1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH, PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA CẨM PHẢ

20 664 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC 0 DANH MỤC BẢNG 2 ĐẶT VẤN ĐỀ 3 1. Tính cấp thiết của đề tài 3 2. Mục tiêu nghiên cứu 3 3. Nội dung nghiên cứu 3 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. 4 1.1. Cơ sở lý luận 4 1.1.1. Một số khái niệm. 4 1.1.2. Phân loại chất thải trong y tế. 4 1.1.3. Vai trò của xử lý chất thải y tế. 5 1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của thành phố Cẩm Phả 6 1.3. Cơ sở thực tiễn 8 1.3.1. Tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới. 8 1.3.2. Tình hình xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam. 9 II. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9 2.1. Đối tượng nghiên cứu 9 2.2. Phạm vi nghiên cứu. 9 2.3. Phương pháp nghiên cứu. 9 2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu. 9 2.3.2. Phương pháp phân tích số liệu. 12 III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. 12 3.1. Đối với chất thải rắn y tế. 12 3.1.1. Quy trình quản lý. 12 3.2. Đối với chất thải rắn thông thường. 14 3.2.1. Hiện trạng nguồn chất thải. 14 3.2.2. Về quản lý. 15 3.2.3. Về xử lý. 15 3.3. Đối với chất thải nguy hại. 16 3.3.1. Về công tác quản lý, thu gom và lưu giữ. 16 3.3.2 . Về xử lý. 16 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17 1. Kết luận 17 2. Kiến nghị 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN 18

Trang 1

LỚP: ĐH5QM3

GVHD: HOÀNG THỊ HUÊ

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 0

DANH MỤC BẢNG 2

* ĐẶT VẤN ĐỀ 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nội dung nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.2 Phân loại chất thải trong y tế 4

1.1.3 Vai trò của xử lý chất thải y tế 5

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Cẩm Phả 6

1.3 Cơ sở thực tiễn 8

1.3.1 Tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới 8

1.3.2 Tình hình xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 9

II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

2.1 Đối tượng nghiên cứu 9

2.2 Phạm vi nghiên cứu 9

2.3 Phương pháp nghiên cứu 9

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 9

2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 12

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12

3.1 Đối với chất thải rắn y tế 12

3.1.1 Quy trình quản lý 12

3.2 Đối với chất thải rắn thông thường 14

3.2.1 Hiện trạng nguồn chất thải 14

3.2.2 Về quản lý 15

3.2.3 Về xử lý 15

3.3 Đối với chất thải nguy hại 16

3.3.1 Về công tác quản lý, thu gom và lưu giữ 16

3.3.2 Về xử lý 16

* KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17

Trang 3

* TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN 18

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Quy định mã màu sắc túi đựng với từng loại chất thải 12

Bảng 3.2 Số lượng túi sử dụng đểthu gom chất thải (kg/ngày) 13

Bảng 3.3 Khối lượng, thành phần của rác thải thông thường 14

Bảng 3.4: Số lượng một số chất thải nguy hại ngoài danh mục các loại chất thải nguy hại y tế thải ra trong một tháng (kg/tháng) 16

13

Trang 5

* ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề trọng yếu do chất lượng môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người và những sinh vật sống khác Chất thải từ các hoạt động kinh tế, xã hội, hay đời sống sinh hoạt của con người ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến chất lượng môi trường khiến môi trường trở nên suy thoái nhanh chóng, khó khắc phục được Bên cạnh các nguồn phát thải trên, chất thải y tế là một trong những loại chất thải nguy hại nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng, vì chất thải y tế nếu không được xử lí tốt sẽ trở thành nguồn phát sinh mầm bệnh nguy hiểm, làm ô nhiễm, suy thoái môi trường

Bệnh viện đa khoa thành phố Cẩm Phả (tỉnh Quảng Ninh) nằm ở khu vực dân cư đông đúc, nhu cầu về khám chữa bệnh cao, phải tiếp nhận lượng bệnh nhân lớn do vậy lượng chất thải lớn phát sinh từ đây là một vấn đề được nhiều người quan tâm Rác thải y

tế bao gồm chất thải nguy hiểm như: kim tiêm, găng tay, cao su, bông băng, các loại thuốc có hạn, bệnh phẩm, hay các chất phóng xạ nguy hiểm,… Với lượng chất thải lớn như vậy, cần đảm bảo xử lí triệt để, không để lại mầm mống dịch bệnh, kết hợp song song với bảo vệ và duy trì chất lượng môi trường

Nhưng hiện nay các khâu xử lí chất thải y tế còn lỏng lẻo, không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh Từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá hiện trạng phát thải, phân loại, thu gom và xử lí chất thải y tế của bệnh viện đa khoa thành phố Cẩm Phả và đưa ra những giải pháp cho những vấn đề trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được hiện trạng phát thải chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa Cẩm Phả về nguồn gốc phát sinh và lượng chất thải y tế Tiếp theo tìm hiểu, đánh giá về phân loại; thu gom và xử lí chất thải tại đây Qua đó dự báo lượng chất thải rắn sẽ phát sinh trong thời gian tới, về tình hình phân loại, thu gom và đưa ra phương pháp giảm phát sinh và làm tăng hiệu quả trong thu gom và xử lí

3 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố

- Khảo sát thực tế tình hình phát thải, phân loại, thu gom và xử lí chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố Cẩm Phả

- Tìm hiểu các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống quản lí và xử lí chất thải tại bệnh việ

- Đề xuất một số biện pháp quản lí và xử lí chất thải để tăng hiệu quả hơn:

+ Phương án giảm phát thải

+ Phương án trong phân loại, thu gom và xử lí chất thải y tế

+ Phương án cải thiện hệ thống quản lí chất y tế

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm.

Chất thải y tế là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét

nghiệm, nghiên cứu, phẫu thuật… Bao gồm chất thải thường (Vd: Bao bì, thực phẩm, đồ dùng cá nhân, chai lọ đã qua sử dụng), chất thải y tế lâm sàng (Vd:Băng gạc bẩn, kim tiêm, thuốc quá hạn, các đồ vật tiếp xúc với máu và chất dịch của bệnh nhân,…) và chất thải y tế nguy hại (Là rác thải có khả năng nhiễm độc, nhiễm phóng xạ và gây sát thương cao)

Chất thải y tế thường tồn tại ở 2 dạng rắn và lỏng Nguồn thải chủ yếu từ các hoạt động chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh tại bệnh viện, phòng khám y tế, trung tâm chăm sóc sức khỏe, cơ sở y tế tư nhân Ngoài ra rác thải từ các hoạt động nghiên cứu, xét nghiệm, chẩn đoán trong phòng thí nghiệm cũng được coi là Chất thải y tế

Chất thải thường là chất thải không được xếp là nguy hại, không có khả năng gây

độc, không càn lưu giữ, xử lý đặc biệt là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện: Thùng catton, bao bì, giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ,…

Chất thải y tế lâm sàng là chất thải được thải ra ngay sau quá trình chẩn đoán,

khám chữa bệnh: Dược phẩm, các vật dụng y tế tiếp súc với máu và chất dịch cơ thể, mô hoặc bộ phận của người và động vật bị cắt bỏ,

Chất thải y tế nguy hại là chất thải có nguy cơ truyền nhiễm hoặc có khả năng gây

ra thương tích cần được thu gom và xử lý riêng: Vật bị ô nhiễm, các chất thải độc hại, nhiễm phóng xạ trong phòng thí nghiệm,…

1.1.2 Phân loại chất thải trong y tế.

a, Chất thải thường:

- Là rác thải sinh hoạt của y bác sĩ và bệnh nhân, bao bì của dược phẩm, dụng cụ y tế…

b, Chất thải y tế lâm sàng:

- Chất thải gây lây nhiễm: Là rác thải nhiễm khuẩn chứa mầm bệnh vi khuẩn,

virus, ký sinh trùng, nấm… bao gồm các vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết của bệnh nhân như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…

- Các vật sắc nhọn: gồm các vật sắc nhọn, có cạnh sắc hoặc vật dụng dễ vỡ như

kim tiêm, lưỡi dao, cán dao mổ, mảnh thuỷ tinh vỡ và mọi vật dụng có thể gây ra vết cắt hoặc chọc thủng da

- Chất thải phòng thí nghiệm: Là rác thải có nguy cơ lây nhiễm từ phòng xét

nghiệm như găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu…

- Chất thải dược phẩm : Là các dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, dược phẩm

bị đổ, bị hư hỏng hoặc bỏ đi do không còn nhu cầu sử dụng và thuốc gây độc tế bào

Trang 7

- Chất thải bệnh phẩm: Rác giải phẫu bệnh là mô, cơ quan nội tạng người bệnh,

động vật, mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai…

c, Chất thải y tế nguy hại:

- Chất thải gây độc tế bào: Vật liệu bị ô nhiễm như bơm tiêm, gạc, lọ thuốc…

thuốc quá hạn, nước tiểu, phân

- Chất thải phóng xạ:

- Rác thải có hoạt độ riêng như các chất phóng xạ, chất thải phóng xạ phát sinh từ hoạt động chẩn đoán, hoá trị liệu và nghiên cứu Rác thải phóng xạ gồm 3 thể rắn, lỏng, khí

+ Rác thải phóng xạ rắn: vật liệu sử dụng trong xét nghiệm chẩn đoán như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm…

+ Rác thải phóng xạ lỏng: dung dịch chứa nhân tố phóng xạ để điều trị, chất bài tiết

+ Rác thải phóng xạ khí: khí dùng trong lâm sàng, khí từ kho chứa chất phóng xạ

- Chất thải hoá học: Rác thải từ nhiều nguồn, chủ yếu từ hoạt động xét nghiệm,

chẩn đoán bao gồm: formaldehyd, hoá chất cản quang, dung môi, etylen, hỗn hợp hoá chất…

- Các loại bình chứa có áp suất: Bình chứa khí có áp suất như bình CO2, O2,

Gas, bình khí dung, bình khí dùng 1 lần… các bình này dễ gây cháy nổ, khi xử lý cần phân loại riêng

1.1.3 Vai trò của xử lý chất thải y tế.

Các loại chất thải từ các cơ sở y tế thải ra gồm chất thải thông thường, chất thải y tế, chất thải hóa học, chất thải phóng xạ và các vật chứa có áp suất Việc phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy

cơ tiềm ẩn

- Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niêm mạc; đường hô hấp; đường tiêu hóa Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn

- Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẩn Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế

- Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối lượng thấp Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da niêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa

- Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào Chúng có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da

Trang 8

- Đối với nguy cơ của chất thải phóng xạ, cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong dài hạn

Để phòng ngừa và ngăn chặn những nguy cơ trên cần có cơ chế quản lý, phân loại, thu gom và xử lý chất thải y tế Thông qua các quy trình được thực hiện nghiêm túc kiểm định nghiêm ngặt ngăn ngừa chất thải y tế lẫn với rác thải sinh hoạt và thải ra môi trường

Xử lý chất thải y tế mang đến nhiều lợi ích về cả kinh tế, xã hội và môi trường

- Kinh tế: nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, xử lý và tiêu hủy và tái chế làm tăng hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Các sản phẩm có giá trị được thu hồi

để tái sử dụng

- Xã hội: Bằng cách giảm tác động xấu đến sức khỏe của hoạt động quản lý chất thải, dẫn đến các khu định cư hấp dẫn hơn (khu vực gần bệnh viện, phòng khám…).Tạo các nguồn việc làm mới và có khả năng nâng cao đời sống cộng đồng Đặc biệt là ở một số nước đang phát triển

- Môi trường - Giảm hoặc loại bỏ tác động xấu đến môi trường thông qua việc xả thải đúng cách, giảm tiêu hủy, giảm thiểu khai thác tài nguyên, tích cực tái sử dụng và tái chế Cải thiện môi trường nước và không khí

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Cẩm Phả

1.2.1: Điều kiện tự nhiên

- Là một thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm ở vùng Đông Bắc Bộ Việt Nam

- Thành phố Cẩm Phả cách thủ đô Hà Nội khoảng 200km về phía Bắc, Cách trung tâm thành phố Hạ Long 30 km

- Tọa độ địa lí từ 20o58’10 – 21o12’ vĩ độ Bắc, 107o23’50 kinh độ đông

- Phía đông giáp huyện Vân Đồn, phía tây giáp Hoành Bồ, Phía Nam giáp thành phố Hạ Long, phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ, Tiên Yên

- Có diện tích tự nhiên 486,45 km2, địa hình chủ yếu là đồi núi Đồi núi chiếm 55,4% diện tích, vùng trung du 16,29%, đồng bằng 15,01% và vùng biển chiếm 13,3% Ngoài biển là hàng trăm hòn đảo nhỏ, phần lớn là đảo đá

- Xung quanh cơ sở về phía Đông, Nam, Tây và phía Bắc là khu dân cư đông đúc thuộc phường Cẩm Thành Khu vực dân cư ở xung quanh bệnh viện là khu vực bị tác động nhiều nhất bởi sự hoạt động của bệnh viện về mọi mặt như môi trường nước, không khí, tiếng ồn, dịch bệnh Đặc biệt khu dân cư phía Nam Bệnh viện là nơi ảnh hưởng nhiều bởi

hệ thống thoát nước khu vực này là nơi tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải sau khi đã được xử lý trong cơ sở

Sơ đồ vị trí bệnh viện đa khoa Cẩm Phả được thể hiện qua hình sau:

Trang 9

Hình 3.1: Sơ đồ vị trí bệnh viện đa khoa Cẩm Phả

(Nguồn: BVĐK Cẩm Phả )

Hình 3.2 :Ảnh sơ đồ vị trí xả nước thải của Bệnh viện đa khoa Cẩm Phả

(Nguồn: BVĐK Cẩm Phả )

1.2.2: Điều kiện kinh tế - Xã hội

- Thành phố Cẩm Phả hiện nay là đô thị loại II Đây là thành phố công nghiệp, kinh tế tương đối phát triển Kinh tế chủ yếu của TP Cẩm Phả là sản xuất than, là trung tâm sản xuất than lớn của Quảng Ninh và của cả nước, sản lượng sản xuất than của TP

Trang 10

chiếm 50 – 60% sản lượng than của toàn ngành, hàng năm cung cấp cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu khoảng 14 – 15 triệu tấn than, ngoài các mỏ lớn như Đèo Nai, Cọc 6, Cao Sơn, Mông Dương…Tp Cẩm Phả còn có các nhà máy cơ khí lớn, các nhà máy sàng tuyển và bến cảng của các công ty xây lắp, vận tải…tạo nên một hệ thống sản xuất liên hoàn, một vùng kinh tế sôi động Bên cạnh đó các ngành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tuy chiếm tỷ lệ rất nhỏ nhưng cũng khá phát triển và là nguồn hậu cần tại chỗ rất quan trọng giúp thành phố Cẩm Phả phát triển ổn định

- Hệ thống dịch vụ rất phát triển cung cấp đầy đủ các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu cho người dân Phường Cẩm Thành là một khu vực kinh tế khá phát triển, hoạt động thương mại và dịch vụ nhộn nhịp

- Khu vực nằm cạnh QL 18A, là con đường giao thông huyết mạch của toàn tỉnh Quảng Ninh, tuyến giao thông vận chuyển hàng hóa trên toàn bộ địa phương trong tỉnh

và các tỉnh lân cận

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới.

Chất thải y tế đã và đang trở thành mối quan tâm của công chúng và các nhà lập chính sách trên toàn thế giới Bảo vệ môi trường, tăng chất lượng dịch vụ y tế là tiền đề tiên quyết để mỗi quốc gia phát triển Sau đây là một số ví dụ về khung chính sách về quản lý chất thải rắn y tế và cách thức xử lý chất thải

Tại các nước phát triển, thị trường quản lý chất thải nguy được thiết lập và vận hành bởi hai đối tượng chính: chủ nguồn thải và chủ hành nghề quản lý chất thải Giữa hai đối tượng này có một hợp đồng kinh tế, theo đó chủ nguồn thải trả phí dịch vụ cho chủ hành nghề xử lý, tiêu hủy chất thải theo nguyên tắc (người gây ô nhiễm phải trả tiền) Chính phủ phát triển và điều tiết thị trường này thông qua các công cụ chính sách và hệ thống giám sát, cưỡng chế

Ví dụ:

Ở Mỹ, các bang và cơ quan chính quyền liên bang chịu trách nhiệm quy định và hướng dẫn quản lý chất thải y tế, Hầu hết 50 bang đã ban hành quy định riêng về quản lý từng loại chất thải y tế

Ở Đức, quản lý chất thải nói chung được thực hiện theo Luật Quản lý chất thải; vận chuyển chất thải y tế phải theo Quy định về hàng hóa nguy hiểm; còn thiêu đốt chất thải phải tuân thủ Luật Kiểm soát ô nhiễm không khí

Bên cạnh Luật, các nước còn ban hành các hướng dẫn kỹ thuật như Hướng dẫn quản lý an toàn chất thải y tế (Anh), các quy định về Kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn nghề nghiệp (Đức), Hướng dẫn quản lý chất thải lây nhiễm (Nhật Bản),

Trang 11

1.3.2 Tình hình xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam.

Tại Việt Nam, quy chế quản lý chất thải y tế được quy định rõ ràng trong quyết định43/2007/QĐ-BYT ban hành ngày 30 tháng 11 năm 2007

Lượng chất thải y tế tại các bệnh viện ở Việt Nam liên tục tăng nhanh, GS.TS Nguyễn Huy Nga cho biết, mỗi ngày có 120 nghìn m3 nước thải y tế được thải ra, 350 –

400 tấn chất thải y tế, trong đó có 42 tấn chất thải y tế độc hại cần được xử lý Dự kiến đến năm 2015 có trên 70 tấn/ngày, đến năm 2020 có trên 93 tấn/ngày

Tuy nhiên dây chuyền xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển, chủ yếu sử dụng hệ thống lò đốt thủ công, chôn lấp hoặc thuê công ty nước ngoài

xử lý Việc sử dụng lò đốt thủ công để xử lý chất thải “nhả khói”, gây ô nhiễm môi trường Trong khi đó, áp dụng các công nghệ mới của các nước lại khá tốn kém, hệ thống đầu tư đắt đỏ

Đối với chất thải rắn, 90% bệnh viện thu gom hàng ngày, 67% bệnh viện xử lý bằng lò đốt, than bùn hoặc công nghệ đốt khác, 32,2% xử lý bằng lò thủ công hoặc chôn lấp trong bệnh viện Các trạm y tế xã hầu như chưa có hệ thống xử lý rác thải, phải chôn lấp Những con số này được GS.TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý Môi trường y tế, Bộ Y tế đưa ra tại hội thảo “Giải pháp Công nghệ xử lý chất thải cho các bệnh viện ở Việt Nam” tổ chức vào ngày 12/4 tại Hà Nội

Từ đây ta thấy được hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam tuy đã có ý thức và trách nhiệm trong phân loại và thu gom rác thải rắn y tế nhưng do hạn chế về công nghệ và cơ sở vật chất nên quá trình xử lý còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó còn một

số tồn đọng như vẫn còn rác thải y tế lẫn với rác thải sinh hoạt, bệnh viện lén chôn lấp trái phép chất thải y tế,…

II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Cẩm Phả - Quảng Ninh

2.2 Phạm vi nghiên cứu.

- Nội dung: Đánh giá hiện trạng và đưa ra định hướng

- Không gian: Bệnh viện đa khoa thành phố Cẩm Phả ( Ngõ 371 - Trần Phú, Cẩm Thành,

Tp Cẩm Phả, Quảng Ninh)

Ngày đăng: 02/07/2017, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w