Mục Lục 1. Đặt vấn đề 1 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2 3. Mục tiêu nghiên cứu 3 3.1. Mục tiêu chung 3 3.2. Mục tiêu cụ thể 3 4. Địa điểm thời gian và đối tượng nghiên cứu 4 4.1. Địa điểm nghiên cứu 4 4.2. Thời gian nghiên cứu 4 4.3. Đối tượng nghiên cứu 4 5. Nội dung nghiên cứu 5 5.1. Cơ sở nghiên cứu 5 5.2. Hiện trạng rác thải nilon và công tác quản lý rác thải tại tỉnh Quảng Ninh. 5 5.3. Đề xuất giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rác thải nilon. 5 6. Phương pháp nghiên cứu 5 6.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin 5 6.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 6 7. Dự kiến kết quả nghiên cứu 6 7.1. Ý nghĩa khoa học 6 7.2. Ý nghĩa thực tiễn 6 8. Bảng kế hoạch thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học 7 9. Phân chia công việc 7 10. Tài liệu tham khảo 8
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM GIẢM THIỂU RÁC THẢI NILON CHO BÃI BIỂN DU LỊCH HẠ LONG, QUẢNG NINH
Nhóm sinh viên thực hiện:
Đỗ Thị Thu Hà
Đỗ Thị Thu
Hoàng Trung Hiếu
Nguyễn Thị Linh
Trịnh Thị Thảo
Lớp : ĐH4QB Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Minh Hằng
Trang 2Mục Lục
1 Đặt vấn đề 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
3.1 Mục tiêu chung 3
3.2 Mục tiêu cụ thể 3
4 Địa điểm thời gian và đối tượng nghiên cứu 4
4.1 Địa điểm nghiên cứu 4
4.2 Thời gian nghiên cứu 4
4.3 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Nội dung nghiên cứu 5
5.1 Cơ sở nghiên cứu 5
5.2 Hiện trạng rác thải nilon và công tác quản lý rác thải tại tỉnh Quảng Ninh 5
5.3 Đề xuất giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rác thải nilon 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
6.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin 5
6.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 6
7 Dự kiến kết quả nghiên cứu 6
7.1 Ý nghĩa khoa học 6
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
8 Bảng kế hoạch thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học 7
9 Phân chia công việc 7
10 Tài liệu tham khảo 8
Trang 31 Đặt vấn đề
Kể từ khi vật liệu nhựa ra đời đến nay, loại vật liệu này đã tỏ rõ ưu thế của mình và nhanh chóng có mặt ở hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, dịch vụ và đời sống xã hội Vật liệu nhựa là nguyên liệu hiện hữu trong cuộc sống của chúng ta nó đã và đang dần thay thế các vật liệu bằng nhôm , sắt, đồng…với ưu thế rẻ, nhẹ , bền và không thấm nước…Vật liệu nhựa đã nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống sinh hoạt và sản xuất Tiện lợi và dễ sử dụng, nhưng bên cạnh những ưu điểm đó, nhựa nói chung và túi nilon nói riêng có tác hại rất lớn đối với môi trường Túi nilon được làm từ các chất khó phân hủy, khi thải ra môi trường phải mất hàng chục năm đến một vài thế kỷ mới được phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên Bao bì nilon lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trường của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cây cỏ, dẫn đến sự xói mòn đất ở các vùng đồi núi Bao bì nilon trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng mắc phải hoặc tưởng nhầm đó là thức ăn và nuốt phải Nhưng nguy hại hơn là tác hại của nilon đến sức khỏe con người Những bao bì nilon được nhuộm màu sẽ làm ô nhiễm thực phẩm do có chứa kim loại như: chì, cadimi gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ra ung thư phối
Lượng nilon tăng lên mỗi ngày, trong khi lại khó phân hủy được nên ngày càng tích tụ Việc quản
lý để giải quyết vấn đề này đã được các nhà khoa học và quản lý chú ý từ nhiều năm nay vẫn thực sự vẫn chưa được hiệu quả và hợp lý
Bước vào thế kỷ 21 với những bước phát tiến mạnh mẽ của các quốc gia với sự hướng tới các ngành kinh tế sạch và phát triển nhanh thì dịch vụ- du lịch ngày càng được chú trọng Ngày càng nhiều các bãi biển được đưa vào khai thác, dịch vụ du lịch- giải trí, nghỉ dưỡng, vui chơi cũng theo đó mà phát triển Nền kinh tế quốc dân tăng lên và rác thải từ đó cũng tăng theo Điều đó đòi hỏi các giải pháp thiết thực để giảm thiểu số lượng rác thải đang gia tăng nghiêm trọng
Sở hữu đường bờ biển dài với nhiều khu du lịch nổi tiếng và bãi cát đẹp, bãi biển Hạ Long là điểm đến hấp dẫn của mọi hành trình du lịch trong nước Tuy nhiên đến mùa du lịch cao điểm, các bãi biển này có nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng bởi rác thải từ các hoạt động sinh hoạt, dịch vụ du lịch, đặc biệt là rác thải nilon Theo sở TTVH- DL tỉnh Quảng Ninh năm 2015 trung bình các bãi biển Hạ long thu hút gần 21 nghìn du khách, đặc biệt vào những ngày lễ hội, con số này còn tăng lên.Với số lượng du khách lớn như vậy, biển Hạ long hàng ngày phải chịu áp lực của sự ô nhiễm Những bãi biển trải dài bị chia cắt bởi các khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, trên các bãi biển lại xuất hiện nhiều rác thải
1
Trang 4nilon do người dân và du khách nơi đây xả ra bị đổ trực tiếp ra biển mặt khác chính sách quản lý và sử
lý rác thải vẫn chưa hiệu quả đã gây ảnh hưởng lớn tới môi trường biển nơi đây
Do đó vấn đề quản lý rác thải, cụ thể là rác thải nilon là rất cần thiết và cần có những giải pháp hiệu
quả để giảm thiểu lượng rác thải đó Chính vì thế chúng tôi lựa chọn đề tài : “ Nghiên cứu hiện trạng
và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rác thải nilon cho bãi biển du lịch Hạ Long, Quảng Ninh” nhằm đánh giá tình trạng ô nhiễm rác thải chung tại bãi biển Hạ Long, ý thức và thói
quen sử dụng rác thải nilon của người dân ở đây, từ đó đề xuất một số giải pháp giảm thiểu rác thải nilon, xây dựng bãi biển Hạ Long xanh- sạch- thân thiện với môi trường
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Túi nilon là loại túi nhựa tiện ích và được sử dụng rộng dãi; nhưng với nhu cầu và cách thức sử dụng tràn làn của con người đã mang đến ảnh hưởng xấu tới môi trường Ở nước ta, hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về số lượng túi nilon được sử dụng nhưng đã có một số khảo sát, ước tính về
số lượng túi nilong được thải ra ngoài môi trường hàng ngày; vào năm 2000 trung bình mỗi ngày, nước
ta xả khoảng 800 tấn rác nhựa ra môi trường Đến năm 2012, con số này đã lên đến 2500 tấn/ngày và
có thể còn lớn hơn Mỗi ngày, người dân xả thải ra hàng triệu túi, bao bì nilon Chỉ một phần nhỏ trong
số này được thu gom, tái chế, còn phần lớn bị vứt đi không những gây lãng phí về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Việc quá lạm dụng các sản phẩm nilon và ý thức của con người còn kém đã biến túi nilon thành một loại rác thải lan tràn khắp nơi, từ các khu du lịch, di tích, danh lam thắng cảnh đến ao hồ, sông ngòi
Nhận thức được ảnh hưởng của túi nilon đối với sức khỏe con người và môi trường, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện các chiến dịch giảm thiểu sử dụng túi nilon bắt đầu từ hệ thống các siêu thị, cửa hàng Nhiều siêu thị tại Pháp, Hà Lan đã không phát túi nilon đựng đồ, khách hàng được khuyến khích mua túi đựng hàng lớn bằng nilon tự hủy, có thể sử dụng nhiều lần Ở Hoa Kỳ, tháng 3/2007, hội đồng thành phố San Francisco đã thông qua dự luật cấm sử dụng túi nilon trong việc gói, bọc hàng trong các siêu thị lớn, nhằm thúc đẩy việc sử dụng các vật liệu có thể tái sinh nhằm bảo vệ môi trường Hoặc những quốc gia ở châu Phi như Uganda, Kenya, cũng đang có những động thái cấm nhập khẩu, sản xuất, tăng thuế đối với mặt hàng túi nhựa nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của túi nilon đến môi trường
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng xã hội đã và đang quan tâm tới vấn đề chất thải nilon với nhiều sáng kiến được đưa ra áp dụng như các chiến dịch
Trang 5truyền thông như “nói không với túi nilon” được áp dụng tại Cù Lao Chàm, đây là nơi đầu tiên trong cả nước thực hiện thành công việc kiểm soát được loại rác thải này Ngoài ra còn có các nghiên cứu và quy định về vấn đề này được đề xuất
Cuối năm 2010, Luật thuế bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua sẽ có hiệu lực ngày 01/01/2012 quy định một số sản phẩm tiềm tàng gây ô nhiễm môi trường sẽ phải chịu thuế, trong đó túi nilon là một trong những sản phẩm phải chịu thuế ở mức cao Định hướng về rác thải nilon mang tầm quốc gia gần đây nhất được thể hiện rõ trong "Đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi nilon khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020", được Chính phủ phê duyệt vào tháng 4/2013 Đề án này nhằm hướng tới giảm dần việc sử dụng túi nilon khó phân hủy trong sinh hoạt, tăng cường thu gom tái chế chất thải túi nilon khó phân hủy, từng bước thay thế và sử dụng các loại sản phẩm thân thiện với môi trường trong đời sống sinh hoạt cộng đồng
Tại Quảng Ninh đã áp dụng “công nghệ xử lý rác thải bằng công nghệ sinh học, lên men hiếu khí tốc độ cao” của tác giả Vũ Quỳnh (giám đốc Công ty cổ phần xử lý chất thải rắn Hạ Long) đã được Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng độc quyền sáng chế
Bên cạnh đó, đề xuất các gải pháp quản lý: xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật và kiểm soát sử dụng túi nilon khó phân hủy; tăng cường và đa dạng hóa các nguồn đầu tư nhằm thực hiện việc giảm thiểu tình trạng rác thải nilon; phát triển nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ
để sản xuất ra túi nilon thân thiện môi trường và tái chế rác thải nilon thành sản phẩm hữu ích; tăng cường hợp tác quốc tế để trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi nilon khó phân hủy
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm bãi biển do sử dụng rác thải nilon của con người và đưa ra các đề xuất giải pháp quản lý giảm thiểu rác thải nilon tại bãi biển du lịch Hạ Long, Quảng Ninh
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng rác thải nilon tại bãi biển Hạ Long, Quảng Ninh
- Nghiên cứu cơ cấu tổ chức và hiện trạng quản lý rác thải nilon của các bãi biển du lịch Việt Nam nói chung và Hạ Long nói riêng
3
Trang 6- Khảo sát về nhận thức sử dụng túi nilon ở cộng đồng sống xung quanh các bãi biển du lịch Hạ Long và khách du lịch
- Thử nghiệm một số giải pháp truyền thông môi trường về sử dụng túi nilon ở một địa điểm bãi biển Hạ Long
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu và quản lý hiệu quả rác thải nilon tại các bãi biển du lịch tỉnh Quảng Ninh
4.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại bãi biển du lịch Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh( Hình 1) Bãi Cháy là một bãi biển nổi tiếng của miền Bắc Việt Nam, thuộc phường Bãi Cháy, Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Đây là bãi tắm thu hút rất đông du khách vào mùa du lịch biển Đặc điểm địa hình là một dải đồi thấp chạy thoai thoải về phía biển, kéo dài hơn 2km
Hình 1 Bản đồ địa điểm nghiên cứu Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh
4.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hàng trong 6 tháng (từ tháng 09/2016 đến tháng 03/2017)
4.3 Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng rác thải nilon ở bãi biển Bãi Cháy (Hạ Long-Quảng Ninh).
Trang 7- Cơ cấu và hệ thống quản lí rác thải Nilon ở Bãi Cháy (Hạ Long-Quảng Ninh).
- Nhận thức từ cộng đồng dân cư và khách du lịch về sử dụng túi nilong.
Do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm nên nhóm chưa thể nghiên cứu sâu vào nhiều khía cạnh mà chỉ đi vào một mảng nhỏ, với mong muốn đề tài sẽ được mở rộng hơn
5 Nội dung nghiên cứu
5.1 Cơ sở nghiên cứu
- Đặc điểm cơ bản và tác hại của rác thải nilon
- Thực trạng ô nhiễm môi trường do rác thải từ hoạt động du lịch ở bãi biển
- Hiện trạng quản lý rác thải tại các bãi biển du lịch
5.2 Hiện trạng rác thải nilon và công tác quản lý rác thải tại Hạ Long.
5.3 Nhận thức về rác thải nilon của cộng đồng và khách du lịch tại Bãi Cháy, Hạ Long
5.4 Đề xuất giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rác thải nilon cho bãi biển du lịch ở Hạ Long,
Quảng Ninh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin
Số liệu thứ cấp về hiện trạng rác thải nilon và cơ cấu quản lý rác thải nilon sẽ được thu thập chủ yếu thông qua qua sách báo, internet, bài báo khoa học, báo cáo khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học và các số liệu quan trắc được lưu giữ tại các cơ quan quản lý môi trường có liên quan tại Hạ Long, Quảng Ninh
Số liệu sơ cấp sẽ được thu thập trực tiếp qua các chuyến đi thực địa và phỏng vấn tại địa phương Sau khi nghiên cứu sơ bộ từ các tài liệu thứ cấp đã thu thập, nhóm nghiên cứu sẽ xác định và lập danh sách các thông tin, dữ liệu sơ cấp cần thu thập tại thực địa, xây dựng quy trình thu thập số liệu rác nilon thực địa và quy trình phỏng vấn
- Quy trình thu thập số liệu rác nilon thực địa tại mỗi 200m dọc theo chiều dài 2km của Bãi Cháy, chọn lựa ngẫu nhiên ít nhất 01 nhà hàng, 01 khách sạn, 01 kiot, 01 hộ gia đình, tất cả thùng rác công cộng xung quanh điểm đó Sau đó tiến hành xin lượng rác thải nilon sau 1 ngày với các đối tượng trên Quan sát, thống kê lượng rác phát sinh vào các ngày trong tuần và 2 ngày cuối tuần Tại mỗi điểm
đó tiến hành phân loại thủ công các loại rác để xác định lượng rác thải nilon
- Quy trình phỏng vấn: Các bảng câu hỏi gồm tập hợp câu hỏi đóng và mở sẽ được lập cho từng đối tượng người phỏng vấn nhằm hướng tới trả lời được câu hỏi nghiên cứu về nhận thức sử dụng túi
5
Trang 8nilon Các đối tượng phỏng vấn bao gồm: người dân địa phương, chính quyền địa phương, khách du lịch, nhân viên vệ sinh và các nhà quản lý trong công ty về du lịch và môi trường Sẽ có ít nhất 60 phiếu câu hỏi được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp, điện thoại và email như sau:
5 phiếu cho cán bộ quản lý môi trường
20 phiếu cho khách du lịch
10 phiếu cho người thu gom
15 phiếu cho hộ gia đình dân cư sống xung quanh địa điểm nghiên cứu
10 phiếu cho của những nhà hàng, khách sạn ở khu du lịch quanh bãi biển
6.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Các số liệu sơ cấp và thứ cấp được tổng hợp và xử lý bằng các phần mềm thống kê Cách tiếp cận so sánh sẽ được sử dụng xuyên suốt trong quá trình phân tích: so sánh giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp, so sánh giữa số liệu trước khi thực hiện biện pháp truyền thông khi đề tài bắt đầu và sau khi đề tài kết thúc Ngoài ra mô hình phân tích DPSIR (Driving forces - Pressures - States - Impacts - Responses)
sẽ được sử dụng để khái quát vấn đề rác thải nilon ở Hạ Long và đưa ra các định hướng, đề xuất cụ thể đối với từng nguyên nhân phát sinh rác thải nilon
7 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Đề tài sẽ đánh giá thực trạng vấn đề quản lý rác thải nilon ở các bãi biển Hạ Long, đề xuất các giải pháp quản lý, truyền thông nhằm giảm thiểu lượng rác thải nilon Nghiên cứu sẽ tạo ra một số sản phẩm truyền thông như tờ rơi, tóm tắt chính sách
Kết quả nghiên cứu sẽ có những ý nghĩa cơ bản sau:
7.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu bước đầu đánh giá về lượng rác thải nilon do dân cư và khác h du lịch thải ra bãi biển du lịch, góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu về ô nhiễm bãi biển do rác thải nilon ở Hạ Long
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở hình thành các biện pháp khắc phục và quản lý hoạt động của dân cư và khách du lịch, nhằm giảm thiểu lượng rác nilon thải ra bãi biển tại Hạ Long
Trang 98 Bảng kế hoạch thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
1 Lựa chọn và xây dựng
đề tài nghiên cứu khoa
học
x
2 Báo cáo và thông qua đề
cương nghiên cứu
x
3 Tổ chức nghiên cứu
trong khuôn khổ đề
cương được phê duyệt,
bao gồm thu thập số liệu
và đi thực địa, kết hợp
với phân tích số liệu và
viết tổng quan tài liệu
5 Báo cáo thử giữa các
6 Báo cáo kết quả trước
hội đồng
x
9 Phân chia công việc
Công việc chung: Cùng nhau tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm biển nói chung và ô nhiễm bãi biển
du lịch nói riêng, từ đó đưa ra đước các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
Hiếu, Hà: Tìm hiểu vấn đề ô nhiễm do rác thải tại bãi biển du lịch Hạ Long, thực hiện phỏng vấn một số khách thăm quan du lịch trong nước và nước ngoài, phỏng vấn dân cư sống quanh bãi biển du lịch
Linh, Hà, Thu, Thảo: Tìm hiểu các tài liệu, bài báo liên quan đến đề tài, đi thực địa để thu thập các số liệu cụ thể thống kê về lượng rác nilon thải ra bãi biển du lịch, viết báo cáo kết quả thu được
Hiếu: Đọc báo cáo, tổng kết các kết quả, tài liệu sau đó lên lịch viết báo cáo
Hà: Chịu trách nhiệm chính viết báo cáo
Linh, Thu, Thảo, Hiếu: hỗ trợ Hà viết báo cáo
7
Trang 1010 Tài liệu tham khảo
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012) Thông tư số 07/2012/TT-BTNMT quy định tiêu chí, trình
tự, thủ tục công nhận túi ni lông thân thiện với môi trường
Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013) Quyết định số 582/QDD-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án tăng cường kiếm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi nilon khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020”
Đinh chúc (2014) Túi nilon với vấn đề gây ô nhiễm môi trường http://tratipha.com/Tui-nilon-voi-van-de-gay-o-nhiem-moi-truong-VN-25-3.aspx
L.T.Trung (2011) Hội Thảo “Kiểm soát ô nhiễm môi trường do việc sử dụng bao bì nilon khó phân hủy” https://stnmt.thuathienhue.gov.vn/?gd=1&cn=190&tc=1103
Nguyễn Danh Sơn (2012) Thực trạng sử dụng, quản lý chất thải túi nilon ở Việt Nam và định hướng giải pháp từ góc độ kinh tế http://cie.net.vn/vn/Thu-vien/Bao-cao-Nghien-cuu-MT/Thuc-trang-su-dung-quan-ly-chat-thai-tui-nilon-o-Viet-Nam-va-dinh-huong-giai-phap-tu-goc-do-kinh-te.aspx
Nguyễn Thị Thùy Dương, Chu Mạnh Trinh (2013) Cù Lao Chàm nói không với túi nilon
http://www.culaochammpa.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=303:cu-lao-cham-noi-khong-vi-tui-ni-long&catid=39:tin-tc&Itemid=29&lang=vi
Phan Nam (2016) Quảng Ninh: Trung tâm du lịch quốc tế http://enternews.vn/quang-ninh-trung-tam-du-lich-quoc-te.html