên hành

tinh

Kể từ đầu thế kỷ 20, lượng nước tiêu thụ toàn cầu tăng 7 lần, chủ yếu do sự gia tăng dân số và nhu cầu về nước của từng cá nhân Cùng với sự gia tăng dân số và khát vọng cải thiện cuộc sống của mỗi quốc gia và của từng cá nhân thì nhu cầu về nước ngày càng gia tăng là điều tất yếu Vì vậy, trên thực tế việc đảm bảo cấp nước đáp ứng về chất lượng cho toàn bộ dân số toàn cầu và bảo tồn các hệ sinh thái vẫn còn là một mục tiêu xa vời Do sự biến đổi về nhiệt độ và lượng mưa, hiện nay nhiều nơi đã thường xuyên không có đủ nước

để đáp ứng nhu cầu Vì thế, trong thế kỷ 21, thiếu nước sẽ là một vấn đề nghiêm trọng nhất trong các vấn đề về nước, đe doạ quá trình phát triển bền vững

Việt Nam không phải quốc gia khan hiếm tài nguyên nước tuy nhiên tài nguyên nước của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức và những thách thức này ngày càng lớn như biến đổi khí hậu, gia tăng dân số hay sự chia sẻ với các nước láng giềng.Trước tình hình đó chính phủ Việt Nam nói riêng, người dân Việt Nam nói chung đã có những chính sách, những công tác để bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.Và một trong số đó chính là

“Tiếp cận cộng đồng”

Việt Nam đã có lịch sử lâu dài về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước ở khắp nhiều nơi trong nước, cả ở vùng đồng bằng và vùng cao, thể hiện dưới nhiều mô hình và cách thức khác nhau, phục vụ cho mục đích lấy nước sinh hoạt và tưới tiêu đồng ruộng Các mô hình truyền thống về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng thường dễ tìm thấy ở các vùng nông thôn miền núi, ở đó tài nguyên nước được xem như là tài sản chung của cộng đồng

Vậy việc “Tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam” như thế nào, có tác động ra sao.Sau đây nhóm xin được trình bày đề tài : “Tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam”

Trang 4

II.TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI VIỆT NAM.

2.1 Tài nguyên nước tại Việt Nam

Việt Nam có 3450 sông, suối với chiều dài từ 10 km trở lên Các sông suối này nằm trong 108 lưu vực sông được phân bố và trải dài trên cả nước

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn tài nguyên nước khá phong phú cả về lượng mưa, nguồn nước mặt trong các hệ thống sông, hồ và nguồn nước dưới đất

Về lượng mưa: lượng mưa trung bình năm của Việt Nam vào khoảng 1940-1960mm

(tương đương tổng lượng nước khoảng 640 tỷ m3/năm), thuộc số quốc gia có lượng nước mưa vào loại lớn trên thế giới Tuy nhiên, lượng mưa của Việt Nam phân bố rất không đều theo không gian và thời gian Lượng mưa tập trung chủ yếu trong 4-5 tháng mùa mưa (chiếm 75-85% tổng lượng mưa năm), lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm 15-25% Khu vực có lượng mưa lớn là các khu vực phía Đông Trường Sơn thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên và khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ

Về nước mặt: tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 830-840 tỉ m3, trong đó tập

trung chủ yếu (khoảng 57%) ở lưu vực sông Cửu Long, hơn 16% ở lưu vực sông Hồng-Thái Bình, hơn 4% ở lưu vực sông Đồng Nai, còn lại ở các lưu vực sông khác Tuy nhiên, lượng nước sinh ra ở phần lãnh thổ Việt Nam chỉ chiếm khoảng 310-315 tỷ m3/năm (khoảng 37%), chủ yếu thuộc các lưu vực sông Hồng-Thái Bình, Đồng Nai, Cả, Ba, Vũ Gia-Thu Bồn

Để đáp ứng các yêu cầu trữ lượng, điều tiết dòng chảy phục vụ cấp nước trong mùa khô và phòng, chống và giảm lũ, lụt trong mùa mưa, Việt Nam đã, đang và tiếp tục phát triển hệ thống các hồ chứa nước Theo kết quả thống kê, rà soát sơ bộ, cả nước có trên 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng với tổng dung tích trên 65 tỷ m3 Trong đó, khoảng 2.100 hồ đang vận hành, tổng dung tích hơn 34 tỷ m3 khoảng 240 hồ đang xây dựng, tổng dung tích hơn 28 tỷ m3, trên

510 hồ đã có quy hoạch, tổng dung tích gần 4 tỷ m3 Trong số các hồ nêu trên, có khoảng

800 hồ thủy điện, tổng dung tích trên 56 tỷ m3, gồm 59 hồ đang vận hành, 231 hồ đang xây dựng và hơn 500 hồ đã có quy hoạch xây dựng và hơn 2.100 hồ chứa thủy lợi, tổng dung tích hơn 9 tỷ m3, phần lớn là hồ chứa nhỏ, đã xây dựng xong, đang vận hành Các lưu vực sông có số lượng hồ chứa và tổng dung tích các hồ chứa lớn gồm: sông Hồng, gẩn

30 tỷ m3; sông Đồng Nai, trên 10 tỷ m3, sông Sê San, gần 3,5 tỷ m3; sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Vũ Gia – Thu Bồn và sông Srêpok có tổng dung tích hồ chứa từ gần 2

tỷ m3 đến 3 tỷ m3 Có 19 tỉnh có tổng dung tích hồ chứa từ trên 1 tỷ m3 trở lên

Về nước dưới đất: Tiềm năng nguồn nước dưới đất của Việt Nam là tương đối lớn,

ước tính khoảng 63 tỷ m3/năm, tập trung chủ yếu ở các khu vực đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên

Mặc dù tài nguyên nước ở Việt Nam có trữ lượng dồi dào nhưng trên thực tế nguồn nước có thể sử dụng ngay (“sẵn dùng”) là hạn hữu vì sự phân bố không đồng đều Nhiều vùng bị thiếu nước sạch để sinh hoạt do ô nhiễm, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán và các tác nhân

Trang 5

khác Chất lượng nước bị suy giảm nghiêm trọng đã hủy hoại môi trường sống và đẩy con người đến gần 1 các rủi ro nguy hiểm

2.2 Quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với phát triển bền vững đã

có sự chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động Theo đó, đã đặt ra yêu cầu phải quản lý bền vững và hiệu quả hơn các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; quản lý tài nguyên nước phải theo phương thức tổng hợp, sử dụng đa mục tiêu và phải gắn với các tài nguyên thiên nhiên khác - một phương thức quản lý tài nguyên nước đã được áp dụng thành công ở một

số nước trên thế giới và ngày càng chứng tỏ là một phương thức quản lý hiệu quả đang được nhiều quốc gia nghiên cứu áp dụng

Công tác quản lý tài nguyên nước không ngừng được tăng cường và đã có những bước tiến quan trọng trong cơ cấu tổ chức ngành nước từ trung ương đến địa phương với việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tách chức năng quản lý khỏi chức năng cung cấp các dịch vụ về nước là một bước đột phá hết sức quan trọng, đặc biệt là trong năm 2014 đã ban hành Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Đồng thời, thể chế về tài nguyên nước cũng không ngừng được hoàn thiện và kiện toàn để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới: nhiều văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên phạm

vi cả nước; công tác sắp xếp tổ chức cũng được chú trọng, Sở Tài nguyên và Môi trường

đã được thành lập tại tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các đơn vị chuyên trách trực thuộc để thực hiên nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước trên địa bàn; công tác đào tạo và tăng cường nguồn nhân lực về quản lý tài nguyên nước luôn được quan tâm, coi trọng và được thực hiện đồng bộ ở tất cả các cấp

Quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp và toàn diện đã trở thành quan điểm nhất quán của Việt Nam và đã được thể hiện xuyên suốt trong Chiến lược quốc gia

về tài nguyên nước năm 2006 “quản lý tài nguyên nước phải được thực hiện theo phương

thức tổng hợp và thống nhất trên cơ sở lưu vực sông Cơ cấu sử dụng nước phải phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Tài nguyên nước phải được phát triển bền vững; khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tổng hợp và đa mục tiêu Phải coi sản phẩm nước là hàng hoá; sớm xóa bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện xã hội hoá các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước”; đồng thời, phương thức quản lý này cũng được thể hiện thống nhất

trong các nghị định, quyết định, thông tư cũng như trong việc triển khai chính sách quản lý tài nguyên nước ở các cấp

Đặc biệt, gần đây quan điểm quản lý tổng hợp, toàn diện tài nguyên nước đã được luật hóa và được quy định trong Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 - văn bản pháp lý

Trang 6

cao nhất về lĩnh vực tài nguyên nước Theo đó, một trong những nguyên tắc quản lý tài

nguyên nước đã được quy định trong Luật là: ”Việc quản lý tài nguyên nước phải bảo

đảm thống nhất theo lưu vực sông, theo nguồn nước, kết hợp với quản lý theo địa bàn hành chính.” và ” Tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp, thống nhất về số lượng

và chất lượng nước; giữa nước mặt và nước dưới đất; nước trên đất liền và nước vùng cửa sông, nội thủy, lãnh hải; giữa thượng lưu và hạ lưu, kết hợp với quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác” Cùng với nguyên tắc này, Luật cũng đã thể chế các quy định,

biện pháp cụ thể để thực hiện phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên nước trong các hoạt động quy hoạch, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và phòng, chống tác hại

do nước gây ra,

Luật tài nguyên nước năm 2012 thay thế cho Luật tài nguyên nước năm 1998 cơ bản khắc phục được những bất cập, tồn tại của văn bản này đã được đánh giá, tổng kết từ thực tiễn 13 năm thực hiện, như đối tượng quản lý tài nguyên nước không còn bị bó hẹp chỉ về chất lượng và số lượng nước mà đã được mở rộng đến việc quản lý cả lòng, bờ bãi sông cũng như việc thiết lập các công cụ, biện pháp kinh tế trong quản lý tài nguyên nước Đồng thời, kế thừa Luật tài nguyên nước năm 1998, một số nội dung đã được quy định rõ ràng, cụ thể và chi tiết hơn Ngoài ra, nhiều quy định mới được bổ sung trong Luật, phù hợp và đáp ứng được yêu cầu chung về quản lý tài nguyên nước trong giai đoạn hiện nay

và trong thời gian tới Có thể khái quát những điểm mới trong Luật tài nguyên nước vừa được Quốc hội Việt Nam thông qua so với Luật tài nguyên nước năm 1998 như sau:

-Về quy định chung:

Ngoài việc chỉnh sửa, điều chỉnh, bổ sung một số nội dung về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc, chính sách về tài nguyên nước nhằm coi tài nguyên nước là tài sản của nhà nước, thực hiện chủ trương kinh tế hóa, khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và thực hiện quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên nước theo lưu vực sông kết hợp với quản lý theo địa bàn hành chính, Luật đã bổ sung quy định nhiều vấn đề chung khác như: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước; lấy ý kiến của cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; danh mục lưu vực sông

- Về điều tra cơ bản, Chiến lược, Quy hoạch tài nguyên nước:

Đây là chương mới, bao gồm những quy định nhằm tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước và quản lý tài nguyên nước theo chiến lược, quy hoạch, gồm các quy định về: trách nhiệm của Nhà nước trong điều tra cơ bản tài nguyên nước; quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước; các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước; chiến lược tài nguyên nước; quy hoạch tài nguyên nước; nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch tài nguyên nước; nội dung của các loại (quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước; quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh và quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương);

- Về Bảo vệ tài nguyên nước:

Bổ sung quy định cụ thể về các biện pháp phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; các biện pháp ứng phó và khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước; giám sát tài nguyên nước; bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy; hành lang bảo vệ nguồn nước; bảo

Trang 7

đảm sự lưu thông dòng chảy, nhằm tăng cường các biện pháp phòng chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước và bảo vệ các dòng sông Đồng thời, Luật cũng đã chỉnh sửa,

bổ sung một số nội dung quy định về bảo vệ nước dưới đất; bảo vệ nguồn nước sinh hoạt;

xả nước thải vào nguồn nước và quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp phép xả nước thải vào nguồn nước nhằm tăng cường các biện pháp bảo vệ nước dưới đất và quản

lý, giám sát chặt chẽ các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước,

- Về khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Bổ sung các quy định về tiết kiệm nước nhằm thực hiện chủ trương chống lãng phí trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, các quy định về chuyển nước lưu vực sông; điều hòa, phân phối tài nguyên nước; thăm dò, khai thác nước dưới đất và các quy định về khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt Đồng thời, Luật cũng đã bổ sung các biện pháp để quản

lý quy hoạch, xây dựng và khai thác sử dụng nước của hồ chứa nhằm khai thác, sử dụng tổng hợp, hiệu quả tài nguyên nước

- Về phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra:

Tập trung điều chỉnh phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại của nước do hoạt động liên quan khai thác, sử dụng tài nguyên nước của con người gây ra như phòng chống hạn hán, lũ, lụt, ngập úng nhân tạo, xâm nhập mặn, sụt, lún đất, sạt, lở bờ, bãi sông Còn việc phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại của lũ, lụt, nước biển dâng, và các tác hại khác của nước do thiên tai gây ra được thực hiện theo quy định của pháp luật về đê điều, phòng, chống lụt, bão và các quy định khác của pháp luật có liên quan

- Về tài chính về tài nguyên nước

Đây là một chương mới, trong đó quy định một số trường hợp khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền cho nhà nước như: thủy điện, kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp và khai thác nước dưới đất Những quy định này nhằm coi nước là tài sản của nhà nước, bảo đảm lợi ích của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu tài nguyên nước, nâng cao ý thức và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bảo đảm sự công bằng

- Về trách nhiệm quản lý tài nguyên nước

Quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành và của chính quyền địa phương các cấp; bổ sung quy định về việc điều phối, giám sát lưu vực sông nhằm tăng cường trách nhiệm phối hợp trong việc điều phối, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra bảo đảm tính hệ thống, thống nhất của tài nguyên nước trên lưu vực sông và huy động sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương liên quan trong việc giải quyết những vấn đề về tài nguyên nước trong khuôn khổ lưu vực sông

Gần đây, cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước tổng hợp và dựa trên lưu vực đã được đẩy mạnh ở Việt nam Về nguyên tắc, tài nguyên nước không chỉ được xem như là

“tài sản chung” mà còn là “hàng hóa có giá trị thương mại và kinh tế” Do đó, Chính phủ

đã áp dụng một số cơ chế nhằm tăng cường hiệu quả và hiệu lực quản lý nước ở các khía cạnh khác nhau về chính sách, kỹ thuật thực hiện, năng lực và cơ sở hạ tầng Kinh nghiệm quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam đã ghi nhận và đánh giá cao vai trò quan trọng của

Trang 8

các cộng đồng địa phương với tư cách vừa là người trực tiếp sử dụng nước, đồng thời vừa

là người quản lý và bảo vệ tài nguyên nước

Quản lý bởi cộng đồng hay quản lý dựa vào cộng đồng đã được giới thiệu và áp dụng ở nhiều vùng theo các cách khác nhau trong lĩnh vực cấp nước sinh họat và thủy lợi Mặc dù còn có nhiều bất cập về mặt pháp luật, thể chế và năng lực, nhưng cộng đồng địa phương đã chứng minh được rằng tài nguyên nước sẽ được quản lý tốt hơn nếu có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình ra quyết định Tuy nhiên, cho đến nay có rất ít nghiên cứu hoặc đánh giá toàn diện về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt nam Chính điều này đã hạn chế nỗ lực phát triển và quảng bá hiểu biết và dẫn chứng về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng của Việt Nam cũng như thúc đẩy việc áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn

III TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC

3.1 Các khái niệm về tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước

Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng động là một quá trình có sự tham gia, trong

đó cộng đồng chính là trung tâm của hệ thống quản lý nước có hiệu quả Sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng và phụ thuộc vào bối cảnh địa phương, quy mô của cộng đồng, luật pháp nhà nước, thể chế và năng lực địa phương, và công nghệ được sử dụng Mô hình này

có thể xác 4 lập dưới dạng các hội người tiêu dùng và các nhóm hành động cộng đồng ở khu vực thành thị cho đến các nhóm sử dụng nước và hợp tác xã thủy lợi ở vùng nông thôn (Bandaragoda 2005)

Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng động không hàm ý cộng đồng phải có trách nhiệm đối với tất cả các khía cạnh trong hệ thống nước mà họ đang sử dụng Họ có thể phải tham gia vào một, một vài hoặc tất cả công việc quản lý, vận hành, kỹ thuật và tài chính của một hệ thống cấp nước Theo Bruns (1997), mức độ tham gia của cộng đồng là rất đa dạng, từ việc đơn thuần chia sẻ thông tin về kế hoạch nước, cho đến thảo luận để đưa ra các ý tưởng; hoặc từ việc tham gia như hình thức “nhân công giá rẻ” hoặc là “chia

sẻ chi phí”, hoặc tham gia để xây dựng quyết định dựa trên sự đồng thuận đến chuyển giao trách nhiệm và quyền để kiểm soát hệ thống tại địa phương

Theo Madeleen (1998), quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng có 3 khía cạnh chính là trách nhiệm, quyền lực và kiểm soát

Trách nhiệm: cộng đồng tham gia làm chủ (có quyền sở hữu) và có nghĩa vụ tham

dự vào hệ thống cấp nước để đảm bảo việc vận hành và duy trì thành công

Quyền lực: với tư cách vừa là người sử dụng, vừa là người quản lý tài nguyên nước,

cộng đồng có quyền hợp pháp để ra những quyết định liên quan đến kiểm soát, vận hành

và duy trì tài nguyên nước và hệ thống cấp nước đi kèm

Kiểm soát: cộng đồng có khả năng thực hiện và xác định được kết quả từ các quyết

định của mình có liên quan đến hệ thống Khía cạnh này chính là đề cập đến năng lực của cộng đồng ở khả năng đóng góp về kỹ thuật, nhân công và tài chính, cũng như sự hỗ trợ về

Trang 9

thể chế của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện và duy trì tính bền vững của

hệ thống cung cấp nước

3.2 Tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam

3.2.1.Tiếp cận theo mô hình truyền thống và bản địa

Các mô hình truyền thống về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng thường gặp ở các địa phương vùng cao, miền núi nơi cư dân bản địa đang sinh sống và ở một số vùng đồng bằng Các cư dân bản địa này thường gắn liền với các nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, và việc quản lý tài nguyên nước gắn liền với quản lý tài nguyên đất đai, rừng và đa dạng sinh học Luật tục truyền thống có vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi của cộng đồng về quản lý tài nguyên nước

Giếng làng là một loại hình cung cấp nước khá phổ biến trong các cộng đồng dân cư vùng đồng bằng ở nhiều tỉnh như Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh Các xã Thạch Kênh, Thạch Việt, Thạch Long, Thạch Sơn của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh là những ví dụ điển hình của nơi có giếng làng Giếng thường có hình tròn hoặc hình vuông với kích thước trung bình (độ sâu 2 - 3m); thành giếng được làm bằng đất hoặc bằng bê tông đắp cao hơn mặt bằng xung quanh; nền giếng bằng đất sét hoặc bằng cát bồi tụ Nước mưa và mạch nước ngầm là nguồn nước chính cho giếng khơi Giếng khơi thường được làm ở giữa cánh đồng làng và cách xa khu dân cư Do giếng được xây đắp cẩn thận, vị trí xây dựng hợp lý nên giúp hạn chế các dòng nước bẩn ở xung quanh chảy trực tiếp vào giếng và giữ được nước vào mùa khô

Mỗi làng thường có ít nhất 1 giếng và giếng làng là tài sản chung của cộng đồng Tất cả người làng có quyền lấy nước cho mục đích sinh hoạt và họ phải có trách nhiệm bảo vệ giếng Những người từ làng khác cũng được phép lấy nước từ giếng làng, đặc biệt

là vào mùa khô, thể hiện tinh thần chia sẻ của cộng đồng Việc quản lý và bảo vệ giếng làng là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không phải được giao cho một ban quản lý

cụ thể nào Việc chăn thả gia súc tự do và vứt rác bừa bãi quanh khu vực giếng tuyệt đối bị nghiêm cấm Hằng năm, làng sẽ tổ chức các ngày lao động công ích và mỗi hộ gia đình sẽ

cử một người tham gia làm sạch và duy tu giếng Dân làng không phải trả chi chí cho việc

sử dụng nước nhưng họ phải đóng góp công lao động hoặc tiền mặt nếu họ muốn xây dựng thành giếng bằng bê tông Quan sát cho thấy, tại các hộ gia đình trong làng giếng đào sâu hơn 5m không thể sử dụng làm nước uống vì có chứa phèn, nhưng giếng làng vẫn

sử dụng được mặc dù các yêu cầu về chất lượng nước uống có thể không đáp ứng được vì

có thể bị nhiễm dư lượng thuốc trừ sâu từ cánh đồng ngấm vào mạch nước ngầm xung quanh giếng

Các cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa ở Việt Nam có phong tục bảo vệ nguồn nước và rừng đầu nguồn (vùng thượng nguồn) bằng cách thần thánh hóa tài nguyên thiên nhiên của họ Họ tin rằng tất cả sông, suối, bến nước, mó nước và rừng đầu nguồn đều có

“linh hồn” hoặc thuộc về những thần linh, vị thánh hay con ma nào đó Do đó, khi mọi người muốn tiếp cận và sử dụng nước, họ phải lập đàn cầu và cúng bái các vị thần theo

Trang 10

các lễ nghi và thủ tục truyền thống bài bản Luật lệ này đã trở thành luật tục của các cộng đồng bản địa về việc bảo vệ tài nguyên nước

Theo truyền thống, người Thái ở các tỉnh phía Bắc có luật tục quy định không một

ai trong cộng đồng, kể cả Già làng, được phép giết mổ gia súc, gia cầm hoặc xả rác ở đầu nguồn nước Bất kỳ sự vi phạm nào đều bị xử phạt từ 5 quan tiền đến 3 nén bạc, chưa kể rượu và thịt Họ xem suối là tài sản chung của cộng đồng (mỗi cộng đồng tương đương với một mường), nhưng mọi người dân trong mường đều được phép chọn một đoạn suối

để nuôi cá Để phân chia ranh giới các đoạn suối này, họ dùng một cành cây để phân dòng suối ra và treo một cọc tre ( gọi là Ta leo) lên thân một cây ở ven bờ suối để đánh dấu Những tín hiệu này có tác dụng báo cho người khác biết rằng đoạn suối này đã có chủ và người khác không được phép đánh cá ở đây nữa Bất cứ sự vi phạm nào bị phát hiện ra sẽ

bị phạt từ một quan tiền đến một nén bạc chưa kể rượu và thịt (Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, 2002)

Cộng đồng người Mường, người Dao và người H’Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc thường xây dựng hệ thống cấp nước chung bằng các cọn nước (guồng nước) làm bằng tre nứa và hệ thống nước tự chảy Người Dao ở xã Ngọc Hội (Tuyên Quang) chủ yếu lấy nước từ hệ thống nước tự chảy từ nơi cao xuống nơi thấp Vì thế, khi phát rừng để lấy đất làm rẫy, họ thường để lại các cây lớn ở trên đỉnh đồi hoặc đầu nguồn nước để giữ nước Người Mường ở xã Nam Sơn (Hoà Bình) lắp các cọn (guồng) bằng tre bên dòng suối để lấy nước và dẫn nước về ruộng bằng các ống tre Cộng đồng người H’Mong ở Lào Cai thường đào các bẫy nước hoặc dựng lạch nước bằng nẹp tre, đắp bằng đất hoặc xếp đá để điều chỉnh dòng chảy dẫn nước từ suối vào các lạch Họ thường đục một thân cây to làm máng để đưa nước vào ruộng bậc thang Đây là một cách hiệu quả để lấy nước canh tác nhưng cũng bộc lộ điểm yếu vì nó thường làm hỏng các bờ ruộng và gây ra xói mòn (Trần Hữu Sơn 1999)

Truyền thống của người Êđê, J’rai và M’nông ở vùng Tây Nguyên tin rằng “đất, sông, suối và cây rừng là cái nong, cái nia, cái lưng của ông bà (Ngô Đức Thịnh, 1999)

Do đó, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, kể cả nguồn nước là nghĩa vụ thiêng liêng và bắt buộc đối với mỗi thành viên trong cộng đồng Luật tục của người Êđê cho rằng tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng) là gắn liền với tổ tiên của họ; quyền sở hữu tài nguyên thuộc

về chủ đất và được truyền lại qua các thế hệ

Đồng bào dân tộc Cơ Tu ở các tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam (như ở xã Thượng Lộ, Thượng Nhật ở huyện Nam Đồng, xã Tabhing ở huyện Nam Giang) thường tổ chức cúng tế tại nhà cộng đồng (gọi là nhà Gươl) khi họ làm xong một máng nước cho làng mới hoặc tu sửa lại máng nước cũ Bằng việc thờ cúng này, họ hy vọng các vị thần linh sẽ luôn mang đến đầy đủ nước và nhắc nhở con cháu phải biết tiết kiệm nước (Lê Văn Lân, 1999)

Người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận có truyền thống canh tác lúa nước Họ có một hệ thống các đức tin và lễ nghi quan trọng liên quan đến nước như (cũng) tế mưa, khơi thông đập và kênh mương hay lễ chặn dòng nước Luật tục của người Chăm có các quy định chi tiết về quy trình khai hoang đất, bảo vệ rừng đầu nguồn nước, duy tu hồ chứa nước Luật tục quy định cả quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên cộng đồng đối với bảo vệ và

Ngày đăng: 02/07/2017, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w